KỊCH TƯƠNG TÁC TRONG DẠY HỌC LÀM VĂN
TỰ SỰ LỚP 8
Nguyên tắc ứng dụng kịch tương tác trong dạy học
làm văn tự sự
Như đã trình bày ở chương 1, khả năng ứng dụng kịch
tương tác trong dạy học được thể hiện trên nhiều lĩnh vực,
từ việc tổ chức thành các hoạt động đến việc sử dụng như là
một bộ công cụ quản lí lớp học. Tuy nhiên, trong bài viết
này, chúng tôi tập trung sử dụng kịch tương tác như là
những hoạt động dạy học, trong đó nhấn mạnh đến các bài
tập mà kịch tương tác đã sử dụng để hỗ trợ người tham gia
tạo ra một vở kịch cũng giống như là HS tạo ra một câu
chuyện của mình.
Bản thân kịch tương tác có rất nhiều nguyên tắc để
những người tham gia luôn cảm thấy an toàn và sẵn sàng
thể hiện bản thân. Việc ứng dụng kịch trong dạy học cũng
cần phải đảm bảo được những nguyên tắc của kịch. Đồng
thời, dạy học làm văn tự sự cũng là một quá trình dạy học vì
vậy nó cũng cần đảm bảo các nguyên tắc trong dạy học nói
chung và dạy học làm văn nói riêng. Căn cứ vào đó, chúng
tôi đề xuất một số nguyên tắc khi sử dụng kịch trong tổ
chức hoạt động dạy học làm văn tự sự như sau:
+ Trong kịch tương tác, có một nguyên tắc là “mọi đáp
án đều đúng”, nghĩa là kịch tương tác tôn trọng tuyệt đối
những đóng góp cá nhân vì mỗi người sẽ có một góc nhìn,
một quan điểm khác nhau và không thể quy chụp đúng – sai
cho một thứ thuộc về cá nhân. Bởi vậy, khi ứng dụng kịch
tương tác trong dạy học, GV phải luôn tôn trọng mọi đáp án
của HS và không được phủ nhận những đáp án đó. Trừ
những đáp án có tính chất không nghiêm túc, không có tinh
thần xây dựng thì GV cần hỗ trợ để HS được làm lại cho
đến khi đưa ra được một đáp án như mong đợi.
+ Các bài tập trong kịch tương tác đóng vai trò là
phương tiện, công cụ hỗ trợ hoạt động dạy học tích cực chứ
không nhằm mục đích dạy học sinh diễn kịch để trở thành
diễn viên trên sân khấu.
+ Khi sử dụng các bài tập của kịch tương tác, GV vẫn
đảm bảo các nguyên tắc chung trong dạy học làm văn.
Ngoài ra, để việc ứng dụng kịch tương tác vào dạy học
một cách có hiệu quả nhất thì các tiết học chúng tôi đề xuất
có cấu trúc như dưới đây.
+ Chặng 1: Khởi động – nêu vấn đề
+ Chặng 2: Giải quyết vấn đề
+ Chặng 3: Làm mẫu (GV, HS cùng làm)
+ Chặng 4: HS làm việc cá nhân
Với hướng tiếp cận dạy học làm văn tự sự như là quá
trình tạo lập một thể loại, một mặt đảm bảo HS được thực
hành các thao tác làm văn, một mặt đảm bảo nội dung kiến
thức vẫn được truyền tải, chúng tôi lựa chọn thứ tự xây
dựng một câu chuyện như dưới đây và mỗi thứ tự sẽ là một
chủ đề. Với mỗi chủ đề, chúng tôi đề xuất tách thành 1 tiết
học có thời lượng 45 phút. Cụ thể:
Tên bài học cũ
Lớp
Tên bài học mới
Thời
lượng
Lớp Tóm tắt văn bản tự sự
8
Tóm tắt văn bản tự
sự
Luyện tập tóm tắt văn bản Luyện tập tóm tắt
tự sự
văn bản tự sự
Miêu tả, biểu cảm trong Làm văn tự sự bài văn tự sự
Xây dựng bối cảnh
Luyện tập viết đoạn văn tự Làm văn tự sự -
1 tiết
1 tiết
1 tiết
1 tiết
sự kết hợp với miêu tả và Xây dựng nhân vật
biểu cảm
Lập dàn ý cho bài văn tự Làm văn tự sự sự kết hợp với miêu tả và Xây dựng sự kiện,
biểu cảm
cốt truyện
Viết bài Tập làm văn số 2
Viết
bài
hoàn
chỉnh
1 tiết
2 tiết
Luyện nói: kể chuyện theo Kể chuyện sáng
ngôi kể kết hợp với miêu tạo
1 tiết
tả và biểu cảm
Xây dựng bối cảnh
Bối cảnh vốn không được coi là một yếu tố đứng độc
lập trong cấu trúc của một tác phẩm tự sự nhưng trong kịch
tương tác, bối cảnh là một yếu tố vô cùng quan trọng. Bởi
lẽ, sự thay đổi của nhân vật phụ thuộc vào sự thay đổi của
bối cảnh, và mỗi nhân vật khi được khắc họa luôn được đặt
trong một bối cảnh nhất định. Điều này là cần thiết khi xây
dựng một câu chuyện, bởi lẽ mỗi câu chuyện đều được diễn
ra trong một hoặc một vài bối cảnh nhất định. Việc khắc họa
rõ nét các bối cảnh trong truyện, một mặt làm cho câu
chuyện hấp dẫn hơn, các nhân vật được thể hiện rõ hơn đặc
điểm của mình thì mặt khác nó cũng đảm bảo yêu cầu nội
dung kết hợp yếu tố miêu tả trong bài văn tự sự như chương
trình hiện hành.
Để xây dựng được bối cảnh trong câu chuyện, kịch
tương tác có đề xuất một số bài tập. Thông qua các bài tập
này, HS có thể gọi tên được chính xác không gian nơi diễn
ra sự kiện, mô tả được chính xác những đặc điểm của không
gian đó. Sau mỗi bài tập, HS đều có nhiệm vụ cụ thể hóa
bối cảnh của mình bằng hình vẽ và đoạn văn miêu tả cho
bối cảnh đó.
Bài tập: Thế giới
Mục tiêu của bài tập này là giúp cho HS phát huy trí
tưởng tượng của mình để tạo ra một bối cảnh mà câu
chuyện của mình sẽ diễn ra. Không chỉ thế, bài tập còn
hướng đến sự tham gia một cách tích cực của người học
thông qua sự chuyển động của cơ thể và sự không giới hạn
của tư duy. Vì vậy, bài tập này thông thường sẽ được tổ
chức ở đầu giờ, đóng vai trò như là một hoạt động khởi
động, vừa tạo hứng thú cho HS vừa đưa ra vấn đề thông qua
trải nghiệm.
Cách thức tổ chức:
- Bước 1: Đặt hệ thống quy ước cho trò chơi
Vì bài tập này hướng đến trí tưởng tượng của người
học nên ngay từ đầu, trò chơi vốn là một sự tưởng tượng.
+ Đặt giả thiết: cả lớp đứng trên một bàn xoay và
nhiệm vụ của mình là để bàn xoay luôn đứng ở vị trí thăng
bằng. Để đứng được ở vị trí thăng bằng thì trên toàn bộ bề
mặt của bàn xoay đó phải luôn có người.
+ Nhiệm vụ: HS phải đi bộ, quan sát nhau để đảm bảo
bề mặt quy ước luôn phải có người và cân xứng với nhau.
+ Các quy ước:
Tốc độ: có các tốc độ đi bộ như 1, 2, 3
Hiệu lệnh không lời: Vỗ tay 1 lần: dừng lại và đóng
băng tư thế
Vỗ tay 2 lần: đang đi bộ sẽ phải nhảy lên, sau đó đi bộ
bình thường
Vỗ tay 3 lần: đang đi bộ sẽ phải nhảy lên, vừa nhảy
vừa xoay người, sau đó đi bộ bình thường
Hiệu lệnh bằng lời: Khi GV hô to “Thế giới”, HS
phải tưởng tượng là mình đang đi trong một thế giới nào đó
(ví dụ: thế giới dưới đáy đại dương, thế giới trên mây,…).
HS phải diễn tả đúng thế giới đó bằng hành động của mình
- Bước 2: Khởi động
Nguyên tắc của kịch tương tác là luôn phải đi từ các
bài tập dễ đến bài tập khó. Vì vậy, để có tâm thế sẵn sàng
nhất, thời gian đầu, GV chỉ cho HS đi bộ theo các tốc độ và
sử dụng những hiệu lệnh không lời. Điều này giúp HS quen
dần với các chuyển động và có thể thoải mái thể hiện cơ thể
của mình qua các chuyển động đó.
- Bước 3: Tạo lập thế giới
Sau khi khởi động xong, GV dẫn dắt HS để HS bắt
đầu suy nghĩ và hình dung về thế giới trong câu chuyện của
mình. Lời dẫn có thể bao gồm:
+ Giới thiệu về chủ đề của câu chuyện
+ Dẫn tưởng tượng của HS đi đến với bối cảnh của
câu chuyện
Khi dẫn, HS vẫn thực hiện đi bộ với tốc độ ổn định.
Sau khi lời dẫn kết thúc, GV hô to “Thế giới”. HS sẽ thực
hiện tưởng tượng thế giới của mình và thể hiện nó bằng
chuyển động. Trong quá trình HS thể hiện trí tưởng tượng
đó, GV có thể dẫn thêm bằng những câu hỏi gợi ý như: Thế
giới ấy trông như thế nào? Thế giới đó có màu sắc, hương
vị, cảnh trí ra sao? Thế giới ấy có những ai và họ có gì đặc
biệt?.... Những câu hỏi gợi ý này sẽ giúp HS mở rộng phạm
vi tưởng tượng của mình.
Sau 5 phút HS đi trong thế giới tưởng tượng đó, GV có
thể gọi tên một vài bạn HS bất kì, HS được gọi tên sẽ nói về
thế giới của mình.
- Bước 4: Vẽ và viết thế giới
Sau khi đã tham gia bài tập tưởng tượng, HS được
nhận phiếu để cụ thể thế giới đó ra giấy bằng hình vẽ và
đoạn văn miêu tả. Trong phiếu, một số nội dung cần có là:
+ Bối cảnh xảy ra câu chuyện là?
+ Bối cảnh đó như thế nào? (màu sắc, hương vị, cảnh
trí,…)
+ Có những ai trong bối cảnh đó?
Về hình thức, GV có thể thiết kế những phiếu có thêm
hình minh họa hoặc thiết kế bắt mắt, có màu sắc. Dưới đây
là một đề xuất
Xây dựng nhân vật
Nhân vật được coi là một trong yếu tố quan trọng nhất
của thể loại tự sự, được thể hiện trong câu chuyện qua các
phương diện: ngoại hình, tính cách, hành động, mối quan hệ
với các nhân vật khác. Ngoài ra còn có những suy nghĩ hay
còn được gọi là nội tâm của nhân vật. Trong các văn bản tự
sự, các phương diện kể trên của nhân vật được khắc họa
một cách rõ nét qua những đoạn miêu tả có xen yếu tố biểu
cảm, thường nằm ở phần đầu và rải rác trong các phần của
câu chuyện.
Kịch tương tác rất chú trọng đến nhân vật, bằng cách
xác định rõ nhân vật trong một bối cảnh nhất định, vở kịch
sẽ được tiến hành. Nguyên tắc của kịch tương tác là một
nhân vật phải luôn được hiện diện ở trong một bối cảnh cụ
thể. Điều này cũng tương hợp với những nhân vật trong
những câu chuyện. Đặc biệt là với thể loại truyện đời
thường và truyện tưởng tượng được đưa vào trong chương
trình Ngữ văn lớp 8 thì việc gắn nhân vật với bối cảnh/
hoàn cảnh càng cụ thể bao nhiêu thì câu chuyện sẽ càng rõ
ràng và hấp dẫn bấy nhiêu.
Để xây dựng được nhân vật, Kịch tương tác có một số
bài tập giúp cho người tham gia cụ thể hóa nhân vật của
mình bằng những hành động, chuyển động cơ thể và họ
cùng nhau dùng trí tưởng tượng của mình để nhào nặn ra
nhân vật đó.
Bài tập 1: Không gian công cộng
Bài tập này giúp người tham gia nhận diện được nhân
vật thông qua tạo hình cơ thể và một số hoạt động điển
hình. Bài tập này không nhằm giúp HS hình thành được
nhân vật mà chỉ là phương tiện để HS nhận ra các yếu tố
hình thành nên một nhân vật trong câu chuyện của mình.
Nói cách khác, bài tập này là bài tập nêu và giải quyết vấn
đề, nhằm cung cấp lí thuyết về một nhân vật trong câu
chuyện. Trong đó nhấn mạnh đến một số nội dung như sau:
-
Mỗi nhân vật được khắc họa với các phương
diện: ngoại hình, tính cách, hành động, mối quan hệ với các
nhân vật khác và với bối cảnh.
-
Khi đặt nhân vật trong một bối cảnh nhất định,
cần quan tâm đến sự tương tác của nhân vật trong bối cảnh
đó (làm gì, lúc nào, với ai, với cái gì trong bối cảnh đó,…)
Cách thức tổ chức của bài tập này được chia nhỏ thành
các bước như sau:
- Bước 1: Quy ước và mô tả không gian công cộng
Đây là giai đoạn mà HS sẽ được củng cố lại về bài học
trước – Xây dựng bối cảnh. Trong đó, HS sẽ cùng nhau xây
dựng một bối cảnh bằng lời và HS sẽ cùng nhau tưởng
tượng bối cảnh đó đang hiện ra trước mặt mình.
+ GV đưa ra một chủ đề bất kì
+ HS thảo luận và thống nhất một bối cảnh cho câu
chuyện đó
+ Dựng bối cảnh: Lần lượt từng HS nói 1 câu để mô tả
bối cảnh đó. Khi tất cả HS nói xong thì sẽ có một bối cảnh
chung, HS tưởng tượng trong đầu bối cảnh đó đang xuất
hiện ở trên bục giảng.
Ví dụ:
+ GV cho chủ đề: sự trả giá của việc tàn phá môi
trường
+ HS thống nhất bối cảnh: trong một khu rừng
+ HS dựng bối cảnh bằng lời:
Đó là một khu rừng rậm rạp, cây cối tươi tốt.
Trong khu rừng có vô số các con vật sinh sống
hòa thuận với nhau.
Trong khu rừng có rất nhiều bẫy thú do con
người tạo ra.
…
Cứ như vậy, HS sẽ ghi nhớ tất cả những đặc điểm đó
và hình dung trong đầu bối cảnh khu rừng mà cả lớp vừa
tạo ra.
- Bước 2: Đóng vai nhân vật
Sau khi đã cùng xây dựng một bối cảnh cho câu
chuyện chung của cả lớp, mỗi HS sẽ nghĩ đến một nhân vật
mà mình mong muốn có trong câu chuyện đó. Giai đoạn
này là giai đoạn giúp HS có những thao tác để tạo hình
nhân vật của mình. Mỗi HS lại có cách hình dung khác
nhau về nhân vật của mình, tuy nhiên, những sự tạo hình đó
đều phải đảm bảo làm khắc họa rõ nét nhân vật của mình.
Chính vì vậy, cung cấp lí thuyết về nhân vật là một trong
những bước quan trọng để HS hình thành thao tác xây dựng
nhân vật cho câu chuyện của mình.
+ HS làm việc trong đầu, hình dung về một nhân vật.
+ Cả lớp thống nhất từ một đến ba nhân vật.
+ HS lên bảng, chọn một trong ba nhân vật vừa thống
nhất, thể hiện nhân vật trong bối cảnh vừa xây dựng theo
cách của mình.
Ví dụ: Khi đã dựng xong bối cảnh khu rừng, HS có thể
nghĩ đến nhân vật bác thợ săn đang đi trong khu rừng. Với
hình ảnh này, HS lên bảng và diễn tả lại hình ảnh của một
bác thợ săn đi trong rừng. Điều quan trọng của bài tập này
đó là, HS luôn phải đặt mình là nhân vật, mọi hình thể và cử
động đều phải là của nhân vật đó. Điều này giúp HS không
ngừng tái hiện và tái tạo hình ảnh của nhân vật.
- Bước 3: Thảo luận, rút ra bài học
Sau mỗi phần biểu diễn của một diễn viên, cả lớp sẽ
cùng nhau thảo luận. GV dẫn dắt cả lớp bằng các câu hỏi
đặt vấn đề:
+ Những biểu hiện nào cho thấy đó là nhân vật…..?
(tạo hình, nét mặt,…)
+ Nhân vật… đã sử dụng gì trong bối cảnh… ?
+ Có thể dự đoán được mục đích của nhân vật này là?
+ Tính cách của nhân vật này là gì? Điều gì nói lên
tính cách đó?
Bằng việc thảo luận với nhau về những câu hỏi trên,
HS đã có thể tổng hợp và rút ra được các yếu tố hình thành
nên một nhân vật. Như vậy, bài tập trên chỉ đóng vai trò là
một trò chơi giúp GV đặt vấn đề và HS giải quyết vấn đề.
Sau khi bài tập này kết thúc, HS đã nắm được các yếu
tố để tạo hình một nhân vật trong một câu chuyện cũng như
thao tác để xây dựng một nhân vật. Từ hiểu biết này, HS sẽ
quay lại với bối cảnh trong câu chuyện của mình từ bài học
trước và bắt đầu tiến hành xây dựng nhân vật cho câu
chuyện của mình.
Bài tập 2: Chiếc mũ vị thế
Đây là bài tập giúp GV làm mẫu và HS được một lần
nữa thị phạm trực tiếp các thao tác xây dựng một nhân vật.
Trong bài tập này, nhân vật không chỉ được khắc họa với
các yếu tố ngoại hình, tính cách mà còn được khắc họa qua
sự tương tác với các nhân vật khác.
Khởi nguyên của bài tập này là nhằm cho người tham
gia ý thức được vai trò của vị thế trong một vở kịch. Trong
bất cứ vở kịch nào, mỗi nhân vật đều có một vị thế nhất
định trong một hoàn cảnh nhất định và nhiệm vụ của các
nhân vật là phải thể hiện sao cho đúng với vị thế đó. Để thể
hiện được vị thế đó, kịch tương tác rất chú trọng đến việc
biểu hiện ra hành động và lời nói trong mối quan hệ với các
vị thế khác. Chính vì hướng đến biểu diễn hình thể (tay,
chân, ánh mắt, gương mặt), hành động và lời nói mà bài tập
này có thể dễ dàng ứng dụng trong dạy học để HS có thể
hình dung rõ nhất sự kì diệu của các yếu tố đó trong việc
hình thành một nhân vật.
Để phù hợp với mục tiêu của bài dạy làm văn tự sự,
chúng tôi có cải tiến bài tập này một chút so với nguyên
bản. Bài tập này được tổ chức theo các bước như sau:
-
Bước 1: Quy ước vị thế và hoàn cảnh
+ GV sử dụng một chiếc mũ làm đạo cụ, đưa ra quy
ước: người có chiếc mũ này là người có vị thế cao hơn so
với người không có chiếc mũ.
+ Lập nhóm 5 người, xếp hàng ngang, theo thứ tự từ
trái qua phải là vị thế thấp dần:
+ Hoàn cảnh: người thứ nhất có vị thế cao nhất ném
chiếc mũ của mình và yêu cầu người thứ hai nhặt lên, người
thứ hai thể hiện vị thế của mình nhặt chiếc mũ lên và đội lại
cho người thứ nhất. Sau đó người thứ 2 có chiếc mũ, làm
tương tự với người thứ 3 và cứ như vậy cho đến hết. Người
thứ 5 chỉ có vị thế thấp.
1
2
3
4
5
Như vậy, người thứ 2 có vị thế thấp hơn người thứ 1
nhưng lại có vị thế cao hơn người thứ 3. Tương tự với
người thứ 3 và người thứ 4. Yêu cầu của bài tập này là các
nhân vật phải thể hiện rõ nhất vị thế của mình qua cử chỉ,
điệu bộ, lời nói (nếu có).
-
Bước 2: Diễn với vị thế của mình
Cứ 5 HS sẽ thành một nhóm và sẽ lần lượt thực hành
bài tập này. Nếu không có đủ thời gian thì có thể chỉ thực
hành với một nhóm. Trong quá trình thực hiện, GV luôn
nhắc lại cho HS về các yêu cầu của bài tập để HS thể hiện
rõ nhất vị thế của mình. HS còn lại có nhiệm vụ chỉ ra sự
thay đổi thái độ, cử chỉ, lời nói của các nhân vật số 2, 3, 4
và những biểu hiện chung nhất của những người có vị thế
cao, những người có vị thế thấp.
-
Bước 3: Đánh giá và rút ra bài học
Sau khi kết thúc bài tập, cả lớp cùng nhau thảo luận:
+ Những người có vị thế cao hơn thường có biểu hiện
nào?
+ Những người có vị thế thấp hơn thường hơn biểu
hiện nào?
+ Có những sự thay đổi nào trong thái độ, cử chỉ, lời
nói của người số 2, 3, 4
+ Từ đó, rút ra nhận xét về việc xây dựng nhân vật
(ngoài ngoại hình, tính cách thì còn có thêm yếu tố trong
các mối quan hệ và những biểu hiện cụ thể)
Như vậy, có thể thấy, hai bài tập trên chỉ là hai hoạt
động nêu và giải quyết vấn đề, nhằm mục đích gọi tên đơn
vị kiến thức lí luận cho HS một cách đơn giản, trực quan
nhất và đưa thành các thao tác để HS có thể xây dựng được
nhân vật cho câu chuyện của mình. Sau khi thực hành hai
bài tập này, HS thực hành làm phiếu với hai nội dung:
-
Lập hệ thống chân dung các nhân vật trong câu
chuyện của mình bằng hình vẽ
+ Hình vẽ minh họa
+ Các từ khóa mô tả: ngoại hình, tính cách điển hình,
cử chỉ điển hình, điệu bộ,…
-
Viết lời giới thiệu cho mỗi nhân vật của mình:
Với mỗi nhân vật, HS tiến hành viết thành một đoạn văn từ
5 – 7 câu để giới thiệu về nhân vật đó. Thao tác này giúp
cho HS liên kết các yếu tố để tạo thành hình một nhân vật.
Đồng thời, nó cũng giúp HS được luyện tập thao tác viết
đoạn trong làm văn tự sự.
Tiếp nối với phiếu bài tập về bối cảnh, chúng tôi cũng
đề xuất phiếu xây dựng nhân vật như dưới đây. Phiếu này
mô phỏng phần mở đầu – giới thiệu nhân vật của những bộ
truyện tranh, những bộ tiểu thuyết có số lượng nhân vật lớn.
Ngoài ra có thể có nhiều hình thức khác như: tạo một
“profile” cho nhân vật, tạo một trang giao diện facebook
cho nhân vật của mình,… Thậm chí, HS có thể tự thiết kế
tiểu sử nhân vật cho câu chuyện của mình.
Ảnh minh họa
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………
……………………………………………………………
…………………
………
……………………………………………………………
………
……………………………………………………………
………
……………………………………………………………
………
Xây dựng sự kiện, cốt truyện
Thao tác này được xem là khó nhưng quan trọng nhất
trong quá trình làm văn tự sự.
Hiểu rằng, thao tác xây dựng cốt truyện là một thao tác
đúc sau khi đã thực hiện các thao tác xây dựng sự kiện.
Trong chương trình trung học cơ sở, khái niệm sự kiện hay
cốt truyện cũng như các thao tác để có được các sự kiện
chưa hề được nhắc tới hoặc nhắc tới một cách chung chung
và chưa được đưa thành các tiêu chí để HS có thể neo vào.
Theo đó, các bước làm văn tự sự được cụ thể thành các
khâu như: Tìm ý, lập dàn ý, viết bài và chỉnh sửa. Đây mới
chỉ là các bước chứ chưa phải là các thao tác, chưa gọi tên
được công việc để tạo ra các yếu tố của một tác phẩm tự sự.
Trong giáo trình lí luận văn học có viết về một số đặc
điểm của sự kiện như sau:
+ Sự kiện là sản phẩm của của mối quan hệ con người
và hoàn cảnh, môi trường, cho nên nó có khả năng phản
ảnh cuộc sống một cách toàn diện. Qua sự kiện, có thể biêt
được các mối quan hệ của con người. (trang 174)
+ Sự kiện là kết quả của mối dây liên hệ của con người
với thế giới khách quan. Cho nên, theo mối liên hệ của các
sự kiện mà tác giả tự sự có thể mở rộng không gian – thời
gian không hạn chế.
Như vậy, có thể đưa ra một số nguyên tắc khi xây dựng
sự kiện như sau:
+ Sự kiện là những hành động có sự tác động đến nhân
vật, làm ảnh hưởng đến câu chuyện. Vì vậy, sự kiện thường
phải là một hành động của nhân vật, hành động này có thể
bắt nguồn từ sự vô tình hay chủ đích của nhân vật. Do đó,
khi nhắc đến sự kiện, thông thường sẽ phải dùng đến động
từ/ cụm động từ để bắt đầu/ mô tả.
+ Sự kiện luôn gắn với nhân vật và đặc biệt là môi
trường diễn ra sự kiện đó. Vì vậy, khi sự kiện được xảy ra
phải luôn có mô tả bối cảnh đi cùng. Điều này không chỉ
giúp cho câu chuyện có sự hấp dẫn mà con làm chắc hơn
thao tác kết hợp yếu tố miêu tả vào trong bài văn tự sự.
Trong quá trình làm văn tự sự, chúng ta không dạy HS
cách tạo lập những sự kiện đơn lẻ cho câu chuyện của mình
mà đích đến là tạo ra một cốt truyện. Như đã trình bày ở
chương 1, chúng tôi sẽ sử dụng cách hiểu cốt truyện là
chuỗi sự kiện có tính liên tục trước sau, có quan hệ nhân
quả hoặc có liên hệ về ý nghĩa, vừa có tác dụng biểu hiện
tính cách, số phận cho nhân vật, vừa xây dựng bức tranh
đời sống hiện thực, vừa là yếu tố hấp dẫn cho người đọc.
(trang 175). Như vậy, một cốt truyện được đảm bảo bởi các
yếu tố sau:
+ Tập hợp các sự kiện có tính logic với nhau: theo trình
tự thời gian, theo quan hệ nhân quả.
+ Tập hợp các sự kiện phải đi đến một kết thúc và mang
một ý nghĩa nào đó về nhân vật, cuộc sống.
Cả hai yếu tố này sẽ cần được HS gọi tên và thể hiện rất
rõ trong cốt truyện của mình. Kịch tương tác có lợi thế
trong việc tạo lập một câu chuyện trong đó rất nhấn mạnh
đến việc tạo lập chuỗi các sự kiện có tính logic, mâu thuẫn
cao trào và kết thúc. Nghĩa là, theo đúng cấu trúc của một
vở kịch, câu chuyện được tạo lập trong kịch tương tác cũng
đảm bảo cấu trúc mở đầu – diễn biến (đỉnh điểm) – kết
thúc. Để tạo lập được câu chuyện như vậy, kịch tương tác
tận dụng tối đa những câu chuyện cá nhân (trải nghiệm,
quan điểm cá nhân) của những người tham gia và thông qua
các bài tập là các thao tác xây dựng cốt truyện. Dưới đây là
một số bài tập mà kịch tương tác đã sử dụng để người tham
gia có thể cùng nhau xây dựng một câu chuyện. Những bài
tập này cũng rất dễ để tổ chức và phù hợp với lứa tuổi tham
gia cũng như mục tiêu của bài học.
Bài tập 1: May thay và Không may thay
Mục tiêu của bài tập này là HS có thể cùng nhau tạo lập
được một câu chuyện hoàn chỉnh với một cấu trúc đơn giản
bằng việc xen kẽ cụm từ “may thay” và “không may thay”.
Đây là hai cụm từ giúp thể hiện rõ nhất sự thay đổi của các
sự kiện trong một câu chuyện. Bằng cách tạo lập cốt truyện
như vậy, HS có thể phát hiện ra những vấn đề liên quan đến
khái niệm cốt truyện. Vì vậy chúng tôi đề xuất sử dụng bài
tập này cho phần khởi động, nêu vấn đề cho bài học.
Cách thức tổ chức của bài tập này như sau:
- Bước 1: Xếp thành vòng tròn và giới thiệu luật chơi,
chủ đề
Để tạo thành vòng tròn thì kịch tương tác thường sử
dụng các bài tập cũ và nâng cấp hiệu lệnh. Với bài tập này,
có thể sử dụng ngay bài tập đi bộ, vẫn giữ tín hiệu vỗ tay
một lần, vỗ tay hai lần, vỗ tay ba lần và lần này thêm một
tín hiệu nữa là khi GV nói to “vòng tròn” thì ngay lập tức
HS phải xếp thành vòng tròn. Việc chơi lại các bài tập trước
một mặt giúp người học luôn được nhắc nhở về những quy
ước của tiết học, đồng thời cũng giúp HS tập ghi nhớ các tín
hiệu, kí hiệu đã được quy ước. Việc thêm các tín hiệu khác
nhằm tăng độ khó của bài tập và giúp GV sử dụng linh hoạt
trong các tiết dạy với những mục tiêu khác nhau.
Sau khi đã xếp thành vòng tròn, GV giới thiệu về trò
chơi có tên: May thay và Không may thay:
+ Cả lớp cùng nhau kể một câu chuyện về chủ
đề…………
+ Bằng cách, mỗi HS sẽ nói một câu nhưng phải bắt đầu
bằng một trong hai cụm từ “May thay” hoặc “Không may
thay” và xen kẽ nhau.
+ GV sẽ bắt đầu câu chuyện bằng một câu. Người tiếp
theo sẽ bắt đầu bằng câu có cụm từ “Không may thay”,
người tiếp theo nữa sẽ bắt đầu với cụm từ “May thay” và cứ
như vậy cho đến hết.
+ Người cuối cùng sẽ phải kết thúc câu chuyện.
Ngoài việc phổ biến luật chơi, GV có thể đưa ra một số
nguyên tắc trong quá trình thực hiện bài tập như: âm lượng
khi nói, chú ý lắng nghe, tôn trọng câu của bạn. Đồng thời,
để tránh trường hợp các câu lặp đi lặp lại về ý thì có thêm
một yêu cầu nữa là câu sau phải phát triển ý từ câu trước.
- Bước 2: Kể chuyện nối tiếp
Sau khi phổ biến luật, nguyên tắc của bài tập, cả lớp tiến
hành thực hiện bài tập. Trong quá trình HS thực hiện bài
tập, GV có nhiệm vụ quan sát và đảm bào 100% HS thực
hiện được bài tập. GV có thể ghi lại một vài sự kiện điển
hình nhất của câu chuyện lên bảng.
- Bước 3: Thảo luận và rút ra kết luận
Sau khi hoàn thành bài tập, GV sử dụng hệ thống câu hỏi
dẫn dắt để HS tìm ra vấn đề của bài học. Một số câu hỏi có
thể sử dụng như:
+ Vừa rồi chúng mình đã cùng nhau tạo ra một câu
chuyện, bằng cách nào vậy?
+ Mỗi câu bắt đầu bằng cụm từ May thay và Không may
thay có đặc điểm gì? (Nội dung, sự ảnh hưởng => vai trò)
Từ những câu trả lời của HS, GV đưa ra khái
niệm “sự kiện” và yêu cầu HS nói lại cách hiểu của mình về
sự kiện và các yếu tố của một sự kiện. Sau đó, GV tiếp tục
đặt các câu hỏi định hướng để HS tìm ra được khái niệm
cốt truyện dựa trên mối quan hệ giữa các sự kiện.
+ Các câu mình vừa nói bây giờ được gọi với cái tên mới
là sự kiện. Giữa các sự kiện này có mối quan hệ gì không?