I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NG TH XUYấN
THựC HIệN PHáP LUậT Về THUế
Của các DOANH NGHIệP NGOàI QUốC DOANH
TRÊN ĐịA BàN THị Xã SầM SƠN, THANH HóA
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2014
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NG TH XUYấN
THựC HIệN PHáP LUậT Về THUế
Của các DOANH NGHIệP NGOàI QUốC DOANH
TRÊN ĐịA BàN THị Xã SầM SƠN, THANH HóA
Chuyờn ngnh: Lý lun v lch s Nh nc v Phỏp lut
Mó S: 60 38 01 01
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: GS. TSKH. O TR C
H NI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN
Đặng Thị Xuyên
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT THUẾ
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH................6
1.1.
Khái quát về doanh nghiệp ngoài quốc doanh.................................6
1.2.
Pháp luật thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh...............10
1.2.1. Định nghĩa pháp luật thuế...................................................................10
1.2.2. Vai trò của pháp luật thuế................................................................... 10
1.2.3. Hình thức, nội dung của pháp luật thuế đối với doanh nghiệp
ngoài quốc doanh............................................................................... 15
1.3.
Khái niệm thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh..............................................................................19
1.4.
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật thuế của
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh...............................................23
1.4.1. Ý thức pháp luật của các doanh nhân trong doanh nghiệp ngoài
quốc doanh.........................................................................................23
1.4.2. Mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật.........................................24
1.4.3. Hoạt dộng của cơ quan quản lý thuế.................................................. 25
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1...............................................................................28
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI
PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ THUẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC
DOANH TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ SẦM SƠN............................. 29
2.1.
Đặc điểm kinh tế xã hội và tình hình doanh nghiệp ngoài
quốc doanh ở thị xã Sầm Sơn 29
2.1.1. Đặc điểm kinh tế xã hội......................................................................29
2.1.2. Tình hình phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa
bàn Thị xã 32
2.2.
Những kết quả đạt được và những hạn chế trong việc thực
hiện pháp luật về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
36
2.2.1. Kết quả đạt đƣợc trong việc thực hiện pháp luật về thuế đối với
doanh nghiệp ngoài quốc doanh 36
2.2.2. Những hạn chế trong việc thực hiện pháp luật thuế của doanh
nghiệp ngoài quốc doanh 40
2.3.
Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong việc thực hiện
pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên
địa bàn thị xã Sầm Sơn 56
2.4.
Đánh giá chung về công tác quản lý thuế đối với doanh
nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn TX Sầm Sơn
2.5.
60
Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật thuế của
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Thị Xã Sầm
Sơn hiện nay
66
2.5.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế....................................................66
2.5.2. Nâng cao ý thức pháp luật của doanh nhân........................................69
2.5.3. Các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về
quản lý thuế các DNNQD của cơ quan thuế 71
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2...............................................................................84
KẾT LUẬN....................................................................................................85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................87
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
T
1
2
8
DNNQD:Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
NSNN:Ngân sách nhà nƣớc
9
10
SXKD:Sản xuất kinh doanh
11
TLTC:Tiền lƣơng tiền công
12
TNDN:Thu nhập doanh nghiệp
13
TNHH:Trách nhiệm hữu hạn
` NVL:
3
G
4
K
5
N
6
N
7
N
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng
Bảng 2.1:
Bảng 2.2:
Bảng 2.3:
Bảng 2.4:
Bảng 2.5:
Bảng 2.6:
Bảng 2.7:
Bảng 2.8:
Bảng 2.9:
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các cá nhân và pháp nhân có nghĩa
vụ phải thực hiện đối với Nhà nƣớc, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp
luật do Nhà nƣớc ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực
tiếp cho đối tƣợng nộp thuế. Thuế không phải là một hiện tƣợng tự nhiên mà
là một hiện tƣợng xã hội do chính con ngƣời định ra và nó gắn liền với phạm
trù Nhà nƣớc và pháp luật [28, tr.2].
Nắm bắt kịp thời chính sách pháp luật thuế của Nhà nƣớc là sự quan
tâm hàng đầu của doanh nghiệp. Bởi mỗi một sắc thuế đƣợc ban hành; mỗi
một sự đổi thay hay bổ sung, sửa đổi là một lần doanh nghiệp phải cập nhật,
nắm bắt và triển khai thực hiện. Mục đích cuối cùng của doanh nghiệp là hoạt
động sản xuất kinh doanh tuân thủ đúng luật, đặc biệt là chấp hành tốt chính
sách, pháp luật thuế của nhà nƣớc, tránh tối đa các sai sót trong kê khai, nộp
thuế.
Ở
Việt Nam hiện nay các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh
phát triển một cách mạnh mẽ không những về số lƣợng mà còn cả về chất
lƣợng với quy mô kinh doanh ngày càng lớn, không những mở rộng thị
trƣờng trong nƣớc mà còn vƣơn ra thị trƣờng thế giới. Những doanh nghiệp
này đã góp phần quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của đất nƣớc, đóng
góp một phần lớn vào Ngân sách nhà nƣớc qua việc thực hiện nghĩa vụ nộp
thuế. Thuế là một khoản đóng góp mang tính bắt buộc, cƣỡng chế, pháp lý
cao, là nguồn thu chủ yếu cho ngân sách Nhà nƣớc, trong đó, khoản thuế do
khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng tƣơng đối cao. Thời gian
qua, việc thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã
đạt đƣợc nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp loại này
chƣa thực hiện tốt chế độ sổ sách kế toán, chứng từ hóa đơn; hiện tƣợng khai
1
man thuế, trốn thuế, lậu thuế còn nhiều, từ đó tạo ra sự bất bình đẳng và sự
cạnh tranh không lành mạnh giữa các thành phần kinh tế.
Việc thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại
Sầm Sơn cũng không nằm ngoài thực trạng đó. Vì thế, việc nghiên cứu thực
trạng thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa
bàn thị xã Sầm Sơn thời gian qua, chỉ ra những kết quả đạt đƣợc, hạn chế của
hoạt động này, tìm ra những giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật trong lĩnh vực này nhằm tăng thêm nguồn thu cho ngân sách Nhà nƣớc
là việc làm cần thiết. Đó cũng là lý do để tôi chọn và nghiên cứu đề tài:
“Thực hiện pháp luật về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên
địa bàn thị xã Sầm Sơn, Thanh Hóa” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến đề tài
Thực hiện pháp luật là một nội dung quan trọng trong hệ thống lý luận
chung về nhà nƣớc và pháp luật. Trong điều kiện xây dựng Nhà nƣớc pháp
quyền, đó là biện pháp cơ bản để tăng cƣờng pháp chế xã hội chủ nghĩa, củng
cố trật tự pháp luật. Vấn đề thực hiện pháp luật đƣợc đặt ra nhƣ một nhiệm
vụ cấp bách của các cơ quan nhà nƣớc, các tổ chức xã hội và mọi công dân.
Thực hiện pháp luật về thuế không nằm ngoài mục tiêu góp phần xây dựng
nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã tham khảo một số công trình
nghiên cứu về thực hiện pháp luật và về pháp luật thuế nhƣ:
Đề tài "Thực hiện và áp dụng pháp luật" của PGS-TS Nguyễn Minh
Đoan – Trƣờng Đại học Luật Hà Nội đi sâu nghiên cứu từng vấn đề về thực
hiện pháp luật, áp dụng pháp luật, quy trình thực hiện và áp dụng pháp luật,
những bảo đảm thực hiện pháp luật. Ngoài ra còn đề cập đến vấn đề áp dụng
pháp luật tƣơng tự, giải thích pháp luật và hiệu quả thực hiện pháp luật tại
Việt Nam.
2
Đề tài “Pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp và thực tiễn trên địa
bàn Hà Nội” của tác giả Ngô Thị Cẩm Lệ, Luận văn làm rõ các khái niệm,
đặc điểm, vai trò của thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN), trình bày hiện
trạng các quy định của pháp luật thuế TNDN và phân tích, đánh giá các ƣu
điểm, bất cập của pháp luật thuế TNDN hiện hành. Nghiên cứu thực trạng áp
dụng pháp luật thuế TNDN trên địa bàn Hà Nội, chỉ ra những bất cập trong
quá trình áp dụng các quy định của pháp luật thuế TNDN trên địa bàn Hà Nội.
Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế TNDN
hiện nay và các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thuế
TNDN trên địa bàn Hà Nội.
Đề tài “Tăng cường quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh tại Chi cục thuế thành phố Lạng Sơn” của tác giả Bùi Minh Bằng
Đề tài “Nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh tại Chi cục Thuế thành phố Thanh Hoá” của tác giả Đoàn Văn Hào.
Với 2 đề tài trên tác giả đề tài đã đi sâu nghiên cứu thực trạng đối với
DNNQD trên địa bàn, đồng thời đề xuất các giải pháp từ vi mô đến vĩ mô, từ
công tác quản lý thu thuế của Chi cục Thuế đến hành lang pháp lý của Quốc
Hội, Chính phủ, Bộ Tài chính... khi ban hành các văn bản quy phạm pháp
Luật về thuế và các văn bản dƣới Luật. Tuy nhiên tác giả chƣa đề cập giải
pháp cụ thể để đẩy mạnh công tác kê khai thuế qua mạng Internet và nộp thuế
qua hệ thống Ngân hàng để cải cách thủ tục hành chính, tiết kiệm chi chí và
nhân lực cho NNT nhiều hơn nữa.
Dựa trên kết quả nghiên cứu của bản thân có thể khẳng định rằng chƣa
có công trình nào đi sâu nghiên cứu về cơ sở lý luận cũng nhƣ thực trạng của
việc thực hiện pháp luật về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhƣ
công trình này.
3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này để tìm ra những ƣu điểm, hạn chế trong quá
trình thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Sầm
Sơn, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật trong lĩnh vực này ở địa phƣơng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận
văn đƣợc xác định nhƣ sau:
-
Nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật
thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
-
Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về thuế của các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh trên địa bàn thị xã Sầm Sơn, Thanh Hóa, tìm ra nguyên
nhân đƣa đến thực trạng đó.
-
Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Thị Xã
Sầm Sơn trong thời gian tới.
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là pháp luật về thuế của các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn TX Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Tập trung nghiên cứu, phân tích thực trạng pháp luật về thuế của các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn TX Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Từ đó kiến nghị đƣa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả các
chính sách pháp luật thuế đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế trên địa bàn.
+ Phạm vi về không gian
Thị xã Sầm Sơn – Thanh Hóa
+ Phạm vi về thời gian
4
Đề tài sử dụng thông tin đƣợc công bố trên các tài liệu, báo cáo,...
trong các năm từ (2010- 2013).
5.
Phương pháp nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục tiêu và hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài,
luận văn đã quán triệt sâu sắc phƣơng pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin,
tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, đƣờng lối chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam
để nghiên cứu, phân tích các quy luật, chính sách kinh tế - xã hội của đất
nƣớc. Luận văn còn sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể sau:
Phƣơng pháp phân tích để phân tích các quan điểm, các khái
niệm,
các quy định pháp luật thuế;
-
Phƣơng pháp tổng hợp trong quá trình phân tích để đƣa ra các quan
điểm, các nhận xét có giá trị thực tiễn;
-
Phƣơng pháp biện chứng và duy vật lịch sử nhằm tìm ra những quy
luật hình thành, phát triển quan điểm về thuế, từ đó dự đoán xu hƣớng phát
triển hoạt động này trong tƣơng lai để đƣa ra giải pháp hoàn thiện các văn
bản quy phạm pháp luật có liên quan, đảm bảo các điều kiện cần và đủ cho
việc thực hiện pháp luật về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên
địa bàn thị xã Sầm Sơn, Thanh Hóa.
6. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo,
phụ lục biểu đồ, thì nội dung luận văn gồm có 3 chƣơng:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật thuế của các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Chương 2: Thực trạng thực hiện và giải pháp nâng cao hiệu quả thực
hiện pháp luật của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
trên địa bàn thị xã Sầm Sơn.
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT THUẾ CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
1.1. Khái quát về doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Trong nền kinh tế nhiều thành phần, mỗi đơn vị kinh doanh là một tổ
chức của những ngƣời sản xuất hàng hoá thuộc các thành phần kinh tế khác
nhau. Họ đầu tƣ vốn, thuê mƣớn và sử dụng lao động để sản xuất một loại
hàng hoá hay thực hiện một loại dịch vụ nhất định qua đó tìm kiếm lợi nhuận.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất
và trao đổi hàng hoá chủ yếu là các doanh nghiệp. Hoạt động kinh doanh bao
gồm hoạt động kinh doanh tƣ nhân và hoạt động kinh doanh của Nhà nƣớc.
Việc phân biệt hoạt động kinh doanh tƣ nhân với hoạt động kinh doanh của
Nhà nƣớc căn cứ vào việc ai là ngƣời tổ chức và chỉ đạo các hoạt động này.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là tổ chức kinh tế do cá nhân, tổ chức
đầu tƣ vốn, thành lập và tổ chức quản lý theo quy định của pháp luật nhằm
mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Ở
hầu hết các nƣớc trên thế giới hiện nay, các hình thức sở hữu thƣờng
đan xen nhau. Có nhiều doanh nghiệp trong đó vừa có yếu tố tƣ nhân vừa có
sự tham gia của Nhà nƣớc.
Ở
Việt Nam trƣớc đây, tƣ liệu sản xuất của một cơ sở sản xuất kinh
doanh nào đó thƣờng thuộc sở hữu toàn dân hoặc tập thể. Hội nghị trung
ƣơng VI - Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam đã xem xét lại các
quan điểm cũ và khẳng định lại rằng: trong hoạt động sản xuất - kinh doanh,
các hình thức sở hữu về tƣ liệu sản xuất không ngăn cách nhau mà có nhiều
loại hình hỗn hợp, đan kết với nhau. Các doanh nghiệp quốc doanh có thể huy
động vốn cổ phần của các cá nhân và tổ chức khác. Còn các cơ sở sản xuất -
6
kinh doanh tƣ nhân cũng có thể liên kết với các doanh nghiệp quốc doanh
nhằm mở rộng sản xuất. Do đó, khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh
không chỉ bao gồm các cơ sở sản xuất - kinh doanh hoàn toàn thuộc sở hữu tƣ
nhân mà bao gồm cả các cơ sở sản xuất - kinh doanh có phần vốn góp của
Nhà nƣớc nhƣng hoạt động của chúng lại do một hay một nhóm tƣ nhân tổ
chức và chỉ đạo.
Tóm lại, doanh nghiệp ngoài quốc doanh là doanh nghiệp mà chủ sở
hữu không phải là Nhà nƣớc, bao gồm các doanh nghiệp do tƣ nhân và các tổ
chức ngoài Nhà nƣớc bỏ vốn thành lập và tiến hành hoạt động sản xuất, kinh
doanh.
Theo Luật Doanh nghiệp đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khoá X kỳ họp thứ 5 thông qua thì doanh nghiệp NQD hiện
nay của nƣớc ta gồm: Công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp doanh,
doanh nghiệp tƣ nhân.
DN ngoài quốc doanh ra đời và tồn tại trong nền kinh tế quốc dân đã
đem lại rất nhiều lợi ích kinh tế xã hội trong mỗi quốc gia. DN loại này phát
triển góp phần làm tăng của cải vật chất cho xã hội, thúc đẩy tăng trƣởng kinh
tế; góp phần giải quyết công ăn việc làm cho ngƣời lao động; tạo cho ngân
sách có nguồn thu ổn định và ngày càng tăng; tăng vốn đầu tƣ cho xã hội...
Các doanh nghiệp đã thực sự trở thành một động lực mạnh mẽ cho sự phát
triển kinh tế – xã hội ở nƣớc ta. Hàng năm, các DN ngoài quốc doanh đã
đóng góp nguồn thu lớn cho ngân sách, góp phần thúc đẩy tăng trƣởng kinh
tế. DN ngoài quốc doanh đã tạo việc làm và góp phần chuyển dịch cơ cấu lao
động. Khu vực DN ngoài quốc doanh đóng góp rất lớn trong việc thu hút
nguồn vốn đầu tƣ xã hội. Vốn đầu tƣ vào các DN ngoài quốc doanh đang trở
thành nguồn vốn đầu tƣ chủ yếu đối với sự phát triển kinh tế ở nhiều địa
phƣơng. Đây là lĩnh vực dễ tạo ra công ăn việc làm cho ngƣời lao động, linh
hoạt trong thành lập và tổ chức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
7
Các đặc điểm cơ bản của DNNQD:
Thứ nhất, trong doanh nghiệp NQD hiệu quả sản xuất gắn liền với
quyền lợi cá nhân ngƣời sản xuất. Mục tiêu lớn nhất đối với doanh nghiệp
NQD là lợi nhuận. Vì vậy, doanh nghiệp rất nhạy bén trong tìm hiểu đầu tƣ và
có thể sẵn sàng bằng bất cứ giá nào lao vào đầu tƣ để kiếm đƣợc thật nhiều
lợi nhuận, thông qua những phƣơng án kinh doanh táo bạo và mạo hiểm. Đôi
khi để đạt đƣợc mục đích họ có thể xem thƣờng pháp luật, không ít các
doanh nghiệp NQD kinh doanh trái phép, không kê khai nộp thuế, trốn thuế,
lợi dụng hoá đơn chứng từ xin hoàn thuế… gây hậu quả xấu cho xã hội. Đặc
điểm này cho thấy, công tác quản lý thuế phải đặc biệt chú trọng đến doanh
nghiệp NQD, thậm chí phải chú trọng quản lý doanh nghiệp NQD hơn so với
các doanh nghiệp nhà nƣớc.
Thứ hai, số lƣợng đối tƣợng kinh doanh nhiều, kinh doanh ở tất cả các
lĩnh vực; quy mô kinh doanh đa dạng, có thể có quy mô lớn, quy mô vừa và
quy mô nhỏ nhƣng phổ biến là quy mô vừa và nhỏ; một số doanh nghiệp hoạt
động ở lĩnh vực sản xuất do trình độ công nghệ lạc hậu nên năng suất lao
động thấp… Đối tƣợng kinh doanh vừa nhiều lại trải trên diện rộng ở khắp
các địa phƣơng trong cả nƣớc làm cho việc quản lý đối tƣợng nộp thuế thêm
phức tạp.
Thứ ba, trong doanh nghiệp NQD ngƣời lao động có trình độ văn hoá đa
dạng, tự do dẫn đến trình độ quản lý, trình độ công nghệ thấp. Trong số những
ngƣời lao động trong các doanh nghiệp NQD có cả những ngƣời già, cán bộ
công nhân viên nghỉ hƣu, nghỉ mất sức hoặc không có việc làm… Do đó, việc
tuyên truyền giải thích chính sách gặp nhiều vần đề khó khăn, công tác quản lý
có nhiều trở ngại do hạn chế về khả năng ngoại ngữ, thiếu thông tin về thị
trƣờng… Vì vậy, khó ứng phó đƣợc với tác động của thị trƣờng bên ngoài. Đặc
điểm này cho thấy, trong công tác quản lý thuế thu nhập doanh
8
nghiệp đối với doanh nghiệp NQD cần có những biện pháp tuyên truyền phù
hợp và các hình thức hỗ trợ đặc biệt để doanh nghiệp NQD có điều kiện thuận
lợi tuân thủ pháp luật.
Thứ tư, một bộ phận không nhỏ các doanh nghiệp NQD có ý thức chấp
hành pháp luật kém. Tình trạng kinh doanh không có giấy phép hay vi phạm
điều lệ đăng ký kinh doanh diễn ra tƣơng đối phổ biến. Bên cạnh đó, nhiều
doanh nghiệp NQD không đăng ký thuế, nhiều doanh nghiệp thành lập nhƣng
không hoạt động, còn có tình trạng lập sổ sách kế toán, hoá đơn chứng từ
không đúng thực tế nhằm mục đích trốn thuế diễn ra tƣơng đối phổ biến. Đặc
điểm này cho thấy, trong công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với
doanh nghiệp NQD phải vừa chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến pháp
luật, vừa nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm minh
các hành vi vi phạm pháp luật.
Thứ năm, doanh nghiệp NQD có mô hình tổ chức quản lý, kinh doanh
gọn nhẹ, năng động và nhạy bén, dễ dàng thích ứng với sự thay đổi của môi
trƣờng kinh doanh và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Đồng thời, số lƣợng
lao động trong các doanh nghiệp ít và thƣờng đảm nhận chức vụ theo kiểu đa
năng giúp cho chi phí nhân công thấp, tạo lợi thế cạnh tranh về giá và sản
phẩm cung cấp cho thị trƣờng trong nƣớc. Nhƣng do quy mô nhỏ nên khó
cạnh tranh đƣợc trên thị trƣờng quốc tế. Đặc điểm này cho thấy, trong công
tác quản lý thuế nói chung và quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng,
phải tạo những điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp NQD thực hiện nghĩa vụ
thuế và phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh. Hoạt động quản lý thuế
phải chặt chẽ nhƣng không cản trở hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
phải tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
9
1.2. Pháp luật thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
1.2.1. Định nghĩa pháp luật thuế
Nghiên cứu quá trình hình thành pháp luật thuế ở Việt Nam cho thấy
pháp luật thuế ra đời rất sớm. Nhà nƣớc với tƣ cách là chủ thể quyền lực, sử
dụng công cụ riêng là pháp luật để tập trung của cải xã hội mà không phụ
thuộc vào ý chí của đối tƣợng nắm giữ của cải đó. Điều này cũng giúp cho
việc phân biệt giữa luật thuế với luật ngân sách nhà nƣớc mặc dù giữa luật
thuế và luật ngân sách nhà nƣớc có mối quan hệ nội tại. Quan hệ thu, nộp
thuế giữa nhà nƣớc và dân cƣ phải đƣợc thực hiện dựa trên căn cứ pháp lý
nhất định, đó chính là pháp luật thuế.
Thuế là khoản đóng góp mang tính chất bắt buộc để mọi ngƣời dân và
mọi tổ chức kinh tế thực hiện, nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của bộ máy
nhà nƣớc. Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại sản phẩm do các tổ
chức và ngƣời dân tạo ra, nhằm hình thành quỹ tiền tệ tập trung để đáp ứng
nhu cầu chi tiêu của nhà nƣớc [28].
Trên cơ sở quan niệm về pháp luật có thể hiểu pháp luật thuế đối với
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều
chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế giữa cơ quan
nhà nƣớc có thẩm quyền và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhằm hình
thành nguồn thu ngân sách nhà nƣớc để thực hiện các mục tiêu xác định
trƣớc [34]. Quan hệ pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
chính là quan hệ thu, nộp thuế giữa Nhà nƣớc và các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh dựa trên những căn cứ pháp lý nhất định.
1.2.2. Vai trò của pháp luật thuế
Vai trò của pháp luật thuế ở nƣớc ta hiện nay thể hiện ở những điểm sau:
-
Pháp luật thuế là công cụ góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các
thành phần kinh tế và công bằng xã hội.
10
Hệ thống pháp luật thuế đƣợc áp dụng thống nhất chung cho các ngành
nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cƣ nhằm đảm bảo sự bình đẳng
và công bằng xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi cá nhân và pháp
nhân. Sự bình đẳng và công bằng đƣợc thể hiện thông qua chính sách động
viên giống nhau giữa các đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có
những điều kiện hoạt động giống nhau, đảm bảo sự bình đẳng và công bằng.
Vai trò điều tiết thu nhập của pháp luật thuế thể hiện ở sự tác động của pháp
luật thuế đối với các quan hệ phân phối và sử dụng thu nhập trong xã hội. Sự
vận động của nền kinh tế theo cơ chế thị trƣờng đòi hỏi Nhà nƣớc phải sử
dụng đồng bộ nhiều công cụ khác nhau để khắc phục sự mất cân đối về mặt
xã hội trong đó có mất cân đối về thu nhập. Nhà nƣớc sử dụng pháp luật thuế
làm công cụ để điều hòa vĩ mô thu nhập trong xã hội. Sự điều tiết này thể hiện
ở chỗ thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nƣớc thực hiện việc
điều tiết thu nhập của các đối tƣợng nộp thuế và các thành viên trong xã hội.
Sự thay đổi của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế trong hệ thống thuế, về
thuế suất... đều có tác động đến thu nhập và sử dụng thu nhập trong xã hội.
Hiện nay, xu hƣớng chung của các quốc gia là xây dựng các quy phạm pháp
luật thuế theo hƣớng hội nhập quốc tế, đơn giản hóa cơ cấu hệ thống thuế và
thuế suất... Việc xây dựng các quy phạm đó không làm triệt tiêu vai trò của
pháp luật thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nƣớc trong điều kiện nền
kinh tế thị trƣờng.
Pháp luật thuế tạo cơ sở pháp lý quan trọng và ổn định cho
nguồn thu
đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Cũng nhƣ pháp luật nói chung, pháp luật thuế có vai trò điều chỉnh các
quan hệ xã hội. Mục đích chủ yếu và quan trọng nhất của sự điều chỉnh quan
hệ pháp luật thu – nộp thuế là nhằm tạo lập quỹ ngân sách nhà nƣớc. Nhà
nƣớc ban hành pháp luật thuế và ấn định các loại thuế áp dụng đối với các
11
pháp nhân và cá nhân trong xã hội. Việc các chủ thể nộp thuế - thực hiện
nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật thuế đã tạo ra nguồn tài chính
quan trọng, chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu ngân sách Nhà nƣớc.
Theo kết quả nghiên cứu về lịch sử tồn tại và phát triển của thuế qua các thời
kỳ, ở các quốc gia đã cho thấy: thu từ thuế chiếm phần lớn tổng thu ngân sách
Nhà nƣớc, thuế luôn luôn là quốc sách của tất cả các nhà nƣớc. Ở Việt Nam,
từ những năm 1990 trở lại đây, nguồn thu từ thuế đáp ứng phần lớn các khoản
chi tiêu ngân sách Nhà nƣớc. Các luật thuế đƣợc ban hành đều xác nhận
“động viên một phần thu nhập vào ngân sách Nhà nƣớc” nhƣ một lý do cơ
bản. Khoản thu từ thuế chiếm khoảng 90% tổng thu ngân sách Nhà nƣớc
(theo Chiến lƣợc cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2001 – 2010). Điều này lý
giải cơ cấu cân đối ngân sách Nhà nƣớc đƣợc pháp luật ghi nhận. Điều 8 Luật
Ngân sách Nhà nƣớc quy định rõ “Ngân sách Nhà nước được cân đối theo
nguyên tắc tổng thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên
và góp phần tích lũy ngày càng cao vào đầu tư phát triển” [34].
Chính vì những lý do trên, bất kì quốc gia nào cũng cần phải có và
mong muốn có đƣợc hệ thống pháp luật thuế đầy đủ với tƣ cách là căn cứ
pháp lý vững chắc để tạo nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nƣớc. Mọi
thay đổi về cơ cấu hệ thống luật thuế, từng nội dung luật thuế đều ảnh hƣởng
trực tiếp tới kết quả thu ngân sách nhà nƣớc từ thuế.
-
Pháp luật thuế được sử dụng như một công cụ điều tiết nền kinh tế, thực
hiện đường lối, chính sách kinh tế trong một thời kì nhất định của đất nước
Ngoài việc huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nƣớc, pháp luật
thuế còn có vai trò quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế.
Hiến pháp năm 2013 khẳng định Nhà nƣớc quản lý xã hội bằng Hiến pháp và
pháp luật. Là một bộ phận của hệ thống pháp luật Việt Nam, pháp luật thuế
đóng vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nƣớc. Thông qua việc
12
ban hành và thực hiện pháp luật thuế, Nhà nƣớc thể chế hóa và thực hiện
chính sách điều tiết đối với nền kinh tế, điều tiết thu nhập và tiêu dùng xã hội.
Thông qua các quy định của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế, phạm vi
đối tƣợng nộp thuế, thuế suất, miễn giảm thuế…, Nhà nƣớc chủ động phát
huy vai trò điều tiết của pháp luật thuế đối với nền kinh tế. Vai trò này của
pháp luật thuế đƣợc thể hiện ở chỗ pháp luật thuế là công cụ tác động đến tƣ
duy đầu tƣ, hành vi đầu tƣ của các chủ thể kinh doanh, hành vi tiêu dùng của
các thành viên trong xã hội. Dựa vào công cụ thuế, Nhà nƣớc có thể thúc đẩy
hoặc hạn chế việc đầu tƣ, tiêu dùng. Nhà nƣớc, bằng pháp luật có khả năng
quản lý, điều tiết tới mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội. Bằng hệ thống pháp
luật thuế, nhà nƣớc thể hiện ý chí của mình đối với đƣờng lối phát triển kinh
tế một cách gián tiếp, thông qua đó thực hiện công bằng xã hội. Trong nền
kinh tế thị trƣờng, các tổ chức, cá nhân có thể tồn tại và vận động theo nhu
cầu và lợi ích của chính họ, điều này có thể tổn thƣơng đến trật tự xã hội cũng
nhƣ định hƣớng của nhà nƣớc trong từng giai đoạn ở mỗi quốc gia. Giải
quyết vấn đề này, pháp luật thuế có thể làm thay đổi hoặc can thiệp gián tiếp
vào hoạt động, vào quyết định đầu tƣ của các chủ thể nhằm đạt đƣợc mục
tiêu nhất định của nhà nƣớc. Thông qua hệ thống pháp luật thuế, nhà nƣớc có
thể thay đổi cơ cấu đầu tƣ, cơ cấu ngành kinh tế mà không cần can thiệp hành
chính. Để thực hiện cơ cấu đầu tƣ định trƣớc, pháp luật thuế có những quy
định cụ thể khác nhau giữa nghĩa vụ thuế của đối tƣợng ƣu tiên và đối tƣợng
bị hạn chế. Chính điều này sẽ làm ảnh hƣởng đến cơ hội tìm kiếm thu nhập
của đối tƣợng đầu tƣ, qua đó có thể làm thay đổi hƣớng chu chuyển vốn từ
khu vực đầu tƣ này sang khu vực đầu tƣ khác. Pháp luật thuế các quốc gia,
trong đó có Việt Nam đều phản ánh rõ vai trò nêu trên. Chẳng hạn, việc quy
định đánh thuế hay không đánh thuế, mức thuế suất khác nhau đối với từng
ngành nghề, các mặt hàng hay các loại thu
13
nhập đều có thể tác động đến các ngành nghề, qua đó đảm bảo sự phát triển
cân đối ngành nghề trong nền kinh tế.
Hệ thống pháp luật thuế cũng có khả năng định hƣớng chi tiêu xã hội,
điều chỉnh thu nhập trong những trƣờng hợp cần thiết. Việc tiêu dùng xã hội,
ở mỗi quốc gia có những định hƣớng khác nhau tùy theo điều kiện thực tế.
Pháp luật thuế Việt Nam ghi nhận rõ sự hạn chế chi tiêu của các đối tƣợng đối
với hàng hóa, dịch vụ chƣa thực sự phù hợp với giai đoạn hiện tại, trong khi
đó lại khuyến khích, tạo cơ hội tối đa cho mọi đối tƣợng có thể tiếp cận đối
với những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu của đời sống xã hội. Bên cạnh những
vai trò trên, pháp luật thuế còn đƣợc các nhà nƣớc đƣơng đại sử dụng nhƣ
một công cụ thực hiện các chính sách xã hội, điều tiết thu nhập của các chủ
thể trong xã hội, góp phần bảo đảm công bằng xã hội.
-
Pháp luật thuế có thể được nhà nước sử dụng như là công cụ để kiểm
tra gián tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh
Để thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ nộp thuế, các đối tƣợng nộp thuế
buộc phải quan tâm và tuân thủ những quy định gắn với chế độ chứng từ hóa
đơn, nội dung kinh doanh, quy mô kinh doanh, hình thức kinh doanh, cơ cấu
tổ chức… Điều đó cũng có nghĩa bằng việc quy định những vấn đề liên quan
đến nghĩa vụ thuế, nhà nƣớc gián tiếp quản lý nền kinh tế, trên cơ sở đó, hệ
thống pháp luật đƣợc ban hành, sửa đổi, bổ sung phù hợp với định hƣớng
trong từng giai đoạn ở tầm vĩ mô cũng nhƣ hỗ trợ phù hợp cho các đối tƣợng
nộp thuế ở tầm vi mô. Mặt khác, cũng thông qua việc kiểm tra việc tuân thủ
pháp luật thuế, các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền có khả năng phát hiện và
xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật thuế nói riêng và vi phạm
trong quá trình hoạt động gắn với tƣ cách của đối tƣợng nộp thuế nói chung.
Tóm lại, pháp luật thuế có ý nghĩa như sau:
Pháp luật thuế là công cụ góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các
thành phần kinh tế, điều tiết thu nhập và thực hiện công bằng xã hội.
14
Thuế điều tiết thu nhập một cách hợp lý dựa trên thu nhập: Các luật
thuế đƣợc ban hành đều xác nhận “động viên một phần thu nhập vào ngân
sách nhà nƣớc” nhƣ một lý do cơ bản để ban hành sắc thuế đó.
Nhà nƣớc đánh thuế cao đối với mặt hàng cần hạn chế tiêu dùng và
đánh thuế thấp đối với mặt hàng thiết yếu, khuyến khích tiêu dùng.
Hệ thống pháp luật thuế mới đƣợc áp dụng thống nhất chung cho các
ngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cƣ nhằm đảm bảo sự
bình đẳng và công bằng xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi thế nhân
và pháp nhân.
1.2.3. Hình thức, nội dung của pháp luật thuế đối với doanh nghiệp
ngoài quốc doanh
Pháp luật thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh đƣợc thể hiện
trong một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định việc thực hiện
nghĩa vụ về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đối với Nhà nƣớc,
đáng chú ý là các đạo luật nhƣ Luật thuế GTGT năm 2008, Luật thuế TNDN
năm 2008, Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007, Luật thuế sử dụng đất phi
nông nghiệp 2010...
Nhằm bao quát mọi đối tƣợng phải thu thuế, đảm bảo tính công bằng
trong động viên điều tiết tiền thuế và đáp ứng yêu cầu thu của ngân sách, nội
dung pháp luật thuế hiện nay ở nƣớc ta bao gồm quy định về các sắc thuế chủ
yếu là thuế GTGT, thuế TNDN, thuế thu nhập cá nhân, thuế TTĐB, thuế
XNK, thuế tài nguyên, thuế nhà đất, thuế môn bài, thuế sử dụng đất phi nông
nghiệp... Mỗi sắc thuế có chức năng, tác dụng, đối tƣợng nộp khác nhau
nhƣng có mối liên hệ chặt chẽ tác động lẫn nhau để phát huy tác dụng toàn
diện của hệ thống thuế.
Nội dung pháp luật thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
bao gồm quy định về các vấn đề sau:
15
-
Các quy định về đối tƣợng nộp thuế xác định rõ các chủ thể có nghĩa
vụ phải nộp thuế cho Nhà nƣớc.
-
Các quy định về nguyên tắc thu, nộp thuế bao gồm quy định về quyền
và nghĩa vụ của đối tƣợng nộp thuế; trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan thu
thuế.
-
Các quy định về căn cứ tính thuế bao gồm các quy định về đối tƣợng
tính thuế, thuế suất, số lƣợng hàng hoá, giá tính thuế...
-
Các quy định về chế độ kê khai, nộp thuế, thu thuế bao gồm quy định
về các loại tài liệu, sổ sách kế toán, hóa đơn chứng từ liên quan đến việc tính
và nộp thuế mà đối tƣợng nộp thuế phải kê khai và cung cấp cho cơ quan thu
thuế. Tùy thuộc vào yêu cầu của việc tính thuế đối với từng loại thuế mà Luật
thuế và các văn bản pháp luật thuế có liên quan quy định nội dung pháp lý về
nghĩa vụ kê khai của đối tƣợng nộp thuế.
-
Các quy định về chế độ thu, nộp thuế bao gồm các quy định về quyền,
nghĩa vụ của đối tƣợng nộp thuế và cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền trong
công tác thu nộp thuế và phƣơng thức thu nộp thuế.
-
Các quy định về chế độ miễn, giảm thuế; về việc khen thƣởng và xử
lý vi phạm trong việc thực hiện pháp thuế.
Ngoài ra, còn có các quy định về một số khoản thu mang tính chất lệ
phí, nhằm vừa động viên sự đóng góp cho NSNN vừa mang tính chất phục vụ
cho ngƣời nộp lệ phí thực hiện một số thủ tục hành chính.
-
Một số sắc thuế chủ yếu đối với kinh tế ngoài quốc doanh
Nhằm bao quát mọi đối tƣợng phải thu thuế, đảm bảo tính công bằng
trong động viên điều tiết tiền thuế và đáp ứng yêu cầu thu của ngân sách, hệ
thống thuế hiện nay ở nƣớc ta bao gồm các sắc thuế sau:
Thuế GTGT; Thuế TTĐB; Thuế XNK; Thuế tài nguyên; Thuế TNDN;
Thuế thu nhập cá nhân; Thuế sử dụng đất nông nghiệp; Thuế phi nông
16
nghiệp; Thuế tiêu thụ đặc biệt, Thuế tài nguyên, Thuế bảo vệ môi trƣờng,
Thuế môn bài.
Mỗi sắc thuế có chức năng, tác dụng, đối tƣợng nộp khác nhau nhƣng
có mối liên hệ chặt chẽ tác động lẫn nhau; giữa thuế trực thu và thuế gián thu
để phát huy tác dụng toàn diện của hệ thống thuế.
* Các sắc thuế doanh nghiệp phải thực hiện:
-
Thuế Giá trị gia tăng: Là một loại thuế tiêu dùng, tính trên phần giá trị
tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh ở từng khâu trong quá trình sản
xuất, lƣu thông đến tiêu dùng.
Giá trị gia tăng (GTGT) là phần giá trị mới đƣợc tạo ra trong sản xuất
kinh doanh. Nó đƣợc xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị sản xuất và tiêu
thụ với tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào tƣơng ứng. Thuế GTGT phải nộp
ở mỗi giai đoạn đƣợc tính bằng cách lấy số thuế GTGT đầu ra (đƣợc tính bằng
cách lấy thuế suất x giá hàng hoá dịch vụ bán ra) trừ số thuế GTGT đầu vào
(đƣợc tính bằng cách lấy thuế suất x giá hàng hoá dịch vụ mua vào)
Thuế GTGT là công cụ có hiệu quả trong việc động viên nguồn thu cho
ngân sách nhà nƣớc (NSNN). Số thuế GTGT từ sản xuất kinh doanh nội địa
chiếm tỷ trọng cao nhất (so với các loại thuế khác) trong tổng thu NSNN:
khoảng 16,8%, (từ kinh doanh hàng hoá xuất nhập khẩu chỉ khoảng 9%) và
chiếm 36% trong tổng thu từ doanh nghiệp. Thuế GTGT đƣợc áp dụng ở
nƣớc ta từ 01/01/1999 thay cho thuế doanh thu trƣớc đây (sắc thuế này hiện
đã có trên 120 quốc gia áp dụng).Thuế GTGT vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng thu thuế và phí, năm 2013 chiếm khoảng 28-30% trên tổng thu NSNN.
-
Thuế thu nhập doanh nghiệp: Là một loại thuế trực thu, đánh vào thu
nhập chịu thuế của các DN.
Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đƣợc tính bằng cách lấy thu nhập chịu
thuế (bằng doanh thu trừ giá vốn và chi phí + các thu nhập khác) x thuế suất.
17
Thuế TNDN đƣợc sử dụng để điều tiết thu nhập của các nhà đầu tƣ nhằm
góp phần đảm bảo công bằng xã hội, là một trong các nguồn thu quan trọng của
NSNN, Thuế TNDN tăng khá, lên khoảng 17-18%; Thuế TNCN tăng nhanh,
năm 2011 khoảng 1,9% tổng thu NSNN, đến năm 2013 đạt trên 5%.
-
Thuế tiêu thụ đặc biệt: Là loại thuế tiêu dùng, đánh vào một số hàng
hoá dịch vụ đặc biệt nằm trong danh mục Nhà nƣớc qui định, đƣợc tính căn
cứ vào giá cả và thuế suất (giá tính thuế là giá chƣa có thuế tiêu thụ đặc biệt).
Đối với hàng nhập khẩu, giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá nhập khẩu cộng
với thuế nhập khẩu.
Thuế tiêu thụ đặc biệt là nguồn thu quan trọng của NSNN, là công cụ
quan trọng thực hiện mục đích hƣớng dẫn sản xuất và tiêu dùng hàng hoá và
dịch vụ đƣợc coi là đặc biệt, thực hiện tái phân phối thu nhập của các tầng lớp
có thu nhập cao, đảm bảo công bằng xã hội. Hiện nay, số thuế tiêu thụ đặc biệt
từ sản xuất kinh doanh nội địa chiếm khoảng 6-8% trong tổng thu NSNN (từ
kinh doanh hàng hoá xuất, nhập khẩu là 1%), và chiếm 20,8 % trong tổng thu
từ doanh nghiệp.
-
Thuế tài nguyên: Là loại thuế đánh vào tài nguyên thiên nhiên khai
thác đƣợc. Thuế này đƣợc tính bằng cách lấy số lƣợng tài nguyên thực tế
khai thác x Giá tính thuế đơn vị tài nguyên x Thuế suất.
Thuế tài nguyên là công cụ để quản lý, kiểm soát, hƣớng dẫn, điều tiết
các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên của đất nƣớc, bảo vệ
môi trƣờng sinh thái và động viên một phần thu nhập cho NSNN. Số thuế tài
nguyên chiếm khoảng 0,7% trong tổng thu NSNN và chiếm 2% trong tổng
thu từ DN năm 2011.
-
Thuế môn bài: Là thuế đăng ký kinh doanh đƣợc tính theo năm, mức
thuế đƣợc áp dụng theo số tuyệt đối và đƣợc phân biệt theo 2 nhóm: Tổ chức
kinh tế và hộ kinh doanh cá thể. Đối với DN (tổ chức) thì mức môn bài đƣợc
qui định từ 1.000.000đ đến 3.000.000đ tuỳ theo vốn đăng ký.
18