Tải bản đầy đủ (.pdf) (111 trang)

Hoạt động chất vấn của HĐND cấp xã từ thực tiễn huyện thạch thất, thành phố hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.13 MB, 111 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
............/............

BỘ NỘI VỤ
....../......

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ ĐỨC THẮNG

HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
CẤP XÃ - TỪ THỰC TIỄN HUYỆN THẠCH THẤT,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số

: 8 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. TRẦN THỊ DIỆU OANH

HÀ NỘI - NĂM 2020


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học trong
Luận văn được rút ra từ quá trình nghiên cứu của đề tài này.
Mặc dù đã cố gắng đầu tư thời gian và công sức nghiên cứu để hoàn
thành Luận văn song do những hạn chế cá nhân khiến Luận văn không tránh


khỏi thiếu sót. Kính mong quý thầy giáo, cô giáo và bạn đọc thông cảm.
Người thực hiện

Lê Đức Thắng

i


LỜI CẢM ƠN
Xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Học viện Hành chính Quốc gia, Khoa
Sau đại học, các bộ môn và các thầy giáo, cô giáo trong Học viện đã giảng
dạy và giúp đỡ tận tình để tôi hoàn thành tốt chương trình đào tạo cao học,
chuyên ngành Luật hiến pháp và Luật hành chính.
Đặc biệt, xin trân trọng cám ơn PGS.TS. Trần Thị Diệu Oanh - Trưởng
khoa Nhà Nước Và Pháp Luật, giáo viên hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp
đỡ để tôi hoàn thành Luận văn này.
Học viên

Lê Đức Thắng

ii


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt


i
ii
iii
iv

MỞ ĐẦU

1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN
CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ
1.1. Khái quát chung về đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã
1.2. Khái niệm, đặc điểm, mục đích hoạt động chất vấn của đại biểu Hội
đồng nhân dân cấp xã
1.3. Trình tự, thủ tục, nội dung và hệ quả hoạt động chất vấn của đại biểu
Hội đồng nhân dân cấp xã
1.4. Các bảo đảm cho hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân
dân cấp xã
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN CỦA ĐẠI BIỂU
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ, HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH
PHỐ HÀ NỘI
2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng
nhân dân cấp xã, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội
2.2. Tình hình hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã
huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội
2.3. Đánh giá chung về hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân
dân cấp xã, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội

7

7
13
18
24

35
35
42
61

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM HOẠT ĐỘNG
CHẤT VẤN CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ - TỪ
THỰC TIỄN HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.1. Quan điểm bảo đảm hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân
dân cấp xã
3.2. Giải pháp bảo đảm hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân
dân cấp xã - từ thực tiễn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội

80

KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

98
100
103

iii


70
70


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Viết tắt

Nguyên nghĩa

ĐTXD

Đầu tư xây dựng

GCN

Giấy chứng nhận

GPMB

Giải phóng mặt bằng

HĐND

Hội đồng nhân dân

HTX

Hợp tác xã


Luật hoạt động giám sát

Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và

của QH và HĐND 2015
Luật tổ chức CQĐP 2015
MTTQ

Hội đồng nhân dân năm 2015
Luật tổ chức chính quyền địa phương năm
2015trận Tổ quốc
Mặt

QH

Quốc hội

QSD

Quyền sử dụng

THPT

Trung học phổ thông

UBND

Ủy ban nhân dân

iv



MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy
định: “Hội đồng nhân dân (HĐND) là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa
phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do
Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và
cơ quan nhà nước cấp trên” [21]. Đồng thời, “HĐND quyết định các vấn đề
của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở
địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND mình đề ra” [21]. Do đó,
vai trò và hoạt động của HĐND là hết sức quan trọng, nên việc nâng cao chất
lượng hoạt động của HĐND các cấp, đặc biệt là HĐND cấp cấp xã là một
trong những nhiệm vụ rất cần thiết để mang lại hiệu quả hoạt động của
HĐND, nhất là trong quá trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa nói riêng và sự nghiệp đổi mới đất nước ta hiện nay nói chung.
Chất vấn là một hình thức giám sát quan trọng của Hội đồng nhân dân
được đại biểu HĐND thực hiện, được tổ chức công khai tại kỳ họp hoặc giữa
hai kỳ họp HĐND. Hoạt động chất vấn của đại biểu HĐND thể hiện ý thức về
quyền và nghĩa vụ công dân, năng lực làm chủ, tham gia quản lý xã hội của
nhân dân, thể chế hóa và thực hiện phương châm: "Dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra". Chất vấn của đại biểu HĐND cấp xã là việc đại biểu
HĐND cấp xã nêu vấn đề thuộc trách nhiệm của Chủ tịch UBND, thành viên
khác của UBND và yêu cầu những người này trả lời; với mục đích là giải đáp,
làm rõ trách nhiệm của các đối tượng bị chất vấn trong quá trình thực thi
nhiệm vụ theo thẩm quyền được phân công. Hoạt động chất vấn là hình thức
nhân dân thực hiện quyền làm chủ nhà nước của mình, thông qua người đại
diện, cơ quan đại diện nói lên tiếng nói, đòi hỏi sự giải trình làm rõ trách
nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, người có thẩm quyền trong các cơ
1



quan quản lý nhà nước về bất cứ lĩnh vực xã hội nào mà họ quan tâm và có
bức xúc. Thực tế cho thấy, hoạt động chất vấn của đại biểu HĐND nói chung,
đại biểu HĐND cấp xã nói riêng ngày một hoàn thiện về hình thức lẫn nội
dung và đã có nhiều kết quả tích cực; qua chất vấn của đại biểu HĐND, nhiều
vấn đề nổi cộm, bức xúc ở địa phương đã được giải quyết, sự băn khoăn, thắc
mắc của cử tri phần nào được giải tỏa, góp phần thể hiện rõ tính chất của
HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, làm tăng vai trò đại diện
cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, chịu trách nhiệm
trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên của đại biểu HĐND;
hoàn thành tốt chức năng giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa
phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND của đại biểu HĐND.
Về mặt lý luận, phù hợp với nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống
nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà
nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong
Hiến pháp năm 2013 cùng yêu cầu hoàn thiện tổ chức và nâng cao chất lượng,
hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam được đề cập trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng là "Hoàn thiện cơ
chế để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan dân cử…" [7,
tr.177] và xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, nên tổ chức và hoạt
động của bộ máy nhà nước đều phải xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của nhân
dân và chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền
làm chủ nhà nước, quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, quyền kiểm
tra, giám sát tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước thông qua nhiều kênh
khác nhau, trong đó thông qua đại biểu HĐND, được nhân dân ủy quyền, - là
một kênh hữu hiệu. Hiện nay, Nhà nước ta đã ban hành khá đầy đủ cơ sở pháp
lý thực hiện quyền chất vấn của đại biểu HĐND bằng Hiến pháp năm 2013 và
các đạo luật như Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

2


năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 01-7-2016, sau đây gọi tắt là Luật hoạt động
giám sát của QH và HĐND 2015), ngoài ra là các văn bản pháp luật khác có
liên quan như Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (có hiệu lực từ
ngày 01-01-2016 - sau đây gọi tắt là Luật tổ chức CQĐP 2015, sửa đổi, bổ
sung năm 2019, thay thế cho Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân
dân năm 2003 - sau đây gọi tắt là Luật tổ chức HĐND và UBND 2003), Luật
bầu cử đại biểu QH và đại biểu HĐND năm 2015, các luật về tổ chức và hoạt
động của các cơ quan nhà nước, v.v.. Về thiết chế pháp luật, các cơ quan dân
cử cùng với hệ thống các cơ quan nhà nước khác ngày càng được xây dựng,
củng cố và hoàn thiện, tạo điều kiện cho đại biểu HĐND cấp xã thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Trên cơ sở nghiên cứu các thể chế và thiết chế
đó, làm rõ về mặt lý luận về vị trí, vai trò của đại biểu HĐND cấp xã, về hoạt
động chất vấn của đại biểu HĐND cấp xã nhằm tìm ra những đổi mới trong
hoạt động chất vấn để hoạt động này vừa nghiêm túc, vừa thẳng thắn, vừa
đúng mức lại có kết quả tốt là điều rất cần được quan tâm làm rõ.
Về mặt thực tiễn, có những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến hoạt động
chất vấn của đại biểu HĐND cấp xã như sự nhận thức và thực hiện tốt quy
định pháp luật ở từng cấp xã trong cả nước là chưa đồng đều, vẫn còn hiện
tượng đại biểu HĐND cấp xã chất vấn còn mang tính hình thức, chưa trúng và
đúng những vấn đề xã hội và dư luận ở địa phương quan tâm, hiện tượng đại
biểu HĐND cấp xã ngại va chạm, né tránh, nhiều vấn đề xã hội quan tâm bị
chất vấn nhiều lần nhưng không được giải quyết triệt để khiến cử tri không
hài lòng. Việc triển khai các quy định trong các văn bản pháp luật vào thực tế
sinh động của đời sống xã hội là một quá trình đòi hỏi vừa phải quán triệt, vừa
phải linh hoạt với thực tế, điều kiện từng địa phương. So với HĐND và đại
biểu HĐND cấp xã trong cả nước, HĐND và đại biểu HĐND cấp xã, huyện
Thạch Thất, thành phố Hà Nội vừa có những nét chung lại vừa có những nét

đặc thù riêng về tổ chức và hoạt động. Việc nghiên cứu làm rõ những nội
3


dung lý luận và thực tiễn về hoạt động chất vấn của đại biểu HĐND cấp xã,
huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội gắn với điều kiện riêng của địa phương về
kinh tế - xã hội, đặc điểm riêng về cơ cấu, thành phần và hoạt động của HĐND,
đại biểu HĐND cấp xã, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội để từ đó đưa ra
những quan điểm, giải pháp bảo đảm hoạt động chất vấn của đại biểu HĐND
cấp xã, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
Từ những lý do trên, học viên chọn đề tài: "Hoạt động chất vấn của Hội
đồng nhân dân cấp xã - Từ thực tiễn huyện Thạch Thất, thành phố Hà
Nội" để nghiên cứu luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua, số công trình nghiên cứu được công bố về hoạt
động chất vấn của đại biểu HĐND nói chung, của đại biểu HĐND cấp xã nói
riêng không nhiều, chủ yếu là những công trình nghiên cứu về hoạt động chất
vấn của đại biểu QH. Hoạt động chất vấn của đại biểu HĐND được đề cập với
tư cách là một trong các hình thức giám sát khi nghiên cứu hoạt động giám sát
của HĐND các cấp, có thể kể ra một số công trình tiêu biểu như: "HĐND
trong hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước” do PGS.TS. Nguyễn Đăng Dung
chủ biên, “Một số vấn đề chung về hiệu quả và việc nâng cao hiệu quả giám
sát việc thực hiện quyền lực nhà nước” của tác giả Võ Khánh Vinh. Ngoài ra,
có một số luận văn thạc sỹ của các tác giả có nghiên cứu về hoạt động giám
sát của đại biểu HĐND như: “Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Nam Định”
của Trịnh Minh Đức, Luận văn thạc sỹ Quản lý công, Học viện Hành chính
Quốc gia, 2014; “Hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh đối với UBND cùng
cấp - Từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh” của Nguyễn Thị Hồng Oanh, Luận văn
thạc sỹ Quản lý hành chính công, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia
Hồ Chí Minh, 2011. Đối với tỉnh Nghệ An, có Luận văn thạc sĩ Luật học của

Hồ Thị Hưng: “Nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND tỉnh Nghệ An trong
giai đoạn hiện nay”, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2006.
4


Các công trình nghiên cứu nêu trên đề cập chức năng, nhiệm vụ, vai trò
của HĐND trong cơ cấu quyền lực nhà nước hoặc hoạt động giám sát của
HĐND (một trong các hình thức giám sát của HĐND là xem xét việc trả lời chất
vấn của những người bị chất vấn) và hoạt động giám sát của đại biểu HĐND
(một trong các hình thức giám sát của đại biểu HĐND là chất vấn những người
bị chất vấn) nên chưa phải là những công trình độc lập nghiên cứu riêng về hoạt
động chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh. Trên thực tế, hoạt động chất vấn của
đại biểu HĐND cấp xã được đề cập trong một số bài tham luận, bài viết đăng tải
trên một số báo, các trang thông tin điện tử của HĐND và UBND một số tỉnh và
một số báo cáo, tài liệu nghiên cứu về hoạt động chất vấn của đại biểu HĐND
một địa phương cụ thể như bài "Kỹ năng chất vấn của đại biểu dân cử" đăng trên
Trang thông tin điện tử của HĐND tỉnh Bạc Liêu ngày 25-8-2016; "Chất vấn tại
kỳ họp là một hình thức giám sát tốt của HĐND" đăng trên Trang tin bầu cử QH
khóa XIV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 ngày 24-3-2016; "Giải pháp
nâng cao chất lượng và hiệu quả khi trả lời chất vấn tại kỳ họp HĐND tỉnh"
đăng trên Trang thông tin điện tử của HĐND tỉnh Vĩnh Phúc; "Nâng cao hiệu
quả hoạt động chất vấn của đại biểu HĐND" của tác giả Ngọc Hải đăng trên
Trang thông tin điện tử Đoàn đại biểu QH và HĐND tỉnh Quảng Ngãi...
Cho tới nay có thể thấy chưa công trình nào nghiên cứu về hoạt động
chất vấn của đại biểu HĐND cấp xã, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
Tuy nhiên các công trình nghiên cứu đã được công bố nêu trên có giá trị tham
khảo trong triển khai nghiên cứu đề tài luận văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích: Đề xuất các giải pháp bảo đảm hoạt động chất vấn của đại
biểu HĐND cấp xã, từ thực tiễn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.

- Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
+ Phân tích, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về hoạt động chất
vấn của đại biểu HĐND cấp xã.
5


+ Đánh giá thực trạng và những bất cập trong hoạt động chất vấn của đại
biểu HĐND cấp xã, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội nhiệm kỳ 2016-2021.
+ Đưa ra những quan điểm và một số giải pháp bảo đảm hoạt động chất
vấn của đại biểu HĐND cấp xã, giải pháp chung và giải pháp cụ thể cho
huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và

thực tiễn của hoạt động chất vấn của đại biểu HĐND cấp xã.
- Phạm vi nghiên cứu: Về không gian là tại kỳ họp và giữa hai kỳ họp

HĐND cấp xã, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội nơi diễn ra hoạt động
chất vấn của đại biểu HĐND; Về thời gian là nhiệm kỳ 2016-2021 (số liệu
nghiên cứu trong phạm vi từ năm 2016 đến nay).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của
triết học Mác - Lênin (phép biện chứng duy vật); phương pháp lôgíc kết hợp
với lịch sử.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp

nghiên cứu như: nghiên cứu tài liệu, phương pháp phân tích, so sánh, thống
kê tổng hợp…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp thêm những cơ sở

khoa học cho hoạt động nghiên cứu lý luận và thực tiễn về hoạt động chất vấn
của đại biểu HĐND cấp xã. Thực tiễn, phương hướng, giải pháp mà Luận văn
đưa ra có thể giúp đại biểu HĐND, các Ban của HĐND, Thường trực HĐND
xã tham khảo trong quá trình thực hiện hoạt động chất vấn trong thời gian tới.
Luận văn còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu,
học tập thuộc chuyên ngành Luật học.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh mục
các sơ đồ và Phụ lục, đề tài được kết cấu gồm 3 Chương.
6


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN
CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ
1.1. Khái quát chung về đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

1.1.1. Vị trí, vai trò của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức thành các
đơn vị hành chính các cấp: cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Ở địa
phương cấp xã là cấp cơ sở, là cấp cụ thể hóa các đường lối, chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của cơ quan nhà nước cấp trên
trong phạm vi xã gắn trực tiếp với quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.
HĐND xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở xã, đại diện cho ý chí, nguyện
vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu
trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. HĐND
xã quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo
Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND.
HĐND xã gồm các đại biểu HĐND xã do cử tri ở xã bầu ra, đại diện cho ý chí,
nguyện vọng của nhân dân, có nhiệm vụ vận động nhân dân thực hiện Hiến pháp

và pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghị quyết của HĐND, động viên nhân
dân tham gia quản lý nhà nước (theo Điều 113, 115 Hiến pháp năm 2013). Các
quy định trên của Hiến pháp năm 2013 (sau được cụ thể hóa tại khoản 2 Điều 6
Luật tổ chức CQĐP 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2019).
Có thể thấy, đại biểu HĐND cấp xã có vị trí quan trọng trong đời sống
chính trị ở địa phương khi góp phần tạo điều kiện, thúc đẩy sinh hoạt chính trị
của nhân dân ở địa phương, là phương tiện, là cầu nối của cử tri cấp xã với
Nhà nước (thông qua các cơ quan nhà nước ở địa phương) trong mối quan hệ
chính trị. Thông qua bầu cử, cử tri địa phương ủy quyền của mình cho đại
biểu HĐND để thông qua đại biểu HĐND, cử tri thực hiện quyền làm chủ của
7


mình đúng với phương châm: "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" khi
tham gia bàn bạc, thảo luận và quyết định các vấn đề quan trọng về kinh tế xã hội ở địa phương (biểu quyết các nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội ở
địa phương), khi thực hiện quyền giám sát, thanh tra, kiểm tra hoạt động của
các cơ quan nhà nước ở địa phương; khi thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo về
những vi phạm của cá nhân, cơ quan nhà nước ở địa phương trong thực hiện
nhiệm vụ, công vụ.... Ở vị trí đó, đại biểu HĐND liên hệ chặt chẽ với cử tri,
chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo với cử tri về
hoạt động của mình và của HĐND xã, trả lời những yêu cầu và kiến nghị của
cử tri; xem xét, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cử tri và đại biểu
HĐND xã được nhận những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể được pháp luật quy
định để thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình.
Ở vị trí là phương tiện, là cầu nối của cử tri trong xã với chính quyền
trong mối quan hệ chính trị thì vai trò của đại biểu HĐND cấp xã là đại diện
cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân địa phương, góp phần tạo điều kiện,
thúc đẩy sinh hoạt chính trị của nhân dân địa phương khi họ thực hiện quyền
làm chủ của mình. Nhiệm vụ của đại biểu HĐND cấp xã là vận động nhân dân
thực hiện Hiến pháp và pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghị quyết của

HĐND cấp xã, tham gia quản lý nhà nước ở cơ sở. Qua việc thực hiện nhiệm vụ
của mình, vai trò của đại biểu HĐND xã thể hiện ở hai phương diện:
- Ở vai trò thực hiện các công vụ theo phân cấp thì HĐND cấp xã giám
sát việc triển khai công việc này. Đại biểu HĐND cấp xã với tư cách là thành
viên HĐND cấp xã sẽ giám sát việc thực hiện công vụ theo phân cấp. Đại
biểu HĐND cấp xã phát huy vai trò tích cực của mình trong hoạt động giám
sát của HĐND. Qua tiếp xúc cử tri và thực tiễn hoạt động, đại biểu phát hiện
những vấn đề nổi cộm, bức xúc ở địa phương, từ đó có ý kiến chất vấn Chủ
tịch UBND xã hoặc kiến nghị với Thường trực, các Ban HĐND cấp xã để tổ
chức các đoàn giám sát nhằm làm rõ trách nhiệm và đề xuất các giải pháp
8


khắc phục. Các đại biểu kiến nghị buộc các cá nhân, cơ quan có liên quan
phải giải quyết những vấn đề đó.
+ Ở vai trò thực hiện công vụ địa phương, HĐND cấp xã quyết định
chính sách địa phương, đồng thời giám sát việc thực hiện các chính sách này.
Là thành viên của HĐND, đại biểu HĐND cấp xã tham gia cụ thể hóa chủ
trương của cấp ủy, ra quyết định đúng đắn về quy hoạch và mục tiêu, nhiệm
vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương từng năm, từng giai đoạn.
HĐND cấp xã nghiên cứu, phân tích chính sách, lấy ý kiến của cử tri và thông
qua các đại biểu HĐND cấp xã quyết định các mục tiêu, các chương trình
trọng điểm, danh mục các dự án đầu tư trong thời kỳ quy hoạch, kế hoạch,
ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển các lĩnh vực kịp thời, phát huy
tác dụng trong thực tiễn cuộc sống. Đại biểu HĐND cấp xã đóng góp trí tuệ
và trách nhiệm trong thảo luận để tập thể thống nhất cao trước khi quyết định
các vấn đề nêu trên. Trong các kỳ họp, đại biểu thảo luận kỹ từng nghị quyết
chuyên đề, những nội dung còn nhiều ý kiến khác nhau được tách ra để bàn
thảo đến khi thống nhất. Các đại biểu tranh luận dân chủ, thẳng thắn về nội
dung các nghị quyết trước khi thông qua. Việc tranh luận, đối thoại công khai

trước khi tiến hành biểu quyết cho thấy HĐND cấp xã thực sự là của dân, do
dân và vì dân và đại biểu HĐND cấp xã thực sự là người đại diện cho ý chí,
nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân bởi cơ quan dân cử, các đại biểu dân
cử đã nói lên tiếng nói của người dân, lấy lợi ích của nhân dân làm cơ sở để
ban hành các quyết sách.

1.1.2. Trách nhiệm, quyền hạn và tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng
nhân dân cấp xã
1.1.2.1. Trách nhiệm
Trách nhiệm của đại biểu HĐND được quy định tại khoản 1 Điều 115
Hiến pháp năm 2013: "…liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử
tri, thực hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của
9


HĐND, trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc việc
giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đại biểu HĐND có nhiệm vụ vận động nhân dân
thực hiện Hiến pháp và pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghị quyết của
HĐND, động viên nhân dân tham gia quản lý nhà nước" [21]; các nhiệm vụ
này được cụ thể hóa tại các điều 93, 94, 95 Luật tổ chức CQĐP 2015 (sửa đổi,
bổ sung 2019): trách nhiệm tham dự kỳ họp, phiên họp HĐND, trách
nhiệm tiếp xúc cử tri, trách nhiệm tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị của công dân. Trách nhiệm của đại biểu HĐND diễn
ra trong mối quan hệ với cử tri và nhân dân địa phương, xoay quanh việc phục
vụ nhân dân, hoàn thành việc đại diện cho ý chí, nguyện vọng, tiếng nói của
nhân dân, bảo đảm cho nhân dân được thực hiện đầy đủ và trọn vẹn tư cách
làm chủ của mình như: quyết định các vấn đề kinh tế - xã hội của địa phương;
thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của các cá nhân, cơ quan nhà nước có
thẩm quyền để tránh lộng quyền, lạm quyền, vi phạm nguyên tắc dân chủ, vi
phạm pháp luật, để hoạt động của cá nhân, cơ quan đó đi vào nền nếp, minh

bạch và hiệu quả; mọi khiếu nại, tố cáo của người dân đều được xem xét giải
quyết theo quy định của pháp luật.
1.1.2.2. Quyền hạn
Để thực hiện trách nhiệm của mình, đại biểu HĐND cấp xã được pháp
luật trao cho những quyền hạn nhất định. Quyền hạn của đại biểu HĐND
được quy định tại các điều 96, 97, 98, 99, 100 Luật tổ chức CQĐP 2015 (sửa
đổi, bổ sung 2019), đó là: quyền chất vấn, quyền kiến nghị, quyền yêu cầu cơ
quan, tổ chức hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm
dứt hành vi vi phạm pháp luật khi đại biểu HĐND phát hiện hành vi vi phạm
pháp luật, quyền yêu cầu cung cấp thông tin, quyền miễn trừ. Về quyền chất
vấn, đại biểu HĐND cấp xã có quyền chất vấn Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch
UBND, Ủy viên UBND cùng cấp. Người bị chất vấn phải trả lời về những
vấn đề mà đại biểu HĐND cấp xã chất vấn. Về quyền kiến nghị, đại biểu
10


HĐND cấp xã có quyền kiến nghị HĐND cấp xã bỏ phiếu tín nhiệm đối với
người giữ chức vụ do HĐND cấp xã bầu, tổ chức phiên họp bất thường và
kiến nghị về những vấn đề khác mà đại biểu thấy cần thiết. Về quyền khi phát
hiện hành vi vi phạm pháp luật, đại biểu HĐND cấp xã yêu cầu cơ quan, tổ
chức hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành
vi vi phạm pháp luật. Về quyền yêu cầu cung cấp thông tin, đại biểu HĐND
cấp xã có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu
liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó. Về
quyền miễn trừ của đại biểu HĐND, không được bắt, giam, giữ, khởi tố đại
biểu HĐND, khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu HĐND nếu không
có sự đồng ý của HĐND hoặc trong thời gian HĐND không họp, không có sự
đồng ý của Thường trực HĐND. Trường hợp đại biểu HĐND bị tạm giữ vì
phạm tội quả tang thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để HĐND hoặc
Thường trực HĐND xem xét, quyết định.

Trong các quyền hạn của đại biểu HĐND, quyền chất vấn quy định tại
Điều 96 và quyền kiến nghị quy định tại Điều 97 được hiến định trong khoản 2
Điều 115 Hiến pháp năm 2013 nên mang tính quyền lực nhà nước. Hai quyền
hạn này có khả năng tác động đến những đối tượng thuộc tầng cao nhất của bộ
máy nhà nước tại địa phương, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống chính trị của
nhân dân địa phương. Quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan thi hành
những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật khi
đại biểu HĐND phát hiện hành vi vi phạm pháp luật khẳng định quyền năng
tác động đến tổ chức, hoạt động của các cơ quan, tổ chức nhằm bảo vệ lợi ích
của nhân dân, của xã hội. Quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp
thông tin, tài liệu liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá
nhân đó là quyền hạn được Luật tổ chức CQĐP 2015 (sửa đổi, bổ sung 2019)
bổ sung so với Luật tổ chức HĐND và UBND 2003. Quyền miễn trừ thực chất
là quyền bất khả xâm phạm của đại biểu, quyền có được sự bảo đảm quan
11


trọng về mặt pháp lý cần thiết khi đại biểu HĐND thực hiện nhiệm vụ, chức
trách của mình xuất phát từ thực tế là trong hoạt động của mình (đặc biệt là
hoạt động giám sát, chất vấn), nếu đại biểu phải đối mặt với khả năng chịu
trách nhiệm hoặc hậu quả pháp lý về quyết định, phát biểu của mình thì họ
không thể phản ánh được một cách đầy đủ các tâm tư, nguyện vọng của người
dân cũng như bảo vệ đến cùng các lợi ích chính đáng của nhân dân, không dám
nêu lên hoặc phản đối những vấn đề có khả năng xâm hại đến lợi ích của cộng
đồng. Để bảo đảm cho việc thực hiện các quyền nêu trên của đại biểu HĐND,
pháp luật cũng quy định cách thức, phương tiện, trình tự, thời hạn thực hiện các
quyền và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức hữu quan phải thi hành.
1.1.2.3.

Tiêu chuẩn


Điều 7 Luật tổ chức CQĐP 2015 (sửa đổi, bổ sung 2019) quy định về
tiêu chuẩn của đại biểu HĐND như sau: "1. Trung thành với Tổ quốc, nhân
dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. 2. Có phẩm chất đạo đức tốt,
cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có
bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện
quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác. 3. Có
trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác
và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu; có điều kiện tham gia các hoạt động
của HĐND. 4. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân,
được nhân dân tín nhiệm". Pháp luật quy định về tiêu chuẩn của đại biểu
HĐND như vậy là để bảo đảm những người được bầu làm đại biểu HĐND có
khả năng và điều kiện hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, đáp ứng được sự tin
cậy của nhân dân địa phương. Ngay từ khi ứng cử, tiêu chuẩn đại biểu HĐND
mà nhân dân “chọn mặt gửi vàng” đã được xác định rõ, đó là người trung
thành Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phấn đấu hết mình cho công cuộc
đổi mới đất nước và xây dựng địa phương, có lập trường tư tưởng vững vàng,
12


tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sức mạnh của nhân dân, nghiêm
chỉnh thực hiện và đấu tranh với mọi sai trái, tham ô, lãng phí, hách dịch, các
tệ nạn xã hội, bảo đảm thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng an ninh, xây dựng chính quyền,… Đó là những người có phẩm chất đạo đức,
gương mẫu, có lối sống trong sạch, lành mạnh, trung thực, chân thành, có tấm
lòng nhân hậu, quan tâm và quan hệ tốt với mọi người, tích cực tham gia các
hoạt động xã hội, có uy tín với nhân dân địa phương. Một tiêu chuẩn không
thể thiếu đối với người đại biểu dân cử là phải có trình độ năng lực, hiểu biết
pháp luật, không ngừng nâng cao trình độ, đủ sức tham gia quyết định các vấn

đề quan trọng của địa phương, có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn: sâu sát,
biết lắng nghe ý kiến của dân, có khả năng tuyên truyền đường lối, nghị quyết
của Đảng, thuyết phục nhân dân thực hiện nghị quyết của HĐND. Mỗi đại
biểu HĐND phấn đấu thực hiện thật tốt lời dạy của Bác Hồ đối với các đại
biểu dân cử: “luôn luôn cố gắng để xứng đáng là những người đày tớ trung
thành của đồng bào, những đại biểu cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, hết
lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội”
[14, tr.567]. Trước yêu cầu đó, để làm tròn trọng trách thật sự là người đại
diện quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, đòi hỏi mỗi vị đại biểu một
mặt phải hiểu biết thực tế, phải tự nâng cao năng lực, trình độ để đáp ứng yêu
cầu, nhiệm vụ, mặt khác, phải nắm vững những chủ trương, nghị quyết của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để tham gia chương trình nghị sự
của kỳ họp, xem xét, quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương.
1.2. Khái niệm, đặc điểm, mục đích hoạt động chất vấn của đại biểu
Hội đồng nhân dân cấp xã
1.2.1. Khái niệm
Chất vấn được hiểu là "hỏi và đề nghị giải thích rõ về điều gì, việc gì".
Chất vấn có thể được dùng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, theo đó người bị chất
13


vấn là người có dữ liệu thông tin hay sự hiểu biết nhất định và do đó có một
nghĩa vụ (tư cách hay trách nhiệm) cung cấp thông tin giải đáp cho vấn đề,
hay nói cách khác là người bị chất vấn được đề nghị, được yêu cầu hay bắt
buộc phải trả lời.
Trong lĩnh vực chính trị, chất vấn được hiểu là hoạt động giám sát đặc
biệt quan trọng, thể hiện quyền lực của cơ quan dân cử và trách nhiệm của các
đại biểu dân cử với cử tri của mình, đồng thời cũng xác định rõ trách nhiệm
của người đứng đầu các cơ quan công quyền.
Quyền chất vấn của đại biểu HĐND được hiến định tại khoản 2 Điều

115 Hiến pháp năm 2013. Trong Luật hoạt động giám sát của QH và HĐND
2015, khoản 7 Điều 2 quy định: “Chất vấn là việc…đại biểu HĐND nêu vấn
đề thuộc trách nhiệm của Chủ tịch UBND, thành viên khác của UBND, Chánh
án TAND, Viện trưởng VKSND, Thủ trưởng cơ quan thuộc UBND cùng cấp
và yêu cầu những người này trả lời về trách nhiệm của mình đối với vấn đề
được nêu” [21]; Điều 84 quy định: "1. Đại biểu HĐND có quyền chất vấn
trực tiếp tại kỳ họp HĐND, phiên họp Thường trực HĐND hoặc gửi chất vấn
bằng văn bản đến người bị chất vấn.... 2. Nội dung chất vấn phải cụ thể, rõ
ràng, có căn cứ và phải liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của
người bị chất vấn. 3. Trình tự, thủ tục chất vấn của đại biểu HĐND tại kỳ họp
HĐND, phiên họp Thường trực HĐND được thực hiện theo quy định tại Điều
60 và Điều 69 của Luật này và Quy chế hoạt động của HĐND, đại biểu
HĐND" [21]. Từ các quy định pháp luật có thể hiểu chất vấn là việc đại biểu
HĐND cấp xã nêu ra và yêu cầu những người đứng đầu các cơ quan nhà
nước ở cấp xã trả lời về trách nhiệm của họ đối với những vi phạm pháp luật,
những biểu hiện yếu kém, trì trệ, không thi hành nghiêm chỉnh, hoặc thi hành
không đến nơi, đến chốn các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của HĐND cấp xã, không thực hiện hoặc
có thái độ xem thường các kiến nghị xác đáng của Thường trực HĐND, biểu
14


hiện tham ô, tham nhũng…xảy ra thuộc lĩnh vực thẩm quyền mà họ có trách
nhiệm quản lý. Qua hoạt động chất vấn, các vấn đề bất cập nêu trên sẽ phải
được quan tâm giải quyết, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích của nhân dân
địa phương, tăng cường nền nếp, sự hoạt động công khai, minh bạch, hiệu lực
và hiệu quả của cơ quan nhà nước, người đứng đầu cơ quan nhà nước, đồng
thời qua đó năng lực, trách nhiệm của những người nắm giữ các cương vị
lãnh đạo các cơ quan nhà nước này ở cấp tỉnh được xem xét đánh giá. Về phía
đại biểu HĐND cấp xã, chất vấn là phương tiện để người đại biểu thực hiện

nhiệm vụ đại diện cho tiếng nói, ý chí và nguyện vọng của nhân dân địa
phương trong việc tham gia quản lý nhà nước và xã hội, là công cụ để đại
biểu HĐND cấp xã giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước ở cấp xã.
Từ các phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về hoạt động chất vấn
của đại biểu HĐND cấp xã như sau: Chất vấn là một hình thức giám sát của đại
biểu HĐND cấp xã, được tổ chức công khai tại kỳ họp hoặc giữa hai kỳ họp
HĐND xã, theo đó đại biểu HĐND xã nêu vấn đề thuộc trách nhiệm của Chủ
tịch UBND xã, thành viên khác của UBND xã và yêu cầu những người này trả
lời nhằm giải đáp, làm rõ trách nhiệm của họ trong quá trình thực thi nhiệm vụ
theo thẩm quyền được phân công.
1.2.2. Đặc điểm chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã
Thứ nhất, đặc điểm về chủ thể chất vấn, người bị chất vấn
Theo các quy định của Luật hoạt động giám sát của QH và HĐND 2015,,
chủ thể của hoạt động chất vấn là đại biểu HĐND cấp xã; người bị chất vấn là
Chủ tịch UBND, Phó chủ tịch UBND, thành viên khác của UBND cùng cấp;
nội dung chất vấn là những vấn đề thuộc về trách nhiệm, quyền hạn của
những người bị chất vấn; thời gian diễn ra chất vấn là tại kỳ họp HĐND hoặc
tại phiên họp Thường trực HĐND trong thời gian giữa hai kỳ họp.
Ngoài quy định quyền chất vấn của cá nhân đại biểu HĐND cấp xã, Luật
hoạt động giám sát của QH và HĐND 2015 còn quy định về hoạt động của
15


các chủ thể khác là HĐND, Thường trực HĐND liên quan, hỗ trợ, tạo điều
kiện cho hoạt động chất vấn của đại biểu HĐND cấp xã, ví dụ theo khoản 3
Điều 87, HĐND thực hiện quyền giám sát thông qua các hoạt động xem xét
trả lời chất vấn của Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND, Ủy viên UBND
cùng cấp; khoản 4 Điều 87 quy định căn cứ vào kết quả giám sát, HĐND cấp
xã có quyền ra nghị quyết về trả lời chất vấn và trách nhiệm của người trả lời
chất vấn khi xét thấy cần thiết; khoản 4 Điều 104 quy định Thường trực

HĐND cấp xã có nhiệm vụ, quyền hạn: Tổng hợp chất vấn của đại biểu HĐND
để báo cáo HĐND; yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân giải trình các vấn đề
liên quan đến nhiệm vụ, xã hội và ngân sách địa phương, khi đó Chủ tịch
HĐND hoặc Quyền Chủ tịch HĐND tổng hợp chất vấn của đại biểu HĐND, ý
kiến, kiến nghị của cử tri để báo cáo với hội nghị của các đại biểu HĐND.
Thứ hai, đặc điểm về phạm vi chất vấn
Phạm vi hoạt động chất vấn không chỉ là giới hạn không gian và thời gian
diễn ra hoạt động chất vấn, hoạt động chất vấn diễn ra tại phiên chất vấn trong
thời gian kỳ họp hoặc giữa hai kỳ họp HĐND. Phạm vi hoạt động chất vấn của
đại biểu HĐND xã có thể được xem xét ở giới hạn về chủ thể, người bị chất vấn,
nội dung, cách thức thực hiện, địa điểm đại biểu HĐND xã thực hiện chất vấn.
Pháp luật không quy định cụ thể lĩnh vực đại biểu dân cử thực hiện chất
vấn, vì vậy có thể hiểu lĩnh vực chất vấn là bất kỳ vấn đề nào, bất kỳ hoạt động
nào thuộc trách nhiệm của những người bị chất vấn mà đại biểu dân cử quan
tâm, chỉ phân biệt theo phân giới hành chính - lãnh thổ là lĩnh vực đó ở phạm vi
quốc gia (đại biểu QH) hay địa phương (tỉnh, huyện, xã là đại biểu HĐND tỉnh,
huyện, xã). Đại biểu HĐND xã là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi
ích của nhân dân trong xã, chính vì vậy hoạt động chất vấn của họ sẽ xoay quanh
toàn bộ những lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội với những nội dung rất cụ
thể, những hiện tượng phát sinh trong đời sống xã hội thường ngày và thông
thường chất vấn về những tồn tại, yếu kém, bất cập ở cấp xã.
16


1.2.3. Mục đích
Mục đích của hoạt động chất vấn của đại biểu dân cử nói chung cũng
như mục đích của hoạt động chất vấn của đại biểu HĐND cấp xã là để làm rõ
trách nhiệm chính trị được thể hiện ở những khía cạnh sau:
Một là, các phiên chất vấn luôn thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội
bởi hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn nhằm mục đích giám sát việc thực

hiện các nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, qua đó
nhận diện những vấn đề bất cập trong đời sống kinh tế - xã hội, xác định rõ
trách nhiệm và phương pháp khắc phục, tháo gỡ để thúc đẩy sự phát triển ở
địa phương. Nói cách khác, các phiên chất vấn thường động chạm đến những
vấn đề nóng, ảnh hưởng sâu sắc, thiết thân đến người dân tại địa phương và
đó là lý do khiến các phiên chất vấn được đông đảo cử tri quan tâm theo dõi.
Ở khía cạnh này, chất vấn nhằm làm rõ trách nhiệm chính trị của cơ quan
quản lý nhà nước và người có thẩm quyền trong các cơ quan đó. Vì vậ y
chất vấn của đại biểu HĐND cấp xã có mục đích là để làm rõ trách
nhiệm của Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND, Ủy viên UBND cùng cấp.
Đối với chất vấn, trước khi nêu vấn đề, đại biểu HĐND cấp xã phải tìm
hiểu kỹ và nắm thông tin về vấn đề mà mình cần chất vấn để làm rõ trách
nhiệm của cá nhân có thẩm quyền đối với vấn đề đó. Chất vấn được quy định
rõ trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác, đối tượng chất vấn cũng
được chỉ ra cụ thể trong một phạm vi nhất định. Nếu chất vấn không có mục
đích làm rõ khuyết điểm, quy kết trách nhiệm, khôi phục sự công bằng, loại bỏ
tiêu cực, ngăn chặn vi phạm pháp luật… trong hoạt động của các cơ quan nhà
nước, thì chất vấn chỉ là hình thức, không còn tác dụng là phương tiện giám sát
của cơ quan quyền lực nhà nước.
Hai là, mục đích khác của chất vấn của đại biểu HĐND cấp xã là kênh
kiểm tra, đánh giá năng lực của Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND, Ủy
viên UBND cùng cấp. Việc sâu sát, nắm vững trách nhiệm được phân công sẽ
17


thể hiện ở sự trả lời lưu loát, rõ ràng, đi thẳng vào vấn đề được hỏi của người
trả lời chất vấn.
Ba là, mặt khác chất vấn của đại biểu HĐND cấp xã còn nhằm cảnh báo
về một vấn đề hay một tình trạng cần được lưu ý giải quyết ở địa phương. Sự
cảnh báo này nhằm nâng cao tính dự đoán và trách nhiệm phải nhìn nhận

trước vấn đề của người quản lý trong phạm vi thẩm quyền quản lý của mình
và để đạt tới đích cuối cùng là bảo đảm cho sự hoạt động đúng đắn, minh
bạch, liên tục của UBND cấp xã trên cơ sở tuân thủ thường xuyên, nghiêm
chỉnh các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định.
Bốn là, chất vấn của đại biểu HĐND cấp xã cũng có mục đích cung cấp
thông tin và tạo cơ hội cho xã hội đánh giá, phê bình UBND cấp xã, Chủ tịch
UBND, Phó Chủ tịch UBND, Ủy viên UBND cùng cấp vì làm hay không làm
điều gì đó, tạo sức ép lên các cơ quan đó để việc hoạt động, giải quyết vấn đề
đang đặt ra được nhanh hơn, hiệu quả hơn, tránh sai sót. Mặc dù Hiến pháp và
pháp luật không quy định đại biểu HĐND nói chung, đại biểu HĐND cấp xã nói
riêng từ hoạt động chất vấn có quyền áp đặt trực tiếp biện pháp xử lý như là
một chế tài đối với người bị chất vấn, tuy nhiên trả lời chất vấn và việc thực
hiện nghị quyết về chất vấn của người bị chất vấn là căn cứ quan trọng để
HĐND đánh giá năng lực, trình độ, trách nhiệm của người bị chất vấn.
1.3. Trình tự, thủ tục, nội dung và hệ quả hoạt động chất vấn của
đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã
1.3.1. Trình tự, thủ tục, nội dung chất vấn
- Hoạt động chất vấn tại kỳ họp:
Theo Điều 60 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân,
“+Trước phiên họp chất vấn, đại biểu HĐND ghi vấn đề chất vấn, người
bị chất vấn vào phiếu chất vấn và gửi đến Thường trực HĐND.
+ Căn cứ vào chương trình kỳ họp, ý kiến, kiến nghị của cử tri, vấn đề xã
hội quan tâm và phiếu chất vấn của đại biểu HĐND, Thường trực HĐND đề
nghị HĐND quyết định nhóm vấn đề chất vấn và người bị chất vấn” [24, tr.42].
18


+ Hoạt động chất vấn tại kỳ họp HĐND được thực hiện theo trình tự
sau đây:
“(1) Đại biểu Hội đồng nhân dân nêu chất vấn, có thể cung cấp thông tin

minh họa bằng hình ảnh, video, vật chứng cụ thể;
(2) Người bị chất vấn phải trả lời trực tiếp, đầy đủ vào vấn đề mà đại
biểu Hội đồng nhân dân đã chất vấn, không được ủy quyền cho người khác trả
lời thay; xác định rõ trách nhiệm, biện pháp và thời hạn khắc phục hạn chế,
bất cập (nếu có)” [24, tr.42].
“(3) Trường hợp đại biểu HĐND không đồng ý với nội dung trả lời chất
vấn thì có quyền chất vấn lại để người bị chất vấn trả lời;
(4) Những người khác có thể được mời tham dự phiên họp và trả lời chất
vấn của đại biểu HĐND về vấn đề thuộc trách nhiệm của mình” [24, tr.42].
Thời gian nêu chất vấn, thời gian trả lời chất vấn được thực hiện theo
quy định tại Quy chế hoạt động của HĐND và đại biểu HĐND.
“+ HĐND cho trả lời chất vấn bằng văn bản trong các trường hợp sau đây:
(1) Chất vấn không thuộc nhóm vấn đề chất vấn tại kỳ họp;
(2) Vấn đề chất vấn cần được điều tra, xác minh;
(3) Chất vấn thuộc nhóm vấn đề chất vấn tại kỳ họp nhưng chưa được trả
lời tại kỳ họp” [24, tr.43].
“Người bị chất vấn phải trực tiếp trả lời bằng văn bản. Văn bản trả lời
chất vấn được gửi đến đại biểu HĐND đã chất vấn, Thường trực HĐND trong
thời hạn 20 ngày kể từ ngày chất vấn.
Sau khi nhận được văn bản trả lời chất vấn, nếu đại biểu HĐND không
đồng ý với nội dung trả lời chất vấn thì có quyền đề nghị HĐND đưa ra thảo
luận tại kỳ họp HĐND hoặc kiến nghị HĐND xem xét trách nhiệm đối với
người bị chất vấn” [24, tr.43].
- HĐND có thể ra nghị quyết về chất vấn. Nội dung nghị quyết theo quy
định tại khoản 5 Điều 15 của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội
đồng nhân dân.
19


“Chậm nhất là 10 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp HĐND, người đã

trả lời chất vấn có trách nhiệm gửi báo cáo về việc thực hiện nghị quyết của
HĐND về chất vấn, các vấn đề đã hứa tại kỳ họp trước đến Thường trực
HĐND để chuyển đến các đại biểu HĐND” [24, tr.43].
- Hoạt động chất vấn giữa 2 kỳ họp:
Theo Điều 69 Luật hoạt động giám sát Quốc hội và Hội đồng nhân dân
quy định chất vấn và xem xét trả lời chất vấn tại phiên họp Thường trực
HĐND trong thời gian giữa hai kỳ họp HĐND như sau:
“+ Trong thời gian giữa hai kỳ họp HĐND, đại biểu HĐND ghi vấn đề
chất vấn, người bị chất vấn vào phiếu chất vấn và gửi đến Thường trực
HĐND cùng cấp. Căn cứ vào chương trình phiên họp, ý kiến, kiến nghị của
cử tri, vấn đề xã hội quan tâm và phiếu chất vấn của đại biểu HĐND, Thường
trực HĐND quyết định nhóm vấn đề chất vấn, người bị chất vấn, thời gian
chất vấn” [24, tr.49].
+ Hoạt động chất vấn tại phiên họp Thường trực HĐND được tiến hành
theo trình tự sau đây:
“(1) Đại biểu HĐND nêu chất vấn, có thể cung cấp thông tin minh họa
bằng hình ảnh, video, vật chứng cụ thể;
(2) Người bị chất vấn phải trả lời trực tiếp, đầy đủ vào vấn đề mà đại
biểu HĐND đã chất vấn, không được ủy quyền cho người khác trả lời thay;
xác định rõ trách nhiệm, biện pháp và thời hạn khắc phục hạn chế, bất cập
(nếu có)” [24, tr.49].
“(3) Trường hợp đại biểu Hội đồng nhân dân không đồng ý với nội dung
trả lời chất vấn thì có quyền chất vấn lại để người bị chất vấn trả lời;
(4) Những người khác có thể được mời tham dự phiên họp và trả lời chất
vấn của đại biểu HĐND về vấn đề thuộc trách nhiệm của mình” [24, tr.49].
Thời gian nêu chất vấn và trả lời chất vấn được thực hiện theo quy định
của quy chế hoạt động của HĐND, đại biểu HĐND.
20



×