Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Nghiên cứu chỉ số Doppler động mạch rốn và động mạch não giữa ở thai nhi bình thường đủ tháng ở khoa Sản Bệnh viện Trung ương Huế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (326.41 KB, 5 trang )

TẠP CHÍ PHỤ SẢN - 16(04),
14(01), 83
XX-XX,
- 87,2016
2019

NGHIÊN CỨU CHỈ SỐ DOPPLER ĐỘNG MẠCH RỐN
VÀ ĐỘNG MẠCH NÃO GIỮA
Ở THAI NHI BÌNH THƯỜNG ĐỦ THÁNG
Ở KHOA SẢN BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ
Trần Thị Hoàn, Hoàng Thị Liên Châu, Hoàng Ngọc Tú, Lê Thị Như Ý, Phan Lê Vy Phương
Bệnh viện Trung ương Huế

Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định các chỉ số của Doppler động mạch rốn, động
mạch não giữa và tỷ lệ chỉ số trở kháng của động mạch não giữa/ chỉ số
trở kháng của động mạch rốn ở thai nhi bình thường, đủ tháng.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên
635 trẻ sơ sinh, đủ tháng, có trọng lượng từ 2500 gram trở lên và có chỉ
số APGAR bình thường được sinh thường hoặc mổ lấy thai tại khoa Phụ
sản bệnh viện Trung ương Huế trong 3 tháng đầu năm 2019.
Kết quả: Chỉ số trở kháng (RI) của Doppler động mạch rốn từ 38
tuần đến 41 tuần giảm từ 0,61±0,03 xuống còn 0,57±0,02; chỉ số
xung (PI) của Doppler động mạch rốn từ 38 tuần đến 41 tuần giảm từ
0,98±0,11xuống còn 0,85 ±0,08; tỷ lệ S/D của Doppler động mạch rốn
từ 38 tuần đến 41 tuần giảm từ 2,58±0,20 xuống còn 2,27±0,18. Chỉ
số trở kháng (RI), chỉ số xung (PI) và tỷ số S/D của động mạch rốn
thai nhi giảm dần về cuối thai kỳ. Các chỉ số Doppler của động mạch
não giữa cũng giảm dần về cuối thai kỳ. Các chỉ số Doppler của động
mach não cao hơn động mạch rốn. Tỷ lệ chỉ số trở kháng của động


mạch não/ chỉ số trở kháng của động mạch rốn luôn luôn lớn hơn 1 ở
bất kỳ tuổi thai nào.
Kết luận: Các chỉ số Doppler (RI,PI,S/D) của động mạch rốn và
động mạch não giữa ở thai nhi bình thường, đủ tháng giảm dần theo
tuổi thai. Tỷ lệ chỉ số trở kháng của não/ rốn luôn luôn lớn hơn 1 ở bất
kỳ tuổi thai nào.

Abstract

Objective: To estimate the Doppler umbilical and celebral arteries
waveforms indices in normal values at full month fetus.
Materials and Methods: A cross-sectional descriptive study on 635

Tập 14, số 04
Tháng 05-2016

RESEARCH THE DOPPLER UMBILICAL AND
CELEBRAL ARTERIES WAVEFORMS INDICES AT
NORMAL FULL MONTH FETUS

Tập 16, số 04
Tháng 06-2019

Tác giả liên hệ (Corresponding author):
Trần Thị Hoàn,
email:
Ngày nhận bài (received): 03/05/2019
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised):
20/05/2019
Ngày bài báo được chấp nhận đăng

(accepted): 20/05/2019

83


SẢN KHOA – SƠ SINH

TRẦN THỊ HOÀN, HOÀNG THỊ LIÊN CHÂU, HOÀNG NGỌC TÚ, LÊ THỊ NHƯ Ý, PHAN LÊ VY PHƯƠNG

full month newborns with their weigh from 2500 gram and normal Apgar score, who was delivered
vaginally or by Cesarian section, from Jannuary toMarrch 2019.
Results: There was a decrease of Doppler Umbilical artery waveform indices during gestation
age: RI decrease from 0,61±0,03 to 0,57±0,02 at 38 and 41 week respectively. PI decrease
from 0,98±0,11to 0,85±0,08 at 38 and 41 week respectively, S/D ratio decrease from 2,58±0,20
to 2,27±0,18 at 38 and 41 week respectively. The Doppler celebral artery waveform indices also
decrease during gestation age. Celebral-umbilical resistant ratio is always larger 1.
Conclusion: The Doppler umbilical and celebral arteries waveforms indices (RI, PI, S/D ratio) in
normal values at full month fetus decrease during gestation ages. Celebral-umbilical resistant ratio
is always higher 1.

Tập 16, số 04
Tháng 06-2019

1. Đặt vấn đề

84

Sự phát triển của thai nhi trong tử cung hoàn
toàn phụ thuộc vào hệ thống tuần hoàn tử cungrau- thai nhi. Mọi sự trao đổi giữa mẹ và thai nhi
đều thông qua bánh nhau và dây rốn. Vì vậy, bất

kỳ tổn thương nào của tuần hoàn thai-rau làm độ
trở kháng tăng đều ảnh hưởng đến sự phát triển
của thai, là nguyên nhân của thai kém phát triển
hoặc chết lưu trong tử cung, và cũng là một yếu
tố góp phần làm tăng tỷ lệ bệnh tật, tỷ lệ các di
chứng thần kinh, vận động và trí tuệ cho trẻ sơ sinh.
Trong trượng hợp thai thiếu oxy (cấp hoặc mạn),
thai khỏe mạnh có thể chịu đựng thiếu oxy tạm thời
nhờ khả năng đáp ứng và bù trừ của thai, ưu tiên
cung cấp oxy cho các cơ quan quan trọng như não
gan, thận bằng cách giãn mạch dẫn đến giảm sức
cản của mạch máu của các cơ quan này, làm tăng
tốc độ dòng tâm trương nên chỉ số trở kháng và chỉ
số xung của động mạch não giảm xuống. Nhiều
phương pháp thăm dò thai nhi được áp dụng để
phát hiện sớm tình trạng thiểu oxy này, trong đó
có phương pháp siêu âm Doppler động mạch rốn
kết hợp với Doppler động mạch não để đánh giá
khả năng bù của thai khi thai thiếu oxy mạn tính
gây nên thai kém phát triển trong tử cung để có
thể can thiệp được kịp thời [1]. Siêu âm Doppler
đóng vai trò quan trọng không chỉ để tiên đoán
tình trạng thai mà còn đưa ra những quyết định
thái độ xử trí đối với thai. Vì vậy chúng tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu chỉ số siêu
âm Doppler động mạch rốn và động mạch não ở
thai nhi bình thường, đủ tháng” tại khoa Phụ Sản
bệnh viên Trung Ương Huế với 2 mục tiêu:
1. Xác định các chỉ số của Doppler động mạch

rốn, động mạch não giữa ở thai nhi bình thường,
đủ tháng.
2. Xác định tỷ lệ chỉ số trở kháng của động
mạch não giữa/ chỉ số trở kháng của động mạch
rốn ở thai nhi bình thường, đủ tháng.

2. Đối tượng và phương pháp
nghiên cứu

1. Đối tượng nghiên cứu
Gồm 635 thai phụ sinh thường hoặc mổ lấy
thai tại khoa Phụ sản Bệnh viện Trung Ương Huế
- Không mắc các bệnh mãn tính và các bệnh do
thai nghén gây ra
- Chỉ có một thai, thai sống
- Không có tiền sử thai chết lưu hoặc thai dị dạng
2. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt
ngang
3. Xử lý số liệu: theo phương pháp thống
kê y học

3. Kết quả

3.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu


Tỷ lệ %
2,5
64,7
32,8

100,0

Độ tuổi trung bình tuổi mẹ là 30,41±6,70
Nhóm tuổi mẹ từ 20-35 chiếm tỷ lệ cao nhất 64,7%
3.1.2. Số lần sinh
Bảng 3.2. Phân bố theo số lần sinh
Số lần sinh
Con so
Con rạ đẻ 1 lần
Con rạ đẻ 2 lần trở lên
Tổng

Số lượng
335
218
82
635

Tỷ lệ %
52,8
34,3
12,9
100,0

Các trường hợp sinh con so chiếm tỷ lệ cao nhất
52,8%, tỷ lệ con rạ lần hai trở lên chiếm 12,9%
3.1.3. Phương pháp sinh
Bảng 3.3.Phân bố theo phương pháp sinh
Phương pháp sinh
Sinh đường âm đạo

Mổ lấy thai
Tổng

Số lượng
294
341
635

Tỷ lệ %
46,3
53,7
100,0

Tỷ lệ mổ lấy thai cao hơn sinh đường âm đạo
53,7% so với 46,3%
3.1.4. Trọng lượng trẻ sơ sinh
Bảng 3.4. Phân bố trọng lượng trẻ sơ sinh
Trọng lượng trẻ (gram)
2500-2900
3000-3700
>3700
± SD
Tổng

Số lượng
Tỷ lệ %
122
19,2
397
62,5

116
18,3
3426,14 ± 610,65
635
100,0

Trọng lượng trung bình của trẻ trong nhóm
nghiên cứu là 3426,14±610,65 gram.
3.1.5. Chỉ số APGAR
Bảng 3.5. Phân bố theo chỉ số APGAR của trẻ sơ sinh sau sinh
Chỉ số APGAR
Số lượng
Phút thứ 1
≥ 8 điểm
635
Phút thứ 2
≥ 9 điểm
635

Tỷ lệ %
100
100

SD
0,20
0,19
0,21
0,18

Tỷ số S/D của động mạch rốn thai nhi giảm

dần về cuối thai kỳ
3.2.2. Chỉ số trở kháng (RI) và chỉ số xung (PI)
của động mạch rốn thai nhi
Bảng 3.7.Chỉ số trở kháng (RI) và chỉ số xung (PI) động mạch rốn thai nhi
RI
PI
Tuổi thai
SD
N
N
38
153
0,61
0,03
153
0,98
39
161
0,60
0,02
161
0,91
40
172
0,59
0,05
172
0,88
41
149

0,57
0,02
149
0,85

SD
0,11
0,12
0,11
0,08

Chỉ số trở kháng (RI) và chỉ số xung (PI) động
mạch rốn đều giảm dần về cuối thai kỳ
3.3. Kết quả Doppler động mạch não
giữa thai nhi
3.3.1.Tỷ số S/D của động mạch não giữa
Bảng 3.8. Trị số trung bình của tỷ số S/D của động mạch não giữa thai nhi
Tuổi thai
N
38
153
4,88
39
161
4,68
40
172
4,57
41
149

4,26

SD
0,83
0,82
0,72
0,69

Tỷ số S/D của động mạch não giữa thai nhi
giảm dần về cuối thai kỳ
3.3.2. Chỉ số trở kháng (RI) và chỉ số xung (PI)
của động mạch não giữa thai nhi
Bảng 3.9. Chỉ số trở kháng (RI) và chỉ số xung (PI) của động mạch não giữa
RI
PI
Tuổi thai
N
SD
N
38
153
0,79
0,04
153
1,73
39
161
0,77
0,05
161

1,68
40
172
0,76
0,05
172
1,63
41
149
0,74
0,04
149
1,56

SD
0,29
0,22
0,20
0,16

Chỉ số trở kháng (RI) và chỉ số xung (PI) của
động mạch não giữa đều giảm dần về cuối
thai kỳ
3.4. Chỉ số trở kháng não rốn
Trị số trung bình của trở kháng não rốn luôn > 1

Tập 16, số 04
Tháng 06-2019

Toàn bộ 635 trẻ sơ sinh được sinh thường hay

mổ lấy thai đều có chỉ số Apgar ở phút thứ nhất
trên 8 điểm và phút thứ hai trên 9 điểm, không có
trường hợp nào bị ngạt (chỉ số Apgar phút thứ nhất
dưới 7 điểm)

Bảng 3.6. Trị số trung bình của tỷ số S/D của động mạch rốn thai nhi
Tuổi thai
N
38
153
2,58
39
161
2,47
40
172
2,38
41
149
2,27

Tập 14, số 04
Tháng 05-2016

Bảng 3.1. Phân bố theo nhóm tuổi của người mẹ
Nhóm tuổi
Số lượng
< 20
16
20-35

411
>35
208
± SD
30,4 ± 6,70
Tổng
635

3.2. Kết quả Doppler động mạch rốn
thai nhi
3.2.1. Tỷ số S/D của động mạch rốn thai nhi

TẠP CHÍ PHỤ SẢN - 16(04),
14(01), 83
XX-XX,
- 87,2016
2019

3.1.1. Đặc điểm nhóm tuổi của người mẹ

85


Tập 16, số 04
Tháng 06-2019

SẢN KHOA – SƠ SINH

TRẦN THỊ HOÀN, HOÀNG THỊ LIÊN CHÂU, HOÀNG NGỌC TÚ, LÊ THỊ NHƯ Ý, PHAN LÊ VY PHƯƠNG


86

Bảng 3.10. Trị số trung bình của chỉ số trở kháng động mạch não giữa/ chỉ số trở kháng rốn
Tuổi thai
N
SD
38
153
1,64
0,34
39
161
1,59
0,35
40
172
1,54
0,32
41
149
1,45
0,32

4. Bàn luận

4.1.Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Tuổi mẹ trung bình trong nghiên cứu của
chúng tôi là 30,41±6,70. Kết quả nầy phù hợp
với nghiên cứu của Trần Nguyên Tuấn (2017) là
28,34±5,16 [6], của Trần Trung Hoành (2016)

là 27,6±4,9 [3] và của Võ Xuân Phúc (2009) là
29,4±6,8 [5]. Trong nghiên cứu của chúng tôi
đa phần các bà mẹ sinh con lần đầu chiếm tỷ lệ
52,8%, tỷ lệ bà mẹ sinh con lần 2 là 34,3% và tỷ
lệ sinh con lần 3 trở lên là 12,9%. Kết quả nghiên
cứu của chúng tôi phù hớp với kết quả nghiên
cứu của Trần Danh Cường (2007) sinh con so
58%, con rạ lần 2 chiếm 32% và lần 3 trở lên
là 10% [2]. Điều này cho thấy rằng ở những bà
mẹ mang thai lần đầu luôn có sự chăm sóc thai
nghén tốt hơn. Ở những trường hợp mang thai
lần 2 trở lên tỷ lệ càng giảm dần vì sinh càng
nhiều lần thì nguy cơ cho mẹ càng cao trong quá
trình theo dõi thai, và khi có các nguy cơ xảy ra
chúng tôi đã loại ra khỏi nghiên cứu.
Ở bảng 3 tỷ lệ mổ lấy thai trong nghiên cứu
của chúng tôi là 53,7% phù hợp với kết quả
của Trần Nguyên Tuấn (2017) là 52,1%, nhưng
cao hơn của Trần Danh Cường (2007) là 26%
[6], [2]. Tỷ lệ mổ lấy thai trong nghiên cứu của
chúng tôi chủ yếu là do vết mổ cũ, do thai to, hay
chuyển dạ đình trệ ... Điều này cũng phù hợp
với kết quả ở bảng 4. Ở bảng 4 cho thấy trọng
lượng trung bình của thai nhi trong nghiên cứu
của chúng tôi là 3426,14±610,65 gram, thấp
nhất là 2500 gram và cao nhất là 5200 gram,
không có trường hợp nào suy dinh dưỡng. Kết
quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết
quả nghiên cứu của Trần Danh Cường (2007) là
3332±274 gram [2].

Một số các nghiên cứu khác về thăm dò
Doppler đều cho rằng trọng lượng của trẻ sau sinh
là một chỉ tiêu để khẳng định nhóm nghiên cứu là

thai nghén bình thường, và trọng lượng của trẻ
sơ sinh phải trên 2500 gram, vì nhỏ hơn 2500
gram trẻ sơ sinh được xem là nhẹ cân, suy dưỡng.
Bảng 5 cho thấy tất cả các trẻ sơ sinh trong
nghiên cứu của chúng tôi đều có hình thái bình
thường, được đánh giá và thăm khám ngay sau
sinh hoặc mổ lấy thai. Chỉ số Apgar ở phút thứ
nhất đều trên 8 điểm và ở phút thứ 5 đều trên 9
điểm, không có trẻ nào bị ngạt ( chỉ số Apgar
dưới 7 điểm). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi
phù hợp với kết quả của Trần Nguyên Tuấn (
2017) và Trần Danh Cường (2007), cả hai
nghiên cứu không có trẻ nào bị ngạt [6], [2] .
Trọng lượng thai nhi và chỉ số Apgar được xem
là những chỉ tiêu quan trọng nhằm khẳng định giá
trị của kết quả nghiên cứu tuần hoàn động mạch
rốn và động mạch não giữa của thai nhi
4.2. Các chỉ số Doppler động mach rốn
và động mạch não giữa ở thai bình thường
Việc sử dụng siêu âm Doppler trong thai nghén
nguy cơ cao làm giảm tỷ lệ tử vong chu sinh và
ngăn chặn hậu quả chăm sóc sản khoa [7]
Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện ở 635
trường hợp thai nghén bình thường có tuổi thai
từ 38 tuần đến 41 tuần. Kết quả ở các bảng 6
và 7 cho thấy chỉ số trở kháng (RI) của Doppler

động mạch rốn từ 38 tuần đến 41 tuần giảm từ
0,61±0,03 xuống còn 0,57±0,02, chỉ số xung (PI)
của Doppler động mạch rốn từ 38 tuần đến 41
tuần giảm từ 0,98±0,11 xuống còn 0,85 ±0,08 tỷ
lệ S/D của Doppler động mạch rốn từ 38 tuần đến
41 tuần giảm từ 2,58±0,20 xuống còn 2,27±0,18.
Chỉ số RI, PI và tỷ số S/D của động mạch rốn thai
nhi giảm dần về cuối thai kỳ.
Kết quả này tương tự kết quả của một số tác giả
trong nước và trên thế giới [2], [4], [6], [9]. Các tác
giả này đều cho thấy rằng giá trị của các chỉ số
Doppler động mạch rốn ( RI, PI, tỷ số S/D) giảm
một cách đều đặn về cuối của thai kỳ trong thai
nghén bình thường. Điều đó phản ảnh trở kháng
tuần hoàn trong bánh nhau giảm chứng tỏ tuần
hoàn trong các gai nhau thuận lợi, dẫn đến sự trao
đổi chất giữa mẹ-con trở nên dễ dàng tạo điều kiện
cho thai nhi phát triển bình thường.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, các chỉ số
Doppler của động mạch não giữa cũng giảm
dần về cuối thai kỳ như ở động mạch rốn. Các


1. Phan Trường Duyệt, Ứng dụng phương pháp Doppler trong thăm
dò sản khoa, Kỹ thuật siêu âm và ứng dụng trong Sản Phu khoa 2009,
pp261-315.
2. Trần Danh Cường, Xác định một số thông số Doppler của động mạch
tử cung người mẹ, động mạch rốn,động mạch não thai nhi bình thường
28-42 tuần, Luận văn Tiến Sỹ Học trường Đại học Y Dược Hà nội 2007.
3. Trần Trung Hoành , Nghiên cứu giá trị của siêu âm Doppler động

mạch rốn và động mạch não giữa trong đánh giá thai chậm phát triển ở
quý 3 thai kỳ, Luận văn Thạc sỹ Học 2016, Trường Đại học Y Dược Huế.
4. Tạ Xuân Lan, Phan Trường Duyệt , Chỉ số Doppler động mạch rốn
và động mạch não giữa ở thai nhi bình thường, Tạp chí nghiên cứu Y
học 2004, 28 (2)29-33.
5. Võ Xuân Phúc, Nghiên cứu tình hình trẻ sơ sinh đủ tháng nhẹ cân
tại khoa Phụ sản bệnh viện Trung Ương Huế, Luận văn Thạc Sỹ Học

5. Kết luận

Các chỉ số Doppler của động mạch rốn cũng
như động mạch não giữa ( chỉ số trở kháng RI,
chỉ số xung PI, tỷ lệ S/D) thay đổi giảm theo
tuổi thai.
Tỷ lệ chỉ số trở kháng não/ rốn luôn luôn trên 1

2009 Trường Đại học Y Dược Huế
6. Trần Nguyên Tuấn , Nghiên cứu trị số siêu âm Doppler động mạch
rốn và động mạch não giữa thai nhi bình thường từ 38 đến 41 tuần,
Luận văn Thạc sỹ học 2017, trường Đại học Y Dược Huế.
7. Alfirevic Z., Stampalija T., Medley N., Fetal and umbilical Doppler
ultrasound in normal pregnancy, In The Cochrane Collaboration, ed.,
Cochrane Database of Systematic Review 2015. John Wiley & Sons,Ltd,
Chichester, UK.
8. Gramellini.D.MD, Folli.M.C.MD et al., Celebral-Umbilical Doppler ratio
as a predictor of a dverse perinatal outcome, Obstet. Gynecol 1992, 79,
pp 416-420.
9. Hendricks S.K et al, Doppler umbilical artery waveform indicesnormal values from fourteen to forty-two weeks, Am .J. Obstet.Gynecol
1989,161(3), 761-765.


Tập 16, số 04
Tháng 06-2019

Tập 14, số 04
Tháng 05-2016

Tài liệu tham khảo

trên 1, ở thai kém phát triển và thai suy nặng thì tỷ
lệ này dưới 1[4], [8].

TẠP CHÍ PHỤ SẢN - 16(04),
14(01), 83
XX-XX,
- 87,2016
2019

chỉ số Doppler của động mach não cao hơn
động mạch rốn.
Ở bảng 10 cho thấy tỷ lệ chỉ số trở kháng của
não/ rốn luôn luôn lớn hơn 1 ở bất kỳ tuổi thai nào.
Chỉ số trở kháng ở động mạch não cao, còn chỉ số
trở kháng của động mạch rốn bình thường, thai nhi
không có biểu hiện tình trạng thiếu oxy. Theo một
số tác giả như Tạ Xuân Lan (2004), Gramellini,Folli
(1992) nghiên cứu thấy rằng 10 tuần cuối tỷ lệ chỉ
số trở kháng não/ rốn ở thai bình thường luôn luôn

87




×