Tải bản đầy đủ (.pdf) (123 trang)

Năng lực công chức cấp xã trên địa bàn huyện phú hòa, tỉnh phú yên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (936.05 KB, 123 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…...……/…...……

BỘ NỘI VỤ
.…/….

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

HÀ CÔNG VINH

NĂNG LỰC CÔNG CHỨC CẤP XÃ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

ĐẮKLẮK - NĂM 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…...……/…...……

BỘ NỘI VỤ
.…/….

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

HÀ CÔNG VINH

NĂNG LỰC CÔNG CHỨC CẤP XÃ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN


LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ NHƯ THANH

ĐẮKLẮK - NĂM 2019


LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả các thầy, cô đã tận tình
truyền đạt kiến thức và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại
Học viện Hành chính Quốc gia. Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến
Tiến sĩ Lê Như Thanh - người đã hướng dẫn, chia sẽ, giúp đỡ tôi trong quá
trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện
Phú Hòa đã quan tâm, tạo điều kiện cho tôi tham gia và hoàn thành khóa học.
Cảm ơn các đồng nghiệp tại Phòng Nội vụ huyện Phú Hòa đã chia sẽ, cung
cấp thông tin, số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu và hoàn thành đề tài luận
văn.
Cảm ơn công chức, lãnh đạo Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn trên địa
bàn huyện Phú Hòa và người dân đến liên hệ giải quyết thủ tục hành chính tại
Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả các xã, thị trấn đã cung cấp thông tin, số liệu
và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình khảo sát, nghiên cứu thực
tiễn tại địa phương.
Do năng lực và thời gian nghiên cứu có hạn nên đề tài luận văn này có
thể vẫn còn nhiều thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp để
tiếp tục bổ sung thêm những kiến thức cho bản thân.
Tác giả


Hà Công Vinh


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Năng lực công chức cấp xã trên địa bàn
huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên” là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn này là trung thực và chưa
từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Các số liệu, tài liệu tham khảo được trích dẫn nguồn đúng theo hướng
dẫn quy cách trình bày luận văn thạc sĩ của Học viện Hành chính Quốc gia./.

Tác giả

Hà Công Vinh


DANH MỤC CÁC BẢNG HÌNH
Trang
Bảng 2.1: Số lượng công chức cấp xã theo từng chức danh.

45

Bảng 2.2: Cơ cấu công chức cấp xã theo độ tuổi.

46

Bảng 2.3: Cơ cấu công chức cấp xã theo giới tính.


47

Bảng 2.4: Trình độ văn hóa của công chức cấp xã.

49

Bảng 2.5: Trình độ chuyên môn của công chức cấp xã.

50

Bảng 2.6: Trình độ lý luận chính trị của công chức cấp xã.

51

Bảng 2.7: Trình độ quản lý nhà nước của công chức cấp xã.

52

Bảng 2.8: Trình độ tin học và ngoại ngữ của công chức cấp xã.

53

Bảng 2.9: Kết quả khảo sát kỹ năng tư duy của công chức cấp xã
huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.
Bảng 2.10: Kết quả khảo sát kỹ năng lập kế hoạch của công chức cấp
xã huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.
Bảng 2.11: Kết quả khảo sát kỹ năng giao tiếp của công chức cấp xã
huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.
Bảng 2.12: Kết quả khảo sát kỹ năng soạn thảo văn bản của công
chức cấp xã huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.

Bảng 2.13: Kết quả khảo sát kỹ năng phối hợp thực hiện nhiệm vụ
của công chức cấp xã huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.
Bảng 2.14: Kết quả khảo sát kỹ năng xử lý và giải quyết các tình huống
của công chức cấp xã huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.
Bảng 2.15: Kết quả khảo sát thái độ phục vụ nhân dân của công chức
cấp xã huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.
Bảng 2.16: Kết quả khảo sát thái độ đối với công việc được giao của
công chức cấp xã huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.
Bảng 2.17: Tổng hợp kết quả đánh giá công chức cấp xã huyện Phú
Hòa, tỉnh Phú Yên năm 2018.

54
55
56
57
58
59
60
61
62


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU

1

1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn


1

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

3

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

6

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

7

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

7

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

8

7. Kết cấu của luận văn

9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CÔNG CHỨC
CẤP XÃ

10


1.1. Nhận thức chung về năng lực công chức cấp xã

10

1.1.1. Công chức, công chức cấp xã

10

1.1.2. Năng lực, năng lực công chức cấp xã

12

1.1.3. Đặc điểm công chức cấp xã

14

1.1.4. Vị trí, vai trò của công chức cấp xã

15

1.1.5. Nhiệm vụ và tiêu chuẩn công chức cấp xã

17

1.2. Các yếu tố cấu thành năng lực của công chức cấp xã

22

1.2.1. Kiến thức


22

1.2.2. Kỹ năng

23

1.2.3. Thái độ

23

1.3. Các tiêu chí đánh giá năng lực công chức cấp xã

24

1.3.1. Tiêu chí đánh giá thông qua các yếu tố cấu thành năng lực
của công chức cấp xã

24

1.3.2. Tiêu chí đánh giá thông qua kết quả thực hiện nhiệm vụ của
công chức cấp xã

31


1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực công chức cấp xã

31


1.4.1. Các yếu tố chủ quan

31

1.4.2. Các yếu tố khách quan

34

1.5. Kinh nghiệm nâng cao năng lực công chức cấp xã của một số
địa phương và những giá trị tham khảo

36

1.5.1. Kinh nghiệm nâng cao năng lực công chức cấp xã của một số
địa phương

36

1.5.2. Những giá trị tham khảo

38

Tiểu kết chương 1

40

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CÔNG CHỨC CẤP
XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH
PHÚ YÊN


41

2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội
huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên

41

2.1.1. Điều kiện tự nhiên

41

2.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội

42

2.1.3. Đánh giá tác động của kinh tế - xã hội đến hoạt động chính quyền
cơ sở và công chức cấp xã ở huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.

43

2.2. Tổng quan đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn huyện Phú
Hòa, tỉnh Phú Yên

44

2.2.1. Nguồn hình thành

44

2.2.2. Số lượng


45

2.2.3. Cơ cấu

46

2.3. Phân tích thực trạng năng lực công chức cấp xã trên địa bàn
huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên

48

2.3.1. Thực trạng năng lực công chức cấp xã trên địa bàn huyện Phú
Hòa, tỉnh Phú Yên thông qua các yếu tố cấu thành năng lực

48

2.3.2. Thực trạng năng lực công chức cấp xã trên địa bàn huyện
Phú Hòa, tỉnh Phú Yên thông qua đánh giá kết quả thực hiện
nhiệm vụ của công chức cấp xã

62


2.4. Đánh giá chung

63

2.4.1. Ưu điểm


63

2.4.2. Hạn chế

65

2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế năng lực công chức cấp xã
trên địa bàn huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên

69

Tiểu kết chương 2

73

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG
CAO NĂNG LỰC CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

74

3.1. Quan điểm

74

3.2. Một số giải pháp nâng cao năng lực công chức cấp xã trên địa
bàn huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên

77


3.2.1. Nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng công chức cấp xã

77

3.2.2. Hoàn thiện hình thức, phương pháp đánh giá công chức cấp xã

83

3.2.3. Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã

88

3.2.4. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực
hiện nhiệm vụ của công chức cấp xã

91

3.2.5. Tạo môi trường làm việc thuận lợi cho công chức cấp xã

95

Tiểu kết chương 3

97

KẾT LUẬN

98



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Trong hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, cấp xã có một vị trí hết sức quan trọng trong tổ chức, triển khai thực
hiện và điều hành nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước ở địa phương. Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “cấp xã là cấp gần dân nhất, là nền
tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi”
[21, tr.460]. Vai trò của chính quyền cơ sở thể hiện tính chất đặc thù của hệ
thống chính quyền ở cơ sở; đồng thời, phản ánh tính chất tự quản khá cao của
nó, nhất là trong bối cảnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa với sự tác động của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và hội nhập quốc tế hiện nay. Tại Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung
ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa IX) đã thảo luận và nhất trí thông qua
nghị quyết “Về đổi mới nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã,
phường, thị trấn”; đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng
định: Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng
yêu cầu của tình hình mới.
Bất kỳ chế độ chính trị hay bất cứ lĩnh vực nào, nhân tố con người luôn
đóng vai trò quyết định. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: Chủ "Cán
bộ là cái gốc của mọi công việc" [21, tr.269], “muôn việc thành công hoặc
thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém” [21, tr.240]. Đội ngũ công chức có vai
trò quan trọng trong hệ thống chính trị nói chung và chính quyền cơ sở nói
riêng. Công chức là lực lượng quan trọng quyết định sự thành công của công
cuộc cải cách nền hành chính trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Vì vậy, xây dựng đội ngũ công chức là vấn đề luôn được Đảng, Nhà
nước quan tâm hàng đầu trong mọi giai đoạn, nhằm đảm bảo hoạt động hoàn
thiện của nền hành chính và là giải pháp hữu hiệu nhất để xây dựng thành
1



công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hội nghị lần thứ 5
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX cũng đã xác định: “Xây dựng đội
ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường
lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân,
biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân, trẻ hóa đội ngũ,
chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách
đối với cán bộ cơ sở” [18, tr.167].
Những năm gần đây hệ thống chính trị ở cơ sở ngày càng được đổi mới
cả về tổ chức và hoạt động. Trong đó, chính quyền cơ sở và đội ngũ công
chức cấp xã được quan tâm trong quá trình đổi mới của hệ thống chính trị.
Tuy nhiên, đội ngũ công chức cấp xã hiện nay vẫn còn có những hạn chế so
với yêu cầu phát triển của đất nước, đặc biệt trong giai đoạn đang xây dựng
và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam “của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân” hiện nay.
Huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên được thành lập trên cơ sở chia tách địa
giới hành chính thị xã Tuy Hoà để thành lập 02 đơn vị hành chính mới là thị
xã Tuy Hoà (nay là thành phố Tuy Hòa) và huyện Phú Hoà theo Nghị định
15/2002/NĐ-CP, ngày 31/01/2002 của Chính phủ; chính thức đi vào hoạt
động ngày 04/3/2002. Toàn huyện có 08 xã và 01 thị trấn.
Địa bàn huyện Phú Hòa có trục đường Quốc lộ 1 đi qua ở hướng Đông
và Quốc lộ 25 chạy dọc từ Đông sang Tây; thuận lợi giao lưu kinh tế để phát
triển tiềm năng về mọi mặt của mình cũng như tận dụng những ưu thế riêng
để trao đổi, hợp tác với các tỉnh khác, đặc biệt là khu vực Tây Nguyên. Cơ
cấu kinh tế huyện Phú Hòa chuyển dịch theo hướng ngày càng giảm tỷ lệ giá
trị sản xuất nông nghiệp, tăng tỷ lệ sản xuất công nghiệp và duy trì tỷ lệ giá trị
sản xuất thương mại - dịch vụ. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân
ngày càng được nâng lên.
2



Hệ thống chính trị cấp cơ sở trên địa bàn huyện Phú Hòa từng bước
được củng cố kiện toàn, năng lực của đội ngũ công chức cấp xã cũng từng
bước được nâng lên. Công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sắp xếp
công chức cấp xã được triển khai, thực hiện tương đối có hiệu quả. Tuy nhiên,
bên cạnh đó đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn vẫn còn nhiều hạn chế về
kiến thức, kỹ năng và thái độ trong thực hiện nhiệm vụ được giao; vì vậy,
trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng,
an ninh của chính quyền cơ sở còn gặp nhiều khó khăn, công tác cải cách
hành chính chưa đạt kết quả như yêu cầu. Nhìn chung, chất lượng công chức
cấp xã trên địa bàn huyện Phú Hòa còn thấp so với yêu cầu của thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
Xuất phát từ tầm quan trọng của chính quyền cơ sở, công chức cấp xã
và những yêu cầu trong giai đoạn hiện nay, việc lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“Năng lực công chức cấp xã trên địa bàn huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên” là
vấn đề tất yếu và có ý nghĩa quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hệ thống
chính trị ở cơ sở trên địa bàn huyện Phú Hòa, tính chuyên môn cao của đội
ngũ công chức cấp xã, qua đó nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân và góp
phần xây dựng nền hành chính hiện đại.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Vấn đề năng lực công chức cấp xã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu
và đã có nhiều công trình, bài viết của các tác giả đã được công bố như:
- Nguyễn Văn An (2015), Nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên
địa bàn huyện Đăk Hà – tỉnh Kon Tum, Luận văn Thạc sỹ Quản lý hành chính
công, Học viện Hành chính Quốc gia. Luận văn đã khái quát chung những
vấn đề về tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá chất lượng công chức, thực trạng chất
lượng công chức; đồng thời đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ
công chức cấp xã. Tuy nhiên, nội dung các giải pháp còn mang tính chung
3



chung, chưa thật sự thiết phục, không cụ thể chức danh nào.[1]
- Trần Minh Lý (2010), Nâng cao năng lực thực thi công vụ của công
chức cấp xã ở tỉnh Đồng Tháp, Luận văn Thạc sỹ Quản lý hành chính công,
Học viện Hành chính Quốc gia. Luận văn đã khái quát được những vấn đề cơ
bản về năng lực thực thi công vụ của công chức xã nhưng chưa đưa ra được
các tiêu chí đánh giá cụ thể về năng lực thực thi công vụ của công chức xã.
Trong phần phân tích thực trạng chỉ dựa vào các số liệu báo cáo có sẵn,
không tiến hành điều tra, khảo sát thực tế tại cơ sở, do đó các giải pháp đề ra
chưa thật sự thuyết phục. [28]
- TS Thang Văn Phúc và TS Nguyễn Minh Phương (2004), Xây dựng
đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng đòi hỏi của nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội. Công trình nghiên cứu đã xác định các yêu cầu, tiêu chuẩn của cán
bộ, công chức đáp ứng đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của dân, do dân, vì dân; có thể kế thừa những kết quả nghiên cứu để đưa ra
những tiêu chuẩn để xây dựng một đội ngũ công chức cấp xã phù hợp với xu
thế phát triển nói chung và phù hợp với điều kiện, đặc trưng của huyện Phú
Hòa nói riêng. [29]
- Võ Thị Thu Thủy (2009), Nâng cao năng lực thực thi công vụ của cán
bộ, công chức cấp xã ở thành phố Cần Thơ, Luận văn Thạc sỹ Quản lý hành
chính công, Học viện Hành chính Quốc gia. Luận văn đã làm rõ một số vấn
đề lý luận chung về năng lực thực thi công vụ của cán bộ, công chức cấp xã.
Tuy nhiên do khách thể và phạm vi nghiên cứu quá rộng nên ở phần phân tích
thực trạng năng lực thực thi công vụ của cán bộ, công chức ở thành phố Cần
Thơ, luận văn chưa tập trung phân tích sâu thực trạng năng lực từng chức
danh cán bộ, công chức cấp xã. Cán bộ cấp xã và công chức cấp xã là những
đối tượng nghiên cứu có những đặc thù khác nhau; tuy nhiên các giải pháp mà
4



luận văn đề xuất không làm rõ sự khác biệt này, các giải pháp đề xuất mang
tính chung cho cả hai đối tượng là chưa hợp lý.[35]
- PGS.TS Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm (2001), Luận
cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội. Công trình nghiên cứu này đã hệ thống hóa các căn cứ khoa học của việc
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo các
cấp. Đồng thời, đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm củng cố, phát
triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu phù hợp
với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam. Mặc dù
vậy, công trình nghiên cứu này chỉ mang tính chất định hướng chung cho việc
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong toàn bộ hệ thống chính
trị, chưa quan tâm, nghiên cứu sâu sắc và toàn diện về năng lực thực thi công
vụ của công chức xã. [36]
- Nguyễn Thị Tươi (2013), Nâng cao năng lực thực thi công vụ của
công chức cấp xã ở tỉnh Tây Ninh, Luận văn Thạc sỹ Quản lý hành chính
công, Học viện Hành chính Quốc gia. Luận văn đã khái quát những vấn đề cơ
bản về năng lực thực thi công vụ của công chức xã, phân tích thực trạng năng
lực thực thi công vụ dựa trên những tiêu chí xác định trước nhưng các tiêu chí
này còn chung chung, chưa đánh giá đúng bản chất năng lực thực thi công vụ
của công chức xã. [34]
Nhìn chung, những công trình, bài viết nói trên đã đề cập một cách có
hệ thống những vấn đề chung về cán bộ, công chức cấp xã, năng lực thực thi
công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên nhiều góc độ và phạm vi
nghiên cứu khác nhau. Những luận cứ khoa học do các tác giả nghiên cứu
cung cấp là tiền đề quan trọng để tiếp tục nghiên cứu và phát triển luận văn
này. Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu trên có phạm vi và khách
5



thể nghiên cứu rất rộng bao gồm cả cán bộ cấp xã và công chức cấp xã, chưa
tập trung nghiên cứu sâu về năng lực đối với đối tượng công chức cấp xã.
Mặt khác, cho đến thời điểm này, trên địa bàn huyện Phú Hòa vẫn chưa
có đề tài khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về năng lực
của công chức cấp xã. Đây cũng là vấn đề hết sức cấp thiết đặt ra đối với hoạt
động của chính quyền cơ sở ở huyện Phú Hòa, và đây cũng chính là lý lo để
tác giả đã thực hiện đề tài luận văn “Năng lực công chức cấp xã trên địa bàn
huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên”.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ các vấn đề lý luận và kết quả phân tích, đánh giá thực
trạng năng lực công chức cấp xã trên địa bàn huyện Phú Hòa, đưa ra một số
giải pháp có tính khả thi và phù hợp với thực tiễn của địa phương nhằm mục
đích nâng cao năng lực công chức cấp xã trên địa bàn huyện Phú Hòa, tỉnh
Phú Yên.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống và làm rõ một số vấn đề lý luận về năng lực của công chức
cấp xã như: khái niệm và các yếu tố cấu thành năng lực của công chức xã; xác
định tiêu chí đánh giá; các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực công chức cấp xã.
- Nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn ở một số địa phương, từ đó rút ra
những giá trị tham khảo trong việc nâng cao năng lực công chức cấp xã huyện
Phú Hòa.
- Phân tích, đánh giá thực trạng về năng lực của công chức cấp xã trên
địa bàn huyện Phú Hòa. Làm rõ những ưu điểm, hạn chế về năng lực của
công chức cấp xã trên địa bàn huyện Phú Hòa trong thời gian qua, xác định
những nguyên nhân hạn chế.
- Đề xuất một số giải pháp khả thi, phù hợp nhằm nâng cao năng lực
6



công chức cấp xã trên địa bàn huyện Phú Hòa.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là năng lực công chức cấp xã trên
địa bàn huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về chủ thể: nghiên cứu các tiêu chí tác động đến năng lực công chức
cấp xã như: trình độ, kỹ năng, thái độ.
- Về khách thể: Luận văn nghiên cứu năng lực của 07 chức danh công
chức cấp xã gồm: Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã; Trưởng Công an xã; Văn
phòng - Thống kê; Địa chính - Xây dựng - Đô thị và Môi trường (đối với
phường, thị trấn) hoặc Địa chính - Nông nghiệp - Xây dựng và Môi trường
(đối với xã); Tài chính - Kế toán; Tư pháp - Hộ tịch; Văn hóa - Xã hội.
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu về năng lực công chức tại 09 xã,
thị trấn trên địa bàn huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu năng lực công chức tại cấp xã trên
địa bàn huyện Phú Hòa trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn:
5.1. Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương
pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và
pháp luật của Nhà nước về năng lực của công chức cấp xã.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu,
tác giả luận văn sử dụng đồng thời nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó
tập trung vào các phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thực hiện phương pháp này nhằm
đánh giá tình hình nghiên cứu đề tài của các tác giả để tránh trùng lặp trong
7



nghiên cứu; nhận diện những điểm mạnh, điểm hạn chế trong nghiên cứu;
chọn lọc, kế thừa các kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn để tiếp tục
nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện và phát triển lý luận về năng lực công chức
cấp xã.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Thực hiện phương pháp này nhằm
thu thập thông tin, số liệu một cách khách quan, trung thực về năng lực của
công chức xã để cung cấp luận cứ khoa học phục vụ công tác nghiên cứu.
Cách thức thực hiện là xây dựng các biểu mẫu trên cơ sở các tiêu chí đánh giá
năng lực công chức cấp xã và tiến hành khảo sát lấy ý kiến đối với công chức
và lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp xã; đồng thời khảo sát lấy ý kiến người dân
về thái độ phục vụ nhân dân của công chức cấp xã.
Bên cạnh các phương pháp nghiên cứu cơ bản nêu trên, đề tài luận văn
còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp so sánh;
phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp thống kê kết quả điều tra xã
hội học.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1.Về phương diện lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp
phần bổ sung những vấn đề lý luận về năng lực của công chức cấp xã ở nước
ta hiện nay.
6.2.Về phương diện thực tiễn
- Luận văn cung cấp các luận cứ khoa học giúp lãnh đạo Huyện ủy, Ủy
ban nhân dân huyện và các cơ quan quản lý cán bộ, công chức của huyện Phú
Hòa trong việc xây dựng chương trình hành động, quy hoạch, kế hoạch phát
triển, nâng cao năng lực cho công chức cấp xã; hoàn thiện các chế độ, chính
sách liên quan đến công chức cấp xã.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên
chuyên ngành Quản lý công hoặc làm tài liệu tham khảo cho những ai quan
8



tâm đến vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần: Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục; phần
nội dung chính của luận văn gồm 03 chương, như sau:
- Chương 1: Cơ sở khoa học về năng lực công chức cấp xã.
- Chương 2: Thực trạng năng lực công chức cấp xã trên địa bàn huyện
Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực công chức cấp xã trên địa
bàn huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.

9


Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NĂNG LỰC CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.1. Nhận thức chung về năng lực công chức cấp xã
1.1.1. Công chức, công chức cấp xã
1.1.1.1. Khái niệm công chức
Lịch sử ra đời và phát triển của nền công vụ của bất kỳ quốc gia nào
đều cần xây dựng và quản lý đội ngũ công chức bao gồm những người có
năng lực quản lý, trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức tốt, làm việc
nghiêm túc.
Công chức là một khái niệm mang tính lịch sử, được sử dụng khá phổ
biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, đồng thời phản ánh đặc trưng riêng của
nền công vụ ở mỗi quốc gia. Tùy thuộc vào đặc điểm chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội và chính sách của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể
mà nội dung của khái niệm công chức được hiểu theo nhiều cách khác nhau.
Việc xác định ai là công chức ở các quốc gia trên thế giới thường do các yếu
tố sau đây quyết định: hệ thống thể chế chính trị; tổ chức bộ máy nhà nước;
sự phát triển kinh tế - xã hội; tính truyền thống và các yếu tố văn hoá, lịch sử.

Mỗi quốc gia đều xây dựng cho mình những khái niệm riêng phù hợp
với quan niệm về hoạt động công vụ, chế độ chính trị, văn hóa và lịch sử phát
triển. Tuy nhiên, đặc điểm chung của công chức ở nhiều quốc gia thường là:
công dân của nước đó; được tuyển dụng qua thi tuyền hoặc xét tuyển; được
bổ nhiệm vào một ngạch, một chức danh hoặc gắn với một vị trí việc làm;
được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.
Trong khoa học hành chính, thuật ngữ “công chức” thường được hiểu
một cách khái quát là những người được Nhà nước tuyển dụng, nhận một
công vụ hoặc một nhiệm vụ nhất định, do Nhà nước trả lương và có nghĩa vụ,
bổn phận phục vụ Nhân dân, phục vụ Nhà nước theo các quy định của pháp
10


luật.
Trước yêu cầu khách quan cải cách hành chính nhà nước và đòi hỏi
phải chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức, năm 2008, Quốc hội khóa XII đã
thông qua Luật Cán bộ, công chức, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01
năm 2010. Tại Khoản 2, Điều 4 của Luật này có quy định: “Công chức là
công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức
danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính
trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc
quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công
dân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không
phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý
của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập),
trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức
trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được
đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp
luật”.[30, tr.1]

Sự ra đời của Luật Cán bộ, công chức là một bước cải cách lớn nhất
trong lịch sử nền công vụ Việt Nam, đã giải quyết được vấn đề cốt lỗi, tồn tại
suốt trong thời gian dài, đó là phân biệt rõ ràng ai là cán bộ, ai là công chức
trong bộ máy nhà nước. Đây cũng là cơ sở pháp lý quan trọng tạo tiền đề để
tiếp tục xây dựng đội ngũ công chức không ngừng phát triển về mọi mặt, góp
phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động và xây dựng bộ máy chính quyền
trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển của đất nước
trong tình hình mới.
1.1.1.2. Khái niệm công chức cấp xã
- Công chức cấp xã là nguồn nhân lực quan trọng trong bộ máy chính
11


quyền cơ sở, là một bộ phận cấu thành đội ngũ cán bộ, công chức nước ta.
- Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Cán bộ, công chức; tại Khoản 3,
Điều 4 của Luật quy định: “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được
tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân
cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[30, tr.2]. Cụ
thể hơn, tại khoản 3, Điều 61 của Luật Cán bộ, công chức quy định bảy chức
danh công chức cấp xã gồm: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn
phòng - Thống kê; Địa chính – Xây dựng – Đô thị và Môi trường (đối với
phường, thị trấn) hoặc Địa chính - Nông nghiệp - Xây dựng và Môi trường
(đối với xã); Tài chính - Kế toán; Tư pháp - Hộ tịch; Văn hóa - Xã hội.
- Việc luật hóa công chức cấp xã là một bước đột phá, thể hiện sự thay
đổi trong tư duy và nhận thức căn bản của các cơ quan nhà nước trong tiến
trình cải cách nền công vụ Việt Nam. Điều chỉnh pháp luật đối với công chức
cấp xã đã góp phần củng cố, kiện toàn hoạt động của chính quyền cơ sở, tạo
động lực và điều kiện thuận lợi để từng bước xây dựng đội ngũ công chức cấp
xã; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở.
1.1.2. Năng lực, năng lực công chức cấp xã

1.1.2.1. Khái niệm năng lực
- Để tồn tại và phát triển, con người phải tiến hành các hoạt động cần
thiết để tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu đời sống. Muốn tiến hành các hoạt
động có hiệu quả, con người cần phải có kiến thức, kỹ năng và thái độ cần
thiết để đáp ứng các yêu cầu hoạt động; sự kết hợp những yếu tố này để đảm
bảo hiệu quả hoạt động. Khái niệm về năng lực được các nhà nghiên cứu
quan tâm, có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau về thuật ngữ “năng lực”:
+ Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng của Nhà xuất bản Giáo dục năm
1996 thì “Năng lực là khả năng làm việc tốt” [45, tr.287].
+ Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đà
12


Nẵng năm1997 thì xem “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự
nhiên có thể thực hiện một hoạt động nào đó, hoặc theo nghĩa khác là phẩm
chất, tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hành động
nào đó với chất lượng cao” [31, tr.347].
+ Theo Từ điển Thuật ngữ hành chính (2002) của Viện nghiên cứu
hành chính cho rằng: “Năng lực là thuật ngữ chỉ khả năng về thể chất và trí
tuệ của cá nhân con người hoặc khả năng của một tập thể có tổ chức tự tạo
lập và thực hiện được các hành vi ứng xử của mình trong các quan hệ xã hội
nhằm thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ do mình đề ra hoặc do Nhà nước
hay chủ thể khác ấn định với kết quả tốt nhất” [33, tr.404].
- Mặc dù, có nhiều quan niệm khác nhau về năng lực nhưng tựu chung
lại, năng lực có các đặc điểm sau:
+ Năng lực bao giờ cũng gắn với một chủ thể nhất định, có thể là năng
lực của cá nhân hoặc một tập thể.
+ Năng lực không mang tính chung chung, khi nói đến năng lực bao
giờ người ta cũng nói đến năng lực về một hoạt động cụ thể nào đó (như:
năng lực như năng lực chuyên môn, năng lực lãnh đạo, năng lực thực thi công

vụ, năng lực tài chính…)
+ Năng lực của con người là tập hợp tất cả các yếu tố thuộc về thể chất,
trí tuệ tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó đạt kết
quả tốt nhất. Có nhiều yếu tố cấu thành nên năng lực nhưng yếu tố cơ bản
nhất, quyết định năng lực của mỗi người là kiến thức, kỹ năng và thái độ.
+ Năng lực của mỗi con người cũng có thể do yếu tố bẩm sinh mà có.
Tuy nhiên, phần lớn năng lực của mỗi cá nhân phải trải qua quá trình đào tạo,
bồi dưỡng, thực hành và tích lũy kinh nghiệm mới hình thành.
Từ cơ sở các đặc điểm nêu trên, có thể khái niệm về năng lực như sau:
Năng lực là sự kết hợp của kiến thức, kỹ năng và thái độ có sẵn hoặc ở dạng
13


tiềm năng có thể học hỏi được của một tập thể hoặc cá nhân để thực hiện tốt
nhiệm vụ, công việc.
1.1.2.2. Khái niệm năng lực công chức cấp xã
Từ khái niệm năng lực và khái niệm công chức cấp xã, có thể tổng hợp
và đưa ra khái niệm năng lực công chức cấp xã như sau: Năng lực công chức
cấp xã là sự kết hợp của kiến thức, kỹ năng và thái độ có sẵn hoặc ở dạng
tiềm năng có thể học hỏi được của một công chức cấp xã để thực hiện tốt
nhiệm vụ, công việc.
1.1.3. Đặc điểm công chức cấp xã
- Công chức cấp xã có những đặc điểm cơ bản của đội ngũ cán bộ, công
chức trong nền công vụ Việt Nam. Cụ thể:
Thứ nhất, là công dân Việt Nam;
Thứ hai, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh.
Có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với ngạch, chức vụ, chức danh
được tuyển dụng.
Thứ ba, nơi làm việc của công chức rất đa dạng: Trong cơ quan của
Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và trong bộ

máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội.
Thứ tư, về thời gian công tác: Công chức đảm nhiệm công tác từ khi
được bổ nhiệm, tuyển dụng cho tới khi nghỉ hưu theo quy định mà không hoạt
động theo nhiệm kỳ như cán bộ. Chấm dứt đảm nhiệm chức vụ, chức danh
khi đến tuổi nghỉ hưu.
Thứ năm, về chế độ lao động: Hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối
với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập
thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy
định của pháp luật.
14


- Tuy nhiên, do chính quyền cơ sở là cấp gần dân nhất, có vai trò rất
quan trọng; là nơi thực tiễn diễn ra sôi động, phong phú hàng ngày; nơi trực
tiếp đưa mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước thành hiện thực sinh động, đồng thời là nơi kiểm nghiệm tính đúng đắn
của chủ trương, đường lối, chính sách. Chính vì vậy, đội ngũ công chức cấp
xã có những đặc điểm mang tính đặc thù như sau:
Thứ nhất, công chức cấp xã là người trực tiếp giải quyết các yêu cầu
chính đáng của người dân, là một trong những lực lượng tuyên truyền, phổ
biến, triển khai mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước để nhân dân hiểu rõ và thi hành.
Thứ hai, công chức cấp xã là người đại diện cho Nhà nước trong thực
thi công vụ, nhưng đồng thời công chức cấp xã cũng có các mối quan hệ khác
trong cộng đồng dân cư như: họ hàng, đồng hương, láng giềng…Vì vậy, công
chức cấp xã ít nhiều cũng bị tác động, chi phối, làm ảnh hưởng đến hiệu quả
thực thi công vụ.
Thứ ba, hoạt động thực thi công vụ của công chức cấp xã rất đa dạng,
phức tạp. Công chức cấp xã phải giải quyết tất cả các lĩnh vực trong đời sống

xã hội ở địa phương, mang tính thường xuyên để đảm bảo quyền và lợi ích
chính đáng của người dân.
Thứ tư, năng lực của công chức cấp xã hiện nay vẫn còn hạn chế, bất
cập. Kiến thức có lúc chưa cập nhật kịp thời; kỹ năng giải quyết, xử lý công
việc chưa tốt; một bộ phận công chức cấp xã thể hiện thái độ trách nhiệm với
công việc chưa cao.
1.1.4. Vị trí, vai trò của công chức cấp xã
Chính quyền cơ sở có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, là nền tảng của
bộ máy Nhà nước, là yếu tố chi phối mạnh mẽ đến đời sống chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội của cộng đồng dân cư.
15


Thực tế cho thấy, công chức cấp xã đóng vai trò quan trọng trong hoạt
động thực thi công vụ ở địa phương; tổ chức thực hiện các chủ trương, chính
sách, đưa pháp luật vào cuộc sống và cung cấp các dịch vụ hành chính công
cho người dân, các tổ chức. Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cơ sở
được quyết định bởi năng lực và hiệu quả công việc của cán bộ, công chức
cấp xã nói chung và công chức cấp xã nói riêng.
Vai trò của công chức cấp xã được thể hiện qua các mối quan hệ giữa
công chức cấp xã với đường lối, chính sách và pháp luật; với bộ máy chính
quyền; với công việc; với nhân dân. Cụ thể như sau:
- Công chức cấp xã là cầu nối giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân.
Công chức cấp xã là lực lượng chủ yếu, trực tiếp đưa chủ trương, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân và hiện thực hóa trong
đời sống xã hội. Đồng thời kiểm chứng, phản ảnh tình hình thực hiện chính
sách, pháp luật, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân với Đảng, Nhà
nước để đánh giá tính đúng đắn của đường lối, chính sách; kịp thời phát hiện
những tồn tại, hạn chế của chính sách, pháp luật cũng như những nhu cầu
phát sinh từ thực tiễn để bổ sung và hoàn thiện chính sách cho phù hợp. Chủ

tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:“Cán bộ là những người đem chính sách của
Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng
thời, đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ,
để đặt chính sách cho đúng”[21, tr.269].
- Công chức cấp xã là người tham gia tổ chức và điều hành hoạt động
của bộ máy chính quyền cơ sở. Công chức cấp xã chịu sự chi phối, tuân thủ
các quy định, các nguyên tắc, khuôn khổ của tổ chức. Đội ngũ công chức cấp
xã có vị trí, vai trò quan trọng trong việc góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật, bộ máy chính quyền cơ sở.
- Công chức cấp xã là người trực tiếp tham mưu, đề xuất cho lãnh đạo
16


chính quyền cơ sở trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà
nước trên tất cả các mặt của đời sống xã hội ở địa phương đảm bảo tuân thủ
pháp luật, phù hợp với tình hình thực tiễn để đem lại hiệu lực, hiệu quả cao
nhất có thể.
- Công chức cấp xã trực tiếp triển khai cũng như bảo đảm việc tuân thủ
pháp luật ở cơ sở; giải quyết các vấn đề liên quan đến đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo
đảm trật tự xã hội, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật.
Từ thực tiễn vị trí, vai trò của đội ngũ công chức cấp xã, Hội nghị
Trung ương lần thứ năm khóa IX của Đảng đã xác định: “Xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức cơ sở là một trong ba vấn đề cơ bản, bức xúc nhằm đổi
mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở”[18, tr.26].
1.1.5. Nhiệm vụ và tiêu chuẩn công chức cấp xã
1.1.5.1. Nhiệm vụ công chức cấp xã
Công chức cấp xã là những người làm công tác chuyên môn thuộc biên
chế của Ủy ban nhân dân cấp xã, có trách nhiệm tham mưu, giúp Ủy ban nhân
dân cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác được

phân công, thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên
ngành và do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao.
Nhiệm vụ cụ thể đối với từng chức danh công chức cấp xã được quy
định tại Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30 tháng 10 năm 2012 của Bộ
trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và
tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn; cụ thể như sau:
- Nhiệm vụ của công chức Trưởng Công an xã
Tại Điều 3, Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30 tháng 10 năm 2012
của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định nhiệm vụ của công chức Trưởng Công an
xã như sau:
17


×