CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU
XEM XÉT KHÁNG NGHỊ BẢN ÁN SƠ THẨM
Kính gửi: + Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tp. HCM
+ Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh
Người yêu cầu: Võ Văn Vui, sinh năm …
Địa chỉ: …
Là: bị đơn trong vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất”, thụ lý số … ngày …; xét xử sơ thẩm vào lúc … ngày … của Tòa án nhân dân
huyện Bình Chánh, Tp. HCM. (Tôi chưa nhận được bản án sơ thẩm của Tòa án nhân
dân huyện Bình Chánh).
Tóm tắt nội dung vụ án:
Ngày 07/8/2014 Tôi có chuyển nhượng cho bà Lê Thanh Ngân 05 thửa đất ở
huyện Bình Chánh Tp. HCM, với giá chuyển nhượng 60.000.000 đồng.
Ngày 05/12/2014 tại Văn phòng công chứng An Tin, Tp. HCM bà Lê Thanh
Ngân lập “Hợp đồng ủy quyền” số công chứng … ủy quyền cho Tôi được quyền thay
mặt bà Ngân thực hiện đầy đủ tất cả các quyền của người sử dụng đất (viết tắt là HĐ
ủy quyền) trong đó có quyền chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp… đối với chính 05
mảnh đất mà tôi đã chuyển nhượng cho bà Ngân.
Căn cứ vào “Hợp đồng ủy quyền”, ngày 21/7/2019 Tôi đã thực hiện việc
chuyển nhượng 05 mảnh đất, ngày 28/7/2018 Văn phòng đăng ký đất đai Tp. HCM,
Chi nhánh Nhơn Trạch đã thực hiện xong việc đăng bộ sang tên cho người nhận
chuyển nhượng là ông Trần Minh Vương, giá chuyển nhượng là 100.000.000 đồng.
Như vậy việc chuyển nhượng của Tôi là đúng pháp luật, đúng thỏa thuận theo hợp
đồng ủy quyền mà hai bên đã ký kết. Trong quá trình thực hiện việc ủy quyền trước và
trong khi chuyển nhượng Tôi đã có thông báo bằng điện thoại cho bên ủy quyền là bà
Ngân biết.
Ngày 06/9/2018 bà Lê Thanh Ngân có đơn khởi kiện V/v: “Đơn phương chấm
dứt hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, yêu cầu Tòa án tuyên “hủy
1
HĐCNQSDDĐ” ngày 21/7/2018 giữa ông Võ Văn Vui và ông Trần Minh Vương,
chấp nhận trả lại cho bên nhận chuyển nhượng là ông Trần Minh Vương số tiền
100.000.000 đồng; Ngày 04/10/2018 TAND huyện Bình Chánh đã ban hành thông
báo thụ lý số ...
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ngày 31/5/2019 bà Ngân tiếp tục có
đơn khởi kiện V/v thay đổi yêu cầu khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Võ Văn Vui
phải trả cho bà tổng số tiền 6.056.508.000 đồng (trong đó có 100.000.000 đồng là số
tiền thu được từ việc thực hiện ủy quyền, 5.956.508.000 đồng tiền bồi thường thiệt hại
giá trị đất theo chứng thư thẩm định giá); TA ban hành thông báo thụ lý số …/TBTLVA xác định nguyên đơn khởi kiện bổ sung. Xét nội dung đơn khởi kiện V/v thay
đổi yêu cầu khởi kiện hoàn toàn không có thay đổi yêu cầu khởi kiện mà chỉ cho rằng
ông Vui vi phạm nội dung ủy quyền, không báo trước cho bà Ngân trước khi chuyển
nhượng nên chuyển nhượng không đúng với giá thị trường gây thiệt hại cho bà Ngân
5.956.508.000 đồng, bà Ngân yêu cầu Tòa án buộc Tôi phải bồi thường số tiền này.
Ngày 8/11/2019 Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã xét xử sơ thẩm vụ án,
tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thanh Ngân buộc Tôi phải
trả cho bà Ngân 100.000.000 đồng tiền thu được từ việc thực hiện ủy quyền,
5.956.508.000 đồng là tiền bồi thường thiệt hại, tổng cộng số tiền tôi phải trả là
6.056.508.000 đồng; ngoài ra còn buộc Tôi phải trả các khoản tiền án phí, chi phí
thẩm định giá.
Tôi nhận thấy việc xét xử sơ thẩm vụ án của Tòa án nhân dân huyện Bình
Chánh là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, áp dụng pháp luật dân sự về ủy quyền
không đúng nên đã tuyên xử không đúng gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi ích
hợp pháp của Tôi nên Tôi yêu cầu Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tp. HCM,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh xét xử phúc thẩm áp dụng
đúng pháp luật.
PHÂN TÍCH NHỮNG SAI PHẠM CỦA TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM
1/ Sai sót về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh trong quá trình giải
quyết vụ án đã có nhiều vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, cụ thể:
+ Xét xử ngoài phạm vi yêu cầu khởi kiện:
Ngày 06/9/2018 nguyên đơn khởi kiện V/v: Đơn phương chấm dứt hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chỉ yêu cầu Tòa án tuyên “hủy HĐCNQSDĐ”
ngày 21/7/2018 giữa ông Vui và ông Vương; Ngày 04/10/2018 TAND huyện Bình
Chánh đã ban hành thông báo thụ lý số …/TB-TLVA xác định quan hệ tranh chấp của
vụ án là “Tranh chấp HĐCNQSDĐ”.
2
Đến ngày 31/5/2019 nguyên đơn tiếp tục có “đơn khởi kiện V/v thay đổi yêu
cầu khởi kiện” yêu cầu Tòa án buộc ông Võ Văn Vui phải trả tổng số tiền
6.056.508.000 đồng; nội dung đơn trình bày lý do yêu cầu là do ông Vui vi phạm hợp
đồng ủy quyền không báo trước, chuyển nhượng đất không đúng với giá thị trường
gây thiệt hại. Thực chất nội dung của đơn là bổ sung yêu cầu khởi kiện chứ không có
thay đổi yêu cầu khởi kiện như tiêu đề đơn ghi.
Tại phiên tòa nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn khẳng
định với HĐXX cũng như trả lời câu hỏi của đại diện theo ủy quyền của bị đơn là vẫn
giữ nguyên yêu cầu khởi kiện không có thay đổi bổ sung nào khác.
Như vậy, theo yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bổ sung đơn khởi kiện của nguyên
đơn và yêu cầu tại phiên tòa sơ thẩm thì quan hệ tranh chấp vụ án vẫn là “Tranh chấp
hợp đồng CNQSDĐ”, yêu cầu của nguyên đơn đề nghị HĐXX xem xét xét xử gồm:
+ Yêu cầu Tòa án tuyên “hủy GCNQSDĐ” ngày 21/7/2018 giữa ông Võ Văn
Vui và ông Trần Minh Vương, nguyên đơn chấp nhận trả lại cho bên nhận chuyển
nhượng là ông Trần Minh Vương số tiền 100.000.000 đồng;
+ Yêu cầu ông Võ Văn Vui phải trả 100.000.000 đồng tiền thu được từ việc
thực hiện công việc được ủy quyền và 5.956.508.000 đồng tiền bồi thường thiệt hại do
vi phạm hợp đồng ủy quyền.
Như vậy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chỉ tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, không tranh chấp và cũng không có yêu cầu xem xét hợp
đồng ủy quyền nhưng lại có yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng ủy
quyền. Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử và nội dung tuyên xử không đề cập
nhận định hay xem xét gì đến yêu cầu khởi kiện là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, lại xem xét giải quyết hợp đồng ủy quyền (không có trong nội dung yêu cầu
khởi kiện, không phải là tranh chấp của vụ án) để buộc ông Vui bồi thường thiệt hại.
+ Các vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khác:
Trong quá trình Tòa án thụ lý đến phiên tòa xét xử, tòa án đều xác định ông
Trần Minh Vương là bị đơn trong vụ án, khi tuyên án Chủ tọa phiên tòa lại tuyên ông
Vương là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án nhưng trong nội dung
bản án tuyên lại không có giải thích, phân tích vì sao lại có sự thay đổi tư cách tố tụng
như vậy, trong vụ án ông Vương có quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan.
Tòa án tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn dựa trên xem xét
nhận định bị đơn vi phạm hợp đồng ủy quyền, nhưng hợp đồng ủy quyền này không
có trong yêu cầu khởi kiện và khởi kiện bổ sung của nguyên đơn, trong thông báo thụ
lý bổ sung số …/TB-TLVA không có nội dung về tranh chấp hợp đồng ủy quyền, tòa
3
án cũng không có thu thập công khai chứng cứ, không hòa giải đối với hợp đồng ủy
quyền nhưng lại xét xử và tuyên án đối với hợp đồng này.
Bản án tuyên không có quyền kháng cáo, không giải thích quyền, trình tự thủ
tục kháng cáo cho các đương sự trong vụ án.
2/ Về sai lầm khi áp dụng quy định của pháp luật dân sự về ủy quyền:
Khoản 1 Điều 565 Bộ luật dân sự quy định: “Nghĩa vụ của bên được ủy quyền:
1. Thực hiện công việc theo ủy quyền và báo cho bên ủy quyền về việc thực
hiện công việc đó…”
Hợp đồng ủy quyền cũng quy định bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện
công việc theo ủy quyền và báo cho bên A (bà Ngân) về việc thực hiện công việc được
ủy quyền.
Căn cứ quy định của pháp luật dân sự và chính thỏa thuận trong hợp đồng ủy
quyền giữa hai bên, đều không có quy định bên được ủy quyền (Tôi) phải có nghĩa vụ
báo cho bên ủy quyền (bà Ngân) trước khi thực hiện công việc được ủy quyền và báo
cho bên ủy quyền về việc thực hiện công việc được ủy quyền chứ không phải báo
trước khi thực hiện công việc được ủy quyền (tuy nhiên khi thực hiện công việc được
ủy quyền Tôi đã báo cho bà Ngân bằng hình thức điện thoại nhưng không được
HĐXX xem xét). Như vậy HĐXX nhận định Tôi vi phạm hợp đồng do không báo
trước cho bà Ngân khi thực hiện công việc được ủy quyền là nhận định và áp dụng
hoàn toàn sai pháp luật cũng như thỏa thuận theo hợp đồng ủy quyền giữa Tôi và bà
Ngân.
Pháp luật dân sự về ủy quyền cũng như các thỏa thuận trong HĐ ủy quyền
không quy định nếu thực hiện việc ủy quyền là quyền chuyển nhượng thì phải chuyển
nhượng theo giá trị nào, Tòa án nhận định Tôi không thực hiện việc bảo vệ quyền lợi
cho người ủy quyền, cố ý chuyển nhượng cho con trai là không đúng với giá trị thật
của đất gây thiệt hại cho nguyên đơn số tiền 5.956.508.000 đồng, nhận định này cũng
sai lầm và hoàn toàn không có cơ sở về pháp lý cũng như theo thỏa thuận hợp đồng,
bởi vì:
+ Về pháp lý: HĐ ủy quyền và pháp luật về ủy quyền không quy định người
được ủy quyền khi chuyển nhượng phải chuyển nhượng theo giá trị nào, luật dân sự
cũng như HĐ ủy quyền không cấm Tôi thực hiện việc chuyển nhượng cho người thân;
mà theo quy định trong hợp đồng ủy quyền cho phép Tôi có được toàn quyền quyết
định các vấn đề liên quan đến việc thực hiện công việc được ủy quyền.
+ Về thực tiễn: Giao dịch của Tôi là hoàn toàn đúng pháp luật và có cơ sở vững
chắc, tôi đã thực hiện công việc bảo vệ quyền lợi của người được ủy quyền bởi lẽ:
4
Nguồn gốc đất đang tranh chấp là của Tôi, chính Tôi đã chuyển nhượng cho
nguyên đơn vào ngày 07/8/2014 với giá trị chuyển nhượng là 60.000.000 đồng; đến
tháng 7/2018 Tôi chuyển nhượng lại với giá 100.000.000 đồng là hoàn toàn phù hợp
và có lợi cho bà Ngân.
Mặt khác Tôi khẳng định giao dịch chuyển nhượng QSDĐ giữa Tôi và ông
Vương là ngay tình và nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho bà Ngân, bởi: HĐ ủy
quyền bà Ngân ủy quyền cho Tôi được quyền chuyển nhượng, thế chấp, tặng cho…
trong trường hợp nếu Tôi thực hiện việc tặng cho thì bà Ngân có quyền lợi không, có
yêu cầu Tôi bồi thường thiệt hại gì không? Bản thân Tôi đã thực hiện quyền chuyển
nhượng là đã bảo vệ quyền lợi cho bà Ngân nhưng HĐXX đã cố ý không xem xét.
+ Sau khi thực hiện việc giao dịch thì Tôi cũng không có thời gian, cơ hội để
thực hiện việc thông báo cũng như giao lại tài sản thu được từ việc thực hiện ủy quyền
cho bà Ngân, bởi ngày 21/7/2018 chuyển nhượng thì 07 ngày sau ngày 28/7/2018 Tòa
án nhân dân quận Tân Bình, Tp.HCM đã có thông báo thụ lý yêu cầu khởi kiện của bà
Ngân (như vậy bà Ngân có thể đã khởi kiện trước ngày 28/7/2018), đây là lý do chính
đáng giải thích vì sao Tôi chưa thực hiện nghĩa vụ của người được ủy quyền là giao lại
tài sản lợi ích thu được từ việc thực hiện công việc được ủy quyền cho bên ủy quyền.
Như vậy đã đủ căn cứ khẳng định Tòa án cấp sơ thẩm đã hoàn toàn sai khi áp
dụng pháp luật dân sự để giải quyết vụ án, gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích hợp
pháp của Tôi.
YÊU CẦU:
Từ những phân tích đánh giá như trên, Tôi xin lần nữa khẳng định: Yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn là không đúng, không có căn cứ về mặt pháp luật cũng như
thỏa thuận hợp đồng; là bị đơn nhưng Tôi hoàn toàn không có bất cứ vi phạm nào đối
với HĐCNQSDĐ cũng như HĐ ủy quyền. Trong khi Tòa án nhân dân huyện Bình
Chánh lại có nhiều vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, áp dụng sai pháp luật dân
sự, nhận định phân tích đánh giá không đúng các thỏa thuận của các đương sự trong
hợp đồng.
Chúng tôi có đơn này kính mong Viện trưởng Viện Kiếm sát nhân dân huyện
Bình Chánh, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Tp. HCM xem xét kháng nghị bản
án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh (bản án Tôi đã nêu trên, vì
chưa nhận được bản án), đề nghị HĐXX phúc thẩm Tòa án nhân dân Tp. HCM xem
xét hủy bản án, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2019
Người yêu cầu
5
VÕ VĂN VUI
6