BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM NGỌC HOÀNG
TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
ĐẮK LẮK - NĂM 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM NGỌC HOÀNG
TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60340403
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN VĂN TUYÊN
ĐẮK LẮK - NĂM 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Mọi sự giúp đỡ
cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn
trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố.
Đắk Lắk, ngày 10 tháng 05 năm 2018
`
Học viên thực hiện
Phạm Ngọc Hoàng
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài “Quản lý nhà nước về văn hóa trên địa
bàn huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk”. Tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ,
tạo điều kiện của tập thể Ban Giám hiệu, Khoa Sau Đại học, giáo viên chủ
nhiệm, giảng viên, cán bộ các phòng, ban chức năng Học viện Hành chính
Quốc gia. Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành về sự giúp đỡ đó.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn văn Tuyên. Người
thầy giáo trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo cho Tôi hoàn thành luận án này.
Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp của Tôi đang công tác
tại Trung tâm Văn hóa – Thông tin – Thể thao huyện Krông Búk và gia đình
đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ Tôi trong suốt quá trình thực
hiện và hoàn thành luận án này.
Đắk Lắk, tháng
năm 2018
TÁC GIẢ
Phạm Ngọc Hoàng
DANH MỤC TƯ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
STT
Thuật ngữ viết tắt
Nghĩa đầy đủ
1
TW
Trung ương
2
HĐND-UBND
Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân
3
NĐ-CP
Nghị định – Chính phủ
4
VBHN
Văn bản hợp nhất
5
BVHTTDL
Bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch
6
CT
Chỉ thị
7
QĐ
Quyết định
8
TT&TT
Thông tin và truyền thông
9
CNTT
Công nghệ thông tin
10
HLHPN
Hội liên hiệp phụ nữ
11
TD-TT
Thể dục - Thể thao
12
VH-TT-TT
Văn hóa – Thông tin – Thể thao
13
HCV
Huy chương vàng
14
HCB
Huy chương bạc
15
HCĐ
Huy chương đồng
16
VĐV
Vận động viên
17
KT-XH
Kinh tế - Xã hội
18
QLNN
Quản lý nhà nước
19
QLNN về VH
Quản lý nhà nước về văn hoá
20
VH
Văn hóa
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt (nếu có)
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
VĂN HÓA……………………………………………………………………........ 9
1.1. Một số khái niệm................................................................................................ 9
1.2. Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển.......................................................... 22
1.3. Nội dung của quản lý nhà nước về văn hóa...................................................... 27
Tiểu kết chương 1.................................................................................................... 41
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK........................................ 43
2.1. Những yếu tố điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, văn hóa của huyện Krông Búk,
tỉnh Đắk Lắk…………………………………………………………..….………. 42
2.2. Đánh giá chung................................................................................................. 61
Tiểu kết chương 2.................................................................................................... 73
Chương 3: GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KRÔNG BÚK…….. 75
3.1. Định hướng ...................................................................................................... 75
3.2. Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lí nhà nước về văn hóa trên
địa bàn huyện Krông Búk, tỉnh Đắk lắk...................................................................79
Tiểu kết chương 3.................................................................................................... 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................. 89
Kết kuận .................................................................................................................. 89
Kiến nghị ................................................................................................................ 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................ 94
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Công tác quản lý văn hóa là một trong những nhiệm vụ quan trọng của
hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Công tác này được Đảng và Nhà
Nước ta đặc biệt quan tâm nhằm bảo tồn và phát huy tinh hoa văn hóa dân
tộc. Cụ thể là đã có những văn bản pháp quy quy định đầy đủ, chi tiết về
quyền và nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý văn hóa. Như
Quyết định số: 1966/QĐ-UBND, ngày 25/8/2014 của UBND tỉnh Đắk Lắk về
việc Quy định về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân
huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Đắk Lắk và quy định chức năng, nhiệm vụ
của các phòng ban chuyên môn huyện, thị xã, thành phố. Nghị định số:
103/2009/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2009 của Chính phủ về việc Ban
hành Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng
(ngày có hiệu lực 01/01/2010)…Qua đó, chúng ta có thể thấy được tầm quan
trọng của công tác này.
Huyện Krông Búk là một huyện thuộc tỉnh Đắk Lắk, Việt Nam.
Theo tiếng Ê Đê, Krông Búk có nghĩa là suối tóc. Ngày 23 tháng 12 năm 2008
Chính phủ ra nghị định 07/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính
huyện Krông Búk để thành lập thị xã Buôn Hồ và huyện Krông Búk trực
thuộc tỉnh Đắk Lắk. Sau khi điều chỉnh, huyện Krông Búk có diện tích
35.867,71 ha, có 14 dân tộc anh em cùng sinh sống với số dân là 57.002
người. Krông Búk có bề dày truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng. Để
phát huy những giá trị văn hóa của vùng đất này, chính quyền các cấp đã có
những chính sách phù hợp để bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa đặc
sắc, riêng có của huyện.
1
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được công tác quản lý nhà nước
về một số lĩnh vực văn hóa, dịch vụ văn hóa ở huyện Krông Búk vẫn còn
những hạn chế. Do đó, để công tác quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn
huyện Krông Búk có hiệu quả cần phải có sự đánh giá những ưu điểm, hạn
chế và nguyên nhân để đề xuất các giải pháp khắc phục.
Xuất phát từ lý do nêu trên và nhận thức được tầm quan trọng trong
việc quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn huyện, học viên chọn đề tài:
“Quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk”
làm đề tài Luận văn Cao học Quản lý công của mình với mong muốn làm rõ
những ưu điểm để phát huy, đề xuất những giải pháp khoa học góp phần hoàn
thiện việc xây dựng, nâng cao chất lượng hoạt động quản lý về văn hóa của
huyện nhà đạt hiệu quả hơn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Quản lý nhà nước về văn hoá ở nước ta trong giai đoạn hiện nay vẫn
đang là vấn đề đang thu hút sự quan tâm của các nhà lãnh đạo, quản lý, các
nhà khoa học. Có thể khái quát những kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề
tài như sau:
Nhóm thứ nhất, những công trình nghiên cứu bước đầu xây dựng hệ
thống lý luận về quản lý văn hoá:
Một số công trình tiêu biểu, như:
- Nguyễn Duy Bắc, Về lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật trong công
cuộc đổi mới.
- Hoàng Sơn Cường, Lược sử Quản lý văn hoá ở Việt Nam
- PGS. TS. Huỳnh Văn Tới, Quản lý nhà nước về Văn hóa.
- GS. Hoàng Vinh, Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hoá ở
nước ta.
2
Những công trình trên bước đầu làm rõ một số vấn đề quan trọng liên
quan đến phương diện lý luận của công tác quản lý văn hoá, như: Mối quan
hệ giữa văn hoá và kinh tế, đại cương về quản lý hoạt động văn hoá, chính
sách quản lý hoạt động văn hoá, nội dung quản lý hoạt động văn hoá, quản lý
xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở hiện nay...
Nhóm thứ hai, một số luận văn, đề tài khoa học liên quan đến vấn đề
quản lý văn hoá, quản lý các hoạt động văn hoá cơ sở:
- PGS. TS. Nguyễn Duy Bắc chủ nhiệm đề tài cấp Bộ: "An ninh văn
hóa trong điều kiện hiện nay", Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh đã nghiệm thu, 2016.
- Luận Văn Thạc sĩ Trần Sĩ Minh (Trường Đại học Văn hóa TP. Hồ Chí
Minh): Quản lý Lễ hội truyền thống ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, 2015.
- TS. Trần Chiến Thắng chủ nhiệm đề tài độc lập cấp Nhà nước: Hoạt
động văn hoá và sản phẩm văn hoá trong cơ chế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nuớc ta hiện nay, Bộ Khoa học công nghệ, đã nghiệm thu, 2008.
- Ths. Vũ Thị Phương Hậu (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh)
chủ nhiệm đề tài cấp cơ sở: Quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa những
vấn đề lý luận và thực tiễn, đã nghiệm thu, 2008.
- Luận văn Thạc sĩ của Trần Thị Mỹ Xuân (Trường Đại học Văn hóa
TP. Hồ Chí Minh): Quản lý hoạt động của Trung tâm Văn hóa – Điện ảnh
tỉnh Bình Dương trong giai đoạn hiện nay, 2015.
Những công trình nghiên cứu trên đây đã góp phần làm sáng tỏ về lý
luận và thực tiễn của vấn đề trên các phương diện:
Thứ nhất: Nghiên cứu về mối quan hệ giữa phát triển văn hoá và kinh
tế thị trường trong điều kiện hiện nay của đất nước.
Thứ hai: Góp phần làm sáng tỏ về phương diện lý luận của quản lý nhà
nước trên lĩnh vực văn hoá nói chung.
3
Thứ ba: Về quản lý nhà nước trong một số lĩnh vực cụ thể của văn hoá.
Thứ tư: Bước đầu nghiên cứu, khảo sát thực trạng quản lý nhà nuớc về văn
hoá ở một số địa phương. Các kết quả nghiên cứu trên có ý nghĩa rất quan trọng
đối với việc xây dựng, hoàn thiện thể chế quản lý trên lĩnh vực văn hoá ở nước ta
hiện nay, trong đó có vấn đề quản lý nhà nước về văn hoá trên một số địa bàn.
Bên cạnh đó, còn một số lượng khá lớn những bài viết đã đăng trên các báo, tạp
chí, liên quan đến vấn đề quản lý nhà nước về văn hoá từ nhiều phương diện khác
nhau.
Trên cơ sở nghiên cứu, tham khảo và kế thừa các kết quả nghiên cứu của
các công trình khoa học liên quan đến đề tài luận luận văn, tác giả nhận thấy
các công trình nghiên cứu ở trên là những tài liệu rất bổ ích cho tác giả có thể
tham khảo kế thừa trong quá trình nghiên cứu đề tài. Tuy nhiên, hiện tại
chưa có đề tài, luận văn, luận án nào đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ
thống, cụ thể quản lý nhà nước về văn hóa ở huyện Krông Búk, tỉnh Đắk
Lắk. Trong khi đó, để nâng cao hiệu lực hiệu quả công tác quản lý nhà
nước về văn hóa thực sự phải có sự nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm từ
những địa phương cụ thể.
Chính vì vậy, tác giả luận văn đã lựa chọn công tác quản lý nhà nước về
văn hóa ở huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk hiện nay làm đề tài nghiên cứu
như một cố gắng góp phần tìm thêm những giải pháp thiết thực nhằm giải
quyết những bất cập trong công tác quản lý nhà nước về văn hóa hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Mục đích của luận văn là nghiên cứu quản lý nhà nước về văn hóa ở
huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk để củng cố và làm sâu sắc thêm cơ sở lý
luận và để xuất những giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về văn hóa ở
huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.
4
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mu ̣c đích trên, nhiệm vụ của luận văn là:
- Hệ thống hóa, phân tích và làm rõ thêm lý luận QLNN về VH.
- Đánh giá và phân tích thực trạng QLNN về VH ở huyện Krông Búk,
tỉnh Đắk Lắk.
- Đề xuất các giải pháp tăng cường QLNN về VH ở huyện Krông Búk,
tỉnh Đắk Lắk.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là những vấn đề lý luận và thực
tiễn QLNN về VH ở huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Trên địa bàn huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.
- Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng Từ năm 2011 đến năm 2017.
- Quản lý văn hóa là một trong những vấn đề rất nóng bỏng và có phạm
vi rộng cả về không gian và thời gian. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài,
tác giả chỉ giới hạn trong địa bàn huyện Krông Búk và trong khoảng thời gian
từ năm 2011 tới năm 2017 (chủ yếu năm 2017).
5. Cơ sở luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy
vật của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư t-ưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và vai trò
của văn hóa; đường lối quan điểm về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt
Nam tiên tiến đậm đà bản sắc của Đảng Cộng sản Việt Nam.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Tìm hiểu các nghiên cứu đã có
về VH và QLNN về VH ở huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk và ở Việt Nam,
5
đánh giá các quan điểm hợp lý và chưa hợp lý từ đó đưa ra các kiến giải theo
cách tiếp cận của tác giả.
- Phương pháp thực chứng: Dựa trên những tư liệu thực tiễn của các
ngành, các địa phương để phân tích, đánh giá thực trạng QLNN về VH ở
huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk, những kết quả và hạn chế làm cơ sở để đối
chứng, phân tích và đề xuất các giải pháp tăng cường QLNN về VH ở huyện
Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.
Ngoài ra còn sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích trong quá
trình nghiên cứu.
6. Đóng góp mới của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn
Luận văn hệ thống hóa, trình bày cơ sở lý luận quản lý nhà nước về văn
hóa. Đồng thời trên cơ sở hệ thống hóa quy định hiện hành về quản lý nhà nước
về văn hóa trên địa bàn cấp huyện, tác giả trình bày khái niệm, nội dung quản lý
văn hóa trên địa bàn huyện.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn khảo sát, phân tích chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân,
đề xuất các giải pháp khắc phục, hy vọng góp phần nâng cao hiệu quả quản lý
nhà nước về văn hoá ở huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk nói riêng và quản lý nhà
nước về văn hóa cấp huyện trên phạm vi cả nước nói chung.
Đề tài có thể làm nguồn tư liệu tham khảo phục vụ cho việc học tập của
sinh viên, học sinh chuyên ngành quản lý hành chính công của Học viện Hành
chính Quốc gia. Học viên hy vọng nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của các
nhà lãnh đạo, quản lý, các cơ quan hành chính nhà nước, các giảng viên giảng
dạy về văn hóa.
7. Kết cấu của luận văn
6
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, Luận văn
được bố cục thành 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về văn hóa.
Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về văn hoá trên địa bàn huyện
Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.
Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hoá trên
địa bàn huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.
7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm văn hóa
Văn hóa là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng
tạo ra trong quá trình tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội nhằm phục
vụ lợi ích nhu cầu của con người. Nhìn từ góc độ đó, con người làm ra rất
nhiều sản phẩm văn hóa hấp dẫn như các công trình kiến trúc chùa chiền, lễ
hội, đời sống tâm linh, ẩm thực… Trong đó, những sản phẩm ẩm thực là gần
gũi với đời sống con người nhất.
Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng, liên quan đến mọi mặt
đời sống vật chất và tinh thần của con người, nghĩa ban đầu của văn hóa trong
tiếng Hán là những nét xăm mình, qua đó người khác nhìn vào để nhận biết
và phân biệt mình với người khác.
Theo ngôn ngữ phương Tây, từ tương ứng với văn hóa của tiếng Việt
là culture trong tiếng Anh và tiếng Pháp, kultur trong tiếng Đức… có nguồn
gốc từ các dạng động từ của tiếng La tinh có nghĩa là giữ gìn, chăm sóc, tạo
dựng trong trồng trọt, cầu cúng.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa. Cho tới nay trên thế giới có
hơn 400 định nghĩa khác nhau về văn hóa. Văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn,
rất phong phú và phức tạp, do đó khái niệm văn hóa cũng đa nghĩa.
Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber
và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau
về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới. Văn hóa được đề cập
đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc học, nhân loại
8
học (theo cách gọi của Mỹ hoặc dân tộc học hiện đại theo cách gọi
của châu Âu), dân gian học, địa văn hóa học, văn hóa học, xã hội
học,...và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa cũng
khác nhau. Các định nghĩa về văn hóa nhiều và cách tiếp cận khác nhau
đến nỗi ngay cả cách phân loại các định nghĩa về văn hóa cũng có
nhiều. Một trong những cách đó phân loại các định nghĩa về văn hóa
thành những dạng chủ yếu sau đây:
- Về mặt thuật ngữ khoa học: Văn hóa được bắt nguồn từ
chữ Latinh "Cultus" mà nghĩa gốc là gieo trồng, được dùng theo
nghĩa Cultus Agri là "gieo trồng ruộng đất" và Cultus Animi là "gieo
trồng tinh thần" tức là "sự giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người".
Theo nhà triết học Anh Thomas Hobbes (1588-1679): "Lao động dành
cho đất gọi là sự gieo trồng và sự dạy dỗ trẻ em gọi là gieo trồng tinh
thần".
- Định nghĩa miêu tả: định nghĩa văn hóa theo những gì mà văn
hóa bao hàm, chẳng hạn nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett
Tylor (1832 - 1917) đã định nghĩa văn hóa như sau: văn hóa hay văn
minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp
gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và
bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với
tư cách là một thành viên của xã hội.
- Định nghĩa lịch sử: nhấn mạnh các quá trình kế thừa xã hội,
truyền thống dựa trên quan điểm về tính ổn định của văn hóa. Một
trong những định nghĩa đó là của Edward Sapir (1884 - 1939), nhà
nhân loại học, ngôn ngữ học người Mỹ: "văn hóa chính là bản thân con
người, cho dù là những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu
9
biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan
điểm được bảo tồn theo truyền thống".
- Định nghĩa chuẩn mực: nhấn mạnh đến các quan niệm về giá
trị, chẳng hạn William Isaac Thomas (1863 - 1947), nhà xã hội
học người Mỹ coi "văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ
nhóm người nào (các thiết chế, tập tục, phản ứng cư xử,...)".
- Định nghĩa tâm lý học: nhấn mạnh vào quá trình thích nghi
với môi trường, quá trình học hỏi, hình thành thói quen, lối ứng xử của
con người. Một trong những cách định nghĩa như vậy của William
Graham Sumner (1840 - 1910), viện sĩ Mỹ, giáo sư Đại học
Yale và Albert Galloway Keller, học trò và cộng sự của ông là: "Tổng
thể những thích nghi của con người với các điều kiện sinh sống của họ
chính là văn hóa, hay văn minh...Những sự thích nghi này được bảo
đảm bằng con đường kết hợp những thủ thuật như biến đổi, chọn lọc và
truyền đạt bằng kế thừa".
- Định nghĩa cấu trúc: chú trọng khía cạnh tổ chức cấu trúc của
văn hóa, ví dụ Ralph Linton (1893 - 1953), nhà nhân loại học người Mỹ
định nghĩa: "Văn hóa suy cho cùng là các phản ứng lặp lại ít nhiều có
tổ chức của các thành viên xã hội; Văn hóa là sự kết hợp giữa lối ứng
xử mà các thành tố của nó được các thành viên của xã hội đó tán thành
và truyền lại nhờ kế thừa".
- Định nghĩa nguồn gốc: định nghĩa văn hóa từ góc độ nguồn gốc
của nó, ví dụ định nghĩa của Pitirim Alexandrovich Sorokin (1889 1968), nhà xã hội học người Mỹ gốc Nga, người sáng lập khoa Xã hội
học của Đại học Harvard: "Với nghĩa rộng nhất, văn hóa chỉ tổng thể
những gì được tạo ra, hay được cải biến bởi hoạt động có ý thức hay vô
10
thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác động đến lối
ứng xử của nhau".
Năm 2002, UNESCO đưa ra một định nghĩa chung về VH như
sau: “VH là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri
thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó
chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức
chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin” [64].
- Khái niệm về văn hóa: Từ văn hóa có rất nhiều nghĩa. Trong tiếng
Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức, lối sống.
Theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn. Trong khi
theo nghĩa rộng, thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi, hiện
đại, cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống...
Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Nhà xuất bản Đà
Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 thì đưa ra một loạt quan
niệm về văn hóa:
- Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh
thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. -văn hóa là một
hệ thống hữu có các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo
và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa
con người với môi trường tự nhiên xã hội.
- Văn hóa là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu
cầu đời sống tinh thần (nói tổng quát);
- Văn hóa là tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát);
- Văn hóa là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của
văn minh;
- Văn hóa còn là cum từ để chỉ một nền văn hóa của một thời kỳ
lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật có
11
những đặc điểm giống nhau, (ví dụ: Văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Đông
Sơn).
- Trong cuốn Xã hội học Văn hóa của Đoàn Văn Chúc, Viện Văn
hóa và Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, xuất bản năm 1997, tác giả
cho rằng: VH – vô sở bất tại: "VH - không nơi nào không có. Điều này
cho thấy tất cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự
nhiên là văn hóa; nơi nào có con người nơi đó có văn hóa" [64].
Theo nhà văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Một hệ thống
hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua
quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi
trường tự nhiên và xã hội của mình…” [53, tr.24].
Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII nêu: “Văn hóa Việt Nam là thành
quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và
giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu
tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình.
Văn hoá Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc” [3, tr.40].
Vận dụng những quan điểm của Nghị quyết Đại hội XI và Nghị
quyết Trung ương 9 khoá XI vào điều kiện thực tiễn, Văn kiện Đại hội
XII nhấn mạnh tư tưởng chỉ đạo: Các cấp, các ngành phải nhận thức
đầy đủ và thực hiện có kết quả mục tiêu: Xây dựng nền văn hoá và con
người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ,
thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; Làm cho
văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là
sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo
vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh"...Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, phù hợp
với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
12
và hội nhập quốc tế, trong đó chú trọng: Xây dựng môi trường văn hoá,
đời sống văn hoá lành mạnh trong hệ thống chính trị, trong mỗi địa
phương, trong từng cộng đồng làng, bản, khu phố, cơ quan, đơn vị,
doanh nghiệp, khu công nghiệp và mỗi gia đình; Phát huy giá trị truyền
thống tốt đẹp, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh;
Xây dựng nếp sống văn hoá tiến bộ, văn minh, nhất là trong việc cưới,
việc tang, lễ hội; nâng cao chất lượng, hiệu quả các cuộc vận động văn
hóa, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá"; Từng
bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hoá giữa thành thị và nông
thôn, giữa các vùng, miền và các giai tầng xã hội; Phát huy các giá trị,
nhân tố tích cực trong văn hoá tôn giáo, tín ngưỡng [36, tr.126].
Như vậy, nói một cách tổng quát, văn hóa là sản phẩm của loài người,
văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã
hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, duy trì sự
bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ
khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo, phát triển trong
quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ
phát triển của con người, của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình
thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật
chất, tinh thần do con người tạo ra và được con người thừa nhận, bao gồm
trong đó có cái Chân, cái Thiện, cái Mỹ. Xây dựng và phát triển tốt những
thành tố cấu thành khái niệm văn hóa chính là để tạo ra nền tảng tinh thần cho
xã hội, góp phần khai thác và phát huy sức mạnh nội sinh của đất nước trong
thời kỳ đổi mới hội nhập và phát triển.
1.1.2. Khái niệm quản lý
Từ khi xã hội loài người được hình thành, hoạt động tổ chức, quản lý
đã được quan tâm. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động
13
nhằm đạt được hiệu quả cao hơn. Đó là hoạt động giúp cho người đứng đầu tổ
chức phối hợp sự nổ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng
nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, quản lý khi là động từ mang ý
nghĩa:
- “Quản” là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định;
- “Lý” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định.
- Hiểu theo ngôn ngữ Hán Việt, công tác “quản lý” là thực hiện hai quá
trình liên hệ chặt chẽ với nhau: “quản” và “lý”. Quá trình “quản” gồm sự coi
sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm việc
sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống vào thế “phát triển”. Nếu người quản
lý chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ;
tuy nhiên nếu chỉ quan tâm đến việc “lý”, tức là chỉ lo việc sắp xếp, tổ chức,
đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định, thì hệ thống sẽ phát triển
không bền vững. Nói chung, trong “quản” phải có “lý” và trong “lý” phải có
“quản”, làm cho hoạt động của hệ thống luôn ở trạng thái cân bằng. Sự quản
lý đưa đến kết quả đích thực bền vững đòi hỏi phải có mưu lược, nghệ thuật
làm cho hai quá trình “quản” và “lý” tích hợp vào nhau, hỗ trợ cho nhau cùng
tồn tại để phát triển theo đúng quy luật khách quan vốn có của một xã hội cụ
thể.
Trong nghiên cứu khoa học, có rất nhiều quan niệm về quản lý theo
những cách tiếp cận khác nhau. Chính vì sự đa dạng về cách tiếp cận, dẫn đến
sự phong phú về quan niệm. Có nhiều cách nhìn khác nhau về khái niệm quản
lý:
- Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Công tác quản lý lãnh đạo một
tổ chức xét cho cùng là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với
nhau: Quản và Lý. Quá trình “Quản” gồm sự chăm sóc, giữ gìn, duy
14
trì hệ ở trạng thái ổn định, quá trình “Lý” gồm việc sửa sang sắp xếp,
đổi mới đưa vào thế “phát triển”.
- Warren Bennis, một chuyên gia nổi tiếng về nghệ thuật lãnh
đạo đã từng nói rằng: “Quản lý là một cuộc thử nghiệm gắt gao trong
cuộc đời mỗi cá nhân, và điều đó sẽ mài giũa họ trở thành các nhà lãnh
đạo”. Tiếng Việt cũng có từ “quản lý” và “lãnh đạo” riêng rẽ giống
như “manager” và “leader” trong tiếng Anh [64].
- Tư tưởng và quan điểm “quản lý” đã có từ cách đây hơn 2500
năm nhưng cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, vấn đề quản lý
theo khoa học mới xuất hiện. Người khởi xướng là Fredrich Winslow
Taylor với cuốn sách “Các nguyên tắc quản lý theo khoa học”. Theo
ông thì "người quản lý phải là nhà tư tưởng, nhà lên kế hoạch chỉ đạo
tổ chức công việc" [65].
Khi bàn đến hoạt động quản lý và người quản lý cần khởi đầu từ khái
niệm “tổ chức”. Do tính đa nghĩa của thuật ngữ này nên ở đây chúng ta chỉ
nói đến tổ chức như một nhóm có cấu trúc nhất định những con người cùng
hoạt động vì một mục đích chung nào đó mà để đạt được mục đích gì đó một
con người riêng lẻ không thể đạt đến. Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ
cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ
chức hoạt động và đạt được mục đích của mình.
Từ các định nghĩa được nhìn nhận từ nhiều góc độ, chúng ta thấy rằng
tất cả các tác giả đều thống nhất về cốt lõi của khái niệm quản lý, đó là trả lời
câu hỏi; Ai quản lý? (Chủ thể quản lý); Quản lý ai? Quản lý cái gì? (Khách
thể quản lý); Quản lý như thế nào? (Phương thức quản lý); Quản lý bằng cái
gì? (Công cụ quản lý); quản lý để làm gì? (Mục tiêu quản lý). Từ đó chúng ta
có thể chỉ ra nội hàm và ngoại hàm của khái niệm này:
15
Quản lý là hiện tượng tồn tại trong mọi chế độ xã hội. Bất kỳ ở đâu, lúc
nào con người có nhu cầu kết hợp với nhau để đạt mục đích chung đều xuất
hiện quản lý. Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức điều hành
các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên
những quy luật khách quan. Xã hội càng phát triển, nhu cầu và chất lượng
quản lý càng cao.
Quản lý là hoạt động tất yếu khách quan của mọi quá trình lao động xã
hội. Nói quản lý là nói đến một dạng hoạt động có mục đích của chủ thể quản
lý tác động lên đối tượng quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định
đã định trước thông qua nguyên tắc, hình thức, phương pháp nào đó thích
hợp. Quản lý bao giờ cũng có tính mục đích, tính tổ chức và hướng tới tính
hiệu quả. Như vậy, nó là một quá trình bao gồm chuỗi hoạt động khác nhau để
đạt được kết quả mà chủ thể ngầm định đề ra để tồn tại và phát triển, quản lý
cần thiết đối với mọi phạm vi hoạt động của xã hội.
Sau khi chỉ ra nội hàm và khu biệt ngoại diên của khái niệm, ta có thể
hiểu khái niệm về quản lý là: Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có
định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản
lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành
một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy
luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi
trường.
1.1.3. Khái niệm quản lý nhà nước
Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước: “Quản lý nhà
nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước
đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy
trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực
hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây
16
dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”[52, tr.407].
Quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập
pháp., hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối
ngoại của nhà nước.
Quản lý nhà nước là quá trình tổ chức, quá trình điều hành của hệ thống
cơ quan hành chính nhà nước đối với xã hội và hành vi hoạt động của con
người theo pháp luật. Để đạt được những mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ quản
lý nhà nước đã đề ra.
Quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà
nước chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các
chức năng đối nội đối ngoại của nhà nước chủ quan của quản lý nhà nước là
tổ chức hay mang quyền lực nhà nước trong quá trình hoạt động tới đối tượng
quản lý.
Quản lý và quản lý nhà nước là một hoạt động xã hội đặc trưng. Nói
đến quản lý là nói đến một dạng hoạt động có mục đích của chủ thể quản lý
tác động lên đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu nhất định thông qua
các nguyên tắc, các hình thức, các phương pháp quản lý phù hợp. Quản lý bao
giờ cũng mang tính mục đích, tính tổ chức và tính hiệu quả. Quản lý là một
quá trình bao gồm nhiều hoạt động khác nhau để đạt hiệu quả đề ra. Quản lý ở
tầm vĩ mô là quản lý nhà nước.
Quản lý nhà nước luôn mang tính quyền lực, tính tổ chức chặt chẽ; đặc
điểm pháp lý của quan hệ quản lý là sự không bình đẳng giữa các bên trong
quan hệ quản lý, chính vì vậy trong quản lý nhà nước mọi mệnh lệnh, quyết
định quản lý luôn mang tính đơn phương một chiều, bắt buộc thực hiện và khi
cần các chủ thể quản lý có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành. Mọi
mệnh lệnh, quyết định quản lý phải được chấp hành nghiêm túc, triệt để, xác
định rõ trách nhiệm pháp lý và xử lý nghiêm minh mọi sự chây ỳ, dây dưa,
17
chấp hành không nghiêm túc.
Quản lý nhà nước phải đảm bảo nguyên tắc công khai, dân chủ trong
hoạt động thể hiện tinh thần tôn trọng nhân dân, biết lắng nghe, tiếp thu ý kiến
nhân dân. Quản lý theo đúng luật sẽ góp phần tích cực vào việc lập lại trật tự
kỷ cương trong tình hình văn hóa - xã hội hiện đang có nhiều lộn xộn. Đặc
biệt, trong quá trình tăng cường hội nhập quốc tế, trong bối cảnh nền kinh tế
toàn cầu, ứng dụng rộng rãi những thành tựu của công nghệ thông tin, làm
phong phú những ảnh hưởng qua lại giữa các nền văn hóa.
Bằng những lát cắt khác nhau về quản lý nhà nước, ta có thể hiểu: quản
lý nhà nước là tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người
quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về mặt chính trị,
văn hóa, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách, nguyên tắc,
phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện
cho sự phát triển của đối tượng. Đối tượng của quản lý có thể trên quy mô
toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị, có thể là một con người, sự vật cụ
thể. Quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp con người, công cụ,
phương tiện tài chính… để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm tạo mục tiêu
định trước.
Trình độ quản lý của một xã hội, đánh dấu sự phát triển của xã hội đó
trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Trình độ quản lý xã hội thể hiện ở sự
hoàn thiện của hệ thống tổ chức bộ máy, hệ thống thể chế và trình độ của đội
ngũ cán bộ quản lý. Quản lý nhà nước về văn hóa là một dạng quản lý xã hội
đặc thù mang tính tất yếu khách quan và có vị trí cực kỳ quan trọng, ở một
quan hệ nào đó có thể coi quản lý nhà nước về văn hóa đóng vai trò quyết
định cho sự phát triển xã hội trong những điều kiện cụ thể.
1.1.4. Khái niệm quản lý nhà nước về văn hóa
18
Quản lý nhà nước về văn hóa là một bộ phận nói chung của quản lý nhà
nước đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội. tuy nhiên, do những đặc thù
của văn hóa, quản lý nhà nước cũng có nhiều điểm riêng. Trong điều kiện nền
kinh tế thị trường, xã hội hóa Văn hóa thì vai trò của Nhà nước lại càng không
thể thiếu được, nhằm phát huy những yếu tố tích cực và hạn chế những mặt
trái của thị trường, định hướng nền văn hóa được bảo vệ, giữ gìn, phát triển
phù hợp mục tiêu chung của chủ nghĩa xã hội
Hiện nay ở Việt Nam, khái niệm quản lý nhà nước về văn hóa vẫn cần
được tiếp tục xác định rõ hơn về nội hàm. Trong những định hướng của Đảng về
phát triển văn hóa, khái niệm này được dùng: quản lý nhà nước đối với hoạt
động văn hóa văn nghệ, quản lý theo hướng xã hội hóa các hoạt động văn hóa
thông tin, đổi mới và tăng cường quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hóa thông tin.
Có nhiều cách diễn đạt khác nhau, nhưng thực chất của quản lý nhà
nước về văn hóa chính là sự định hướng, tạo điều kiện bằng các nguồn lực và
môi trường, tổ chức điều hành của nhà nước, mục đích là làm cho văn hóa
phát triển theo đúng quy luật khách quan, phù hợp với xu thế phát triển tất
yếu đối với từng hình thái kinh tế - xã hội cụ thể. Chúng tôi đồng tình với
khái niệm quản lý văn hóa sau đây:
Quản lý nhà nước về văn hóa là sự quản lý của nhà nước đối với toàn
bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của nhà nước thông qua
hiến pháp, pháp luật và cơ chế chính sách nhằm bảo đảm sự phát triển của nền
văn hóa dân tộc.
Theo nghĩa rộng, ở nước ta, quản lý nhà nước về văn hóa được thực hiện
thông qua ba cơ quan trong bộ máy nhà nước: cơ quan lập pháp, hành pháp, tư
pháp. Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nước về văn hóa được thể hiện trong hoạt
động quản lý có tính chất nhà nước nhằm điều hành các hoạt động văn hóa, được
19