HƯƠNG LIỆU MỸ PHẨM
Đề tài 7: SẢN
PHẨM MỸ PHẨM CHO RĂNG VÀ MÔI
I.
GIỚI THIỆU VỀ RĂNG VÀ MÔI
I.
Giới thiệu về môi
1.1
Cấu tạo của môi:
Môi được cấu tạo bởi ba phần. Phần ngoài cùng là lớp biểu bì. Phần thứ hai là
khu vực môi đỏ, được bao bọc bởi một lớp màng không có các tuyến mồ hôi (tuyến
nhờn). Phân cách giữa phần biểu bì và khu vực môi đỏ là viền môi.
Ở khu vực môi đỏ, da môi rất mỏng cho phép chúng ta nhìn thấy các mạch máu
chạy qua rõ hơn, vì thế mà môi có màu đỏ.
Da môi của chúng ta rất khác với da mặt và các phần da khác trên cơ thể. Da trên
cơ thể có rất nhiều lớp, nhiều tuyến mồ hôi và các lỗ chân lông. Da trên cơ thể còn sản
sinh ra melanin; chất này tạo nên một lớp da rám nắng có vai trò như một màn chắn
bảo vệ các lớp da bên trong khỏi bị phá huỷ bởi các tia cực tím khi tiếp xúc với ánh
nắng mặt trời.
Trái lại, da môi có rất ít sắc tố melanin, nên môi ít được bảo vệ khỏi ánh nắng
mặt trời. Môi cũng lại không được những lớp mô dầy che phủ. Không có tuyến nhờn,
môi dễ bị khô.
Hơn nữa, ngoài lòng bàn tay và gan bàn chân ra, môi là nơi duy nhất trên cơ thể
không có lông mọc. Chính vì những nguyên nhân này mà môi rất dễ bị tổn
thương.Các đầu dây thần kinh trên môi rất sát bề mặt môi, vì thế mà môi dễ bị
chảy máu và chúng ta dễ bị ung thư da môi hơn bất cứ nơi nào khác trên cơ thể
2.1
Các bệnh thường gặp ở môi
Lở mép: Lở mép thường gặp ở một số người. Khi lở mép thường bị đau rát, ăn
uống khá khó khăn, khi môi cử động mạnh, có thể bị chảy máu. Bệnh lở mép thường
gặp nhiều ở những người trẻ có làn da nhạy cảm. Với những người lớn tuổi, các cơ
quanh miệng thường chảy sệ và nhão, tạo thành nếp gấp ở góc miệng, cũng có thể gây
lở mép.
Viêm môi dị ứng: Thường xảy ra khi môi tiếp xúc với các chất tạo dị ứng cho
môi. Các chất này có thể là kem đánh răng, xà phòng, nước súc miệng, thậm chí là son
môi... Tình trạng dị ứng sẽ chấm dứt một vài ngày sau khi bạn ngừng sử dụng các chất
gây dị ứng.
Viêm môi do kích thích: Thường xảy ra ở những người (do thói quen hoặc do
bệnh lý) hay liếm môi hoặc cắn môi. Nếu bạn mắc phải một chứng bệnh nào đó dẫn
đến viêm môi do kích thích thì cần điều trị khỏi bệnh nhưng nếu chỉ vì thói thì quen,
cần nhanh chóng loại bỏ thói quen này.
Lưu ý, đôi môi tươi tắn không chỉ là biểu tượng của sắc đẹp mà còn là biểu hiện của
sức khỏe, tuổi tác. Những thiếu nữ đang độ dậy thì, khí huyết dồi dào thường có đôi
môi hồng hào. Với những người tuổi tác đã cao, độ tươi thắm của đôi môi cũng dần
nhạt đi.
3.1
Bí quyết giúp đôi môi luôn mềm mại và quyến rũ
Làn môi tươi tắn không chỉ là biểu tượng của sắc đẹp mà còn biểu hiện cho sức
khỏe và tuổi tác. Vì vậy, để đôi môi luôn mềm mại và quyến rũ, bạn nên dành thời gian
chăm sóc cho vùng da nhạy cảm này.
Trên cơ thể chúng ta các vùng da có cấu trúc khác nhau, vùng da môi cũng vậy
bởi nó rất mỏng manh và nhạy cảm. Môi không có tuyến nhờn, không được những lớp
mô che bảo vệ, ít sắc tố malenin nên khả năng ngăn chặn các tia tử ngoại của ánh sáng
mặt trời và môi trường rất yếu. Vì vậy da môi rất dễ bị khô và bị tổn thương.
a. Chế độ ăn uống
Thông thường, môi bị khô nứt là do cơ thể thiếu nước hoặc do môi trường khô và
lạnh, do ánh nắng mặt trời gay gắt chiếu vào. Chế độ ăn uống hàng ngày không cân
bằng, thiếu hụt chất, chẳng hạn thiếu vitamin B cũng ảnh hưởng đến sức khỏe của môi.
Thói quen thường xuyên liếm môi cũng làm cho môi bị khô, nứt nẻ, nhất là vào mùa
hanh rét.
Vì vậy, một trong những biện pháp quan trọng đầu tiên để bảo vệ môi là uống đủ
lượng nước cần thiết và ăn uống đầy đủ dưỡng chất, nhất là những thức ăn giàu
vitamin.
b. Kem dưỡng môi
Ngoài ra, cần dùng đến các loại kem dưỡng môi có độ ẩm cao để duy trì độ bóng
và nét tươi tắn của làn môi. Nếu môi bị khô ráp kéo dài nên dùng các loại kem dưỡng
da có chứa vitamn A, D bởi loại kem này có tác dụng trẻ hóa các tế bào thượng bì,
giúp môi bạn khôi phục được độ mềm mịn.
c. Tẩy da chết cho môi
Bạn nên tẩy tế bào chết cho môi bằng cách sử dụng sản phẩm từ thiên nhiên hoặc
sản phẩm tẩy tế bào chết cho da mặt mà bạn hay dùng. Cho một ít sản phẩm tẩy tế bào
chết lên miếng vải mỏng rồi nhẹ nhàng thoa đều lên môi, rửa sạch bằng nước ấm. Sau
đó, thoa một lớp son dưỡng lên môi và để nguyên khi đi ngủ. Tuy nhiên, không nên
thực hiện thường xuyên vì có thể sẽ gây tổn thương cho da.
Để giữ cho đôi môi tươi tắn, ngoài các yếu tố cần thiết trên, bạn nên massage
quanh miệng có tác dụng làm cho cơ vòng miệng linh hoạt, khiến làn môi mềm mại, tự
nhiên khi nói, cười.
Hiện nay, rất nhiều bạn chọn công nghệ phun môi để tạo một làn môi hồng hào tự
nhiên. Tuy nhiên, phun môi sẽ có những tác dụng không mong muốn nếu không được
thực hiện đúng kỹ thuật cũng như chuyên môn. Vì vậy, bạn nên chọn lựa và tư vấn kỹ
để có được kết quả như mong muốn.
II.
Giới thiệu về răng miệng:
2.1 Cấu tạo của răng
Răng có cấu trúc như xương cứng được cắm chặt vào các hốc răng của hàm. Hai
hàm răng lần lượt xuất hiện trong cả cuộc đời. Mỗi răng gồm hai phần: thân răng, đó là
phần có thể nhìn thấy bên trong miệng và chân răng là phần được cắm bên trong
xương hàm. Chân răng thường dài hơn thân răng. Răng cửa chỉ có một chân, trong khi
các răng mọc xa về phía sau có hai hoặc ba chân.
Nguyên tố cấu trúc quan trọng nhất của răng gồm mô đã vôi hóa được gọi là ngà
răng. Ngà răng là một chất liệu giống như xương cững có chứa các tế bào sống. Nó là
một mô nhạy cảm và gây ra cảm giác đau khi bị kích thích bằng nhiệt hoặc bằng hóa
chất. Ngà của thân răng được men răng bảo vệ bao bọc, lớp men này là một mô tế bào
rất cứng và không có cảm giác. Chân răng được bao bọc bằng một lớp xương răng,
một chất tương tự với ngà răng giúp giữ răng trong hốc răng.
Giữa răng có hình dạng một hốc rỗng chứa đầy mô liên kết nhạy cảm được gọi
là tủy răng. Tủy này kéo dài từ bên trong thân răng thẳng xuống đến cuối chân răng.
Chân răng có lỗ mở ở phần sâu nhất trong xương hàm. Qua lỗ mở này, các mạch
máu và dây thần kinh nhỏ bé chạy vào hốc tủy răng.
2.2 Sự nâng đỡ răng:
Mỗi răng đều có chân được dính chặt vào xương hàm; phần hàm nâng đỡ răng
được gọi là mỏm ổ răng. Tuy nhiên phương thức gắn vào phức tạp và các răng được
dính chặt vào hàm nhờ các sợi được gọi là dây chằng nha chu. Ở đây gồm một loạt
sợi collagen cứng, chạy từ xương răng bao bọc chân răng đến sát bên xương ổ răng.
Các sợi này nằm rải rác với các mô liên kết, trong mô kiên kết cũng có chứa các mạch
máu và sợi thần kinh.
Cách thức gắn răng đưa đến một mức độ chuyển động tự nhiên rất nhỏ. Điều này
có tác dụng như một loại giảm xóc có thể bảo vệ răng và xương khỏi bị tổn hại khi
cắn.
Khu vực quan trọng chủ yếu trong hệ thống này là ở cổ răng, nơi tiếp giáp giữa
thân răng và chân răng. Ở vùng này nướu răng thắt chặt vào răng có tác dụng bảo vệ
các mô nâng đỡ nằm dưới khỏi bị nhiễm trùng và các ảnh hưởng có hại khác.
2.3 Các loại răng
Ở người, răng được chia ra thành:
Răng sữa: răng tạm thời, mọc trong khoảng từ 6 đến 30 tháng tuổi. Răng sữa có
20 cái và sẽ được thay dần bằng răng vĩnh viễn.
Răng vĩnh viễn: loại răng thay răng sữa và tồn tại đến già. Số lượng răng vĩnh
viễn là 32, mọc từ khoảng 6 tới 22 hoặc 25 tuổi.
Răng khôn: loại răng cối lớn mọc vào tuổi thành niên, từ 18 đến 25. Nhưng
cũng có khi răng khôn mọc chậm hơn hoặc không mọc. Đôi khi răng khôn mọc
lệch có thể làm hỏng răng hàng đứng trước nó nên phải nhổ.
2.4 Sự phát triển của răng
Dấu hiệu đầu tiên về sự phát triển của răng xuất hiện khi bào thai chỉ 6 tuần tuổi.
Ở giai đoạn này các tế bào biểu mô của miệng nguyên thủy tăng lên về số lượng và
hình thành một băng dầy có hình dáng của hàm răng. Tại một chuỗi các điểm tương
ứng với răng riêng rẽ, băng này tạo ra các điểm mọc vào trong như chồi trong mô mà
biểu mô bao phủ. Sau đó, các chồi này trở thành hình chuông và dần dần mọc lên để
tạo nên hình dáng nối liền sau cùng giữa men răng và ngà răng. Một số tế bào nào đó
sau đó tiếp tục hình thành ngà răng, trong khi đó các tế bào khác tạo nên men răng.
Các rìa chuông tiếp tục phát triển sâu hơn và cuối cùng các chân răng trọn vẹn
hình thành, nhưng quá trình này không hoàn toàn cho đến khoảng 1 năm sau khi các
răng sữa đã xuất hiện. Lúc mới sinh, dấu hiệu duy nhất của khớp cắn được cung cấp
bằng "các đệm nướu", chúng là các băng làm dày của mô nướu. Khoảng 6 tháng tuổi,
răng cửa dưới bắt đầu nhú qua nướu, quá trình này gọi là sự mọc răng. Tuổi mọc răng
có thể thay đổi: có một số ít trẻ có răng lúc mới sinh trong khi đó có những trẻ đến một
tuổi mới có răng. Sau khi các răng cửa dưới xuất hiện, các răng cửa trên bắt đầu mọc
và tiếp theo là các răng nanh và răng hàm, tuy vậy sự liên tục chính xác có thể thay
đổi.
Khoảng 2,5 - 3 tuổi, đứa trẻ thường có một bộ đầy đủ 20 chiếc răng sữa. Chúng
sẽ được đặt cách nhau một cách lý tưởng để cung cấp chỗ cho các răng vĩnh viễn lớn
hơn. Đến 6 tuổi, các răng cửa sữa trên và dưới trở nên lung lay và được thay thế bằng
các răng vĩnh viễn. Các răng hàm vĩnh viễn phát triển không đúng vị trí của răng hàm
sữa mà ở phía sau chúng. Các răng hàm vĩnh viễn thứ nhất xuất hiện lúc 6 tuổi, răng
hàm thứ hai lúc 12 tuổi và răng hàm thứ ba (răng khôn) khoảng 18 tuổi. Tuy nhiên, có
sự thay đổi đáng kể về thời gian xuất hiện của tất cả các răng. Khoảng 25% số người
không bao giờ phát triển một răng khôn; lý do của vấn đề này có thể là do tiến hóa: khi
hàm trở nên nhỏ đi thì số răng sẽ giảm đi. Một số răng khôn có thể không bao giờ mọc
qua nướu và nếu chúng bị lèn chặt (bị nêm sát vào nhau dưới nướu) chúng có thể cần
được nhổ bỏ; điều này xảy ra trong 50% số người.
2.5 Các bệnh về răng miệng
Bé bằng hạt bắp, và cùng chỉ có đến 32 cái là cùng, vậy mà răng gây ra nhiêu
phiền toái, và xung quanh nó la vô số các loại bệnh...
a. Sâu Răng
Sâu răng là sự tiêu hủy tổ chức cứng của răng, gồm cả men răng và ngà răng, tạo
nên lỗ hỏng trên bề mặt. Sâu răng không dễ phát hiệt ngay từ lúc đầu. Bạn tường chỉ
nghĩ rằng răng râu khi các lỗ sâu xuất hiện, nhưng đó là lúc bệnh đã tiến triển được
một thời gian dài. Khi bạn đã thấy đau, ê buốt, tức là sâu răng bước sang giai đoạn
trầm trọng. Nếu không điều trị, tủy răng sẽ chết và gây ra những biến chứng như viêm
quanh cuống răng, viêm xương, viêm hạch...
Sâu răng là do vi khuẩn có sẵn trong miệng, các vi khuẩn sẽ phân hủy thức ăn
(đặc biệt là đường và tinh bột) bám trên mặt răng tạo thành acid ăn mòn men răng. Vi
khuẩn, acid, mùn thức ăn sẽ tạo thành mảng bám răng, rất dính và có ở tất cả các mặt
răng đặc biệt là răng hàm. Mảng này dần được khoáng hóa bởi các chất khoáng có
trong nước bọt và thức ăn tạo thành cao răng. Khi men răng đã bị ăn mòn thành lỗ, vi
khuẩn và thức ăn càng có điều kiện bám vào răng, acid càng được tạo ra nhiều hơn, tổ
chức cứng (men và ngà răng) càng dễ bị phá hủy, lỗ sâu được mở rộng và tiến về phía
tủy răng.
Nếu bạn lười đi lấy cao răng, nghĩa là không chỉ răng có nguy cơ bị sâu, mà bệnh
viêm lợi đe dọa. Các dấu hiệu của viêm lợi và lợi sưng đỏ, dễ chảy máu, đặc biệt khi
đánh răng. Viêm lợi mãn tính sẽ dấn đến rụng răng. Có rất nhiều nguyên nhân gây nên
căn bệnh này nhưng chủ yếu vẫn là vệ sinh răng lợi kém, các mảng bám không được
thường xuyên làm sạch, vi khuẩn sẽ tấn công đến tận chân răng và sản sinh các enzym
có khả năng phả hủy sự liên kết của các biểu mô (nối lợi và răng).
Bên cạnh đó, viêm lợi còn do nhiều nguyên nhân khác như: hút thuốc lá, uống
rượu và chế độ dinh dưỡng mất cân bằng, thường xuyên ăn thức ăn quá mềm (làm cho
hàm răng luời hoạt động và cấu trúc bảo vệ răng yếu đi), mang bầu làm thay đổi
hormone, gây tụt lợi (khi lợi và răng không khít), giảm tiết nước bọt...
b. Viên quanh răng
Các nghiên cứu gần đây cho thấy, hơn 90% dân số Việt Nam bị viêm quanh răng
với các triệu chứng: hôi miệng, đỏ lợi, chảy máu lợi, cảm giác đau khi nhai, răng lung
lay, thậm chí dẫn đến mất răng...
Khi viêm lợi không được quan tâm và điều trị thì sẽ phát triển thành viêm quanh
răng (còn gọi là bệnh nha chu). Bệnh này gây tổn thương đến lợi, các dây chằng quanh
răng, xương ổ răng và xương răng. Lợi sẽ dần dần tụt khỏi răng, tạo nên những túi lợi
sâu, tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển và làm bệnh nặng thêm. Bệnh còn làm cho
xương và dây chằng bao bọc quanh răng cũng bị tiêu hủy dần, khiến răng không cò
chỗ dựa, lung lay và rụng.
Bệnh viêm quanh răng không lây lan, nhưng nó ngấm ngầm hủy hoại xương ổ
răng và lợi, làm răng mất chức năng nhai, nghiền của nó. Nên khi thấy dấu hiệu của
bệnh, tốt nhất bạn nên đến bác sĩ nha khoa càng sớm càng tốt. Nếu để bệnh quá nặng,
việc điều trị sẽ gặp nhiều khó khăn. Các bác sĩ sẽ thăm khám, hoặc chụp X-quang
vùng răng viêm nhiễm và có phương pháp điều trị thích hợp. Có thể các bác sĩ sẽ phải
giải phẫu thuật lợi, "ràng buộc" các răng lại để ngăn chặn chúng bị lung lay, hay cấy
ghép xương ổ răng.
c. Chảy máu chân răng
Chảy máu chân răng hay đúng hơn là chảy máu lợi răng thường gặp do bị u lợi,
viêm quanh răng, nhưng phổ biến nhất là viêm lợi. Triệu chứng của bệnh là chân răng
sưng, đỏ, miệng có mùi hôi, răng dễ lung lay, đau vùng lợi. Nguyên nhân chính là do
chăm sóc răng không tốt, đánh răng không đúng cách làm tổn thương lợi.
d. Viêm tủy răng
Khi các loại vi khuẩn trong khoang miệng xâm nhập vào tủy răng qua các lỗ sâu
răng và cuống răng, nó sẽ gây viêm tủy. Bệnh này cũng có thể bắt nguồn từ việc nhiễm
độc hóa chất, sang chấn, hay thay đổi áp suất môi trường... Viêm tủy răng là một phản
ứng bảo vệ của tủy răng đối với các tác nhân gây bệnh. Bệnh có thể diễn biến qua
nhiều giai đoạn, nhiều dạng tổn thương khác nhau như:
e. Viêm tủy răng có hồi phục:
Nguyên nhân thường do sâu răng. Bạn sẽ thấy răng tự nhiên xuất hiện cơn đau,
đau thoáng qua, dễ nhầm với cảm giác ê buốt của sâu răng. Khi nhai, ăn đồ nóng, hoặc
lạnh có thể xuất hiện cơn đau hoặc gia tăng cường độ đau. Giai đoạn này tồn tại không
lâu, nếu không được điều trị sẽ chuyển sang các thể viêm tủy khác.
Viêm tủy răng cấp: Răng xuất hiện cơn đau, đau từng cơn dữ dội. Nếu thức ăn lọt
vào lỗ sâu, hay khi bạn ăn đồ ăn nóng, uống nước lạnh, cơn đau tăng lên gấp bội, đau
lan ra các răng kế cận. Hết cơn đau, người bệnh lại bình thường. Nếu là viêm tủy răng
cấp tính có mủ thì đau sẽ dữ dội hơn, đau giật như mạch đập, răng bị đau có cảm giác
lung lay nhẹ và trồi cao hơn răng khác.
Viêm tủy mạn tính: Răng đau từng cơn âm ỉ, đau liên tục hàng giờ, khoảng cách
giữa các cơn đau rất ngắn, đau nhiều hơn về đêm. Khi nhai, cơn đau càng gia tăng.
Tủy răng hoại tử: Tủy răng bị viêm không được điều trị sẽ dẫn đến hoại tử.
Trường hợp này thường bệnh nhân không thấy đau.
II.
KEM ĐÁNH RĂNG:
1. Thành phần chính:
Thành phần chủ yếu của kem đánh răng là một hợp chất chứa fluor, chất sát
khuẩn nhẹ, chất mài mòn, chất làm đặc, tạo bọt, hương liệu, nước, chất bảo quản,...
Kem đánh răng thường có hàm lượng fluor thấp hơn thuốc đánh răng (dưới mức
1.500ppm) nên tác dụng chính là vệ sinh răng miệng, phòng ngừa sâu răng, giảm hình
thành vôi răng, giúp hơi thở thơm tho... Nếu sử dụng đúng cách, kem đánh răng có thể
làm sạch một số vết dính ngoại lai bám lên bề mặt răng như chất màu từ đồ ăn, thức
uống, thuốc lá...
Tuy nhiên cho đến nay chưa có nghiên cứu nào cho thấy chỉ sử dụng kem đánh
răng không thôi mà tẩy được sự đổi màu răng do nhiễm fluor, nhiễm tetracycline hay
sự thay đổi màu răng theo độ tuổi... như một số lời quảng cáo
Cũng cần biết rằng, không phải chỉ dùng đúng kem đánh răng là đương nhiên
răng sạch, khoẻ, việc chải răng thường xuyên, đúng cách với loại bàn chải phù hợp
cũng góp phần quan trọng vào hiệu quả mà kem đánh răng đem lại
Nước muối được pha với nồng độ thích hợp (độ mặn giống như nước canh, đậm
độ khoảng 2%), độ ấm vừa phải sẽ có tác dụng sát trùng rất tốt. Súc miệng bằng nước
muối ấm hằng ngày giúp loại bỏ bớt vi khuẩn, làm sạch khoang miệng, amidan, họng.
Nước muối ấm còn kích thích tăng tuần hoàn máu tại chỗ, tập trung nhiều tế bào bạch
cầu làm tăng khả năng tiêu diệt vi khuẩn. Không nên pha nước muối mặn quá, dễ gây
lở loét.
Trường hợp răng bị lung lay nếu súc miệng bằng nước muối ấm nhạt nhiều lần
trong ngày không chỉ giúp loại bỏ bớt vi khuẩn mà còn loại bỏ các chất cặn bã - sản
phẩm của quá trình viêm, và như vậy sẽ làm giảm bớt viêm nhiễm, giúp răng lung lay
chắc lại phần nào. Tuy nhiên, răng lung lay có thể do nhiều nguyên nhân như: viêm
quanh răng, chấn thương, u xương hàm... đặc biệt là kết hợp trên một người mắc bệnh
tiểu đường.
Nói chung là bạn nên tùy theo mình đang ở trường hợp naò để dùng cho đúng
cách bởi vì cả hai thứ đó đều có mặt lợi và mặt hại
2. Mục đích kem dánh răng
Từ “kem đánh răng’’ (dentifrice) được dùng trong tiếng anh từ 1558.Từ điển
tiếng Anh Oxford định nghĩa kem đánh răng là một loại bột dẻo , có tác dụng làm sạch
răng. Dưới góc độ chuyên môn , định nghĩa trên đây quả là đơn giản ,bởi vì kem đánh
răng có khả năng giúp làm sạch răng ,phòng ngừa sâu răng ,phòng ngừa viêm nướu
,giảm đau ,trị hôi miệng …. tuỳ theo đó là kem đánh răng - sản phẩm vệ sinh răng
miệng hay thuốc đánh răng.
Yêu cầu đối với sản phẩm:
1.1
Đối với người sử dụng:
Kem phải làm sạch răng và thơm miệng
Tạo cảm giác dễ chịu, sạch se, dễ dùng.
Không gây vị lạ, đóng cao, gây độc
2.1
Yêu cầu chung
Sản phẩm ổn định
Sản phẩm bền trong quá trình lưu trữ và sử dụng
Đạt tiêu chuẩn chung theo quy định của sản phẩm
3. Nguyên liệu:
Kem thường ở dạng paste hay dạng đục, định hình được, thành phần gồm:
Nước : hòa tan và phân tán các chất tẩy rửa, làm sệt, làm dịu, tác nhân trị liệu…
Chất mài mòn: làm sạch vết bẩn trên răng, làm bóng răng, thành phần gồm:
Cấu tử mềm chiếm phần lớn trong sản phẩm, là các tinh thể có nhiệm vụ tẩy các
chất bẩn trên răng, thường được sử dụng như: Al2O3.3H2O, Al(OH)3, silic vô
định hình SiO2, CaCO3 (calci hay aragonit).
Cấu tử cứng thường là những tinh thể có đường kính khoảng 1m, có nhiệm vụ
lam bóng răng. Thường được sử dụng như CaHPO4.2H2O (DCP) (photphat
dicalci dihydrat), Ca2P2O7 (pyrrophosphat calci), NaPO3 ( metaphosphat không
tan)
Chất tẩy rửa: là nhừng chất hoạt động bề mặt như primary alcohol sulfate
(PAS), natri lauryl sulfate, linear alkylbenzen sulfate(LAS), có nhiệm vụ chính
giúp tẩy sạch răng, duy trì tính thấm nước, khả năng phân tán trong các pha
( đống thời giúp hòa tan và phân tán các hợp chất không tan trong nước bằng
cách tạo mixel).
Chất làm ướt, chất đông cứng: để giới hạn sự làm khô keo, tạo sự tương tác
giữa các cấu tử trong keo, làm tăng sắc thái và làm bóng kem. Thường người ta
dùng các hỗn hợp glycerin [HOCH2CH(OH)CH2OH], và sorbitol
[HOCH2[CH(OH)4CH2OH]
Chất tạo cấu trúc: tạo hình dáng cho kem khi ra khỏi tube, ngừoi ta dùng
polyethylenglycol(P.E.G) để tạo cấu trúc và làm hòa tan đồng thời hương và
chất hoạt đông bề mặt.
Chất làm sệt, kết dính: làm thay đổi độ nhớt cho kem v2 tránh sự lắng động của
cácb chất mài mòn
Chất làm đục ( sử dũng trong kem đục), có thể dùng thêm TiO2 để tăng độ trắng
cho kem hoặc tạo nền khi muốn thay đổi màu sắc.
Chất làm dịu: tạo vị gọt nhe, để miệng dễ chấp nhận. được sử dụng nhiều chất
là saccharin
Chất ổn định và điều chỉnh pH: do kem thường được đựng trong các vỏ nhôm,
dù đã được tráng kỹ bằng một lớp polyme, vẫn có thễ xảy ra hiện tượng ăn mòn
phóng thích kim loại vào kem gây ăn mòn gây ăn mòn, có thể bổ sung các chất
sau:
o NaHPO4
o Zn citrat tạo pH trung tính cho ản phẩm, không được dùng chung với
photphat, do tạo muối Zn photphat không tan.
o H2SiO3
Chất bào quản: đóng vai trò là chất bảoquản cho sản phẩm. tuy nhiên đa số các
sản phẩm kem đánh răng chứa nhiều chất bảo quản nên cần sử dụng chất ức chế
vi sinh vật.
Dược chất:
o Chống bựa đóng trên răng: dùng các tác nhân diệt khuẩn như
muối ZN : kẽm sulfat, kẽm clorua,…hoặc tác nhân kháng khuẩn như
trichlosan…
o Chống cao răng dùng Na pyrrophosphat, Na tetraphosphat.
o Chống răng nhạy cảm dùng muối Sr acetat hay muối Kali (clorua, nitrat,
citrat)
o Chống sâu rănng thường dug2 kem có chưa clorua, đánh răng từ 1 đến 3
lần trong ngày. Công thức kem tốt nhất nếu lương florua tự do trong
nước bọt cao hơn 0,02ppm trong nhiều giờ sau khi đánh răng.
Màu: dùng các laoị màu thực phẩm: trắng , xanh lá, hồng, lơ nhạt, có thể dùng
thêm một lượng MgSO4 để ổn định màu.
Hương: làm dễ chịu có tính diệt và chống vi khuẩn, thường dùng là menthol,
peppermint, tinh dầu bạc hà, quế, hồi, đinh hương…..
Thành phần cơ bản của kem đánh răng
Thành phần cơ bản trong kem đánh răng gồm có :chất fluor,chất mài mòn ,chất
hoạt động bề mặt ,chất sát trùng nhẹ,tinh dầu thơm …tuỳ theo Công ty sản xuất
mà các thành phần cơ bản có khác nhau .Ví dụ như loại Fluor có trong kem
(NaF,MFP,KmnF….),một hay hai loại Fluor ,nồng độ Fluor trong kem ;chất mài
mòn (bột đá vôi ,DCP,hay silica);hương thơm (bạc hà ,dâu….).Đối với thuốc
đánh răng thì thành phần cơ bản cũng có khác nhau như hàm lượng Fluor cao
khác nhau, thêm tri-closan để tăng cường diệt khuẩn ,thêm diệp lục tố va
Vitamin để tăng khả năng chống viêm và khử độc ,thêm Boroglycerin để trị
nấm ,VitaminB3 để giúp phục hồi nhanh các vết thương vùng miệng.
4. Công thức cơ bản của kem đánh răng
Có 2 dạng kem cơ bản là kem trong và kem đục, hai loại kem có thành phần
không khác nhau lắm. trong kem trong các chỉ số được chọn sao cho kem có chỉ số
khúc xạ của hỗn hợp cao. Chỉ số khúc xạ của một vài chất dùng trong kem:
Silic
:
1,45-1,54
Alumin :
1,52- 1,55
Carbonat :
1,148- 1,168
Sorbitol :
1,455-1,461
Glycerin :
1,4729
H2O:
1,333
Thường người ta phối trộn silic trong hỗn hợp nước và sorbitol( glycerol) để
ánh sáng truyền suốt tối đa(=589nm)
Chức năng
Tên chất thường dùng
%
Chất mài mòn
Silic vô định hình, carbon kết
tủa,alumin,phosphat calci…
1550
Chất tẩy rửa
LAS, PAS
12.5
Chất làm ướt, chống
đông cứng
Sorbitol, glycerol
1045
Chất tạo cấu trúc
Polyethylenglycol(P.E.G)
t.h
Chất làm sệt, tạo kết
dính
Gồm xanthan, gelsilic, dẫn xuất CMC
Chất làm đục
TiO2
t.h
Chất làm dịu
Saccharin
0.10.2
Chất ổn định và điều
chỉnh PH
Na2HPO4 , Zn citrat, H2SiO3
Chất bảo quản
1
t.h
formol, nabenzoat, methylparaben
Chất màu
Màu thực phẩm
t.h
Hương ,vị
Menthol,peppermint,…saccharin
11.5
Nước
Vừa đủ
100
Chất có dược tính:
0.10.5
-chống sâu răng
NaF
-chống cao răng
Pyrrophosphat
- diệt khuẩn( bựa,
viêm răng và nướu,
hôi miệng, sâu răng)
Muối Zn hoặc trichlosan
0.11
- răng nhạy cảm
Sracetat, các muối kali
t.h
Sơ đồ công nghệ phối kem đánh răng
Sau khi phối trộn thành dạng paste thì sản phẩm thường có bọt khí, khi đó người
ta hút chân không để phá bọt rồi mới cho vào các bình chứa sản phẩm.
Các bước thực hiện:
Bước 1: sorbitol được hòa tan trong nước và được bơm qua máy khuấy trộn
chính MT. các vật liệu rắn được nạp qua phễu P để dưc vào máy khuấy trộn chính(MT)
( phosphat, TiO2, silic kết tủa), khuấy đến khi hỗn hợp đồng nhất(I).
Bước 2: saccharin, nati benzoat, được hòa tan trong nước( thùng T2)- lọc và bơm
vào máy trộn chính( MT). laurysulfat, CMC natri hòa tan trong nước( thùng T3) rồi
bơm tiếp vào máy trộn chính(MT). flourua hòa tan trong nước( thùng T4) rồi bơm vào
máy trộn chính
Dầu thơm + methylparaben (trong thùng 6)- bơm và máy trộn chính
Sau khi đã nạp xong các chất vào máy trộn chính, khuấy tiếp 30 phút để được
hỗn hợp đồng nhất(II)
Bước 3: loại bọt khí( hút chân không 15 phút) làm đồngnhất và bơm vào thùng
chứa, o đây bắt đầu công đoạn nạp vào tube, bao bì và đóng gói.
Một số công thức hương và kem đánh răng
Công thức hương
Công thức 1
Nguyên liệu
Tinh dầu bạc hà tinh chế (làm
mát)
Thyme oil
%
Nguyên liệu
%
Ethylsalicylat( vị ngọt)
67
12
12
Tinh dầu hồi: làm ấm vòm
miệng, trợ tiêu hóa
9
Công thức 2
Nguyên liệu
%
Tinh dầu bạc hà tinh chế
60
Anise oil
30
Nguyên liệu
%
Tinh dầu quế
10
Công thức 3
Nguyên liệu
Tinh dầu bạc hà
Tinh dầu quế
Tinh dầu đinh hương(có tính sát
khuẩ)
%
67
7
7
Nguyên liệu
Cassra oil
Tinh dầu chanh
Benzaldehyd( độ bốc hương
cao)
%
5
10
4
Công thức kem - kem đục
Công thức 1
Nguyên liệu
%
NaF
0,22
ZnCl2
2
Sorbitol 70%
35
Glycerin
10
Silic hydrat
23
Taurat Na
3,75
Gôm xanthan
1
hydroethylcellulose
1
Công thức 2
Nguyên liệu
%
Na gluconat
0,8
TiO2
0,8
Saccharin
0,1
Na sacchanitrat
0,7
Na benzoat
0,2
Hương liệu
1,3
Nước khử khoáng
v/đ 100
Nguyên liệu
Alumin.3H2O
Sorbitol 70 %
Na PAS
Na CMC
Zn citrat.3H2O
%
Nguyên liệu
%
50
Na monoflourophosphat
0,5
27
Hương liệu
0,85
1,88
Na sacharinat
0,18
0,8
Formol
0.04
1
H2O loại khoáng
v/đ 100
Kem trong
Nguyên liệu
Công thức 3(%)
Công thức 4(%)
Sorbitol 70%(silic hydrat 23%)
58,59
58.59
Polyethylenglycol
5
5
Monoflourophosphat
0,8
-
Na flourua
-
0.33
Na PAS
1,7
1.7
Na CMC
0,5
0.5
Sacharin
0,2
0.2
Phẩm màu
0,012
0.012
Hương liệu
1,1
1,1
ZnSO4.7H2O
0,686
0,686
Glycin
0,3584
0,3584
H2O loại khoáng
v/đ 100
v/đ 100
5. Kiểm nghiệm hiệu năng kem đánh răng
a. Trong phòng thí nghiệm
Nguyên tắc: dựa trên việc đo độ hòa tan trong acid của hydro alpatit(HAP),
thành phần cấu tạo của men. Độ hòa tan của acid ngày càng kém, men cáng có khả
năng chống sự tấn công của acid hơn.
Cách thực hiện: sử dụng bột HPA, bột này được xử lý với các hợp chất chứa
flourua cần được khảo sát, rồi cho tiếp xúc vời dung dịch acid trong một thời gian, lọc,
rửa, sấy khô, cân HPA còn lại. thực hiện mẫu trắng song song.
Sự sai biệt độ hòa tan giúp ta biết rõ hiệu năng của tác nhân chống sâu răng kiểm
nghiệm.
b. kiểm nghiệm invivo
Kem được kiểm nghiệm cùng lúc với kem đối chứng, trên bệnh nhân mang
chứng sâu răng. Họ đánh răng 2 lần ngày, mỗi lần 2 phút 30 giây, lần đầu vào buổi
sáng sau điểm tâm và lần sau vào buổi tối trước khi đi ngủ. quá trình cứ kéo dài trong
3 năm. Các nha sĩ kiễm tra định kỳ bệnh sâu răng theo tiêu chuẩn xác định(O.M.S) các
thông tin được biết qua chỉ số CAO( C = sâu, A = không, O = phải trám).
Kết quả kiểm nghiệm được đánh giá qua:
Mức tăng trưởng: chỉ số CAO răng ở tổng kết phần kiểm nghiệm.
Chỉ số CAO răng ở phần sơ kết.
Tỷ lệ phần trăm giảm chứng sâu răng.
III.
NƯỚC SÚC MIỆNG:
Tại sao miệng có mùi hôi:
Mùi hôi ở miệng thường là do các hợp chất lưu huỳnh dễ bay hơi được gọi là
VSC(volatile sufur compounds).Người ta tính ra có tới 400VSC khác nhau trong hơi
thở của một người trung bình.Nhưng 3 chất chính gây hôi miệng đó là:
Hydro sulfua (H2S) có mùi trứng thối
Methyl Metcaptan(CH3SH)có mùi ga
Dimethyl sulfua (CH3S CH3)
Một khi các hợp chất này hình thành ở miệng thì nó được hoà tan trong nước bọt
và được ngấm vào màng niêm trong miệng nhờ đó ta không bị hôi miệng. Nếu các hợp
chất này hình thành quá nhiều ở miệng vượt quá khả năng hấp thu của nước bọt và
màng niêm trong miệng thì khi đó miệng có mùi hôi và khi nồng độ mùi hôi tăng cao
ở mức mà người đối diện cảm nhận được thì lúc đó ta bị chứng hôi miệng.
Các hợp chất lưu huỳnh dễ bay hơi (VSC) này đến từ 2 nguồn:
VSC được tạo ra từ hốc miệng:Hôi miệng do nguyên nhân ở miệng.
VSC được thải ra hơi thở do các bệnh lý đường hô hấp,bệnh lý toàn thân ,do
thức ăn,do thuốc…Đây là trường hợp hôi miệng do nguyên nhân ngoài miệng.
1. Mục đích và yêu cầu của sản phẩm
Mục đích: diệt khuẩn, khử mùi khó chịu,ngăn các mảng bán trên rang, hạn chế
viêm nướu, viêm má trong, sâu răng,…
Yêu cầu của sản phẩm:
a. Đối với người sử dụng:
Nước xúc miệng phải diệt khuẩn, khử mùi và làm thơm miệng
Tạo cảm giác dễ chịu , thơm mát, sạch sẽ, dễ dùng
Không gây vị lạ, không độc
b. Yêu cầu chung:
Sản phẩm ổn định
Bền trong quá trình lưu trữ và bảo quản
Đạt tiêu chuẩn theo quy định dành cho sản phẩm
2. Nguyên liệu trong sản xuất nước súc miệng
Thành phần và tác dụng của các chất có trong nước súc miệng:
Chất kháng vi sinh vật: Cetylpyridinium chloride, chlorhexidine và các hợp
chất phenolic là những chất có tác dụng làm giảm các vi khuẩn có trong khoang
miệng.
Các chất oxy hóa và khử mùi: sodium bicarbonate, chlorine dioxide có tác dụng
che giấu và khử mùi hôi ở miệng.
Chất cung cấp oxy: hydrogen peroxide giúp tiêu diệt những vi khuẩn kỵ khí
bằng cách cung cấp oxy để tiêu diệt chúng.
Chất fluoride có tác dụng làm chắc răng và ngừa sâu răng.
Chất làm giảm đau chứa những chất giảm đau khi răng bị đau, tê...
Chất đệm (tức là dung dịch đệm) để giảm đau ở những mô mềm, làm giảm độ
acid có trong miệng và hòa tan những lớp màng mỏng bám vào niêm mạc
miệng.
Nguyên liệu để sản xuất nước súc miệng rât đa dạng và phong phú : người ta có
thể điều chế nước súc miệng từ chanh ,bạc hà ,trái dừa , các thảo dược, lá chè….,cũng
có thể dung muối ăn , rượu …để làm nước súc miệng
Ví dụ: Xơ dừa có thể được dùng làm nguyên liệu giá rẻ để sản xuất các loại
nước súc miệng chống vi khuẩn gây bệnh đường răng miệng.Vỉ xơ dừa chứa một số
các thành phần giảm đau và chống ô-xi hóa có khả năng ngừa vi khuẩn, vi-rút và
chống ung thư mà không gây tác dụng phụ.
Có thể dùng nước chanh để súc miệng khi bị viêm họng
IV.
SON MÔI
1. Yêu cầu của sản phẩm
Khi sử dụng:
Lớp ghim của son phải bám vào môi trong vài giờ và không bị bám dễ dàng vào
tách ly hoặc trên các điếu thuốc lá…
Thỏi son phải tạo được những đường nét rõ ràng trên môi và không bị nhòe khi
kẻ
Thỏi son phải đủ dẻo để không bị gãy khi sử dụng
Mù vị phù hợp với người dùng
Không độc
Đạt tiêu chuẩn chung theo quy định dành cho sản phẩm
Khi tồn trữ
Ổn định trong một thời gian dài ở điều kiện khí hậu khác nhau
Không bị hiện tượng tạo “hoa” trên bề mặt son
Không bị hiện tượng “đổ mồ hôi” trên bề măt thỏi son.
2. Nguyên liệu
a. Nguyên liệu cho nền sản phẩm
Nền son là hỗn hợp của chất dầu, chất béo, sáp của cả động vật, thực vật, khoáng
chất và tổng hợp.
Sáp ong được sử dụng như chất định dạng, dùng kết hợp với dầu thầu dầu nhưng
bề mặt son ít bóng và thỏi son dễ bị gảy khi sử dụng, do đó phải bổ sung những sáp
nặng khác nhầm tăng tính mềm dẻo và năng động cho thỏi son và giảm vết nứt.
Carnauba wax là sáp cứng có điểm nóng chảy cao, dùng với một tỉ lệ nhỏ để làm
thỏi son chắc hơn và tạo một lớp màng kị nước, tăng độ bóng cho bề mặt thỏi son.
Ozokerit là một loại sáp dẻo, dễ uốn, được dùng như một loại sáp cơ bản trong
công thức son môi do có dặc điểm vi tinh thể hấp thu dầu tốt
Ceresin wax được dung phốí hợp với Ozokerit để tạo điểm nóng chảy thấp hơn,
làm cứng son mà không gây hiện tượng son quá dòn hay quá cứng.
Sáp vi tinh thể được sử dụng do có khoảng nóng chảy rộng và có tính hấp phụ
dầu rất tốt.
Candelilla wax là một loại sáp ôn hòa hơn carnauba do có nhiệt độ nóng chảy
thấp hơn và ít cứng hơn được sử dụng để làm chắc son nhưng với lượng nhiều hơn
carbanau wax.
Parafin wax không được sử dụng rộng rãi trong son vì không trộn lẫn với dầu và
cấu trúc thiếu chắc. Tuy nhiên khi sử dụng với lượng nhỏ, nó sẽ góp phần làm tăng độ
bóng cho bề mặt thỏi son.
Spermaceti được dùng với một lượng nhỏ giúp tăng độ bóng bề mặt thỏi son và
làm mềm son ở nhiệt độ cơ thể. Khi sử dụng phải rất cẩn trọng vì nó không tương hợp
với những loại este khác.
Anhydrous lanolin có tác dụng giúp môi chịu được thời tiết khắc nghiệt, giữ cho
da môi mềm, không bị khô, không bị nứt nẻ và làm môi sáng lên. Ngoài ra anhydrous
lanolin và dẫn xuất của nó dùng để phân tán màu trong son. Dùng nhiều anolin làm
tăng tính dính của sản phẩm, gây khó chịu cho người tiêu dùng.
Những loại sáp khác: một số loại sáp được dùng với một lượng nhỏ để làm son
dễ sử dụng hơn như:
Wool – wax alcohol làm son môi mềm và dẻo.
Cocoa butter có tác dụng hạn chế gây hoa
Hydrogenated castor oil giúp son bền, chống oxy hóa.
Acetoglyceride có tác dụng hạn chế sự thay đổi cấu trúc
Cetylancol giúp giảm bớt tính phân lớp.
Dầu: bên cạnh sáp, một số dầu cũng được đưa vào thành phần nền của son.
Dầu thầu dầu là thành phần chủ yếu trong son môi do có tính dẻo cao, ngăn cản
được sự lắng của phẩm màu trong thỏi son, giúp màu lan nhiều trong son, giúp
màu lan điều trên môi và là chất trung gian tốt cho quá trình nghiền.
Hạn chế chính của dầu thầu dầu là mùi béo, tạo mùi khi lưu trữ và làm ướt phẩm
màu nhanh chóng. Trên thực tế người ta có thể hạn chế các tính chất này bằng cách sử
hương che phù hợp và các chất chống oxi hóa.
Một số chất khác được sử dụng để cải thiện tính chất của son như:
Isopropyl mycristat có tác dụng làm son kông có mùi mỡ và thấm tốt hơn.
Oleyl ancol giúp son ít nhớt hơn.
Butyl stearatgiúp thỏi son đàn hồi, tuy nhiên ít sử dụng do có mùi hắc.
Isopropylpalmitat( stearat) có tác dụng làm cho son ít mùi béo hơn, tạo tính ổn
định tốt cho sản phẩm.
Dimethylsebacat: tác nhân liên kết tốt cho dầu khoáng, dầu thực vật và là dung
môi tốt cho sản phẩm.
Oley oleat: làm mềm, giữ ẩm tốt, hấp phụ tốt trên môi, sử dụng hạn chế do hơi
béo
Dầu khoáng tăng độ bóng của son môi. Hạn chế của nó là dễ gây bẩn nếu dùng
lượng lớn.
Petroleum jelly tăng độ bóng và dễ dùng khi sử dụng.
b. Màu
Yêu cầu: Màu trong son giữ một vai trò quan trọng trong phối chế son. Các laoị
màu sử dụng cho son cần tuân thủ một số yêu cầu sau:
Rất ít hoặc không phai màu dưới ánh sáng mặt trời
Ổn định khi tăng nhiệt độ
Tạo độ phủ tốt.
Không bắt ẩm (gây xung khắc với thể béo trong son).
Không hòa tan trong dầu để tránh sự chuyển màu từ từ trong cả khối son.
Khônh hòa tan trong nước để tránh sự nhòa màu khó coi quanh miệng do sự
chảy màu.
Không gây bất cứ một phản ứng nào giữa các thành phần trong son.
Lượng phẩm hỗn hợp sử dụng trong khoảng 1-3%
Nguyên liệu màu: Màu son không cố định mà thay đổi theo từng thời điểm,
nhưng màu chính vẫn là mảu đỏ. Gam màu sử dụng cho son bao gồm tất cả màu từ đỏ
cam đến đỏ tía, một số loại có màu nâu tím…Một vài laoị son không cần màu như son
mỡ và son bóng (hoặc màu rất nhạt). Màu trong son thường ở dạng hỗn hợp: pigment
+ thuốc nhuộm. Một số hỗn hợp màu được sử dụng trong son như: Stanning dyes
(bromoacids) 0.5 3%; oil soluble pigment 2%; pigment không tan 8 10%; TiO2 1
4%.
Staning dyes: được sử dụng rộng rãi là eosin và các dẫn xuất halogen fluorescein:
Eosin (D C red N021) là một chất màu cam không tan chuyển sang dạng
muối cho màu đỏ chói ở pH > 4.
Halogented flourescein có hiều màu khác nhau và thường được dùng chung với
eosin. Tetracloro tetrabromo floirescein (D C red N027) cho màu đỏ chói;
dibromofluorescein ( D C orange N05) cho màu đỏ cam. Hạn chế chung của
bromoacid là khó phân tán trong son kích thích da, có thể dẫn đến dị ứng. Để sử
dụng được các phẩm staning dyes trong son, cần phải loại sulfoacid ra khoi
công thức, để tăng tính không tan trong nước.
Pigment
TiO2 thường được sử dụng với hàm lượng trên 4%. TiO2 là pigment trắng hữu
hiệu đễ tạo lớp màng trên môi.
Các loại màu thường được sử dụng trong son môi: D C red N08.7.31 34; D
C red N09; D C orange W17; D C red NOS 2.3 19; FD C yellow
NOS – 5 6%.
c. Dung môi
Thực ra trong công thức của son môi không cần dung môi, nhưng nếu không
dùng dung môi sẽ gây ra một số sự cố như tẩy môi, gây rát, dồn cục, không chảy đều
trên môi dù sử dụng kĩ thuật phối chế hoàn hảo.
Một số yêu cầu trên dung môi sử dụng cho son:
Ít bay hơi và ổn định (bền, không chảy khi nhiệt độ tăng) trong suốt quá trình
sản xuất hoặc lưu trữ.
Phải tương hợp với tất cả các thành phần của son.
Ít tan trong nước.
Có tác dụng giúp cho sự chuyển dịch son lên môi dễ dàng.
Không màu, không vị, không độc, không kích thích môi.
Một số dung môi thông dụng:
Glycol este: propylen glycol monoeste( như laurate, myrisstate,
monoricinoleate…) là những dung môi tốt cho son vì tác nhân liên kết ghép các
hợp chất dầu và giúp chuyển son môi vào da dễ dàng. Mặt khác nó cũng ít gây
hiện tượng chảy hơn các glycol đơn giản .
Tetrahydrofurfural alcol và este của nó: các alcol này có khả năng hòa tan eosin
rất lớn (khoảng 28%). Các este của acid có trọng lượng phân tử thấp cũng hòa
tan eosin, nhưng dễ bốc hơi, ngược lại este cùa acid ó trọng lượng phân tử cao
như acid stearic có khả năng hòa tan eosin thấp.
Dung môi phẩm như alkylolamid có mùi nhẹ, ít bay hơi, không hút ẩm, được sử
dụng như một thành phần sáp cơ bản, vì có khả năng giúp trộn lẫn các thành
phần khác trong son (dầu khoáng và dầu thực vật), đồng thời hòa tan được
phẩm. Tuy nhiên do tính tan phẩm vào dung môi phụ thuộc vào chuỗi acid béo
và sự hiện diện của liên kết amid nên cần rất cẩn thận khi sử dụng.
Polyethylenglycol etther: tùy thành phần dầu, sáp, màu trong son để sử dụng
hỗn hợp dung môi với thành phần và kượng thích hợp. Lauryl alcol cũng là
dung môi tốt cho eosin nhưng không mai lại hiệu quả cao( do tinh dễ hút ẩm).
Hương : chọn cho son phải đạt một số yêu cầu chung sau:
Phải giấu được mùi béo của chất nền.
Hương phải bền và thích hợp với các thành phần trong son.
Hàm lượng hương được sử dụng trong hương khá cao: 2 4%. Các loại hương
thường được dùng trong son:
o Rượu và este của hoa hồng.
o Hương trái cây: hanh, cam, quýt, dâu…nhưng không thông dụng.
Chất chống oxy hóa và chất bảo quản:
Trong thành phần của son phải có các chất bảo quản do:
Các loại sáp, dầu, mỡ bị oxy hóa dưới tác dụng của nhiệt độ, ánh sáng, oxy hóa
trong không khí gây hiện tượng ôi hóa, làm mất mùi hương, làm phai màu…
Ion kim loai Cu, Fe… từ nguồn màu, nguồn nguyên liệu, thùng chứa, thiết bị
sản xuất bị oxy hóa màu.
Nhiễm nấm mốc và vi kuẩn.
Để hạn chế sự oxy hóa, nhiễm nấm mốc và vi khuẩn, người ta hạn chế việc sử
dụng chất béo có niều kiên kết đôi. Tránh chứa dầu, mỡ, sáp trong thùng bằng Fe, Cu
hay các kim loại khác và ở những nơi có ẩm cao.
Các chất chống oxy hóa và chất bảo quản thường sử dụng trong son môi:
Các este của acid galic:
Propyl galat là chất bột màu trắng, có điểm nóng chảy tới hạn 150 0C, được sử
dụng rộng rãi nhất ví có hiệu quả ngay ở nồng độ thấp (đặc biệt trong dầu thực vật) và
phân hủy ở nhiệt độ cao. Khi gặp các chất độn kị nước, người ta dùng chất bảo quản
octyl hoặc dodecyl galat.
Butyllat hydroxyanisol (BHA) là chất rắn sáp, bền màu trắng, điểm nóng chảy tới
hạn la 600C, dễ hòa tan trong dầu và chất béo, hiệu quả ở nồng độ thấp và đặc biệt hữu
dụng trong mỡ động vật.
Butylat hydroxytoluen (BHT): tinh thể trắng, điểm nóng chảy tới hạn 700C, có
mùi rất nhẹ, dễ hòa tan trong dầu và các chất béo.
Một số công thức minh họa đơn giản:
Việc thiết lập một công thức son môi không đơn giản. Rất khó có thể phát hiện
ngay những thiếu sót của thỏi son do có khi nó chỉ xuất hiện sau một thời gian dài bảo
quản. Khi hoàn thành sơ bộ, cần lưu ý kiểm tra các yếu tố sau:
Khả năng tạo các giọt dầu trên bề mặt thỏi son.
Tạo bột phần.
Gãy, vỡ.
Thông thuòng có 2 loại son: son thường chủ yếu để làm đẹp và giữ ẩm cho môi;
son mỡ - son bóng được dùng chủ yếu để bảo quản môi tránh nhiệt độ và thời tiết thay
đổi thất thường.
Son thường
Công thức 1 [có thể sử dụng silicon]: son thường loại rắn
Nguyên liệu
%
Nguyên liệu
%
Castor oil
30
Carnauba wax
10
Mineral oil
15
Ceresin wax
10
Bees was
15
paraffin
10
Union Carbide L. 45 silicon Fluid 10
(1000CS)
t.h
Hương
Công thức 2 :dùng để tạo son dạng lỏng. Loại son này có đặc điểm cải tiến hơn
loại rắn, vì nó có lớp màng mỏng trên môi bền hơn, và tạo cho môi có cảm giác bóng
mọng hơn. Tuy nhiên, do không tiện dụng và gây khó chịu ở môi nên ít phổ biến hơn
son thường loại rắn. Thành phần chủ yếu gồm dung dịch alcol, các màu tan trong
alcol, dung môi ethyl alcol, chất tạo nhớt, tạo màng etylcellulose, polyvinyl alcol, poly
vinyl acetat, chất tạo dẻo triethyl nitrat, methyl abietat, poly etylen glycol. Hương
được hòa tan trước trong alcol trước khi trộn.
Nguyên liệu
%
Nguyên liệu
%
Ethylcellulose
3.1
Hydrogenated metylabietat
7.5
Ethyl alcol
69.4 Rhdamin 9
t.h
Petroleum ether
20
t.h
Hương
Son mỡ - son bóng
Son mỡ giúp tạo một lơp mỏng, mềm dẻo, bám dính tốt để giữ ẩm cho môi, do
đó son mỡ không cần màu. Son mỡ sử dụng các chất nền là dầu khoáng, sáp, có một số
chất ưa nước để làm tăng tính bám dính trên môi. Người ta cũng cho một lượng rất ít
màu để trang điểm nhẹ.