Tải bản đầy đủ (.pdf) (27 trang)

Tín ngưỡng thờ mẫu liễu hạnh ở phủ giày qua tư liệu hán nôm tt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (377.12 KB, 27 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

Nguyễn Đạt Thức

TÍN NGƢỠNG THỜ MẪU LIỄU HẠNH Ở PHỦ GIÀY
QUA TƢ LIỆU HÁN NÔM

Chuyên ngành: Văn hoá học
Mã số: 9229040

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HOÁ HỌC

Hà Nội – 2020


Công trình được hoàn thành tại:
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS Kiều Thu Hoạch
Phản biện1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:

Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng đánh giá luận án cấp Viện
Họp tại: Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam
Số 32, phố Hào Nam, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Hà Nội
Vào hồi , ngày

tháng


năm 20 .

Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam;
- Thư viện Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam


1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tiếp cận tìm hiểu những vấn đề Mẫu Liễu Hạnh cũng không thể
bỏ qua những tư liệu Hán Nôm có liên quan. Nghiên cứu sinh lựa chọn
hướng kế thừa thành tựu tập hợp, phân tích của những người đi trước
và điểm lại một số công trình nghiên cứu tiêu biểu, mang tính chất
nghiên cứu cơ bản, cùng một số nghiên cứu trực tiếp giải quyết vấn đề
liên quan tới tín ngường thờ Mẫu Liễu Hạnh và thông qua tư liệu Hán
Nôm để góp phần làm rõ thêm một số vấn đề nghiên cứu để đưa ra
hướng tiếp cận phù hợp, từ một giới hạn tương đối hẹp - tiếp cận tín
ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày qua tư liệu Hán Nôm.
Đến nay, tuy các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu
Liễu Hạnh dù rất phong phú, nhưng chưa có tác giả nào dày công tập
hợp, khảo cứu để tiếp cận nghiên cứu tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh
ở phủ Giày qua tư liệu Hán Nôm với góc nhìn văn hóa học, mà theo
nghiên cứu sinh bước đầu tìm hiểu thì có những vấn đề trước nay các
công trình nghiên cứu trước chưa giải đáp một cách thỏa đáng, như
vấn đề tên gọi phủ Giày, vấn đề lịch sử phủ Giầy, vấn đề Tam phủ, Tứ
phủ, vấn đề đặc trưng giới trong Tam phủ, Tứ phủ, vấn đề Tam tòa Tứ
phủ, vấn đề vị trí và vai trò của Mẫu Liễu Hạnh trong hệ thần Tứ
phủ,… Theo đó, nếu đầu tư khảo cứu, biện giải qua tư liệu Hán Nôm
và tiếp cận vấn đề dưới góc nhìn văn hóa học thì những vấn đề này

đều có thể giải đáp được trên cơ sở khoa học.
Vì những lý do trên, nghiên cứu sinh coi đây là tính cấp thiết và
hướng mở của đề tài và xác định việc tìm hiểu tín ngưỡng thờ Mẫu
Liễu Hạnh ở phủ Giày qua tư liệu Hán Nôm làm tên đề tài luận án như
một hướng tiếp cận hẹp.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu


2
Thông qua việc tìm hiểu về giá trị của tư liệu Hán Nôm gắn với
tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày, đặt tín ngưỡng này trong
không gian văn hóa liên quan và môi cảnh văn hóa chung của tín
ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ để khảo lại lịch sử địa chính và
văn hóa khu vực phủ Giày quanh việc phụng thờ Mẫu Liễu Hạnh,
qua đó, nhận diện tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày trước
năm 1945 trên các phương diện cơ bản (hệ thần được thờ, thần điện
và không gian thực hành tín ngưỡng, các thực hành văn hóa tín
ngưỡng) và một số vấn đề lịch sử - văn hóa liên quan từ góc nhìn văn
hóa học, nhằm củng cố cơ sở cho việc nghiên cứu tín ngưỡng này
cũng như tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ trong các bước
nghiên cứu tiếp theo.
Để làm rõ mục đích nêu trên, luận án sẽ tiến hành các theo tác
nghiên cứu nhằm tập trung giải đáp một số câu hỏi sau:
Thứ nhất, tư liệu Hán Nôm có giá trị gì trong lịch sử hình thành
và phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày?
Thứ hai, di sản tư liệu Hán Nôm gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu
Liễu Hạnh ở phủ Giày có tác dụng gì trong việc nghiên cứu văn hóa
tín ngưỡng này trong bối cảnh hiện nay?
Thứ ba, thông qua tư liệu Hán Nôm liên quan lịch sử địa chính

và văn hóa khu vực Kẻ Giày quanh tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh
được phản ánh chân thực ra sao?
Thứ tư, thông qua tư liệu Hán Nôm liên quan, các phương diện
văn hóa cơ bản của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày trước
năm 1945 được nhận diện như thế nào?
Thứ năm, có thể thông qua nghiên cứu tư liệu Hán Nôm về tín
ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ để
làm sáng tỏ những vấn đề gì liên quan?
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu


3
Từ mục đích nghiên cứu đặt ra, luận án sẽ thực hiện một số nhiệm
vụ cụ thể sau:
Thứ nhất, kế thừa và tập hợp, hệ thống lại kết quả nghiên cứu
của một số công trình đi trước, rút ra những chỉ dấu cần được kế
thừa, tiếp tục nghiên cứu bổ khuyết từ góc độ tư liệu Hán Nôm và
văn hóa học;
Thứ hai, kế thừa kết quả nghiên cứu của người đi trước, thông
qua tư liệu Hán Nôm xác lập một số khái niệm liên quan.
Thứ ba, kế thừa và tập hợp, hệ thống lại di sản tư liệu Hán Nôm
gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ,
chỉ ra các mặt giá trị và hướng tiếp cận khai thác.
Thứ tư, thông quan tư liệu Hán Nôm nhận diện các phương diện cơ
bản (hệ thần được thờ, thần điện và không gian thực hành tín
ngưỡng, các thực hành văn hóa tín ngưỡng) và một số vấn đề lịch sử
- văn hóa liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày
dưới góc nhìn văn hóa học.
Thứ năm, phân tích, biện giải một số vấn đề, hiện tượng văn hóa
liên quan đang đặt ra quanh tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh và Mẫu

Tam phủ, Tứ phủ.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở khu vực phủ Giày (qua Tư liệu
Hán Nôm) từ góc nhìn văn hóa học.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Thông qua tư liệu Hán Nôm, luận án nghiên cứu
tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày trước năm 1945 trong
không gian văn hóa liên quan và môi cảnh văn hóa chung của tín
ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ theo diễn trình lịch sử.
Về không gian: Thông qua tư liệu Hán Nôm, luận án đặt đối


4
tượng nghiên cứu trong không gian văn hóa Kẻ Giầy, với vùng lõi là
quần thể di tích phủ Giày, bao gồm các di tích liên quan đến quần thể
di tích này, nay thuộc địa bàn xã Kim Thái, huyện Vụ Bản tỉnh Nam
Định. Trong một số thao tác phân tích, so sánh, đối chiếu, dẫn dụ…,
cần thiết đặt đối tượng nghiên cứu trong phạm vi mở rộng, tương
ứng với không gian văn hóa Bắc Bộ.
Về thời gian: Đối tượng nghiên cứu được đặt trong khung niên
đại từ khi tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày được định hình
đến năm 1945 (đây cũng là thời điểm văn tự Hán Nôm chính thức bị
thay thế bởi chữ Quốc ngữ).
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận án tiếp cận đối tượng nghiên cứu dưới góc độ tổng thể và
liên ngành để nhìn nhận, phân tích các hiện tượng văn hóa. Trong đó,
hai hướng tiếp cận chính là văn bản học và văn hóa học. Bên cạnh
đó, cách tiếp cận liên ngành gồm sử học, ngôn ngữ học, tôn giáo
học… cũng sẽ được sử dụng trong các phân tích cụ thể…

5. Những đóng góp mới của luận án
- Kế thừa được thành tựu tập hợp tư liệu Hán Nôm của các
tác giả đi trước, khảo sát, tập hợp bổ sung một cách có hệ thống
và toàn diện nguồn tư liệu Hán Nôm hiện có về tín ngưỡng thờ
Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ. Đồng
thời, chỉ ra được những giá trị cơ bản của hệ thống tư liệu và
hướng tiếp cận khai thác phục vụ cho nghiên cứu.
- Thông qua tư liệu Hán Nôm, đưa ra được một số khái
niệm liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu.
- Khảo qua tư liệu Hán Nôm xác lập lại lịch sử địa chính và
văn hóa khu vực Kẻ Giày trong mối quan hệ phụng thờ Thánh Mẫu
Liễu Hạnh, đồng thời, góp phần cải chính một số chi tiết về lịch
sử địa phương.


5
- Thông qua tư liệu Hán Nôm, diễn giải một cách có hệ
thống về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giầy trước năm
1945 thông qua hệ thần được thờ, thần điện và không gian thực
hành tín ngưỡng, các thực hành văn hóa tín ngưỡng. Kết quả nghiên
được công bố có giá trị tham khảo, đối sánh, đặc biệt trong việc
nghiên cứu lịch sử, sự biến đổi và diễn biến của tín ngưỡng thờ
Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giầy và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ...
- Phân tích, biện giải về một số vấn đề lịch sử và văn hóa có liên
quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ đang
đặt ra, như câu chuyện văn hóa quanh tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh
ở phủ Giày qua khảo chứng Vân Cát Thần nữ truyện, hành trạng thế
tục của Tam vị Thánh Mẫu phủ Giày, vai trò của các cộng đồng làng
xã trực tiếp liên quan trong việc phụng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ
Giầy trong lịch sử và vấn đề Tam phủ, Tứ phủ và Tam tòa Tứ phủ…

6. Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu (5 trang), Kết luận (3 trang), Tài liệu tham
khảo (19 trang), Phụ lục (111 trang), nội dung chính của luận án gồm
4 chương:
Chương 1: Tổng quan về lịch sử nghiên cứu, cơ sở lý luận và
thực tiễn (29 trang).
Chương 2: Tư liệu Hán Nôm về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh
ở phủ Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ (45 trang).
Chương 3: Nhận diện tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ
Giày qua tư liệu Hán Nôm (44 trang)
Chương 4: Bàn luận thêm về một số vấn đề văn hóa liên quan
tới tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ
phủ qua tư liệu Hán Nôm (34 trang).


6
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU,
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu
1.1.1. Một số nghiên cứu cơ bản
Các nghiên cứu cơ bản chỉ ra rằng, “Nguyên lý Mẹ của nền văn
hóa Việt Nam” được phản ánh đậm nét trên nhiều phương diện, đặc
biệt là qua tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Tam tòa Tứ phủ.
Trong đó khu vực phủ Giày (Nam Định), thuộc Kẻ Giày xứ nổi lên
như một trung tâm.
Đây là khu vực có lịch sử phát triển lâu đời và liên tục, dung hội
nhiều đặc trưng văn hóa trong mối quan hệ giao lưu tiếp biến. Đó là một
tiền đề quan trọng cho sự ra đời tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh.
1.1.2. Một số tập hợp, giới thiệu tư liệu và tiếp cận qua tư liệu

Hán Nôm
Đến nay, đã có một số công trinh tập hợp, giới thiệu tư liệu và tiếp
cận qua tư liệu Hán Nôm. Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ dừng lại
ở mức độ tập hợp công bố tư liệu hoặc khai thác theo loại hình và rút ra
một số vấn đề lịch sử - văn hóa liên quan, chưa chú trọng nhiều đến việc
khảo cứu văn bản, luận giải về văn hóa
Điểm qua một số kết quả nghiên cứu có thể nhận thấy, mỗi hướng
tiếp cận, với phương pháp riêng, cách tiếp cận riêng, lý luận riêng, biện
giải riêng sẽ cho ra một kết quả “tương đối riêng” nhưng nhất định
không có “vấn đề cũ”. Tạm hợp các mảnh ghép nghiên cứu, ắt sẽ dệt
nên một bức tranh đa sắc về tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt từ lịch
sử đến đương đại nhưng vẫn với những nét như vừa mờ, vừa tỏ. Những
thành tựu nghiên cứu này, đặc biệt là những nghiên cứu cơ bản và tập
hợp tư liệu là tiền đề quan trọng để nghiên cứu sinh kế thừa để triển khai
đề tài này.


7
1.2. Cơ sở lý luận và thực tiễn
1.2.1. Cơ sở lý luận
Luận án chủ yếu vận dụng một số quan niệm về phương pháp
nghiên cứu trong Văn hóa học, xem xét đối tượng nghiên cứu từ góc nhìn
tổng thể và liên ngành theo diễn trình lịch sử, trong đó có thể kẻ tới:
- Lý thuyết văn bản học
- Tiến hóa luận và nhân học sinh thái nửa sau thế kỷ XX.
- Nhân học giải thích…
1.2.2. Cơ sở thực tiễn
Hiện tượng thờ Mẫu Liễu Hạnh trong lịch sử được ghi nhận và phản
ánh trên các phương diện văn hóa văn thể và phi vật thể, di sản tư liệu
(Hán Nôm). Đó là đối tượng nghiên cứu vẫn luôn hiện diện của hàng

ngàn công trình đã được công bố. Ngoài ra, còn hàng trăm di tích liên
quan trong không gian văn hóa Bắc Bộ và một lượng lớn di sản tư liệu
Hán Nôm đã được nghiên cứu sinh sưu tầm, thống kê, chỉnh lý, sẽ được
lần lượt đề cập trong những chương mục tiếp theo của luận án này.
1.3. Một số khái niệm liên quan đến tín ngƣỡng thờ Mẫu
qua tƣ liệu Hán Nôm
Thông qua tư liệu Hán Nôm, trong mục này, qua các bước phân
tích tổng hợp, nghiên cứu sinh đã đưa ra một số khái niệm phục vụ hữu
hiệu cho luận án, như khái niệm Mẫu, Đồng, Cốt, Bóng, Chính tự, Phủ,
Tam phủ, Tứ phủ trong tín ngưỡng thờ Mẫu và thờ thần ở Việt Nam
trong lịch sử.
Tiểu kết
Điểm qua một số kết quả nghiên cứu của những công trình đi
trước, có thể nhận thấy, mỗi nghiên cứu, với phương pháp riêng, cách
tiếp cận riêng, lý luận riêng, biện giải riêng sẽ cho ra một kết quả “tương
đối riêng”. Những thành tựu nghiên cứu trên, đặc biệt là những nghiên
cứu cơ bản và tập hợp tư liệu là tiền đề quan trọng để nghiên cứu sinh


8
tiếp thu, kế thừa và triển khai đề tài này. Theo đó, có thể nhận thấy, từ
việc tập hợp, khảo cứu văn bản học Hán Nôm trong điều kiện hiện nay,
vấn đề lịch sử địa chính và văn hóa khu vực Kẻ Giày quanh tín ngưỡng
thờ Mẫu Liễu Hạnh cần thiết phải được diễn giải lại để làm sáng tỏ
thêm.
Trên có sở này, kết hợp với khai thác giá trị của tư liệu Hán Nôm
dưới góc nhìn văn hóa học, những vấn đề cụ thể, như tên gọi Kẻ Giày,
phủ Giày, hệ thần được thờ, thần điện và không gian thực hành tín
ngưỡng, các thực hành văn hóa tín ngưỡng liên quan, vai trò của các
cộng đồng chủ thể sáng tạo văn hóa, tư cách chính tự quanh tín

ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày, vấn đề Tam phủ, Tứ phủ,
đặc trưng giới trong Tam phủ, Tứ phủ, vấn đề Tam tòa Tứ phủ, vấn đề
vị trí và vai trò của Mẫu Liễu Hạnh trong hệ thần Tứ phủ… cần được
phân tích, diễn giải và làm sáng tỏ hơn…
Cũng trong chương này, nghiên cứu sinh đã đề cập tới cơ sở lý
luận và thực tiễn, cơ sở lý luận cơ bản và xây dựng một số khái niệm cơ
bản có liên quan, như Mẫu, Đồng, Cốt, Bóng, Chính tự, Phủ, Tam phủ,
Tứ phủ để làm công cụ triển khai các bước nghiên cứu tiếp theo.
Chƣơng 2
TƢ LIỆU HÁN NÔM VỀ TÍN NGƢỠNG THỜ MẪU LIỄU HẠNH
Ở PHỦ GIÀY VÀ MẪU TAM PHỦ, TỨ PHỦ
2.1. Khái lƣợc về nguồn tƣ liệu Hán Nôm gắn với tín ngƣỡng
thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ
Trên cơ sở tập hợp, thống kê phân tích, luận án cũng đã tiến hành
lập thư mục với những thông tin cơ bản về nguồn tư liệu này phục vụ cho
việc nghiên cứu, tham khảo (Xem thêm các Phụ lục của luận án).
2.1.1. Tư liệu Hán Nôm về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở
phủ Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ tại Viện Thông tin khoa học
xã hội


9
Qua khảo sát, tại Viện Thông tin khoa học xã hội, ghi nhận có 206
bản kê khai thần tích- thần sắc của 206 làng xã đương thời (năm 1938)
liên quan tới việc phụng thờ Mẫu Liễu Hạnh và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ
(Xem Phụ lục 1).
Kết quả thống kê đã cho thấy:
- Về phạm vi lan tỏa, trước Cách mạng Tháng tám (1945), tín
ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh nói riêng và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ nói
chung đã tương đối phổ biến trong không gian văn hóa Bắc Bộ.

- Thông qua thần tích - thần sắc được kê khai, có thể khẳng
định, việc thờ tự và thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh và Mẫu
Tam phủ, Tứ phủ tại hầu hết làng xã đã được triều đình thừa nhận là hợp
lệ (tích đến thời điểm kê khai - năm 1938).
- Trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, Mẫu Liễu Hạnh nổi
lên như một nhân vật trung tâm của tín ngưỡng, với tuyệt đại đa số làng xã
được thống kê (185/206) thờ bà với tư cách là vị thần chủ.
- Về nguồn gốc của Mẫu Liễu Hạnh, qua thống kê cho thấy, trước
năm 1945, cho thấy Mẫu được thờ với tư cách là thiên thần, nhân thần,
thậm chí được thờ làm Thành hoàng
- Mô hình thờ bộ ba Tam vị/Tam tòa Thánh Mẫu cũng tương đối
đa dạng.
2.1.2. Tư liệu Hán Nôm về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở
phủ Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ qua di sản Hán Nôm Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Hiện nay, toàn bộ dữ liệu của bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam Thư mục đề yếu và bộ Bổ di đã được đưa lên Website của Viện
Nghiên cứu Hán Nôm để phục vụ bạn đọc”. Đó là một điều kiện
thuận lợi cho nghiên cứu sinh khi thực hiện đề tài này.
Qua khảo sát thống kê cho thấy,
- Theo thể loại văn bản (trên giấy, phim ảnh), có thể phân chia


10
tư liệu Hán Nôm liên quan tới tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh và
Mẫu Tam phủ, Tứ phủ thành các nhóm/loại hình cơ bản sau: giáng
bút, phả lục, thần tích, văn chầu, thần sắc, công văn, linh thiêm/tiêm,
các loại hình khác và khảo cứu.
- Về niên đại, hầu hết các văn bản đều được định bản hoặc định
bản lại (sao chép) trong khoảng thế kỷ XIX - XX, mặc dù có một số bản
thần tích ghi do Nguyễn Bính soạn vào khoảng cuối thế kỷ XVI hoặc
được Nguyễn Hiền sao lại vào khoảng nửa cuối thế kỷ XVIII.

- Về văn tự (chữ viết), qua 170 văn bản Hán Nôm liên quan tới
tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ được thống
kê, hiện có: 99/170 văn bản chữ Hán, chiếm tỉ lệ khoảng 58.23%;
19/170 văn bản chữ Hán và Nôm, chiếm tỉ lệ khoảng 11.17%; 28/170
văn bản chữ Nôm, chiếm tỉ lệ khoảng 16.47% và 24/170 văn bản chữ
Nôm và Hán, chiếm tỉ lệ khoảng 14.11%.
- Về hình thức định bản, hầu hết văn bản thuộc loại hình giáng
bút và 03 phả lục, 01 bản văn chầu, 01 bản công văn được khắc in,
còn lại các văn bản khác đều được chép tay…
2.1.3. Tư liệu Hán Nôm về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ
Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ tại một số cơ sở lữu trữ khác
Trong qúa trình khảo sát, sưu tầm và tập hợp tư liệu, liên quan tới tư
liệu Hán Nôm về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày và Mẫu
Tam phủ, Tứ phủ, ngoài nguồn tư liệu Viện Thông tin khoa học xã hội,
Viện Nghiên cứu Hán Nôm như đã đề cập ở trên, nghiên cứu sinh cũng đã
tiếp cận với nguồn tư liệu liên quan tại một số cơ sở lữu trữ khác, tiêu biểu
(Xem thêm Phụ lục 3).
2.1.4. Tư liệu Hán Nôm về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở khu
vực phủ Giày
Trong mục này, nghiên cứu sinh đã hệ thống lại tư liệu Hán
Nôm tại các điểm di tích tiêu biểu trong quần thể di tích phủ Giày,
gồm: phủ Vân Cát, phủ Tiên Hương, lăng Mẫu Liễu Hạnh, nhà thờ


11
họ Trần Lê, đền Cây Đa Bóng (Nguyệt Du từ/cung).
2.2. Hƣớng tiếp cận nội dung tƣ liệu Hán Nôm về tín
ngƣỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ
phủ theo loại hình văn bản
Tương ứng với tập hợp các văn bản được in hoặc viết trên giấy,

cơ bản có thể phân thành các nhóm sau: Giáng bút (kinh giáng bút và
thơ văn giáng bút), phả lục, thần tích, văn chầu, thần sắc, công văn,
linh thiêm/tiêm, khoa nghi, các loại hình khác và khảo cứu. Với văn
khắc, có thể phân thành các nhóm: đại tự, câu đối, bia ký, minh
chuông, ván khắc (in kinh sách), ấn triện (con dấu) đang bảo quản tại
ở di tích. Đương nhiên, cách phân loại này cũng chỉ mang tính chất
tương đối.
Điều quan trọng nhất là mọi hướng tiếp cận nội dung tư liệu Hán
Nôm nói chung, tư liệu Hán Nôm về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở
phủ Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ nói riêng, trước hết cần phải giải
quyết những vấn đề về văn bản học nhằm tái tạo lại nguyên bản, đồng
thời, chỉ ra được quá trình định bản và truyền bản, cũng như cốt lõi lịch sử
và yếu tố thần kỳ... Theo đó, nhiệm vụ chính của các thao tác là tập hợp
phân tích, so sánh văn bản, bóc tách sự kiện lịch sử để phục nguyên văn
bản…, tạo cơ sở cho các bước nghiên cứu tiếp theo.
Có thể tiếp cận theo cách phân nhóm như sau:
2.2.1. Nhóm tư liệu Hán Nôm trên giấy
2.2.1.1. Nhóm tư liệu giáng bút
2.2.1.2. Nhóm tư liệu phả lục
2.2.1.3. Nhóm tư liệu thần tích
2.2.1.4. Nhóm tư liệu văn chầu
2.2.1.5. Nhóm tư liệu thần sắc
2.2.1.6. Nhóm tư liệu công văn - sớ sách - khoa nghi
2.2.1.7. Nhóm tư liệu linh thiêm/tiêm (quẻ bói)
2.2.1.8. Nhóm tư liệu thuộc các loại hình khác


12
Và, nhóm tư liệu thuộc các loại hình khác, gồm địa chí, địa bạ,
gia phả, ghi chép về tục lệ, truyện - ký lục, câu đối, thơ văn, ngâm

vịnh, tạp ký… 2.2.1.9. Nhóm tư liệu khảo cứu
Tuy nội dung khảo cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh và
Mẫu Tam tòa Tứ phủ được các tài liệu Hán Nôm đề cập mới chỉ
dừng ở mức sơ lược nhưng không thể phủ nhận, đây là các công trình
mang tính chất đặt nền móng cho những nghiên cứu tiếp theo. Ngoài
ra, nội dung khảo cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh và Mẫu
Tam phủ, Tứ phủ cũng được đề cập tới ít nhiều trong một số tài liệu
hán Nôm khác. Bên cạnh đó, nghiên cứu sinh cũng “tạm xếp” nhóm
tư liệu kê khai thần tích - thần sắc của các làng xã do “Hội khảo cứu
phong tục” thu thập, hiện lưu trữ tại Viện Thông tin khoa học xã hội
vào nhóm tài liệu điều tra phục vụ khảo cứu.
2.2.2. Nhóm tư liệu văn khắc tại di tích
Nhóm tư liệu văn khắc tại di tích gồm đại tự, câu đối, bia ký,
minh chuông, ván khắc (in kinh sách), ấn triện (con dấu) đang bảo
quản tại ở di tích, ngoài tính chất là hiện vật gắn với di tích, đồng
thời, cũng là những trang sửa địa phương, trực tiếp phản ánh truyền
thống lịch sử - văn hóa của cộng đồng làng xã liên quan, đặc biệt là
lịch sử thờ thần, cơ sở thờ tự, cùng các thực hành văn hóa quanh tín
ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh. Đây là một trong những nhóm tài liệu
mang niên đại định bản tuyệt đối, có tác dụng cho việc đối sánh,
tham chiếu khi khai thác các nguồn tư liệu để góp phần tìm hiểu tín
ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ qua tư
liệu Hán Nôm.
2.3. Giá trị lịch sử - văn hóa của tƣ liệu Hán Nôm về tín
ngƣỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ
Qua những nét khái lược về tư liệu Hán Nôm liên quan tới tín Tư
liệu Hán Nôm về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày và Mẫu
Tam phủ, Tứ phủ được thể hiện trên nhiều chất liệu chất liệu (giấy, đá, gỗ,



13
kim loại…), phong phú về số lượng, đa dạng về loại hình và nội dung...
Đây là khối di sản tư liệu vô giá, phản ánh mọi mặt về đời sống vật chất,
tinh thần của các cộng đồng làng xã có thực hành tín ngưỡng tín ngưỡng
thờ Mẫu Liễu Hạnh và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ trước năm 1945.
Tiểu kết
Chương 2 luận án đã cơ bản tập hợp, thống kê tương đối đầy đủ
và toàn diện nguồn tư liệu Hán Nôm liên quan tới ín ngưỡng thờ Mẫu
Liễu Hạnh ở phủ Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, bước đầu tiến hành
phân loại và đưa ra hướng tiếp cận khai thác tư liệu phục vụ nghiên
cứu đối với từng nhóm tư liệu cụ thể.
Tư liệu Hán Nôm về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày
và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ phong phú về số lượng, đa dạng về loại
hình, phức tạp về nội dung và niên đại nhưng hàm chứa nhiều mặt
giá trị, đặc biệt hữu ích trong việc nghiên cứu
Đặc biệt, với nhiều tín ngưỡng dân gian khác, tư liệu Hán Nôm
liên quan chỉ dừng lại ở việc ghi chép đơn thuần, nhưng với tín
ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, từ đầu thế kỷ
XX đã xuất hiện một số tư liệu Hán Nôm mang tính chất khảo cứu.
Rõ ràng, đương thời, những tín ngưỡng này đã nhận được sự quan
tâm đặc biệt của đông đảo cộng đồng, trong đó có đội ngũ tri thức
Nho học và Tây học. Đó là những bước khai phá quan trọng, đặt nền
móng cho việc tiếp cận, tìm hiểu tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh và
Mẫu Tam phủ, Tứ phủ các giai đoạn tiếp theo…
Chƣơng 3
NHẬN DIỆN TÍN NGƢỠNG THỜ MẪU LIỄU HẠNH Ở PHỦ GIÀY
QUA TƢ LIỆU HÁN NÔM
3.1. Lịch sử địa chính và không gian văn hóa phủ Giày
3.1.1. Lịch sử địa chính liên quan tới khu vực phủ Giày
3.1.1.1. Kẻ Giày



14
Khi những kiến giải về đối tượng đang bàn là Kẻ Giày/Giầy hay
Kẻ Dày/Dầy, phủ Giày/Giầy hay phủ Dày/Dầy vẫn đang dừng lại ở giả
thiết để làm việc, tôn trọng cách diễn giải của ngữ âm dân gian và
nguyên tắc khoa học, việc lựa chọn cách ghi âm “Kẻ Giày, phủ Giày”
của nghiên cứu sinh trong luận án này xin được coi là một trường hợp
lựa chọn biến thể, được đưa ra như một giả thiết để làm việc. Theo đó,
dưới góc nhìn đa nguyên (đa nguồn gốc) về văn hóa dân gian, có thể
tạm hình dung: Kẻ Giày thuộc vùng đất Kẻ Trần của họ Trần xưa, nổi
tiếng với phủ Giày và truyền thuyết về Mẫu Liễu Hạnh, trong đó có
thuyết Mẫu để lại chiếc giày, nghề làm bánh giày trên vùng đất này…
3.1.1.2. Vân Cát
Ít nhất từ nửa đầu thế kỷ XVII và dưới thời Lê Trung hưng, Vân
Cát đã tồn tại với tư cách là địa danh cấp xã. Sang thời Nguyễn, năm
Gia Long thứ 4 (1805), Vân Cát vẫn là đơn vị cấp xã (thuộc huyện
Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng). Sau đó, chưa rõ lý do, ít nhất từ năm
Gia Long thứ 10 (1811), Vân Cát lại trở thành một thôn/giáp, thuộc
xã An Thái - tạm gọi là xã An Thái (mới). Sau khi chia tách, xã An
Thái (mới) được đổi tên thành xã Tiên Hương. Từ đây, hai xã Vân
Cát và Tiên Hương giữ tư cách là những đơn vị địa chính cấp xã độc
lập về địa chính và thờ tự, ổn định về cơ cấu cho đến khi cùng hợp
nhất với xã Kim Bảng thành xã Kim Thái vào năm 1947.
3.1.1.3. An Thái
Qua thần sắc hiện lưu tại phủ Tiên Hương, có thể tạm khẳng
định, ít nhất từ nửa đầu thế kỷ XVIII, An Thái đã giữ tư cách là một
đơn vị địa chính cấp xã - xã An Thái, thuộc huyện Thiên Bản. Đến
cuối thời Thiệu Trị - đầu thời Tự Đức, xã An Thái được đổi tên thành
xã Tiên Hương như đã khẳng định ở trên.

3.1.1.4. Tiên Hương
Tiên Hương là địa danh xuất hiện khá muộn. Sau khi thôn Vân


15
Cát được tác khỏi xã An Thái (mới) (biệt xã) tái lập xã Vân Cát, xã
An Thái (mới) mới chính thức được đổi tên thành xã Tiên Hương. Từ
đây, xã Tiên Hương giữ cơ cấu 1 xã, 3 giáp/thôn (Vân Đình - tức
thôn Tiên Hương, La Tây (sau tách thành La Khê và Tây Cầu) và
Nham Miếu), rồi đa dạng hơn nữa, cho đến khi hợp nhất với xã Vân
Cát, xã Kim Bảng thành xã Kim Thái năm 1947.
3.1.2. Không gian văn hóa liên quan tới khu vực phủ Giày và
danh hiệu phủ Giày
Qua những ảnh xạ văn hóa hiếm hoi còn rơi rớt, đâu đó như
thoáng thấy bóng giáng của vùng lõi văn hóa Kẻ Giày xưa trong cơ
cấu 4 giáp phân đôi = Vân Cát + Bảo Ngũ và An Thái + Kim
Bảng/Xuân Bảng (đâu đó vào khoảng cuối thế kỷ XV - đầu thế kỷ
XVI). Đó là tiền đề cho việc hợp, tách giữa An Thái – Vân Cát –
Tiên Hương như trên đã trình bày.
Trong lịch sử, phủ Giày - phủ Vân Cát - phủ Tiên Hương đều
được gọi/gọi được là phủ Giày, gắn với nơi thờ Mẫu Liễu Hạnh trong
ý thức về cội nguồn và tư duy hồi cố dân gian của cộng đồng làng xã
liên quan, đến nay vẫn vậy. Đó là “thương hiệu văn hóa” của phủ
Giày ở Kẻ Giày, thuộc sở hữu chung, không của riêng ai, riêng của
bên nào dù đã trải qua nhiều bước thăng trầm hợp - li/li hợp.
3.2. Tam vị Thánh Mẫu phủ Giày qua tƣ liệu Hán Nôm
Theo thời gian huyền thoại, qua tư liệu Hán Nôm, về sự tích về
Thánh Mẫu Liễu Hạnh, cơ bản có thể tổng hợp thành một số thuyết
cơ bản sau:
- Thuyết Mẫu giáng sinh thời Lý Nam Đế

- Thuyết Mẫu giáng sinh thời Lý
- Thuyết Vỉ Nhuế - Ghi trong Cát thiên tam thế thực lục
- Thuyết Kẻ Giày (với nòng cốt là Truyện Vân Cát thần nữ)
3.4.5. Thuyết Nội đạo tràng (Theo Nội đạo tràng)


16
Mỗi thuyết đều có dị bản nhưng có thể khẳng định, đây là
những “hồi quang” trong tín niệm dân gian về lai lịch của Thánh
Mẫu Liễu Hạnh từ những truyền thuyết được văn bản hóa. Đương
nhiên, phải thừa nhận rằng, dù truyền thuyết là sáng tạo dân gian,
thường có những yếu tố tưởng tượng kì ảo nhưng các nhân vật, sự
kiện ít nhiều đều liên quan đến vấn đề lịch sử.
Về sự “mờ nhạt” của Mẫu Mẫu Đệ nhị - Quỳnh cung Duy Tiên
Phu nhân, Mẫu Đệ tam - Quảng cung Quế Anh Phu nhân trong bộ ba
dạng Tam vị nhất thể - Mẫu Tam vị/Tam tòa tại phủ Giày, hiện chưa
có điều kiện lý giải thỏa đáng.
Như vậy, theo diễn giải dân gian và ý thức hệ tư tưởng chính
thống thời Nguyễn (triều đình xác nhận), bên cạnh “hành trạng thần
tiên”, nguồn gốc Thiên Tiên, ba vị Thánh Mẫu phủ Giày còn có
“hành trạng thế tục”, với đầy đủ những cung bậc thác ghềnh của một
vòng đời thân phận nữ, để rồi, sau hợp lại thành một thiên truyền kỳ
nổi tiếng khắp vùng Thiên Bản, dưới gầm trời Nam. Đây là một
minh chứng cụ thể về xu hướng “thần thánh hóa” con người bên
cạnh xu hướng nhân hóa thần linh trong tín ngưỡng truyền thống của
người Việt.
3.3. Lịch sử kiến trúc phủ Giày qua tƣ liệu Hán Nôm
Từ khoảng thế kỷ XVI tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh đã được
định hình. Tương ứng với khoảng thời gian này, ở khu vực Kẻ Giầy
đã tồn tại một ngôi đền riêng thờ Mẫu Liễu Hạnh với quy mô tưng

xứng nhưng ít nhất từ thế kỷ XVII, phủ Vân Cát/đền Cố Trạch đã
được xây dựng tương đối quy mô. Sau đó, vào năm Thành Thái thứ
10 (1898), đền này được đại trùng tu, với sự trợ duyên của Hiệp biện
Đại học sĩ, Phó Tổng tài Quốc sử quán kiêm quản Quốc giám, An
Xuân nam, Cổ Hoan Cao Long Cương, Cao Xuân Dục, dân xã, cùng
thiện tín thập phương. Diện mạo kiến trúc của phủ hiện nay, cơ bản


17
là sản phẩm của các đợt trùng tu vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ
XX trở về sau.
Theo lịch sử địa chính và văn hóa khu vực phủ Giày, đặc biệt là
nguồn địa bạ thì có thể tạm coi những ghi chép về phủ Giày thuộc xã
Tiên Hương dưới thời Lê, như Thư lâu phả ký phản ánh là ảnh ảnh
xạ của phủ Giày An Thái khi chưa phân tách. Về diện mạo của phủ
này trong khoảng đầu thế kỷ XX, Khảo đồng sự ký cho biết gồm 4
cung, cơ bản này vẫn được bảo tồn.
3.4. Hội phủ Giày và một số sinh hoạt văn hóa liên quan đến
tín ngƣỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh qua tƣ liệu Hán Nôm
Trong điều kiện tư liệu có thể khảo, dưới đây, nghiên cứu sinh
xin giới thiệu sơ lược về hội phủ Giầy Vân Cát và hội phủ Giầy Tiên
Hương cùng một số sinh hoạt văn hóa liên quan từ khoảng nửa cuối
thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX.
3.4.1. Hội phủ Giày Vân Cát và một số sinh hoạt văn hóa liên
quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh qua tư liệu Hán Nôm
Hội phù Giày Vân Cát vốn gắn với lịch sử phụng thờ Thánh
Mẫu Liễu Hạnh từ khi tín ngưỡng này được định hình. Trong biến
đổi lịch sử, sau khi tái lập vào khoảng những năm 1844 - 1850 (cuối
thời Thiệu Trị - đầu thời Tự Đức), không lâu sau, cũng vào đầu thời
Tự Đức, bên xã Vân Cát khi này ít người không lo được hội lệ đành

chuyển giao nguyên lệ cho bên Tiên Hương và đến khoảng năm 19181919, hội Vân Cát lại được phép phục hồi, tiếp tục được duy trì sau khi
bị gián đoạn hơn 60 năm, sau lại được phục hồi.
3.4.2. Hội phủ Giày Tiên Hương và một số sinh hoạt văn hóa liên
quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh qua tư liệu Hán Nôm
Hội phủ Giày Tiên Hương kế thừa từ truyền thống An Thái
(trước gồm cả Vân Cát). Sauk hi thờ riêng (đầu thời Nguyễn). Đến
đầu thời Tự Đức, Tiên Hương tiếp quản hội Vân Cát Bàn giao.


18
Tiểu kết
Bên cạnh “hành trạng thần tiên”, ba vị còn có “hành trạng thế
tục”, với đầy đủ những cung bậc thác ghềnh của một vòng đời thân
phận nữ, để rồi, sau hợp lại thành một thiên truyền kỳ nổi tiếng khắp
vùng Thiên Bản, dưới gầm trời Nam. Đây là một minh chứng cụ thể
về xu hướng “thần thánh hóa” con người bên cạnh xu hướng nhân
hóa thần linh trong tín ngưỡng truyền thống của người Việt.
Từ khoảng thế kỷ XVI, tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh đã được
định hình. Tương ứng với khoảng thời gian này, ở khu vực Kẻ Giầy
đã tồn tại một ngôi đền riêng thờ Mẫu Liễu Hạnh. Cơ bản diện mạo
kiến trúc hiện nay là sản phẩm của các đợt trùng tu vào cuối thế kỷ
XIX - đầu thế kỷ XX trở về sau.
Tại khu vực phủ Giày Nam Định xưa, các sinh hoạt văn hóa
liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh, thường được tổ chức
theo thông lệ định kỳ và gắn với các dịp lễ tiết, cơ bản, có nhiều
điểm tương đồng với tín ngưỡng thờ thần gắn với nông nghiệp trong
các cộng đồng làng xã thuộc châu thổ Bắc Bộ đương thời. Bên cạnh
đó, yếu tố thương mại cũng khá nổi trội.
Chƣơng 4
BÀN LUẬN THÊM VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VĂN HÓA LIÊN

QUAN TỚI TÍN NGƢỠNG THỜ MẪU LIỄU HẠNH Ở PHỦ
GIÀY VÀ MẪU TAM PHỦ, TỨ PHỦ QUA TƢ LIỆU HÁN NÔM
4.1. Câu chuyện tiếp cận văn hóa quanh tín ngƣỡng thờ Mẫu
Liễu Hạnh ở phủ Giày qua khảo chứng Vân Cát Thần nữ truyện
Qua phân tích câu chuyện tiếp cận văn hóa quanh tín ngưỡng
thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày qua khảo chứng Vân Cát Thần nữ
truyện, luấn án đã diễn giải lại câu chuyện quan hệ địa chính giữa
Vân Cát và Tiên Hương trong không gian văn hóa Kẻ Giày và việc
thờ Mẫu Liễu Hạnh. Theo đó một vấn đề văn hóa tín ngưỡng cũng


19
được rút ra là, việc thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh chính thức được triều
đình công nhận vào khoảng thế kỷ XVII.
4.2. Hành trạng thế tục của Tam vị Thánh Mẫu phủ Giày
Qua những phân tích trên, “hành trạng thế tục” của Tam vị
Thánh Mẫu phủ Giày đã được khẳng đinh. Đặc biệt, vấn đề này một
lần nữa lại được khẳng định rõ hơn khi triều đình phong sắc cho
Thánh phụ và Thánh Mẫu của Mẫu Liễu Hạnh.
4.3. Vai trò của các cộng đồng làng xã trực tiếp liên quan
trong việc phụng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giầy
Trong Tự điển (祀 典 - Điển thờ tự) xưa không có khái niệm phụ
tự (thờ phụ) đối lập với chính tự (thờ chính) hay phụ từ (đền phụ) đối
lập với chính từ (đền chính). Theo đó, với trường hợp phụng thờ Mẫu
Liễu Hạnh ở khu vực phủ Giày - Kẻ Giày xưa, khái niệm chính từ - phủ
chính từ - phủ chính mang ý nghĩa khẳng định:
- Việc thờ tự Mẫu Liễu Hạnh (tại phủ Giày) của cộng đồng là
hợp pháp và chính đáng;
- Mẫu Liễu Hạnh là chính thần (đã được triều đình thẩm định lại
lịch qua thần tích), đã được triều đình ban tặng sắc phong, ghi trong

Tự điển (Điển thờ tự).
- Đền/phủ thờ Mẫu Liễu Hạnh tại Kẻ Giày - phủ Giày là chính
từ/chính phủ mà dân gian quen gọi là phủ Chính.
Khi đặt mối quan hệ thờ tự Mẫu Liễu Hạnh giữa Vân Cát - An
Thái- Tiên Hương trong sự biến đổi về địa - văn hóa của Kẻ Giày, có
thể sơ kết mối quan hệ chính tự và chính từ giữa các cộng đồng trực
tiếp liên quan trong lịch sử như sau:
- Trên đất Kẻ Giày, nơi có phủ Giày, ngôi vị chính tự (được
phép thờ tự), chính từ, chính thần của Tam vị/Ba ngôi Thánh Mẫu
(Mẫu Liễu Hạnh, Đệ nhị Quỳnh cung Duy Tiên Phu nhân, Đệ tam
Quảng cung Quế Anh Phu nhân) được xác lập từ khoảng nửa cuối


20
thế kỷ XVII (không thể sớm hơn).
- Sau khi được triều đình công nhận tư cách chính tự, chính từ,
chính thần, ban đầu, việc thờ tự Tam vị/Ba ngôi Thánh Mẫu có thể
thuộc trách nhiệm chung của hàng huyện hoặc hàng phủ, trong đó có
vai trò nòng cốt của xã Vân Cát và xã An Thái...
- Sau khi hai xã Vân Cát và An Thái sáp nhập thành xã An Thái
(mới) (khoảng từ 1805 - 1811), bên Vân Cát có đất đền giữ ngôi
Giáp Nhất, bên An Thái (sau đổi thành Tiên Hương) giữ nhiều ruộng
đền. Xã An Thái (mới), trong đó có Vân Cát và An Thái giữ vai trò
nòng cốt trong việc thờ tự Tam vị/Ba ngôi Thánh Mẫu.
- Đến khoảng cuối thời Thiệu Trị - đầu thời Tự Đức nhưng không
thể muộn hơn năm Tự Đức thứ 3 (1850), xã Vân Cát tách khỏi xã An
Thái (mới), tái lập xã Vân Cát, xã An Thái (mới) đổi thành xã Tiên
Hương, bên Vân Cát ít người không lo được, đã chuyển giao nguyên hội
lệ cho bên Tiên Hương. Từ đây, việc thờ Mẫu và đền Mẫu riêng bên xã
Tiên Hương chính thức được công nhận ngôi vị chính tự và chính từ Tư cách chính từ - phủ chính từ - phủ chính bên xã Tiên Hương cũng

chính thức được xác lập - Qua thần sắc hiện còn, Tiên Hương chính
thức được phong sắc thờ riêng riêng ít nhất từ năm Tự Đức thứ 33
(1880).
4.4. Vấn đề Tam phủ, Tứ phủ và Tam tòa Tứ phủ
Qua tư liệu Hán Nôm, nghiên cứu sinh xin đề cập đến một “góc
khuất”, đó là văn cúng Tứ phủ trình đồng, sớ văn, thần sắc… liên
quan để phác lại diện mạo cơ bản của hệ thần Tứ phủ, qua đó, góp
phần làm rõ một số vấn đề về Tam phủ, Tứ phủ và Tam tòa Tứ phủ
Cũng trong chương này, nghiên cứu sinh cũng mạnh dạn đưa ra
qúa trình xác lập mô hình Tứ phủ và mô hình Tam phủ, với một phủ
kiêm tri, với kết cấu hiển Tam tòa - Tứ phủ (Tam tòa Thánh Mẫu Tứ phủ Công đồng) trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt như


21
một giả thiết để làm việc.
Những biểu hiện của “yếu tố mật”, khẳng định sức bền của nguyên
lý nguyên lý Mẫu, nguyên lý Âm - Dương/ MẸ - CHA, nguyên lý thờ đa
thần, nguyên lý thờ thần đa chức năng… trong tâm tâm thức tôn giáo - tín
ngưỡng của người Việt đế đáp ứng mọi nhu cầu về văn hóa tâm linh dân
gian trong từng điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể.
Tiểu kết
Phân tích và bàn lại câu chuyện tiếp cận văn hóa quanh tín
ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày qua khảo chứng Vân Cát
Thần nữ truyện, nghiên cứu một làn nữa khẳng định lại mối quan hệ
địa chính và văn hóa giữa Vân Cát - An Thái và Tiên Hương trong
lịch sử phụng thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Theo đó, Một số vấn đề
liên quan trong Vân Cát Thần nữ truyện “cũng được giải ảo”. Câu
chuyện phủ Chính và vai trò thờ tự Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giầy của
các cộng đồng làng xã trực tiếp liên quan thực chất là câu chuyện
chính tự (được triều đình công nhận việc thờ tự hợp pháp).

Cũng qua tổng hợp, phân tích tư liệu Hán Nôm, nghiên cứu sinh đã
bước đầu phác lại một nghi lễ trình đồng Tứ trước năm 1945, qua đó,
từng bước “giải ảo” để góp phần làm rõ vị trí, vai trò của Mẫu Liễu
Hạnh, Mẫu Tam phủ, Tứ phủ trong hệ thần Tứ phủ và một số vấn đề
lịch sử - văn hóa có liên quan.
Với Tứ phủ, có thể tạm coi, hệ thần Tứ phủ là một hệ liên
thông, gần với mô hình “Nhà nước quân chủ chuyên chế do vua
đứng đầu” trong xã hội phương Đông thời cổ đại, với đầy đủ tầng
lớp, đẳng cấp trên dưới.
Nếu tạm lấy hệ Tứ phủ làm hệ quy chiếu thì Mẫu Tam phủ
thuộc mô hình một phủ, một vị kiêm tri. Tuy một phủ “ẩn” nhưng
vẫn có thể nhận diện được đầy đủ đại diện của hệ thần Tứ phủ (hệ
thần “hiển”). Theo đó, trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt,


22
dạng thức Tam tòa Thánh Mẫu - Tứ phủ Công đồng là mô hình phổ
biến. Trong mô hình này, vai trò kiêm tri của Thánh Mẫu Liễu Hạnh
hiện lên rất rõ.
Thông qua việc phân định hệ thần Tứ phủ theo giới, qua hình
thức thờ tự và thực hành nghi lễ, bước đầu nghiên cứu cũng đặt vấn
đề tìm hiểu mối quan hệ giữa Tứ phủ Ông và Tứ phủ Bà trong các
điện thờ Mẫu, trong các ngôi chùa…, nhằm góp phần làm rõ, “yếu tố
hiển” và “yếu tố mật” trong hiện tượng văn hóa này.
KẾT LUẬN
Tư liệu Hán Nôm về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh và Mẫu
Tam phủ, Tứ phủ phong phú về số lượng, nội dung, đa dạng về loại
hình, hàm chứa đầy đủ giá trị của loại hình di sản văn hóa tư liệu, có thể
khai thác để tìm hiểu về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh và Mẫu Tam
phủ, Tứ phủ nói riêng, những vấn đề về lịch sử - văn hóa dân tộc..

Tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày được hình thành từ
khoảng thế kỷ XVI. Cũng giống như một số vị thần khác, các vị
Thánh Mẫu phủ Giày cũng có một “hành trạng thần tiên”, sau được
phủ thêm lớp “hành trạng thần tiên”. Đây là một minh chứng cụ thể
về xu hướng “thần thánh hóa” con người bên cạnh xu hướng nhân
hóa thần linh trong tín ngưỡng truyền thống Việt.
Phủ Giày đã được định hình quy mô kiến trúc muộn nhất cũng từ
thế kỷ XVII, xác lập cặp đôi vào khoảng cuối thế kỷ XIX. Diện mạo
kiến trúc của hai phủ hiện nay, chủ yếu mang đặc trưng kiến trúc từ
niên đại Thành Thái, Duy Tân trở lại đây.
Hội phủ Giày là một hội lớn, có thể mang quy mô hàng phủ ở
dưới thời Lê. Trong hội có nhiều sinh hoạt văn hóa đặc sắc, hàm
chứa nhiều lớp văn hóa chồng lấn - thờ đa thần, đa tín ngưỡng nhưng
cơ bản trước năm 1945 vẫn là lễ hội gắn với nông nghiệp, khát vọng
cầu mưa, cầu mùa mặc dù yếu tố gắn với thương mại tiểu thương,


23
nghề buôn đã được định hình khá rõ.
Với tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày, từ khoảng thé kỷ
XVI - XVII đã định hình dạng thức thờ Mẫu bộ ba (hiển hiện) đại diện
cho hệ Thượng thiên. Đây lại là điểm khác biệt căn bản so với mô hình
thờ Mẫu đại diện với hệ Tam tòa (Thiên - Địa - Thủy hoặc Thiên Nhạc - Thủy) - Tứ phủ (Thiên - Địa - Thủy - Nhạc) tại nhiều địa điểm
khác. Thực chất, đây đều là mô hình biến thể mà xưa nay dân gian
thường đúc kết và định danh là mô hình thờ Tam tòa - Tứ phủ, tức là
thờ Tam tòa đại diện cho Tứ phủ… Đó là một biểu hiện rất cụ thể về
tín ngưỡng đa thần của người Việt. Đây cũng là một biểu hiện cụ thể
về tín ngưỡng thờ đa thần và sức bền của nguyên lý Mẫu trong văn
hóa Việt.
Từ khoảng thế kỷ XVII - XVIII, tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh

phủ Giày đã có sự lan tỏa tương đối mạnh mẽ trong không gian văn
hóa Bắc Bộ. Đến khoảng đầu khoảng đầu thế kỷ XX, tín ngưỡng này
đã lan tỏa trong một không gian có thể tạm tính từ Thừa Thiên Huế,
với các hình thức thờ đại diện cũng rất đa dạng: thờ bài vị, thờ tranh,
thờ thần tượng. Về nguồn gốc, dưới sự diễn giải của tư duy tôn giáo
dân gian, hình tượng Mẫu Liễu Hạnh cơ bản được dân gian cho là gắn
với Thiên phủ (thiên thần), cá biệt, một số cộng đồng cho là gắn với
nguồn gốc nhân thần. Đặc biệt, trong sự giao lưu và tiếp biến văn hóa,
một số cộng đồng làng xã đã bê nguyên mô hình thờ Tam vị Thánh
Mẫu phủ Giày/Tam vị Thánh Mẫu Sòng Sơn vào điện thờ, thậm chí
tôn thờ làm Thành hoàng làng.
Cũng thông qua việc tìm hiểu về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh
qua tư liệu Hán Nôm, một số vấn đề liên quan tới tín ngưỡng thờ Tứ
phủ, Mẫu Tam phủ, Tứ phủ nói riêng và lịch sử - văn hóa dân tộc nói
chung tạm được rút ra là:
- Về bản chất, sau khi hệ thần Tứ phủ được định hình, các điện


×