Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

Đặc điểm định danh xét từ góc độ nguồn gốc của nhóm từ ngữ biểu thị phong tục cưới xin trong tiếng Việt (Đối chiếu với tiếng Anh)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (897.35 KB, 6 trang )

Chi n l c ngo i ng trong xu th h i nh p

Tháng 11/2014

ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH XÉT TỪ GÓC ĐỘ NGUỒN GỐC
CỦA NHÓM TỪ NGỮ BIỂU THỊ PHONG TỤC CƯỚI XIN
TRONG TIẾNG VIỆT (ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG ANH)
Vũ Linh Chi
Trường Đại học Hà Nội

Tóm t t: Phong tục cưới xin là phong tục có ở tất
cả các dân tộc trên thế giới. Tuy nhiên, giữa các dân
tộc, phong tục này có sự khác biệt. Và không phải ai
cũng có thể hiểu hết những ý nghĩa của phong tục
ñó. Vì thế, tìm hiểu về những từ ngữ biểu thị phong
tục cưới xin ở các dân tộc sẽ giúp chúng ta hiểu
ñược phần nào ý nghĩa những nét văn hoá ñặc
trưng của các dân tộc ñó. Sự phản ánh ñặc trưng
văn hóa-dân tộc có thể ñược thể hiện qua nhiều
bình diện khác nhau như: trong ý nghĩa của từ, qua
“bức tranh ngôn ngữ về thế giới”, trong cách biểu
trưng và qua ñịnh danh ngôn ngữ. Bài viết này sẽ ñi
sâu tìm hiểu về ñặc ñiểm ñịnh danh xét từ góc ñộ
nguồn gốc của những từ ngữ biểu thị phong tục cưới
xin trong tiếng Việt ñối chiếu với tiếng Anh.
Abstract: Wedding customs exist in many
nations all around the world. However, these
customs differ across cultures around the world and
not everybody can fully understand what is meant by
these words. Thus, an understanding of words
expressing wedding customs in nations will provide


a better knowledge of their cultural characteristics.
The cultural characteristics can express through
many

different

aspects:

semantic

structure,

“language picture of the world”, symbolic meanings
and characteristics of nomination. This article will
study deeply nominative characteristics about origin
of

words

expressing

wedding

customs

in

Vietnamese (compared to English).

Phong tục cùng với truyền thống, nghi lễ,

nghệ thuật,... là những thành tố văn hoá mang
ñậm nhất sắc thái ñặc trưng dân tộc. Có những
phong tục chỉ có ở một dân tộc nhất ñịnh nào ñó
nhưng có những phong tục lại phổ biến cho
nhiều tộc người. Cưới xin thuộc loại thứ hai.
Phong tục cưới xin tồn tại ở tất cả các dân tộc
trên thế giới. Tuy nhiên, giữa các dân tộc, phong

tục này có sự khác biệt. Và không phải ai cũng
có thể hiểu hết những ý nghĩa của phong tục ñó.
Vì thế, tìm hiểu về những từ ngữ biểu thị phong
tục cưới xin trong tiếng Việt và tiếng Anh sẽ
giúp chúng ta hiểu ñược phần nào ý nghĩa
những nét văn hoá ñặc trưng của hai dân tộc này.
Điều này sẽ giúp ích rất nhiều cho việc học
ngoại ngữ. Ngoài ra, nó còn giúp ích trong công
tác giảng dạy tiếng Việt.
Sự phản ánh ñặc trưng văn hóa - dân tộc có
thể ñược thể hiện qua nhiều bình diện khác nhau
như: trong ý nghĩa của từ, qua “bức tranh ngôn
ngữ về thế giới”, trong cách biểu trưng và qua
ñịnh danh ngôn ngữ. Bài viết này sẽ ñi sâu tìm
hiểu về ñặc ñiểm ñịnh danh xét từ góc ñộ
nguồn gốc của những từ ngữ biểu thị phong
tục cưới xin trong tiếng Việt ñối chiếu với
tiếng Anh.
Về thuật ngữ “ñịnh danh” có rất nhiều cách
hiểu khác nhau. Nhưng quan niệm sau của
T.V.Kolshansky ñược chúng tôi chấp thuận và
lấy làm cơ sở ñể nghiên cứu: “Định danh

(nomination) là gắn cho một kí hiệu ngôn ngữ
một khái niệm - biểu niệm (signifikat) phản ánh
những ñặc trưng nhất ñịnh của một biểu vật
(denotat) - các thuộc tính, phẩm chất và quan hệ
của các ñối tượng và quá trình thuộc phạm vi
vật chất và tinh thần, nhờ ñó các ñơn vị ngôn
ngữ tạo thành những yếu tố nội dung của giao
tiếp ngôn từ” (dẫn theo [21, 33]). Nói ngắn gọn,
ñịnh danh là cách ñặt tên gọi cho một sự vật,
hiện tượng, tính chất...
Và ñể thuận tiện cho việc nghiên cứu, chúng
tôi chia nhóm từ ngữ biểu thị phong tục cưới xin
thành 3 tiểu trường:
+ Thành phần tham gia/Con người và quan hệ
385


Ti u ban 3: Đào t o ti ng Vi t nh m t ngo i ng cho ng i n c ngoài

+ Lễ vật/Sính lễ
+ Nghi lễ/Nghi thức
1. Phong tục tập quán cưới xin ở người
Việt và vấn ñề ñịnh danh trong tiếng Việt
1.1. Từ xa xưa, người Việt có lệ tảo hôn. Con
trai mới khoảng hơn 10 tuổi, bố mẹ ñã nghĩ ñến
lấy vợ cho con và thường không phải là chọn
con dâu bằng tuổi mà lớn tuổi hơn rất nhiều.
Thêm ñược một nhân lực, dù mới chỉ là 15, 16
tuổi, gia ñình cũng giải quyết ñược khá nhiều
công việc, từ xay lúa, giã gạo ñến thổi cơm, nấu

nước mang ra ñồng cho thợ gặt, thợ cấy ăn,…
Xã hội nông nghiệp ñã làm nảy sinh ra cái tục lệ
này. Trong ca dao còn ghi lại rõ nét hình ảnh
chênh lệch tuổi tác ñó.
Bồng bồng cõng chồng ñi chơi
Đi ñến chỗ lội ñánh rơi mất chồng...
Mặt khác, tâm lí xã hội cũng cần phải kể ñến.
Người xưa quan niệm cần lấy vợ sớm cho con,
dù có thể còn quá sớm, nhưng sau ñó vài năm
biết ñâu chúng chẳng ñẻ con. Như thế là việc
nối dõi tông ñường ñược ñảm bảo chắc chắn. Đó
là chưa kể càng lâu sau sức sinh sản càng tăng.
Đông con nhiều cháu ñó là Phúc của gia ñình.
Quy cho cùng vẫn là vấn ñề nhân lực, một
yêu cầu tất yếu của nền sản xuất nông nghiệp.
Và ñứng trước yêu cầu ấy, người ta ñã làm tất
cả những gì có thể làm ñược bất chấp khoa học
về sinh lí lứa tuổi, mà nói cho ñúng hơn là ñiều
này người ta chưa hề biết tới.
Mãi ñến khi người Pháp tới bảo hộ mới qui
ñịnh lứa tuổi lấy vợ, lấy chồng. Theo quy ñịnh
năm 1888 thì con gái phải 14 tuổi, con trai 16
tuổi mới ñược phép làm lễ cưới. Quy ñịnh này
tỏ ra vẫn phải nhân nhượng với phong tục của
người bản xứ.
Về thủ tục cưới xin ở người Việt dưới thời
Pháp thuộc ñã bắt ñầu thay ñổi, nhất là trong
mấy chục năm gần ñây, ở các nơi ñô thị có
nhiều ñiều Âu hóa rõ rệt. Vì vậy, khi xem xét
vấn ñề cần phải nhận ñịnh cho rõ ñâu là truyền

thống, ñâu là lai căng. Nói chung, ảnh hưởng
386

của văn hóa Trung Hoa khá sâu ñậm. Ta không
theo tuyệt ñối như họ nghĩa là ñủ 6 lễ như trong
sách Văn công gia lễ ( 1 ) trong việc cưới xin,
nhưng những công việc ta vẫn làm cho tới nay
trong cưới xin thì nội dung có thể nói là tương
tự. Sự khác biệt ở chỗ việc xem ngày sinh tháng
ñẻ, hay chọn ngày lành tháng tốt, cũng như việc
thách cưới người Việt vẫn làm nhưng không
thành lễ. Đối với người Việt, việc cưới xin, theo
truyền thống chỉ trải qua 3 lễ là Lễ chạm ngõ,
Lễ ăn hỏi và Lễ ñón dâu. Trong lễ ăn hỏi, nhà
trai dẫn ñồ lễ theo yêu cầu của nhà gái và nhà
gái ñem phân phối cho họ hàng, người thân với
ý nghĩa công bố chính thức cho mọi người biết
là thủ tục cưới ñã bắt ñầu. Còn lễ chạm ngõ thì
ñơn giản, chỉ có một cơi trầu và ý nghĩa của nó
chỉ là những lời ngỏ ý, không mang tính ràng
buộc gì. Chẳng thế mà người ta vẫn thường nói
“Cơi trầu chạm ngõ là cơi trầu bỏ ñi”.
Các nghi thức trên cũng có luật lệ qui ñịnh rõ
ràng. Năm 1477 dưới triều Lê ñã có quy ñịnh
sau: “Phàm người lấy vợ, trước hết phải mượn
người mối ñi lại bàn ñịnh, rồi sau mới ñịnh lễ
cầu thân. Lễ cầu thân xong rồi mới ñịnh lễ dẫn
cưới. Dẫn cưới xong rồi mới ñịnh ngày ñón dâu.
Ngày hôm sau chào cha mẹ chồng, ngày thứ ba
ñến lễ nhà thờ (2).”(dẫn theo [4, 2]).

Điều ñáng chú ý là theo truyền thống việc
hôn nhân của con cái ñều do cha mẹ quyết ñịnh
“cha mẹ ñặt ñâu con ngồi ñấy”.
Những ñiều vừa trình bày cho thấy một bức
phác họa về phong tục cưới xin của người Việt.
Từ những thủ tục cưới xin ấy rút ra hàng loạt
ngôn từ ñược ñịnh danh. Chúng tôi sẽ lần lượt
thống kê các yếu tố ñược ñịnh danh theo 3 tiểu
trường và xem xét chúng về mặt nguồn gốc.
(1) Sáu lễ nghi trong sách Văn công gia lễ gồm:
- Nạp thái: ñưa lễ, tỏ ý ñã kén chọn.
- Vấn danh: hỏi tên tuổi, ngày sinh tháng ñẻ xem có
hợp không.
- Nạp cát: chọn ngày tốt ñể làm lễ cưới
- Thỉnh kỳ: xác nhận ngày cưới
- Nạp tệ: ñưa ñồ lễ do nhà gái ấn ñịnh
- Thân nghinh: ñón cô dâu về
(2) Nhà thờ ñây là nơi ñể bàn thờ tổ tiên, chứ không phải
nhà thờ của ñạo Thiên chúa.


Chi n l c ngo i ng trong xu th h i nh p

1.2. Về con người tham gia vào việc hôn lễ.
Ông mai (bà mối) bố mẹ chồng, bố mẹ vợ
Nhà trai, nhà gái

ông bà nhạc

Chú rể, cô dâu


ông gia, bà gia

Phù rể, phù dâu

thông gia (sui gia)

Chủ hôn

quan viên…

Tuy còn những từ với yếu tố gốc Hán như:
chủ hôn, thông gia, quan viên,... Song ñại bộ
phận là từ thuần Việt. Theo thống kê từ thuần
Việt chiếm tỉ lệ 24/35, tức 69%; còn lại là
những từ ngữ Hán-Việt chiếm 31%.
1.3. Về lễ vật
Tùy tình hình mà lễ vật có thể rất ña dạng,
song một số lễ vật dường như phổ biến trong lễ
cưới của người Việt theo truyền thống là:
Xôi vò

lợn béo

Rượu tăm

buồng cau

Tiền cheo


chè Tàu…

Đương nhiên, ngày nay ở thành phố lễ vật có
khác. Thường là bánh cốm, bánh phu thê, chè
ướp sen, trầu cau, rượu ngoại,… Nhưng ta cũng
không quên rằng cộng ñồng người Việt ñang
sống ở nông thôn mới là tuyệt ñại ña số của dân
ta, và ở ñấy việc ăn uống còn khá là quan trọng.
Nó ñã tồn tại trong ca dao từ bao ñời (3).
Điều ñáng quan tâm là tiền cheo. Khoản này
ñược quy ñịnh theo lệ làng và nhà nước. Năm
1663 vua Lê Huyền Tông ban 47 ñiều giáo hóa,
thì ñiều 44 có nêu rõ rằng: “…Bất cứ ở cùng
một làng hay làng khác ñều cho phép thu cheo
một quan tiền cổ và một vò rượu. Quan viên và
binh lính ở xã thôn nhà gái không ñược viện cớ
người ta lấy chồng làng khác mà ñòi tiền cheo
(3 )

Hoặc:

Tháng 11/2014

quá lạm và tiền tiễn tống, hay hùa nhau ăn hiếp
phụ nữ ở hoá lấy về làm vợ làm hầu.” (dẫn theo
[14, 345]).
Năm 1804 vua Gia Long ñịnh lệ: “Trai lấy
vợ, gái lấy chồng thì sính lễ phải châm chước.
Trong 6 lễ phải tuỳ sức nhà trai giàu nghèo,
không ñược bắt ép viết văn khế cầm ruộng. Về

tiền cheo thì nhà giàu phải nạp 1 quan 5 tiền,
nhà bậc trung nạp 6 tiền, nhà nghèo nạp 3 tiền.
Nếu lấy người làng khác phải nạp gấp ñôi...”
(dẫn theo [14, 346]).
Khoản tiền cheo này ñược dùng vào việc
công ích như mua gạch lát ñường làng, xây
cổng làng, ñào giếng,… Tiền cheo rất quan
trọng, có vai trò giống như giấy kết hôn bây giờ.
Nó chứng thực lễ cưới ñược sự chấp nhận của
làng xã. Điều này không thấy ghi trong sách vở
Trung Hoa. Còn trong ca dao người Việt thì
luôn nhắc tới ñiều này (4).
Về tiểu trường lễ vật theo thống kê của
chúng tôi, từ thuần Việt chiếm tỉ lệ 23/28 tức
82%. Điều này hoàn toàn dễ hiểu bởi người Việt
ñã dùng những sản vật sẵn có của mình ñể làm
ñồ dẫn lễ.
1.4. Về lễ nghi
Như trên ñã trình bày, các lễ trong ñám cưới
người Việt ñơn giản hơn người Hán. Trong tiểu
trường này, bên cạnh phương thức ñịnh danh
bằng cách vay mượn từ ngữ Hán, vẫn tồn tại
song song cách gọi tên thuần Việt.
Hán Việt

Thuần Việt

nạp thái

chạm ngõ/chạm mặt


nạp tệ

dẫn cưới/ăn hỏi

thân nghinh

ñón dâu/rước dâu

Song có những trường hợp, chúng ta vẫn chỉ
dùng từ ngữ vay mượn Hán do ý nghĩa khái quát
...Giúp em một thúng xôi vò
Một con lợn béo, một vò rượu tăm
...Giúp em quan tám tiền cheo
Quan năm tiền cưới lại ñèo buồng cau
…Cưới em chín chĩnh mật ong,
Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò.
Cưới em tám vạn trâu bò,
Bảy vạn dê lợn, trăm vò rượu tăm

(4 )
Hay:
Hoặc:

Cưới vợ không cheo, tiền gieo xuống suối.
Nuôi lợn thì phải vớt bèo,
Lấy vợ thì phải nộp cheo cho làng
Có cưới mà chẳng có cheo,
Dẫu rằng có giết mười heo cũng hoài.
387



Ti u ban 3: Đào t o ti ng Vi t nh m t ngo i ng cho ng i n c ngoài

và sắc thái tu từ trang trọng của chúng mà từ
ngữ thuần Việt không có.
Tân hôn

lễ gia tiên

Kết hôn

lễ hợp cẩn

Lễ tơ hồng

lễ ñộng phòng

Lễ vu quy…
Có khi từ chỉ phong tục cưới xin của người
Việt lại là sự kết hợp giữa yếu tố Hán Việt và
yếu tố thuần Việt như: lại quả, lại mặt, lễ rót
rượu.
Từ gốc Hán theo thống kê của chúng chiếm tỉ
lệ 18/33 chiếm 55%.
2. Phong tục tập quán cưới xin ở người
Anh và vấn ñề ñịnh danh trong tiếng Anh.
2.1. Giống với ñám cưới truyền thống của
người Việt, ñám cưới truyền thống của người
Anh là do sự sắp xếp của bố mẹ. Từ thế kỉ 16

ñến thế kỉ 19, cha mẹ hoặc người giám hộ sẽ sắp
xếp hôn nhân. Cô dâu, chú rể thường không biết
nhau cho tới ñám cưới của họ. Các bậc cha mẹ
thường thoả thuận hôn nhân hoặc hứa hôn cho
con từ khi chúng còn nhỏ (ở Anh là từ 3 ñến 7
tuổi). Trước khi cưới, ở Việt Nam, gia ñình chú
rể mang lễ vật ñến nhà cô dâu ñể xin cưới và
ñược gọi là lễ ăn hỏi thì ở Anh, cô dâu và chú rể
tổ chức một bữa tiệc ñược gọi là lễ ñính hôn,
trong ñó gia ñình, người thân, bạn bè của cô dâu,
chú rể cùng tham gia ñể chứng nhận họ ñã thuộc
về nhau trong ñám cưới sắp tới.
Tất cả các ñám cưới truyền thống của người
Anh chỉ ñược tổ chức sau khi ñược thông báo từ
8 ñến 12 ngày hoặc trong 3 chủ nhật trước ñám
cưới ở Giáo hội Anh giáo hoặc nhà thờ trước 2
hoặc nhiều nhân chứng.
Nghi lễ cưới xin của người Anh thường ñược
tổ chức tại nhà thờ (ñám cưới của người Việt
không tổ chức ở ñình chùa mà ở nhà). Khi cô
dâu bước vào nhà thờ (thường là bố cô dâu ñưa
vào), nhạc nổi lên. Phía trước cô dâu là những
bé gái rải những cánh hoa dọc theo con ñường
vào nhà thờ với ý nghĩa mong muốn cho cuộc
388

sống của cô dâu ñược hạnh phúc. Phía sau cô
dâu là các phù dâu. Các phù dâu ñôi khi mặc
váy gần giống như của cô dâu ñể gây nhầm lẫn
cho những linh hồn xấu xa với mục ñích là bảo

vệ cô dâu.
Lễ thường bao gồm hai hoặc ba bài thánh ca.
Trong buổi lễ, cô dâu và chú rể ñọc lời nguyện,
cam kết của họ với nhau. Sau ñó, cô dâu và chú
rể trao nhẫn cho nhau. Trong buổi lễ, các cặp
vợ chồng sẽ rời khỏi nơi tôn nghiêm và nhập
phòng thánh ñể kí vào các văn bản kết hôn. Khi
các cặp vợ chồng mới cưới rời khỏi nhà thờ, con
ñường ñược rải các biểu tượng việc làm của
chú rể, như thợ mộc ñi bộ trên dăm, thợ ñóng
giày trên vụn da, thợ rèn trên miếng sắt cũ,…
Chuông nhà thờ vang dậy những giai ñiệu khác
nhau ñể xua ñuổi những linh hồn xấu xa. Trước
khi rời nhà thờ, cô dâu tung bó hoa và ai bắt
ñược sẽ là người kế tiếp ñể kết hôn. Những nghi
thức này không có trong ñám cưới truyền thống
của người Việt.
Mùa ñẹp nhất ñối với người Anh ñể kết hôn
là giữa mùa thu hoạch và giáng sinh (khoảng từ
tháng 9 ñến tháng 12) khi ñó thực phẩm dồi dào,
phong phú “cưới vào tháng 9, cuộc sống của
bạn sẽ phong phú; nếu trong tháng 10 bạn kết
hôn, tình yêu sẽ ñến nhưng nán lại giàu sang;
nếu bạn cưới vào tháng 11 ảm ñạm, chỉ có niềm
vui sẽ ñến, hãy nhớ; khi tháng 12 tuyết rơi
nhanh, kết hôn và tình yêu sẽ ñích thực; kết hôn
khi năm mới, bạn sẽ ñược yêu thương tử tế và
chân thật;…”.
Đám cưới truyền thống của Anh ñược tổ
chức vào giữa trữa, sau ñó có bữa ăn trưa, gọi là

“breakfast wedding”. Ở ñó họ ăn uống và nhảy
múa. Cô dâu và chú rể nhảy múa ñầu tiên,
không có giới thiệu hai họ của cô dâu, chú rể
như ở ñám cưới Việt.
Người Anh có những quan niệm chung về
thời gian cho hôn nhân khác với người Việt.
Thời gian ñể tổ chức hôn lễ của người Việt phụ
thuộc vào tuổi của cô dâu, chú rể và ñiều này rất
quan trọng bởi nó liên quan ñến cuộc sống sau
này của ñôi vợ chồng.


Chi n l c ngo i ng trong xu th h i nh p

Một ñiểm khác biệt nữa trong cưới xin của
người Việt và người Anh là chụp ảnh. Ở Anh,
cô dâu chú rể chụp với gia ñình và bạn bè ở bên
ngoài nhà thờ ngay sau buổi lễ hoặc bên trong
nếu trời mưa. Sau khi chụp ảnh, người thân và
bạn bè tặng cô dâu móng ngựa, muỗng gỗ, chân
lăn,… tất cả ñược trang trí với ren và ruy băng.
Còn cô dâu chú rể người Việt hiện nay thường
chụp ảnh trước ñám cưới còn trong ñám cưới thì
chụp ảnh tất cả thời gian, ngay cả khi khách
ñang ở bên.
2.2. Về những yếu tố ñịnh danh trong cưới
xin, nếu những từ vay mượn trong tiếng Việt
chủ yếu có nguồn gốc từ tiếng Hán thì trong
tiếng Anh là từ tiếng Pháp và tiếng La tinh.
Điều ñó cũng dễ hiểu vì nguồn gốc người Anh

là tộc người Celtic sống trên các hòn ñảo ở khối
liên hiệp Anh ngày nay – thường ñược gọi là
Britannic. Họ ñã sinh sống và có ngôn ngữ riêng
từ trước thế kỉ 5 sau công nguyên. Sau ñó họ bị
2 tộc người từ Bắc Âu thuộc tộc người
Giecmăng (German) là Anglo và Saxon ñến
xâm lấn và tạo nên dân tộc Anh và tiếng Anh
ngày nay. Nhưng rồi họ lại bị người Pháp từ
Normandie ñến ñánh chiếm và cai trị, mang ñến
văn hoá Pháp và La tinh. Do ñó, trong tiếng
Anh ngày nay có rất nhiều từ gốc Pháp.
Về ngôn từ trong cưới xin của người Anh ta
có thể liệt kê hàng loạt từ vay mượn ñều là gốc
Pháp và La tinh như sau:

Tháng 11/2014

Những từ vay mượn thuộc tiểu trường con
người là ít nhất: 7/27, chiếm tỉ lệ 26% (trong khi
tiếng Việt là 31%).
Cuối cùng phải nhận ñịnh là phong tục cưới
xin ở người Việt phức tạp hơn ở người Anh
nhiều. Điều này ñược thể hiện rõ ở số lượng từ
ngữ cưới xin của người Việt so với người Anh
là 106/72.
Qua phần trình bày trên ñây, chúng ta có thể
thấy rằng phần lớn những từ ngữ biểu thị nghi
thức cưới xin tiếng Việt là có nguồn gốc Hán
bởi Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hoá
Trung Quốc rất sâu sắc. Tuy nhiên, ñịnh danh

về lễ vật chủ yếu lại là những từ ngữ thuần Việt.
Chính ñiều này ñã tạo nên bản sắc văn hoá của
riêng người Việt. Còn những từ ngữ vay mượn
biểu thị phong tục cưới xin trong tiếng Anh
chiếm 50% và phần lớn là có nguồn gốc từ tiếng
Pháp và Latinh.
Như vậy, giống với nhiều dân tộc khác, tiếng
Việt và tiếng Anh cũng có vay mượn nhưng là
sự vay mượn một cách có chọn lựa, có ý thức và
tiểu trường vay mượn nhiều nhất trong hai ngôn
ngữ là tiểu trường “nghi lễ” (tiếng Việt:55%,
tiếng Anh: 72%).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phan Kế Bính (2005), Việt Nam phong tục, NXB
Văn hoá- Thông tin, Hà Nội.
2. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng
Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội.

Marry

fiance

Engage

fiancée

3. Đỗ Hữu Châu (2000), Tìm hiểu văn hoá qua ngôn
ngữ, Tạp chí Ngôn ngữ, số 10.

Affiance


épouse

4. Nguyễn Dư, Phong tục về cưới xin, http:// chimviet.
free.fr.

Nuptials

consort

Proposal

concubine

Marriage guidance

trousseau

Marriage certificate

dowry

Connubial

champagne…

Trong số những từ ngữ vay mượn này thì
những từ ngữ biểu thị nghi thức là nhiều hơn cả:
23/32, chiếm tỉ lệ 72% (tiếng Việt là 55%).


5. Nguyễn Văn Độ (2004), Tìm hiểu mối liên hệ ngôn
ngữ-văn hoá, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
6. Nguyễn Thiện Giáp (1985), Từ vựng học tiếng Việt,
NXB Đại học &Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
7. Nguyễn Quốc Hùng (2001), Một vài ñặc ñiểm ñáng
lưu ý về tư duy ngôn ngữ ở người Anh, Tạp chí Ngôn
ngữ, số 8.
8. Nguyễn Thúy Khanh (1994), Đặc ñiểm ñịnh danh
của trường tên gọi ñộng vật tiếng Nga trong sự ñối
chiếu với tiếng Việt, Tạp chí Văn hoá dân gian, số 2.
9. Nguyễn Thúy Khanh (1994), Đặc ñiểm ñịnh danh
389


Ti u ban 3: Đào t o ti ng Vi t nh m t ngo i ng cho ng i n c ngoài

tên gọi ñộng vật trong tiếng Việt, Tạp chí Văn hoá dân
gian, số 1.
10. Nguyễn Lân (2003), Từ ñiển thành ngữ và tục ngữ
Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội.
11. Bùi Xuân Mỹ, Phạm Minh Thảo (2003), Tục cưới
hỏi ở Việt Nam, NXB Văn hoá- Thông tin, Hà Nội.
12. Vũ Ngọc Phan (2004), Tục ngữ - Ca dao - Dân ca
Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội.
13. Robert Lado (2003), Ngôn ngữ học qua các nền
văn hoá, Hoàng Văn Vân dịch, NXB Đại học Quốc gia
Hà Nội.
14. Nhất Thanh-Vũ Văn Khiếu (2005), Phong tục làng
xóm Việt Nam, NXB Phương Đông.


18. Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hoá Việt Nam,
NXB Giáo dục, Hà Nội.
19. Nguyễn Đức Tồn, Huỳnh Thanh Trà (1994), Đặc
ñiểm danh học và ngữ nghĩa của nhóm từ ngữ chỉ “Sự kết
thúc cuộc ñời của con người”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 3.
20. Nguyễn Đức Tồn (1994), Đặc trưng dân tộc của tư
duy ngôn ngữ qua hiện tượng từ ñồng nghĩa, Tạp chí
Ngôn ngữ, số 3.
21. Nguyễn Đức Tồn (2002), Tìm hiểu ñặc trưng văn
hoá-dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt
(trong sự so sánh với những dân tộc khác), NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội.
22. Tân Việt (2005), 100 ñiều nên biết về phong tục
Việt Nam, NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội.

15. Phan Thuận Thảo (2005), Tìm hiểu phong tục Việt
Nam xưa và nay: Tục lệ cưới gả, tang ma của người
Việt xưa, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.

23. Trần Quốc Vượng(chủ biên) (1997), Cơ sở văn
hoá Việt Nam, NXB Giáo dục.

16. Lý Toàn Thắng (1983), Vấn ñề ngôn ngữ và tư
duy, Tạp chí Ngôn ngữ, số 2.

24. English
Wedding
http//WeddingDetails.com

Traditions,


17. Lý Toàn Thắng (2001), Bản sắc văn hoá: thử nhìn
từ góc ñộ tâm lý-ngôn ngữ, Tạp chí Ngôn ngữ, số 15.

25. Etymology
http//www.etymonline.com

Dictionary,

390



×