TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
PHẠM THỊ THÙY TRANG
THỬ NGHIỆM ƯƠNG CÁ LINH ỐNG (Cirrhinus jullieni
sauvage, 1878) VỚI CÁC MẬT ĐỘ KHÁC NHAU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2010
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
PHẠM THỊ THÙY TRANG
THỬ NGHIỆM ƯƠNG CÁ LINH ỐNG (Cirrhinus jullieni
sauvage, 1878) VỚI CÁC MẬT ĐỘ KHÁC NHAU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
NGUYỄN VĂN KIỂM
2010
LỜI CẢM TẠ
Tôi chân thành cảm ơn quý thầy cô đã giảng dạy những kiến thức bổ ích cho
chúng tôi trong suốt quá trình học tập tại trường Đại học Cần Thơ. Cảm ơn quý
thầy cô Khoa Thủy sản đã truyền thụ những kiến thức chuyên ngành, những kinh
nghiệm thực tế cho chúng tôi và giúp chúng tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập,
nghiên cứu của mình.
Xin tỏ lòng biết ơn đến thầy Ts.Nguyễn Văn Kiểm – Người hướng dẫn tôi hoàn
thành Luận văn tốt nghiệp Đại học này, cảm ơn thầy đã theo sát suốt quá trình
làm đề tài cũng như hướng dẫn tận tình trong quá trình viết bài và sửa bài. Cảm
ơn các bạn trong Trại cá nước ngọt đã giúp tôi trong quá trình làm thí nghiệm.
Chân thành cảm ơn các bạn lớp Nuôi trồng Thủy sản K32 đã cùng tôi đoàn kết,
gắn bó, vượt qua những khó khăn trong suốt quá trình dài 4 năm học Đại học.
Đặc biệt cảm ơn bạn Ngô Thành Trí đã phụ giúp tôi trong suốt quá trình học tập
cũng như thực hiện đề tài và viết báo cáo tốt nghiệp…
Xin chân thành cảm ơn!
i
TÓM TẮT
Đề tài “Thử nghiệm ương cá linh ống (Cirrhinus jullieni Sauvage, 1878) với
các mật độ khác nhau” được thực hiện tại Trại cá Khoa Thủy Sản, Đại Học Cần
Thơ. Để xác định được mật độ ương cá linh ống thích hợp, đề tài đã tiến hành
ương cá với 3 mật độ khác nhau tương ứng với 3 nghiệm thức (NT): NTI với mật
độ 500 con/m2, NTII với mật độ 1000 con/m2, NTIII với mật độ 1500 con/m2
mỗi nghiệm thức được lập lại 3 lần, toàn bộ hệ thống thí nghiệm được đặt trong
nhà, sục khí và được cấp nước liên tục trong quá trình ương. Kết quả cho thấy
các yếu môi trường nằm trong khoảng thích hợp (O2 = 4, pH = 7,9- 7,93, NO2- =
0,25-0,33 mg/l…). Tốc độ sinh trưởng của cá thay đổi theo giai đoạn phát triển
và phụ thuộc vào mật độ ương. Tốc độ tăng trưởng về chiều dài của cá có khác
biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) giữa các nghiệm thức. Ở mật độ ương 500
con/m2 tốc độ sinh trưởng của cá về chiều dài, khối lượng của cá là nhanh nhất
(0,54 mm/ngày, 0,0027 g/ngày), kế đến là mật độ 1000 con/m2 (0,38 mm/ngày,
0,0011 g/ngày), ở mật độ 1500 con/m2 có tốc độ tăng trưởng thấp nhất (0,28
mm/ngày, 0,0006 g/ngày). Tỷ lệ sống ở nghiệm thức ương 500 con/m 2 là cao
nhất (65%), kế đến là mật độ 1000 con/m2 (54,3%), thấp nhất là mật độ 1500
con/m2 (47,3%).
ii
MỤC LỤC
Lời cảm tạ -----------------------------------------------------------------------------------i
Tóm tắt -------------------------------------------------------------------------------------ii
Mục lục------------------------------------------------------------------------------------- iii
Danh sách bảng ---------------------------------------------------------------------------- v
Danh sách hình --------------------------------------------------------------------------- vi
Phần 1: ĐẶC VẤN ĐỀ ------------------------------------------------------------------- 1
1.1 Giới thiệu----------------------------------------------------------------------------- 1
1.2 Mục tiêu đề tài----------------------------------------------------------------------- 2
1.3 Nội dung đề tài ---------------------------------------------------------------------- 2
1.4 Thời gian thực hiện ----------------------------------------------------------------- 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ------------------------------------------------------ 3
2.1 Đặc điểm phân loại và hình thái -------------------------------------------------- 3
2.1.1 Đặc điểm phân loại ------------------------------------------------------------ 3
2.1.2 Đặc điểm hình thái ------------------------------------------------------------- 3
2.2 Sự phân bố -------------------------------------------------------------------------- 5
2.3 Sự di cư------------------------------------------------------------------------------ 5
2.4 Đặc điểm dinh dưởng--------------------------------------------------------------- 5
2.5 Đặc điểm sinh trưởng--------------------------------------------------------------- 6
2.6 Đặc điểm sinh sản------------------------------------------------------------------- 7
Phần 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ------------------------- 9
3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài ------------------------------------------ 9
3.2 Vật liệu nghiên cứu ---------------------------------------------------------------- 9
3.3 Phương pháp nghiên cứu -------------------------------------------------------- 10
3.3.1 Phương pháp chuẩn bị ------------------------------------------------------ 10
3.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm --------------------------------------------- 10
3.3.3 Chăm sóc quản lý------------------------------------------------------------- 11
3.3.2.1 Cho ăn --------------------------------------------------------------------- 11
3.3.2.2 Quản lý -------------------------------------------------------------------- 12
3.3.4 Khảo sát tăng trưởng của cá linh ống khi ương -------------------------- 12
3.3.5 Tính toán kết quả ------------------------------------------------------------- 13
3.3.6 Phương pháp xử lý số liệu--------------------------------------------------- 13
Phần 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN ---------------------------------------------------- 14
4.1 Đặc điểm môi trường nước trong bể ương ------------------------------------ 14
4.1.1 Yếu tố thủy lý trong bể ương ----------------------------------------------- 14
Nhiệt độ --------------------------------------------------------------------------- 14
4.1.2 Các yếu tố thủy hóa trong bể ương---------------------------------------- 14
Oxy hòa tan ----------------------------------------------------------------------- 15
NO2- -------------------------------------------------------------------------------- 15
iii
PO43- -------------------------------------------------------------------------------NH4+ -------------------------------------------------------------------------------pH ---------------------------------------------------------------------------------4.2 So sánh sự sinh trưởng của cá linh ống với các mật độ khác nhau--------4.2.1 So sánh sự tăng trưởng về chiều dài của cá -----------------------------4.2.2 So sánh tăng trưởng về trọng lượng---------------------------------------4.2.3 Tỷ lệ sống---------------------------------------------------------------------Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ------------------------------------------------5.1 Kết luận ---------------------------------------------------------------------------5.2 Đề xuất ----------------------------------------------------------------------------TÀI LIỆU THAM KHẢO ------------------------------------------------------------PHỤ LỤC---------------------------------------------------------------------------------
iv
16
16
16
16
16
19
21
23
23
23
24
26
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1 Các chỉ tiêu hình thái của cá linh ống .................................................. 4
Bảng 3.1 Số lượng cá bố trí ở cá nghiệm thức .................................................. 11
Bảng 3.2 Thức ăn sử dụng trong quá trình ương ............................................... 12
Bảng 4.1 Yếu tố thủy lý trong bể ương cá linh ống........................................... 14
Bảng 4.2 Các yếu tố thủy hóa trong bể ương cá linh ống .................................. 15
Bảng 4.3 Tăng trưởng chiều dài cá linh ống ở các mật độ ương khác nhau ....... 17
Bảng 4.4 Sinh trưởng về trọng lượng của cá ở các mật độ khác nhau................ 19
v
DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1Hình thái bên ngoài của cá linh ống ...................................................... 3
Hình 3.1 Một số test môi trường......................................................................... 9
Hình 3.2 Bể ương cá linh ống ........................................................................... 10
Hình 4.1 Tăng trưởng về chiều dài của cá linh ống ........................................... 17
Hình 4.2 Chiều dài cá bột ở ngày tuổi thứ 30.................................................... 19
Hình 4.3 Tăng trưởng về khối lượng của cá linh ống ........................................ 20
vi
Chương 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Trong những năm gần đây tình hình nuôi thủy sản trên thế giới phát triển rất
mạnh. Theo thống kê của FAO tỷ lệ tăng trung bình hàng năm của nuôi trồng
thủy sản tính từ năm 1970 tới nay là 8,9%. Sản lượng nuôi trồng thủy sản thế
giới năm 2001 đạt 48,42 triệu tấn, có khoảng 210 loài thủy sản (Theo
, truy cập ngày 12/12/2009).
Việt Nam với diện tích có khả năng phát triển nuôi thủy sản là 1,7 triệu ha, trong
đó ao có diện tích nhỏ là 120.000 ha, hồ chứa, mặt nước lớn là 340.000 ha và
ruộng lúa có khả năng nuôi thủy sản là 580.000 ha. Hiện nay nuôi thủy sản nước
ngọt đã đóng góp một phần quan trọng trong ngành thủy sản (Bộ thủy sản,
1999). Nó đã có những bước phát triển đáng kể, giữ vị trí quan trọng trong nền
kinh tế Việt Nam, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, nâng cao
chất lượng cuộc sống và đem lại nguồn thực phẩm vô cùng quý giá cho con
người. Riêng ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với điều kiện thuân lợi là
khí hậu ổn định, ít xảy ra thiên tai, là điều kiện lý tưởng cho động vật thủy sản
sinh sôi nảy nở nên sản lượng thủy sản cũng góp phần không nhỏ vào tổng danh
thu Quốc gia, tạo đà phát triển cho nền kinh tế Việt Nam.
Với các đối tượng nuôi truyền thống và chiếm ưu thế như cá tra, cá basa … Các
loài này đã đem lại giá trị xuất khẩu cao, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện
đời sống người dân. Tuy nhiên việc nuôi các loài cá trên còn nhiều vấn đề cần
phải lưu ý như: giá cả bấp bênh, rào cản kỹ thuật, rào cản kinh tế từ các nước
nhập khẩu, dịch bệnh bùng phát… Điều này làm tăng rủi ro cho người nuôi. Để
giảm rủi ro cho người nuôi cá. Gần đây các doanh nghiệp củng như các cấp
chính quyền bắt đầu chú ý tới hai vấn đề nêu trên. Một trong số đó là sở khoa
học và công nghệ An Giang. Tỉnh An Giang đã khuyến khích các cơ sở nuôi
thủy sản hướng tới sản xuất các loài cá bản địa để phục vụ nhu cầu trong nước
trong đó có cá linh.
Cá Linh Ống (Cirrhinus jullieni Sauvage, 1878) là loài cá có giá trị kinh tế. Hàng
năm nguồn thu nhập từ cá Linh rất cao đối với ngư dân ĐBSCL đặc biệt là ngư
dân ở dọc sông Tiền và sông Hậu. Thịt cá Linh ngọt, béo có thể chế biến thành
nhiều món ăn như: mắm kho, làm nước mắm, làm mắm. Nước mắm cá Linh rất
thơm, là đặc sản của người dân ở vùng ĐBSCL. Do khai thác quá mức của con
1
người nên sản lượng cá Linh ngày càng cạn kiệt. Trước tình hình đó Khoa Thủy
Sản – Trường Đại học Cần Thơ đã thành công trong việc kích thích sinh sản
nhân tạo cá Linh Ống. Tuy nhiên để có được quy trình sản xuất giống cá Linh ổn
định thì cần phải tiếp tục nghiên cứu, trong đó có vấn đề ương nuôi cá Linh ống.
Với những lý do trên, đề tài “Thử nghiệm ương cá Linh ống (Cirrhinus
jullieni Sauvage,1878) với các mật độ khác nhau” được thực hiện.
1.2 Mục tiêu của đề tài
Sơ bộ xác định mật độ ương cá Linh Ống đạt tăng trưởng nhanh cũng như tỷ lệ
sống cao, góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá Linh Ống
cho vùng ĐBSCL.
1.3 Nội dung của đề tài
So sánh sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Linh Ống khi ương với các mật độ khác
nhau.
Khảo sát các chỉ tiêu môi trường: oxy hòa tan, pH, nhiệt độ, NO2-...
2
Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm phân loại và hình thái
2.1.1 Đặc điểm phân loại
Loài cá Linh nghiên cứu có tên khoa học là (Cirrhinus jullieni Sauvage,1878).
Hiện nay theo nhiều tác giả thì cá Linh có hệ thống phân loại như sau:
Lớp: Osteichthyes
Bộ cá chép: Cyriniformes
Họ: Cyrinidae
Giống: Cirrhinus Oken
Loài: Cirrhinus jullieni Sauvage,1878
Tên địa phương: cá Linh Ống
Theo Mai Đình Yên và ctv (1992); Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương
(1993) cá Linh Ống (Cirrhinus jullieni) thuộc giống Cirrhinus, họ Cyprinidae,
bộ cá chép Cypriniformes.
2.1.2 Đặc điểm hình thái
Hình 2.1: Hình thái bên ngoài của cá linh ống
Theo (truy cập ngày 18/01/2008) cá linh thuộc
nhóm cá xương nước ngọt cở nhỏ, họ cá chép Cyprinidae, phổ biến ở miền nam
Việt Nam đặc biệt là vùng ven Đồng Tháp Mười về phía sông tiền và sông hậu.
3
Cá linh (Cirrhinus jullieni) có mình tròn cỡ nhỏ 5-8 cm, con lớn nhất dài 22 cm,
nặng 160 g. Mùa sinh sản vào tháng 5-7, trứng màu vàng thịt ngon, ngọt, sản
lượng tự nhiên cao.
Theo Lê Thị Mai Xuân (2009) thì kết quả đo đếm các chỉ tiêu hình thái của cá
linh ống có những đặc điểm sau :
Bảng 2.1 Các chỉ tiêu hình thái của cá linh ống
Chỉ tiêu quan sát
Cá linh ống (n=120, L=7,8-15,1 cm)
D
(2-3), 8
P
1, (12-15)
V
1, 8
A
( 2-3), 5
Lo/Lđ
3,70 (3,20-4,20)
Lo/H
3,30 (1,00- 1,80)
Lđ/OO
2,00 (1,20-3,00)
Lcđ/Hcđ
1,40 (1,00-1,80)
Râu
Có một đôi râu mép rất ngắn hoặc thoái hóa hoàn toàn
Môi
Rất mỏng
Vẩy
Tròn, to
Thân
Thon dài, phần trước tròn, phần sau dẹp bên
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) thì cá Linh Ống
(Cirrhinus jullieni) có đặc điểm về hình thái như sau:
Đầu nhỏ, hơi dẹp bên, miệng trước đến cận dưới, môi rất mỏng, rãnh sau môi
trên sâu và liên tục, rãnh sau môi dưới giãn ở đoạn giữa, có một mấu xương nhỏ
nằm ở phía trong. Có một đôi râu mép rất nhỏ hoặc thoái hóa hoàn toàn, mắt lớn
vừa hơi lệch lên phía trên của đầu.
4
Thân thon dài, phần trước tròn, phần sau dẹp bên. Vẩy tròn phủ khắp thân, đầu
không có vẩy. Có một hàng vẫy nằm chồng lên gốc vi lưng và vi hậu môn, có ba
hàng vẩy nằm chồng lên gốc vi đuôi. Khởi điểm vi lưng nằm trước khởi điểm vi
bụng. Tia đơn vi lưng và vi hậu môn không hóa xương. Vi đuôi chẻ hai, rãnh chẻ
sâu hơn ½ vi đuôi.
Mặt lưng của đầu và thân có màu xanh rêu và lợt dần đến đường ngang giữa
thân, từ đường ngang giữa thân trở xuống bụng có màu trắng bạc. Ngọn các vi
lưng, vi đuôi có màu xám đen.
2.2.Phân bố
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993); Lê Như Xuân và ctv
(1994) thì cá Linh sống ở nước ngọt, phân bố ở Thái Lan, Lào, Campuchia,
Indonesia, Malaysia và Đồng bằng sông Cửu Long – Việt Nam. Cá linh ống
thường sống ở tầng giữa và tầng đáy thuộc hạ lưu sông Mê Kông.
Ngoài phân bố ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) Việt Nam, Campuchia,
Lào, Thái Lan, cá linh còn phân bố ở Indonesia và Malayxia. Theo
( truy cập ngày 18/01/2008).
2.3 Sự di cư
Hàng năm bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 12 cá linh từ các đồng ruộng lúa theo
các kênh rạch đổ ra sông lớn (Sông Tiền, Sông Hậu), rồi cá ngược dòng lên
thượng nguồn. Bắt đầu từ tháng 7 cá Linh non (L = 1,5-3 cm) theo dòng nước
xuống địa phận Việt Nam theo các kênh rạch vào đồng ruộng sinh sống (Trương
Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993).
Poulsen et al (2005) được trích dẫn bởi Lê Thị Mai Xuân (2008) cũng cho rằng
Cirrhinus là loài cá di cư hàng năm. Vào mùa khô cá ra khỏi vùng ngập thuộc hệ
thống biển hồ sông Tonle Sap, ngược dòng sông Mekong lên thác Khôn. Cá
thường di cư vào ban đêm và lúc trăng sáng. Sự di cư qua sông Tonle Sap chỉ
diễn ra trong vòng 5 ngày vào thời điểm trăng tròn. Tập tính di cư sinh sản không
chỉ gặp ở cá linh mà còn gặp ở một số loài thuộc họ phụ Cyprininae như cá
duồng và cá cóc có hình thức di cư tương tự như cá linh.
2.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Các loài thuộc họ Cyprinidae thường có đặc tính ăn tạp nhưng tùy loài sẽ chọn
lựa loại thức ăn thích hợp riêng.
5
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) thức ăn tìm được trong
dạ dày chủ yếu là mùn bã hữu cơ, phiêu sinh thực vật.
Nghiên cứu về tính ăn của một số loài thuộc họ phụ Cyprinidae cho thấy khi còn
nhỏ chúng sử dụng thức ăn là động vật phù du. Sau đó chuyển sang ăn nhiều loại
thức ăn khác nhau nhưng chủ yếu là thực vật phiêu sinh. Ngoài ra, chúng còn sử
dụng thức ăn chế biến và thức ăn viên (Đặng Văn Trường và ctv, 2005; Phạm
Văn Khánh và ctv, 2005).
Theo Mai Đình Yên (1983); Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993)
cá he vàng (Puntius altus) thuộc nhóm ăn sinh vật nổi nhưng trong điều kiện ao
nuôi cá có thể sử dụng được nhiều loại thức ăn như: rau cải, bầu bí, cám tấm nấu
chín…
Lê Thị Mai Xuân (2009) cho biết có nhiều thành phần thức ăn trong ống tiêu
hóa của cá linh ống như mùn bã hữu cơ, thực vật phiêu sinh,và động vật phiêu
sinh. Trong đó mùn bã hữu cơ chiếm tỷ lệ cao nhất (69,19% - 69,72%) kế đến là
phiêu sinh thực vật (17,53% - 22,22%), động vật phiêu sinh chiếm tỷ lệ thấp hơn
(4,98% - 9,97%).
2.5 Đặc điểm sinh trưởng
Sự sinh trưởng của cá kéo dài trong suốt đời sống, đặc trưng cho từng loài và thể
hiện qua mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng thân.
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) thì cá Linh Ống lớn nhất
có thể dài tới 17-22 cm và nặng 160g.
Theo Lê Thị Mai Xuân (2009) tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá
linh ống được xác định là W= 0,0088L3,1221 với hệ số tương quan R2=0,9862.
Khi cá được 1 tuổi thì chiều dài đạt 18,8 cm và khi cá lớn hơn 4 tuổi chiều dài
đạt cực đại.
Tuy nhiên theo Pongthana (2005) cho biết phương trình tương quan giữa chiều
dài và khối lượng cá linh ống: LogW = -5,85364+3,455862LogL. Quan hệ giữa
sức sinh sản (F) với khối lượng (W) và chiều dài lần lượt F = 3,1021W0.0761 và F
= -1,7918L0.896.
Nghiên cứu về sự sinh trưởng của một số loài cá có điều kiện sống và thức ăn
tương tự như cá Linh Ống cho thấy cá mè vinh khi nuôi trong ruộng lúa có thể
đạt 0,3–0,5 kg/con/năm (Dương Nhựt Long, 2000). Ngược lại cá he vàng chậm
lớn, cá 1 năm tuổi chỉ dài 12 cm (Mai Đình Yên, 1983).
6
2.6 Đặc điểm sinh sản
Tuổi thành thục của cá khác nhau, trong cùng một loài thì tuổi thành thục cũng
thay đổi tùy thuộc vào khu vực phân bố, điều kiện môi trường sống và chế độ
dinh dưỡng (Nguyễn Văn Kiểm, 2004).
Lê Như Xuân và ctv (2000) cho rằng một số loài thuộc họ cá chép như cá mè
vinh 1 năm tuổi đã thành thục sinh dục và tham gia sinh sản. Cá chép ở nước ta
thành thục sinh dục sau 1 năm (nếu thức ăn đầy đủ cá thành thục sau 8-9 tháng).
Cá mè trắng thành thục sinh dục sau 2 năm, trong điều kiện nuôi tốt sau 1 năm cá
thành thục. Cá đực thường thành thục sớm hơn cá cái về tuổi và thời gian trong
năm.
Các loài cá thuộc giống Cirrihinus như cá Mrigal (Cirrhinus cirhosus) có thể
tăng trưởng nhanh ở trong ao nhưng không đẻ trong tự nhiên trong các vùng tù
túng, nhỏ hẹp. Chúng chỉ đẻ trứng ở các con sông, hồ chứa nơi có dòng chảy. Cá
đẻ ở vùng ven bờ, nơi có độ sâu 50-100 cm trên nền đáy cát hoặc sét
( /, truy cập ngày 20/02/2008). Mùa vụ sinh sản của cá
Mrigal (Cirrhinus cirhosus) từ tháng 5-6 đến thàng 8-9 khi có các trận mưa đầu
mùa, làm ngập các vùng đất cạn, tạo nên bãi đẻ cho cá (Phạm Minh
Thành,1997).
Mùa vụ sinh sản của cá linh ống Cirrhinus jullieni từ tháng 5-7. Bãi đẻ của cá
linh thường ngã ba sông, ven cồn, nơi nước chảy ( />truy cập ngày 18/01/2008).
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Mai Xuân (2009) thì từ tháng 1 đến tháng 3
hệ số thành thục của cá rất thấp, tháng 4 đến tháng 5 hằng năm cá có tuyến sinh
dục ở giai đoạn IV. Tuy nhiên ở tháng 8, 9, 12 thu được vài cá thể thành thục ở
giai đoạn IV có hệ số thành thục rất cao 25,3%.
Tới tháng 6 tỷ lệ cá cái thành thục sinh dục giai đoạn IV là 43,3% và đến tháng
VII là 50 %. Theo Lê Thị Mai Xuân (2009) thì chiều dài thành thục nhỏ nhất
của cá linh ống là 8 cm và khối lượng là 4,59 g. Cá linh là loài sinh sản một lần
trong năm, mùa vụ sinh sản của cá linh tập trung vào tháng 5,6,7 hàng năm. Sức
sinh sản tuyệt đối của cá linh ống 285.199 trứng/cá cái có chiều dài 23,5 cm. Sức
sinh sản trung bình 319.959-830.992 trứng/kg cá cái (Lê Thị Mai Xuân, 2009).
Theo Nguyễn Tường Anh (1999) thì trong tự nhiên, nhiều loài cá chỉ khả năng
sinh sản một lần trong năm với mùa sinh sản kéo dài vì không đủ chất dinh
dưỡng cho quá trình tạo trứng sau khi đẻ. Những cá như thế nếu được nuôi vổ
7
tốt, được cung cấp đầy đủ thức ăn cho việc phục hồi sức khỏe và tạo trứng, tạo
tinh thì có thể tái thành thục và sinh sản nhiều lần trong năm. Những cá tái thành
thục trong năm thường có hệ số thấp hơn những cá thành thục lần đầu của năm
đó.
Trong điều kiện nuôi vỗ mùa vụ sinh sản của 4 loài cá bản địa thuộc họ phụ của
cá chép là cá chài, cá mè hôi, cá ét mọi, cá duồng kéo dài từ tháng 3 - 10, tập
trung từ tháng 5 - 7. Ở cá chài sự tái thành thục sau 90-120 ngày và cá ét mọi cho
sinh sản 1 - 3 lần/năm (Đặng Văn Trường và ctv, 2005).
Sức sinh sản của các giống loài thuộc họ cá chép khá cao và biến đổi theo loài.
Sức sinh sản của cá mè trắng dao động từ khoảng 50.000-70.000 trứng/1kg cá
cái. Sức sinh sản của cá chép dao động từ khoảng 50.000-80.000 trứng/1kg cá
cái. Riêng cá mè vinh có sức sinh sản trung bình rất cao có thể đạt tới 400.000 500.000 trứng/kg cá cái (Nguyễn Văn Kiểm, 2004; Lê Như Xuân và ctv, 2000).
Kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Khánh và ctv (2005) cho biết cá cóc nuôi
trong ao có sức sinh sản tuyệt đối 149.980 trứng, sức sinh sản tương đối trung
bình 44.550 trứng/kg cá cái. Ở nhiệt độ nước 29 oC, trứng nở thành sau 14 giờ từ
khi thụ tinh.
Đặng Văn Trường và ctv (2005), cho rằng tuổi thành thục của 4 loài cá có đặc
điểm sinh học tương tự như cá linh ống là: Cá chài, mè hôi, ét mọi và cá Duồng
là 2 tuổi, nhưng cá sinh sản cho kết quả tốt nhất ở 3 năm tuổi. Tuổi thành thục
của cá ét mọi lần đầu là 1 tuổi khi cá đạt trọng lượng 0,9kg. Tuy nhiên ở tuổi và
trọng lượng này cho sinh sản nhân tạo hiệu quả còn thấp. Theo Tienchareon et al.
(1989) (Trích bởi Đặng Văn Trường và ctv, 2005) trọng lượng cho cá sinh sản
nên trong khoảng 0,8-3,5 kg.
Theo Võ Thị Trường An (2009) cá linh ống (Cirrhinus jullieni) trong điều kiện
nuôi vỗ nhiệt độ nước dao động trung bình từ 28-32,2 0C, với thức ăn là cám và
bột cá thì cá linh ống thành thục sau 4 tháng nuôi vỗ. Khi cá đã thành thục sinh
dục thì có thể kích thích cá đẻ trứng ở liều 80 µg LHRHa/kg hoặc 2mg não thùy
kết hợp với 80 µg LHRHa đều có kết quả. Trong khi đó nếu sử dụng HCG thì
liều thấp hơn 2500 UI hoặc thấp hơn 6mg/kg thì không có tác dụng tới sự sinh
sản của cá linh ống.
8
Chương 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài
Thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 09/2009 đến tháng 10/2009.
Địa điểm: Trại cá thực nghiệm Khoa Thủy Sản – Trường Đại học Cần Thơ.
3.2 Vật liệu nghiên cứu
Dụng cụ: ba bể xi măng (Bể xi măng 3m2 được ngăn làm 3 bể nhỏ mỗi bể nhỏ là
1m2), tấm bạt, nhiệt kế, vợt thu mẫu, thau, xô, thước kẻ vạch, đĩa Petri, cân điện
tử.
Máy bơm, máy thổi khí, hệ thống sục khí, dây dẫn và đá bọt.
Bộ test môi trường: O2, pH, NO2, NH4+, PO43-.
Hình 3.1 Một số test môi trường
9
Cá bột: Cho đẻ tại trại thực nghiệm của bộ môn Kỹ thuật nuôi Thủy sản nước
ngọt - Trường Đại học Cần Thơ.
Nguồn nước: lấy từ ao lắng.
Thức ăn: Bột cá, bột đậu nành, trứng gà.
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp chuẩn bị
Hình 3.2 Bể ương cá linh ống
Bể xi măng (3m2): rửa sạch nhiều lần, để khô bể sau đó dùng bạt ngăn làm 3 bể
nhỏ, mỗi bể nhỏ là 1m2.
Sau khi bể được ngăn xong thì tiến hành cấp nước vào bể khoảng 0,4m và lắp hệ
thống sục khí vào trong mỗi bể riêng.
3.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm: Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá linh ống
ương trong bể xi măng.
10
Thí nghiệm được tiến hành trong bể xi măng diện tích là 1m 2. Bể được đặt trong
nhà hạn chế các điều kiện môi trường tác động vào, nguồn nước dùng cho thí
nghiệm lấy từ ao lắng thông qua bể chứa. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu
nhiên với 3 nghiệm thức và mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Mỗi nghiệm
thức được ương với các mật độ ương khác nhau là 500, 1000, 1500 con/m2. Thí
nghiệm được tiến hành trong 30 ngày.
Khi cá bột được 3 ngày tuổi (cá hết noãn hoàng) đếm cá bột bố trí vào bể xi
măng với các mật độ đã xác định là 500, 1000, 1500 con/m2.
Bảng 3.1: Số lượng cá bố trí ở các nghiệm thức
Mật độ (con/m2)
Số lần lập lại
I
II
III
1
500
1000
1500
2
500
1000
1500
3
500
1000
1500
Chạy hệ thống sục khí trước khi bố trí cá vào bể, và sục khí liên tục trong suốt
quá trình ương.
Định kỳ kiểm tra sinh trưởng của cá 15 ngày/lần các chỉ tiêu xác định là chiều
dài và trọng lượng, và khi cá ương đến ngày thứ 30 thì tiến hành thu hoạch, tính
tỷ lệ sống của cá.
3.3.3 Chăm sóc quản lý
3.3.3.1 Cho ăn
Trong quá trình ương sử dụng các loại thức ăn như trứng gà, bột cá, bột đậu nành
cho cá ăn và cho ăn theo nhu cầu của cá. Mỗi ngày cho cá ăn khoảng 3-4 lần. Số
lần cho ăn và loại thức ăn trên ngày của từng giai đoạn theo bảng sau:
11
Bảng 3.2 Thức ăn sử dụng trong quá trình ương
Ngày tuổi
Thức ăn
Số lần ăn/ngày
10
Trứng gà + Bột đậu nành
4
10 – 20
Bột cá + Bột đậu nành
3
20 – 30
Bột cá + Bột đậu nành
2
Phương pháp cho ăn
10 ngày đầu: cho ăn trứng gà và bột đậu nành hòa với nước, sau đó
rây qua lưới và tạt đều khắp bể. Trứng gà, bột đậu nành tỷ lê 2:1.
10 ngày tiếp theo: cho ăn bột cá và bột đậu nành hòa với nước,
không cần rây qua lưới, tạt khắp bể. Bột cá, bột đậu nành tỷ lệ 1:1.
10 ngày cuối: cho ăn bột cá và bột đậu nành, rãi đều trong bể. Bột
cá, bột đậu nành tỷ lệ 1:1.
3.3.3.2 Quản lý
Theo dõi một số chỉ tiêu môi trường: nhiệt độ, oxy hòa tan, pH, NO2-, NH4+,
PO43-…
Nhiệt độ: đo bằng nhiệt kế 1 lần/ngày.
Oxy, pH: sử dụng bộ test oxy, pH test 1 lần/ngày.
PO43-, NH4+, NO2- : cũng sử dụng bộ test của từng chỉ tiêu, test 5 ngày/lần.
Định kỳ thay nước 5 ngày/lần, mỗi lần thay khoảng 20%.
Các chỉ tiêu trên được kiểm tra lúc 7 giờ sáng.
3.3.4 Khảo sát tăng trưởng của cá Linh Ống
Khi bố trí thí nghiệm cá được xác định khối lượng ban đầu bằng cách cân lấy
trung bình khối lượng cá và khối lượng lúc sau thì cân từng con. Đối với chiều
dài lúc đầu đo bằng kính hiển vi có thước chia vạch và chiều dài lúc sau dùng
thước đo cm có chia vạch mm để đo cá. Khi đo ta cố định đầu cá ở một đầu
thước, đầu kia dùng tay vuốt nhẹ cho cá thẳng ra rồi đọc giá trị.
12
Trong quá trình ương định kỳ thu mẫu cá 15 ngày/lần để đánh giá tốc độ tăng
trưởng của cá. Tốc độ tăng trưởng được đánh giá thông qua việc cân trọng lượng
và đo chiều dài của cá, ít nhất 10 con/lần thu.
3.3.5 Tính toán kết quả
Tốc độ tăng trưởng/ngày được tính theo công thức sau
W =
L =
W2 W1
T2 T1
L2 L1
T2 T1
Trong đó:
W: Tốc độ tăng trưởng theo khối lượng (g/ngày).
l: là tốc độ tăng trưởng theo chiều dài (mm/ngày).
L1, W1: là chiều dài và khối lượng ở thời điểm T1.
L2, W2: là chiều dài và khối lượng tại thời điểm T2.
Tăng trưởng đặc biệt (%/ngày)
SGR (%/ngày) =
LnP 2 Lnp
t 2 t1
1
X 100
Tỷ lệ sống được tính theo công thức sau
Tỷ lệ sống (%)
Số lượng cá thu hoạch
=
Số lượng cá bột thả
X 100
ương
3.3.6 Phương pháp xử lý số liệu
Các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn được xử lý dựa trên phần mềm của Excel
2003, so sánh thống kê theo phần mềm SPSS.
13
Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm môi trường nước trong bể ương
4.1.1 Yếu tố thủy lý trong bể ương
Kết quả theo dõi các chỉ tiêu thủy lý trong quá trình ương cá linh ống được trình
bày ở bảng 4.1
Bảng 4.1 Yếu tố thủy lý trong bể ương cá linh ống
Mật độ (con/m2)
Chỉ tiêu theo dõi
500
Nhiệt độ
26,9 ± 0,51
1000
26,8±0.53
1500
26,8±0,55
Ghi chú: Giá trị thể hiện là số trung bình và độ lệch chuẩn
Nhiệt độ
Trong suốt thời gian nghiên cứu thí nghiệm nhiệt độ nước trung bình dao động từ
26,8 – 26,9 0C. Nhiệt độ trong thí nghiệm không cao do bể được bố trí trong nhà
ánh sáng mặt trời không trực tiếp chiếu vào được. Sự ổn định về nhiệt độ có thể
là do cung cấp nước đầy đủ liên tục từ 1 nguồn nước duy nhất.
Theo Niconski (1963) thì cá chỉ hoạt động bình thường khi nhiệt độ cơ thể của cá
chênh lệch với nhiệt độ môi trường khoảng 0,5-10C, nhiệt độ thích hợp cho đa số
các loài cá nuôi từ 20-300C. Giới hạn cho phép là 10-400C . Như vậy khoảng
nhiệt độ của thí nghiệm vẫn phù hợp với sự phát triển của cá bột.
Theo Trương Quốc Phú (2000), nhiệt độ thích hợp cho đa số các loài cá nuôi là
từ 20-30 0C, Giới hạn cho phép là 10-400C.
Nhiệt độ trong các nghiệm thức không có sự chênh lệch lớn là do thí nghiệm
được đặt dưới mái che không chịu sự tác động của một số yếu tố ngoại cảnh, tác
động như ánh sáng mặt trời.
4.1.2 Các yếu tố thủy hóa
Bên cạnh một số yếu tố thủy lý làm ảnh hưởng đến đời sống thủy sinh vật nói
chung và tôm cá nói riêng thì một số yếu tố thủy hóa cũng ảnh hưởng rất lớn đến
14
sự phát triển và tỷ lệ sống của tôm cá, nếu chúng không nằm trong khoảng thích
hợp. Kết quả nghiên cứu một số yếu tố thủy hóa trong quá trình ương cá linh ống
từ bột lên hương được trình bày cụ thể ở bảng 4.2.
Bảng 4.2 Các yếu tố thủy hóa trong bể ương cá linh ống
Mật độ (con/m2)
Chỉ tiêu theo dõi
500
1000
1500
Oxy (mg/l)
4
4
4
NO2- (mg/l)
0,25± 0,27
0,33±0,41
0,33±0,26
NH4+
0,33±0,26
0,42±0,38
0,25± 0,28
PO43-
0,29±0,1
0,29±0,1
0,23±0,06
pH
7,9±0,20
7,93±0,17
7,93±0,17
Ghi chú: Giá trị thể hiện trong bảng là số trung bình và độ lệch chuẩn
Oxy hòa tan
Theo Swingle (1969) thì nồng độ oxy hòa tan trong nước lý tưởng cho tôm, cá là
trên 5 ppm (trích bởi Trương Quốc Phú, 2006).
Qua kết quả thí nghiệm cho thấy rằng hàm lượng oxy hòa tan giữa các nghiệm
thức không có sự biến động, và luôn ở mức ổn định là 4mg/l ở những thời điểm
kiểm tra. Mặc dù với bộ test nhanh không cho ra những giá trị chính xác tuyệt
đối nhưng kết quả thu được cho thấy hàm lượng oxy hòa tan đủ cho hoạt động
của cá không ảnh hưởng xấu tới sự phát triển của cá linh trong suốt quá trình
ương. Hàm lượng oxy hòa tan trong thí nghiệm ổn định do có hệ thống sục khí
được lắp trong suốt quá trình ương bên cạnh việc sục khí thì vẫn si phông cặn và
thay nước thường xuyên.
NO2Theo Trương Quốc Phú thì hàm lượng NO2- trong nuôi trồng thủy sản tốt nhất là
nằm trong khoảng 0-0,5mg/l. Theo Nguyễn Văn Bé (1987) hàm lượng NO2- cho
phép trong các ao nuôi cá từ 0,01-1,7 ppm, nồng độ thích hợp nhất là 0,01-0,1
ppm.
Qua bảng 4.2 cho thấy NO2- trong quá trình thí nghiệm không có sự biến động
lớn và dao động trong khoảng 0,25-0,33 mg/l, vẫn nằm trong giới hạn cho phép
nên không ảnh hưởng gì đến sự phát triển của cá trong các bể ương.
15
PO43Lân là nhân tố giới hạn đối với đời sống thực vật thủy sinh, nhiều quá trình trao
đổi chất đặc biệt là quá trình tổng hợp Protein chỉ tiến hành được khi có sự tham
gia của H3PO4 và sự thiếu hụt nó trong thủy vực sẽ làm hạn chế quá trình phân
hủy các hợp chất hữu cơ trong thủy vực. Hàm lượng P-PO43- thích hợp cho ao
nuôi từ 0,005 - 0,2 ppm (theo Trương Quốc Phú, 2006).
Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng PO43- dao động trong khoảng 0,23 - 0,29
và không có sự biến động lớn, giá trị PO43- ppm thu được từ thí nghiệm hoàn
toàn không có ảnh hưởng xấu tới sự sinh trưởng của cá ương, vẫn thích hợp cho
việc ương cá linh ống và các loài cá khác.
NH4+
Theo Nguyễn Văn Bé (1995) thì nồng độ NH4+ thích hợp cho cá dao động trong
khoảng 1ppm.
NH4+ trong thí nghiệm cũng không có sự biến động rõ ràng và nằm trong khoảng
0,33 - 0,42 mg/l, đó là khoảng giới hạn cho phép nuôi thủy sản.
Tóm lại các yếu tố thủy lý hóa trong các bể ương không có sự biến động lớn và
vẫn nằm trong khoảng giới hạn cho phép ương cá.
pH
Qua thí nghiệm cho thấy pH không có sự biến động lớn và nằm trong khoảng
7,9- 7,93. Như vậy pH ở các bể ương trong suốt quá trình thí nghiệm không gây
hại đến sự tăng trưởng của cá, vẫn thích hợp cho việc ương cá linh ống. Theo
Trương Quốc Phú (2006) thì pH = 6,5-9,0 là môi trường thích hợp cho các loài
tôm cá nuôi, pH quá thấp củng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và sinh sản của cá.
Theo Nguyễn Văn Bé (1995) pH thích hợp cho việc nuôi cá nước ngọt là 7.
4.2 So sánh sự tăng trưởng của cá linh ống với các mật độ ương khác nhau
4.2.1 So sánh sự tăng trưởng về chiều dài của cá
Sau khi thả cá đến 15 ngày ương, chiều dài của cá linh ống ở 3 mật độ có sự khác
biệt ở mức P < 0,05. Chiều dài của cá ở mật độ 500 con/m2 là lớn nhất (16,17
mm), kế đến là chiều dài của cá ương ở mật độ 1000 con/m2 (12,43 mm) và
chiều dài nhỏ nhất là 9,93 mm ở mật độ 1500 con/m2.
16
Bảng 4.3 Tăng trưởng chiều dài cá linh ống ở các mật độ ương khác nhau
Mật độ (con/m2)
Chỉ tiêu theo dõi
Cá mới thả (mm)
500
1000
1500
5,16
5,16
5,16
Từ ngày thả đến 15 ngày tuổi
Chiều dài trung bình (mm)
16,17±2,84 a
12,43±1,10b
9,93±1,34c
0,32
Tăng trưởng tuyệt đối (mm/ngày)
0,73
0,49
SGR (%/ngày)
7,61
5,86
4,36
Từ 16 ngày tuổi đến 30 ngày tuổi
Chiều dài trung bình (mm)
24,37±3,41 a
18,19±3,66 b
Tăng trưởng tuyệt đối (mm/ngày)
0,54
0,38
SGR (%/ngày)
2,73
2,54
14,15±2.79c
0,28
2,35
(Ghi chú: Giá trị trung bình trong cùng một hàng theo sau bởi các chữ cái khác nhau khác biệt có ý
nghĩa thống kê p < 0,05)
30
Chiều dài (mm)
25
NT I
20
NT II
15
NT III
10
5
0
Ban đầu
15 ngày
30 ngày
Thời gian
Hình 4.1 Tăng trưởng về chiều dài của cá linh ống
17