HỘI NGHỊ KHOA HỌC SINH VIÊN KHOA HÀN LẦN THỨ 5
Tháng 3 - 2011
DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI CỦA HÀN QUỐC
NGHI LỄ VÀ NHẠC LỄ JONGINYO
SVTH: Nguyễn Thúy Nga 3H08
GVHD: Lê Thị Hương
I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ DI SẢN
1. Khái niệm và phân loại
Di sản thế giới là các di tích hay di chỉ của một quốc gia như rừng, núi, hồ, sa mạc,
tòa nhà, quần thể kiến trúc hay thành phố nào đó...do các nước có tham gia Công ước di
sản thế giới đề cử cho Chương trình quốc tế Di sản thế giới, được công nhận và quản lý
bởi UNESCO.
Phân loại
Khái niệm
Là các di tích: Các tác phẩm kiến trúc, tác
phẩm điêu khắc và hội họa, các yếu tố hay các cấu trúc có
tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở trong hang đá và các
công trình có sự liên kết giữa nhiều đặc điểm, có giá trị nổi
bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa
học.
Di sản văn
hóa Di sản văn
hóa phi vật
thể (1)
Là các quần thể các công trình xây dựng: Các quần
thể các công trình xây dựng tách biệt hay liên kết lại với
nhau mà do kiến trúc của chúng, do tính đồng nhất hoặc vị
trí của chúng trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét
theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học.
Là các di chỉ: Các tác phẩm do con người tạo nên
hoặc các tác phẩm có sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân
tạo và các khu vực trong đó có các di chỉ khảo cổ, có giá trị
nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân
tộc học hoặc nhân chủng học.
Di sản kí ức
thế giới(2)
là những di sản văn hóa phi vật thể có nguy cơ bị biến
mất
vĩnh viễn trên thế giới và cần phải được bảo vệ khẩn cấp.
Là các đặc điểm tự nhiên bao gồm các hoạt động
kiến tạo vật lý hoặc sinh học hoặc các nhóm các hoạt động
kiến tạo, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm thẩm
mỹ hoặc khoa học.
Di sản thiên
nhiên
269
HỘI NGHỊ KHOA HỌC SINH VIÊN KHOA HÀN LẦN THỨ 5
Tháng 3 - 2011
Là các hoạt động kiến tạo địa chất hoặc địa lý tự
nhiên và các khu vực có ranh giới được xác định chính xác
tạo thành một môi trường sống của các loài động thực vật
đang bị đe dọa, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm
khoa học hoặc bảo tồn.
(1)
Di sản văn hóa phi vật thể: còn gọi là Kiệt tác Di sản truyền khẩu và Phi Vật thể nhân
(2)
Di sản kí ức thế giới: là những di sản văn hóa phi vật thể có nguy cơ bị biến mất vĩnh
loại
viễn trên thế giới và cần phải được bảo vệ khẩn cấp.
2. Tiêu chuẩn
Mỗi di sản văn hóa phi vật thể muốn có tên trong danh sách "Kiệt tác truyền khẩu
và phi vật thể nhân loại" phải được một hoặc nhiều quốc gia đề cử tới UNESCO trước
khi được đưa ra xem xét bởi một ủy ban chuyên biệt. Những di sản được công nhận
phải có những đặc điểm và giá trị sau:
•
Là kiệt tác có giá trị đặc biệt do nhân loại sáng tạo nên.
•
Có sức ảnh hưởng lan tỏa trong cộng đồng và sự độc đáo của bản sắc văn hóa.
•
Có tính ứng dụng, các chất lượng kỹ thuật và các khả năng mang lại hiệu quả.
•
Có giá trị như một chứng nhân độc đáo cho truyền thống văn hóa.
3. Danh mục di sản thế giới của Hàn Quốc
UNESCO công nhận giá trị độc đáo và đặc tính riêng biệt của nền văn hóa Hàn
Quốc và đưa vào Danh mục Di sản thế giới. Dưới đây là các Di sản thế giới của Hàn
Quốc:
STT
Tên di sản
Năm được
công nhận
Loại di sản
1
Phật Quốc Tự và Thạch Quật Am
(석굴암과 불국사)
1995
Di sản văn hóa
2
Tông Miếu
(종묘)
1995
Di sản văn hóa
3
Kho chứa mộc bản Đại tạng kinh Hàn
Quốc chùa Haeinsa
(해인사 장경판전)
1995
Di sản văn hóa
4
Thủy nguyên Hoa thành
(수원 화성)
1997
Di sản văn hóa
5
Quần thể cung Xương Đức
(창덕궁)
1997
Di sản văn hóa
270
HỘI NGHỊ KHOA HỌC SINH VIÊN KHOA HÀN LẦN THỨ 5
Tháng 3 - 2011
6
Cố đô Gyeongju
(경주역 사유적 지구)
2000
Di sản văn hóa
7
Mộ đá tiền sử Gochang, Hwasun và
Ganghwa
(고창.화순.강화 고인돌 유적)
2000
Di sản văn hóa
8
Đảo núi lửa Jeju và các động dung nham
(제주 화산섬 및 용암 동굴)
2007
Di sản thiên
nhiên
9
Lăng mộ hoàng gia triều đại Joseon
(조선 왕릉)
2009
Di sản văn hóa
2010
Di sản văn hóa
2001
Di sản văn hóa
phi vật thể
2003
Di sản văn hóa
phi vật thể
2005
Di sản văn hóa
phi vật thể
2010
Di sản văn hóa
phi vật thể
2010
Di sản văn hóa
phi vật thể
2010
Di sản văn hóa
phi vật thể
2010
Di sản văn hóa
phi vật thể
1997
Di sản ký ức thế
giới
1997
Di sản ký ức thế
giới
2001
Di sản ký ức thế
giới
10
Làng cổ Hàn Quốc: Hahwe và Yangdong
(한국의 역사마을: 하회와 양동)
11
Nghi lễ và nhạc lễ Jongmyo
(종묘제례 및 종묘제례악)
12
Nghệ thuật hát sử thi Pansori
(판소리)
13
Lễ hội Gangneung Danoje
(강능 단오제)
14
Điệu múa hát vòng tròn
(강강술래)
15
Múa hát đường phố
(남사당)
16
Lễ cầu siêu 49 ngày
(영산재)
17
Hội cầu Nữ thần Gió đảo Jeoju
(제주 칠머리 당영등굿)
18
Bản thảo hệ thống âm chuẩn
(훈민정음)
19
Sử lục triều đại Joseon
(조선왕조 실록)
20
Hợp tuyển Pháp thoại của các Đại Thiền
sư
271
HỘI NGHỊ KHOA HỌC SINH VIÊN KHOA HÀN LẦN THỨ 5
Tháng 3 - 2011
(직지심체 요철)
21
Nhật kí Tổng quản Seungjeongwon
2001
Di sản ký ức thế
giới
2007
Di sản ký ức thế
giới
2007
Di sản ký ức thế
giới
2009
Di sản ký ức thế
giới
(승정원 일기)
22
Mộc bản in bộ Đại tạng kinh Hàn Quốc
và các kinh sách Phật giáo khác
(팔판대장 경판)
23
Hoàng triều Điển lệ triều đại Joseon
(조선왕조의궤)
24
Nguyên tắc thực hành đông y
(도의보감)
II. NGHI LỄ JONGMYO VÀ NHẠC LỄ JONGMYO
1. Giới thiệu chung
Trong văn hóa truyền thống châu Á, từ Trung Quốc đến Hàn Quốc và Việt Nam,
lễ nghi luôn đóng vai trò vô cùng quan trọng. Đặc biệt ở xã hội hiện đại ngày nay, việc
tổ chức các nghi lễ mang ý nghĩ duy trì các trật tự xã hội cơ bản. Một trong những nghi
lễ quan trọng tại Hàn Quốc vẫn được tồn tại và lưu truyền cho đến ngày nay. Đó là nghi
lễ Jongmyo.
Nghi lễ Jongmyo là nghi lễ được tổ chức để thờ cúng những đời vua và hoàng hậu
cuối cùng của triều đại Joseon tại điện thờ Jongmyo, Seoul, Hàn Quốc. Nghi lễ này
được tổ chức thường niên vào ngày chủ nhật đầu tiên của tháng năm, đi kèm với dàn
nhạc lễ Jongmyo và điệu múa truyền thống Ilmu.
Nghi lễ Jongmyo bắt nguồn từ thời kỳ trung hoa cổ đại. Những nghi lễ này được
thực hiện ở Hàn Quốc vào lần đầu tiên ở thời kỳ Silla và được gìn giữ từ triều đại vua
Goguryeo tới triều vua cuối cùng của Hàn Quốc – vương triều Joseon. Cùng với các lễ
cầu xin thần linh phù hộ có mùa màng bội thu, thì đây được gọi là nghi lễ quan trọng
nhất ở Hàn Quốc. Ngày nay, tập tục này hiện không còn ở Trung Quốc song vẫn được
gìn giữ tại Hàn Quốc.
2.Nội dung
2.1. Nghi lễ Jongmyo
Nghi lễ Jongmyo chủ yếu bao gồm các thủ tục chào hỏi, tiếp đón thần linh và để
nhận được phước lành từ những thần linh. Nghi lễ Jongmyo là nghi lễ quốc gia được
xếp hạng cao nhất đi kèm nhiều thủ tục nghiêm ngặt. Nghi lễ chính thức bắt đầu bằng
cuộc diễu hành mang theo một chiếc hộp có chứa hương và các giấy cầu nguyện, đi qua
Nam môn (cổng phía Nam) của đền Jongmyo qua con đường phía Tây(3) hướng tới
Chính điện.
272
HỘI NGHỊ KHOA HỌC SINH VIÊN KHOA HÀN LẦN THỨ 5
Tháng 3 - 2011
Quá trình thực hiện nghi lễ được chia làm ba phần:
Phần đầu tiên là lễ chào đón các linh hồn. Phần này sẽ được thực hiện bởi nhà sư,
quốc vương và gia đình hoàng gia. Trước khi vào làm lễ, nhà vua phải thoát tục trong
vòng bốn ngày bằng việc như chỉ được ăn những món thanh đạm, tuyệt đối không đươc
làm những việc xấu, những điều cấm kị. Tất cả các quần thần tham gia vào lễ dâng
hương cũng phải tuân thủ theo những điều cấm kị của lễ rửa tội này. Vào cửa chính điện,
vua và các quần thần phải làm lễ rửa tội bằng việc rửa tay vào một chậu nước sạch, với
ý nghĩa thanh tẩy thân thể và tâm trí xong mới bước vào, tiến đến nơi lưu giữ bài vị giữa
Chính điện, cúi lạy bốn lần trước linh vị của những vị vua quá cố.
Trong nghi lễ Cheonghaeng và Singwan, họ bắt đầu chào đón các vị thần bằng
nghi lễ mời rượu. Ở lễ Singwan Các nhà sư thắp hương ba lần để chào đón các linh hồn
từ trên thiên đường và đổ rượu ba lần trên mặt đất, và đặt các cây gai trắng lên bàn thờ
để làm quà tặng cho các thần linh. Còn lễ Cheonyo là thủ tục lập đồ tế lễ. Các loại gan
heo, bò và cừu được trộn lẫn với kê trong dầu, và sau đó bị đốt cháy hoàn toàn với một
loại thảo dược tên là mugwort. Bằng cách cung cấp vật tế của động vật và thực, nghi lễ
này là để cầu nguyện cho an ninh quốc gia và mùa màng bội thu. Trong triều đại Joseon,
nghi lễ Jongmyo rất quan trọng, vì vậy nhà vua đích thân cầu nguyện cho an ninh quốc
gia và sự thịnh vượng cho người dân với sự trợ giúp của các vị thần linh.
Phần thứ hai là tiếp đãi các linh hồn. Đầu tiên là nghi lễ Jinchan, phục vụ sáu
mươi ba loại đồ ăn tới các linh hồn. Sau đó nhà vua làm lễ Choheonrye dâng ly rượu
đầu tiên lên mời tổ tiên, tiếp theo là hoàng tử (Aheơngwan) và tổng thống
(Jongheongwan). Nghi lễ này được theo sau bởi nghi thức đọc lời cầu nguyện của
những người Daechukgwan. Lễ dâng rượu lần thứ hai gọi là Aheon và lần cuối là
Jongheon.
Phần thứ ba là nghi lễ cuối cùng được tổ chức để tiễn đưa các linh hồn lên trời.
Eumbok là dịp để chia sẻ đồ ăn và rượu với các nhà sư. Sau khi thụ lộc diễn ra lễ bỏ đi
tất cả đồ ăn đã phục vụ các linh hồn. Những nhà sư lại cúi chào bốn lần để tiễn đưa các
linh hồn về trời. Lễ Mangryo là nghi thức cuối cùng thực hiện bằng cách đốt giấy,
Heơngwan và Daechukgwan sẽ thông báo rằng nghi lễ đã được hoàn thành và các nhà
sư sẽ lưu vào bên trong.
2.2. Nhạc lễ Jongmyo
Cùng với nghi lễ Jongmyo, nhạc lễ cũng sẽ được tổ chức đồng thời để mang đến
niềm vui thích cho các linh hồn được mời tới nghi lễ này. Mỗi thủ tục của buổi lễ được
sáng tác âm nhạc khác nhau như “Botaepyong”(보태평) và “Jeongdaeeop”(정대업)..
Các bài hát đi kèm với Jerye-ak được gọi là Jongmyo Akjang.
Nhạc lễ Jongmyo được chính phủ Hàn Quốc chỉ định là một tài sản văn hoá tâm
linh quan trọng bậc nhất. Loại nhạc này có nguồn gốc từ âm nhạc cung đình Trung Hoa
và được mang tới Hàn Quốc vào thời kỳ Goguryeo. Mười một phần trong Botaepyeong
273
HỘI NGHỊ KHOA HỌC SINH VIÊN KHOA HÀN LẦN THỨ 5
Tháng 3 - 2011
và mười một phần trong Jeongdaeeop lần đầu tiên được sáng tác bởi vua Sejong vào
năm 1446 để cầu nguyện cho an ninh và thịnh vượng của quốc gia. Sau này, âm nhạc đã
được sửa đổi một chút và đã hoàn thiện. Đặc biệt, bài nhạc lễ Botaepyeong và
Jeongdaepyeong được ca ngợi là những tác phẩm âm nhạc gần như hoàn hảo trong kết
cấu của các bản tổng phổ, sử dụng hầu hết những giá trị truyền thống vốn có của thang
âm Hàn Quốc.
So sánh với nghi lễ âm nhạc Baroque ở châu Âu được sinh ra trong thế kỷ XVII
thì nhạc lễ Jongmyo đã có được khoảng 200 năm trước đó. Nhạc lễ Jongmyo là một tập
hợp phong phú các nhạc khí, nhạc cụ dây tinh tế và sự kết hợp tinh tế của những âm sắc
tạo nên một bản nhạc trang trọng và tráng lệ phù hợp với nghi thức quốc gia quan trọng
của Jongmyo. Nhạc lễ được phân thành hai loại Deungga và Heonga dựa trên vị trí của
buổi biểu diễn và thành phần của các nhạc cụ. Deungga là dàn nhạc được bố trí ở tầng
cao hơn của Chính điện để chơi nhạc mà không có bài hát, trong khi Heonga chơi nhạc
cùng với các bài hát ở tầng thấp hơn. Chính bởi vậy mà loại nhạc lễ cung đình truyền
thống này được cho là sự dung hòa giữa Trời và Đất.
Hầu hết các nhạc cụ được làm bằng vật liệu tự nhiên như gỗ hoặc đá. Với âm sắc
mềm mại, ấm áp và âm thanh vang dài nó đã làm cho âm nhạc nghi lễ thường cứng
nhắc trở nên nhẹ nhàng hơn. Các bài hát của Jeryeak, được gọi là Akjang, chứa phần
lớn các câu thơ khen ngợi thành tích của các vị vua trước đó cũng như những kỳ tích
quân sự hào hùng của họ.
Buổi trình diễn kỳ công của âm nhạc cung đình truyền thống cùng với các điệu
múa đi kèm được tổ chức hàng năm. Các nhạc sĩ, vũ công và các học giả sẽ thực hiện
nghi thức nho giáo trong sân năm lần một năm.
Điệu múa Jerye được gọi là Ilmu(múa line). Ilmu được chia làm 2 loại:
Botaepyeong-ji-mu là điệu múa để ca ngợi các nhà vua trước và Jeongdaeeop-ji-mu là
điệu múa để ca ngợi các thành tựu quân sự của nhà vua. Điệu múa Ilmu được thực hiện
bởi một nhóm gồm tám mươi tư nữ vũ công mặc trang phục múa màu tím. Ngoài ra,
cũng có thể phân Ilmu thành hai thể loại múa Munmu và Mumu. Munmu được múa
cùng với Botaepyeong-ji-ak, với Yak (4) cầm bên tay trái và Jeok (thanh bằng gỗ được
trang trí với quả tua làm từ lông chim trĩ) bên tay phải. Mumu là điệu múa quân sự.
Đứng bốn hàng đầu tiên là những vũ công di chuyển rất nhanh và cầm theo những thanh
gươm và giáo bằng gỗ.
III. Kết luận
Nghi lễ Jongmyo mang tính nghệ thuật triết lý, bởi thông qua đó mà đạo lý được
con người cảm nhận bằng trái tim hơn là bằng trí óc. Triết lý được nghệ thuật hoá một
cách mềm mại và dễ đi sâu vào lòng người. Không bởi nhiều ngôn từ ý niệm, tập tục
thờ cúng tổ tiên này vẫn thể hiện nguyên vẹn chữ “Hiếu” đối với tổ tông, lòng biết ơn
đến các vị tiền nhân gây dựng nên đất nước.
274
HỘI NGHỊ KHOA HỌC SINH VIÊN KHOA HÀN LẦN THỨ 5
Tháng 3 - 2011
Nghi lễ và nhạc lễ Jongmyo là kiệt tác có giá trị đặc biệt do chính người dân Hàn
Quốc sáng tạo nên, có sức ảnh hưởng lan tỏa trong cộng đồng và sự độc đáo về bản sắc
văn hóa. Đây như một chứng nhân độc đáo cho truyền thống văn hóa dân tộc Hàn. Nghi
lễ Jongmyo và nhạc lễ xứng đáng được nhận danh hiệu Di sản văn hóa phi vật thể của
nhân loại.
Xuyên suốt lịch sử, nghi lễ và nhạc lễ Jongmyo đã trở thành biểu tượng cho dân
tộc Hàn vì nó đảm bảo được trật tự và sự thống trị hiệu quả ở các triều đại. Ngày nay
tập tục thờ cúng tổ tiên của Đạo Khổng này vẫn rất phổ biến và chữ “Hiếu” vẫn là luôn
là một trong những giáo lý cơ bản của Nho giáo
(3)
Con đường phía Tây theo Nho giáo mang ý nghĩa là con đường của các vị thần.
(4)
Yak là một loại sáo làm bằng tre nứa, có đục ba lỗ, có âm thanh trong trẻo và thanh
thoát.
Tài liệu tham khảo:
1.
Sách: “Hàn Quốc đất nước- con người”. Trung tâm quảng bá văn hóa hải
ngoại Hàn Quốc- Bộ Văn hóa thể thao& du lịch.
2.
/>3.
/>4.
5.
/>
275