Tải bản đầy đủ (.pdf) (20 trang)

Tác động của sự hiểu biết về môi trường, độ nhạy cảm về môi trường và sự gắn bó điểm đến tới hành vi trách nhiệm đối với môi trường du lịch biển đảo Việt Nam: Trường Hợp Phú Quốc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (459.56 KB, 20 trang )

Kỷ yếu Nghiên cứu khoa học sinh viên UEH 2019

TÁC ĐỘNG CỦA SỰ HIỂU BIẾT VỀ MÔI TRƯỜNG, ĐỘ
NHẠY CẢM VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ SỰ GẮN BÓ ĐIỂM
ĐẾN TỚI HÀNH VI TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI MÔI
TRƯỜNG DU LỊCH BIỂN ĐẢO VIỆT NAM: TRƯỜNG HỢP
PHÚ QUỐC
Nhóm tác giả:
Trần Huy Lương_ LH01_Khóa 42
Phan Minh Anh_LH01_Khóa 42
Nguyễn Đỗ Quang Huy_LH01_Khóa 42
GVHD:
ThS. Phạm Tô Thục Hân
Tóm tắt: Đề tài này thảo luận tác động của sự hiểu biết về môi trường, độ nhạy cảm về
môi trường và sự gắn bó điểm đến tới hành vi trách nhiệm đối với môi trường du lịch
biển đảo Việt Nam – cụ thể tại đảo Phú Quốc. Nghiên cứu được tiến hành qua hai giai
đoạn: nghiên cứu dữ liệu thứ cấp và nghiên cứu định lượng. Mô hình cấu trúc tuyến
tính SEM được sử dụng để kiểm định sự phù hợp của mô hình và các giả thuyết nghiên
cứu. Kết quả thu được qua dữ liệu thu thập từ 120 đối tượng du khách đã từng đi du
lịch Phú Quốc từ năm 2014 đến nay đã khẳng định mối quan hệ tích cực giữa các yếu
tố: Sự hiểu biết về môi trường, Độ nhạy cảm về môi trường, Sự gắn bó điểm đến tới
Hành vi trách nhiệm của du khách đến môi trường du lịch biển đảo Việt Nam, cụ thể ở
Phú Quốc.
Từ khóa: Sự hiểu biết về môi trường; Độ nhạy cảm về môi trường; Sự gắn bó điểm
đến; hành vi trách nhiệm của du khách; Du lịch bền vững; Phát triển bền vững.
1. GIỚI THIỆU

Là một nước tiềm năng phát triển du lịch biển đảo với hơn 3260 km đường bờ biển
và 2773 đảo ven bờ. Trong đó, Phú Quốc là trung tâm phát triển du lịch biển của
vùng biển phía Nam; Dưới ảnh hưởng của dự thảo luật đặc khu thì bối cảnh bất động
sản nghỉ dưỡng ở đây đang bùng nổ. Việc khai thác du lịch biển ở Phú Quốc gắn liền


với hành vi của con người do đó sẽ gây nên những tác động hai chiều giữa lợi ích về
kinh tế và tình trạng của môi trường thiên nhiên. Vậy nên, việc bảo tồn môi trường
cũng như hệ sinh thái biển đảo ở Phú Quốc là rất quan trọng và cần thiết. Trong đó,
nhận thức và thái độ của du khách về môi trường có tác động trực tiếp đến hành vi
trách nhiệm đối với môi trường.
Trước đó đã có nhiều nghiên cứu về hành vi trách nhiệm của du khách đến môi
trường. Nhóm tác giả đã tìm hiểu nhiều công trình nghiên cứu trong thời gian gần
đây có liên quan đến đề tài này được thực hiện ở các điểm đến quốc tế khác nhau
177


Kỷ yếu Nghiên cứu khoa học sinh viên UEH 2019
trên thế giới và nhận thấy rằng các nghiên cứu trước đó chỉ tìm hiểu các yếu tố riêng
lẻ tác động lên hành vi của con người đến môi trường (Cheng & Huang, 2013). Vì
vậy, nghiên cứu này nhóm tác giả sẽ làm rõ mối quan hệ trung gian và các ảnh
hưởng lẫn nhau giữa các biến, cụ thể mức độ hiểu biết của du khách về môi trường ở
đảo Phú Quốc cao hơn sẽ mang lại những tác động tích cực lên các mối quan tâm
đến đảo. Từ đó tạo nên các cảm giác gắn bó tích cực đối với đảo. Xuất phát từ những
tâm lý tích cực du khách sẽ có những hành vi có trách nhiệm trong việc bảo vệ môi
trường biển đảo ở Phú Quốc, mặt khác, khi du khách đã có những mối quan tâm về
ảnh hưởng của các hoạt động du lịch, các tác động của con người lên môi trường
biển đảo thì khả năng cao phát triển tinh thần trách nhiệm trong việc giữ gìn, bảo vệ
môi trường.
Các kết quả tích cực của bài nghiên cứu như là thước đo cho các cơ quan chức năng
trong việc giáo dục sự hiểu biết về môi trường, độ nhạy cảm về môi trường cho
người dân và hướng họ đến những hành vi trách nhiệm của du khách đúng đắn để có
những tác động tốt lên môi trường. Mô hình của bài nghiên cứu này là tiền đề cho
các nghiên cứu sau này lên các đối tượng, phạm vi khác ở Việt Nam và xa hơn là khu
vực Châu Á và cũng có thể được khái quát ở những đối tượng khác có cùng mối
quan tâm - Là các vấn đề với môi trường như các điểm du lịch sinh thái, khu bảo tồn

thiên nhiên, khu bảo tồn các di sản văn hóa vật thể.
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1.
Các khái niệm nghiên cứu

Sự hiểu biết về môi trường
Theo các nhà nghiên cứu môi trường (Amy, 1994; Huang & Shin, 2009) thì sự hiểu
biết về môi trường chính là mức độ quan tâm đến môi trường tự nhiên và được xác
định như là một sự hiểu biết đại chúng bao gồm: Bảo vệ môi trường, môi trường tự
nhiên, hệ sinh thái và các thành phần trong hệ sinh thái.
Bên cạnh đó, Viện Môi trường Phần Lan (Finnish Environment Institute, 2000) đã
chỉ ra rằng: Sự khác nhau về kiến thức sẽ dẫn đến những hành động khác biệt đối với
môi trường. Chính vì vậy, mức độ của hiểu biết sẽ khác nhau đối với từng nhóm đối
tượng.
Việc nâng cao kiến thức, trình độ hiểu biết của người dân vẫn là yếu tố then chốt
trong việc gìn giữ, bảo tồn và tôn tạo cảnh quan tự nhiên, đa dạng sinh học của biển
đảo. Đồng thời, nghiên cứu của 2 nhà khoa học môi trường Wurzinger & Johansson
(2006) về sự hiểu biết và độ nhạy cảm về môi trường cũng đã lý giải thêm rằng:
Những du khách có sự am hiểu, có kiến thức phong phú về môi trường sẽ quan tâm
nhiều hơn về những vấn đề môi trường của địa điểm tham quan và ngược lại. Sivek
và Hungerford (1990) đã chỉ ra rằng kiến thức môi trường có thể nâng cao tính nhạy
cảm về môi trường của con người, kiến thức môi trường và độ nhạy môi trường sẽ
ảnh hưởng đến hiệu suất của hành vi môi trường.
178


Kỷ yếu Nghiên cứu khoa học sinh viên UEH 2019
Độ nhạy cảm về môi trường
Peterson (1982) đã xác định độ nhạy cảm về môi trường là “Các thuộc tính tình cảm
dẫn đến một cá nhân xem xét môi trường từ một góc nhìn đồng cảm”. Nó được chia

thành hai phần: "Cá nhân ủng hộ môi trường tự nhiên" và "Có ý định hành động cho
một mối quan hệ hài hòa với môi trường tự nhiên". Các cá nhân nhạy cảm với môi
trường có một sự đánh giá và quan tâm cơ bản về môi trường tự nhiên, nhưng sự
đánh giá cao và mối quan tâm này chưa đủ mạnh để thúc đẩy họ thay đổi hành vi của
mình. Hungerford và Volk (1990) tiếp tục giải thích rằng độ nhạy cảm về môi trường
là “Một quan điểm đồng cảm đối với môi trường”, được coi là một trong những biến
góp phần vào nghĩa vụ công dân về trách nhiệm đối với môi trường; một sự kết hợp
chặt chẽ giữa độ nhạy cảm về môi trường và sự phát triển của hành vi thân thiện với
môi trường đã được xác định.
Độ nhạy cảm về môi trường là biến tiền đề quan trọng của sự gắn bó điểm đến và
hành vi trách nhiệm của du khách với môi trường. Nói cách khác, độ nhạy cảm về
môi trường của khách du lịch đến các điểm du lịch là rất quan trọng, nó sẽ gia tăng
sự nhận biết về mặt tình cảm của họ với các điểm đến; trong khi chờ đợi, họ cũng sẽ
thể hiện hành vi có trách nhiệm đối với các điểm đến này.
Sự gắn bó điểm đến
Sự gắn bó điểm đến được hiểu là sự liên kết và chia sẻ giữa con người và nơi chốn
(Raymond và cộng sự, 2011; Ruiz,Hernandez, 2014) hoặc nó có thể được định nghĩa
là bất cứ mối quan hệ nào dù tích cực hay tiêu cực giữa con người với một nơi chốn
hay địa điểm cụ thể (Hidalgo,Hernandez, 2001; Kyle, Graefe & Manning, 2005; Lee,
2011; Scan, Nell, Gifford, 2010). Không chỉ gắn bó về không gian, các nhà nghiên
cứu còn chỉ ra sự gắn bó với nơi chốn còn có thể kết hợp các khía cạnh khác - gia
đình, bạn bè, cộng đồng và văn hóa địa phương (Kyle và cộng sự, 2005). Do đó, sự
gắn bó bao gồm những ảnh hưởng, niềm tin, cảm xúc, kiến thức và cả hành vi (Dyer
và cộng sự, 2007; Ramkissoon, Weiler & Smith, 2013).
Khi các lý thuyết nhận dạng điểm đến được sử dụng để giải thích thái độ của người
dân đối với phát triển du lịch, việc gắn bó thường được đo lường qua hai chiều: (1)
Sự nhận dạng điểm đến (gắn bó tượng trưng hoặc tình cảm với một địa điểm) và (2)
Sự phụ thuộc vào điểm đến (liên quan đến hoạt động chức năng của một địa điểm đối
với các hoạt động giải trí) (Dyer và cộng sự, 2007; Lee, 2013; Ramkissoon và cộng
sự,2013).

Sự phụ thuộc vào điểm đến phản ánh mức độ tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt
động cụ thể của con người, cũng như tầm quan trọng của một điểm đến trong việc
đáp ứng các mục tiêu chức năng của các cá nhân (Moore, Graefe, 1994). Ngoài ra, sự
phụ thuộc vào một điểm đến có thể dễ dàng gợi ra hành động hoặc hành vi cụ thể từ
các cá nhân (Schreyer, Jacob & White, 1981; Williams,Vaske, 2003; Williams và
cộng sự, 1992).
179


Kỷ yếu Nghiên cứu khoa học sinh viên UEH 2019
Hành vi trách nhiệm đối với môi trường
Hành vi trách nhiệm của du khách với môi trường là những hoạt động mà không làm
tổn hại đến môi trường, có trách nhiệm giữ gìn và bảo vệ môi trường sống. Và được
phân loại thành 2 loại sau: Hành vi trách nhiệm của du khách với môi trường chung
và hành vi trách nhiệm của du khách với môi trường cụ thể (Barr và cộng sự, 2011;
Halpenny, 2010; Lee và cộng sự, 2013; Ramkissoon, Weiler & Smith, 2013). Hành
vi trách nhiệm của du khách với môi trường chung là nó được tiến hành trong cuộc
sống hàng ngày của mỗi cá nhân con người (Hines và
cộng sự, 2011). Hành vi trách nhiệm của du khách với môi trường cụ thể là nó được
biểu hiện bởi một du khách tại một điểm du lịch (Halpenny, 2010; Lee và cộng sự,
2013; Ramkissoon và cộng sự, 2013).
Các học giả đã khái niệm hóa hành vi trách nhiệm của du khách với môi trường
chung bằng cách sử dụng các hành động giáo dục, dân sự, tài chính, pháp lý, thể chất
và thuyết phục (Smith, Sebasto & D’Costa , 1995); bảo tồn năng lượng, di chuyển,
vận chuyển, tránh lãng phí, tiêu thụ, tái chế, gián tiếp và các hành vi xã hội liên quan
đến việc phục vụ (Kaiser, Wilson, 2004); và hành vi người tiêu dùng, sự sẵn sàng hi
sinh và quyền công dân môi trường (Sternetal, 1999; Barretal, 2011; Becken, 2007)
chỉ ra rằng khách du lịch thực hiện hành vi trách nhiệm của du khách với môi trường
chung thường xuyên hơn cụ thể.
Mô hình nghiên cứu đề nghị

Dựa trên cơ sở kế thừa kết quả của các nghiên cứu đã có, mô hình nghiên cứu được
đề xuất gồm 4 thành phần: Sự hiểu biết về môi trường, Độ nhạy cảm về môi trường,
Sự gắn bó điểm đến, Hành vi trách nhiệm của du khách đối với môi trường. Bốn
thành phần này được đặt trong mối quan hệ tương tác lẫn nhau và sẽ được kiểm định
độ phù hợp.
2.2.

Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

180


Kỷ yếu Nghiên cứu khoa học sinh viên UEH 2019
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp hỗn hợp tiến hành qua hai
giai đoạn: nghiên cứu dữ liệu thứ cấp và nghiên cứu chính thức bằng phương pháp
định lượng. Đầu tiên nhóm tác giả trình bày phương pháp chọn mẫu nghiên cứu.
Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu nghiên cứu
Nhóm tác giả chọn mẫu theo phương pháp thuận tiện vì hạn chế về thời gian cũng
như giới hạn về không gian địa lý.
3.1.

Kích thước mẫu nghiên cứu
Phương pháp phân tích dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu này là phân tích nhân
tố và mô hình cấu trúc tuyến tính SEM đều cần phải có một cỡ mẫu đủ lớn. Theo
Hair và cộng sự (2006) để sử dụng phân tích nhân tố, kích thước mẫu tối thiểu phải
là 50, tốt hơn là 100 và tỉ lệ quan sát/biến đo lường là 5:1. Còn đối với mô hình
SEM, kích thước mẫu gấp 5 lần hoặc tốt hơn là 10 lần số biến quan sát (Kline, 2011,
trang 11-12). Với 6 biến quan sát thuộc biến Sự hiểu biết về môi trường là biến độc

lập, 9 biến quan sát trong đó có 4 biến thuộc biến Độ nhạy cảm về môi trường và 5
biến thuộc biến Sự gắn bó điểm đến là biến trung gian, 5 biến quan sát thuộc biến
Hành vi trách nhiệm với môi trường là biến phụ thuộc tạo ra 20 biến quan sát trong
thang đo, dựa theo các cách tính kích thước mẫu đã nêu và khả năng thực hiện khảo
sát của bản thân, bằng phương pháp chọn mẫu định mức, nhóm tác giả chọn kích
thước mẫu là 120.
Diễn đạt và mã hóa thang đo
Bảng 1. Thang đo các khái niệm nghiên cứu

Thang đo gốc

Thang đo đã dịch sang
tiếng Việt và điều chỉnh

Mã hóa

Sự hiểu biết về môi trường (Environmental Knowledge)
I know that excessive ocean
recreational
activities
will
damage oceanic environments of
islands
(Cheng & Wu, 2015).
I know that carbon dioxide
emissions by automobiles and
motorcycles will pollute the
islands (Cheng & Wu,
2015).


Tôi biết việc tổ chức quá
nhiều các hoạt động vui
chơi giải trí sẽ phá hoại môi
trường biển đảo.
Tôi biết khí thải CO2 từ các
phương tiện sẽ làm ô nhiễm
môi trường biển đảo.

181

HIEUBIET
1

HIEUBIET
2


Kỷ yếu Nghiên cứu khoa học sinh viên UEH 2019
I know that over extensive
tourism
development
will
sacrifice natural resources and
environments (Cheng &
Wu, 2015).
I know that, in the trip, the use of
green tableware, such as bowls
and chopsticks will avoid
damage to the
environment (Cheng & Wu,

2015).
I
know that the use of
public transportation or
biking can avoid air
pollution (Cheng & Wu, 2015).
I know that the maintenance of
ecological balance will enhance
the sustainable development of
islands
(Cheng & Wu, 2015).

Tôi biết việc phát triển du
dịch quá rộng rãi sẽ dẫn đến
cạn kiệt nguồn tài nguyên
thiên nhiên và
phá hủy môi trường.
Tôi biết trong các chuyến
đi, việc sử dụng đồ dùng cá
nhân thân thiện với môi
trường sẽ tránh
khỏi việc phá hoại môi
trường.
Tôi biết việc sử dụng các
phương tiện công cộng và xe
đạp sẽ giảm
ô nhiễm không khí.
Tôi biết việc duy trì cân
bằng sinh thái sẽ nâng cao
sự phát triển bền vững cho

biển đảo.

HIEUBIET
3

HIEUBIET
4

HIEUBIET
5

HIEUBIET
6

Độ nhạy cảm về môi trường (Environmental Sensivity)
Thang đo gốc
I enjoy natural environment
(Cheng &
Wu, 2015).
I am concerned about the
ecological preservation in islands.
(Cheng & Wu,
2015).
I appreciate the natural
environment of
islands (Cheng & Wu, 2015).
I care about the impact of my
living habits on the natural
environments of
islands (Cheng & Wu, 2015).


Thang đo đã dịch sang
tiếng
Việt và điều chỉnh
Tôi thích môi trường tự
nhiên.
Tôi quan tâm việc bảo tồn
hệ sinh học trên các đảo.

Tôi yêu thích môi trường tự
nhiên
của biển đảo.
Tôi quan tâm đến những

c động từ thói quen của
mình lên
môi trường biển đảo.
182

Mã hóa

NHAYCA
M1

NHAYCA
M2
NHAYCA
M3

NHAYCA

M4


Kỷ yếu Nghiên cứu khoa học sinh viên UEH 2019
Sự gắn bó điểm đến (Place Attachment)
I enjoy traveling in Penghu more
than
other tourism destinations
(Cheng & Wu, 2015).

Tôi thích đi du lịch đến Phú
Quốc
hơn bất kì địa điểm du
lịch nào khác.

I am more satisfied with traveling
in
Penghu than other tourism
destinations (Cheng & Wu,
2015).
It is more important to visit
Penghu than other tourism
destinations (Cheng
& Wu, 2015).
No other tourism locations can
replace
the tourism of Penghu (Cheng &
Wu, 2015).
I have special feelings for the
Penghu and the tourists (Cheng &

Wu, 2015).

Tôi cảm thấy hài lòng với
chuyến
du lịch ở Phú Quốc hơn là ở
các địa điểm du lịch khác.
Du lịch đến Phú Quốc quan
trọng với tôi hơn là du lịch ở
các nơi
khác.
Không có địa điểm du lịch
nào có thể thay thế được Phú
Quốc.
Tôi có cảm giác rất đặc biệt
về cả cư dân tại đảo Phú
Quốc lẫn du
khách.

GANBO1

GANBO2

GANBO3

GANBO4

GANBO5

Hành vi trách nhiệm với môi trường (Environmentally Responsible Behavior)
I


try to
solve the
environmental problems in
Penghu (Cheng & Wu,
2015).
I read the reports, advertising,
and book related to the
environment of Penghu (Cheng
& Wu, 2015).
I discuss with others about
environmental protection of
Pengh
u (Cheng & Wu, 2015).

Tôi luôn cố gắng giải quyết
những vấn đề môi trường
tại Phú
Quốc.
Tôi có đọc những mẫu báo
cáo, quảng cáo, và sách vở
liên quan đến vấn đề môi
trường tại Phú
Quốc.
Tôi có bàn luận với mọi
người
việc bảo vệ môi trường tại
Phú Quốc.

183


MOITRUO
NG1

MOITRUO
NG2

MOITRUO
NG3


Kỷ yếu Nghiên cứu khoa học sinh viên UEH 2019
I try to convince companions to
adopt positive behaviors in the
natural environments of Penghu
(Cheng & Wu, 2015).

When I see others’ inadequate
environmental
behavior
in
Penghu, I will report it to the
authorities (Cheng & Wu, 2015).

3.2.

Tôi cố gắng thuyết phục các
thành viên trong tour của
mình có hành vi mang tính
tích cực đối với môi trường

tự nhiên tại Phú
Quốc.
Khi tôi bắt gặp những
người khác có hành vi gây
ảnh hưởng xấu đến môi
trường tại Phú Quốc, tôi sẽ
báo cáo với chính quyền địa
phương.

MOITRUO
NG4

MOITRUO
NG5

Phương pháp định lượng

Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng trong giai đoạn nghiên cứu để
kiểm định thang đo và sự phù hợp của mô hình nghiên cứu. Giai đoạn này được thực
hiện thông qua việc khảo sát ngẫu nhiên các đối tượng khách du lịch nội địa đã từng
tham gia hoạt động du lịch ở Phú Quốc bằng bản câu hỏi khảo sát giấy và biểu mẫu
khảo sát online. Dữ liệu được thu thập trong 1 tháng (từ tháng 25/01 đến tháng 25/02
năm 2019), với số lượng bản hỏi phát ra là 150 bản, thu về 134 bản, có 120 bản câu
hỏi hữu dụng được đưa vào xử lý và phân tích.
Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm IBM SPSS 23 và IBM AMOS 24 với các
công cụ: kiểm định thang đo bằng Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá
EFA (Exploratory Factor Analysis) (dùng công cụ SPSS); phân tích nhân tố khẳng
định CFA (Confirmatory Factor Analysis), kiểm định sự phù hợp của mô hình và các
giả thuyết nghiên cứu bằng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM (Structural Equation
Model) (dùng công cụ AMOS).

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Số lượng bản câu hỏi phát ra là 150 bản, thu về 134 bản, có 120 bản câu hỏi hữu
dụng được đưa vào xử lý và phân tích. Sau khi thống kê các yếu tố liên quan đến
nhân khẩu học của 120 đối tượng khảo sát, nhóm tác giả rút ra kết quả thống kê đặc
điểm mẫu khảo sát được thể hiện trong bảng 2.
Bảng 2. Đặc điểm mẫu khảo sát
Đặc điểm
Giới tính

Tần số
Nam
Nữ
18-23

64
56
34
184

%
53.3
46.7
28.3


Kỷ yếu Nghiên cứu khoa học sinh viên UEH 2019
Độ tuổi

Tình trạng

hôn nhân

Trình độ học
vấn

Thu nhập cá
nhân hàng
tháng

Nghề nghiệp

Vùng miền
sinh sống

24-30
31-40
41-50
51-60
Trên 60
Độc thân
Có gia đình, chưa có con
Có gia đình, đã có con
THPT
Cao đẳng, trung cấp
Đại học
Thạc sĩ
Tiến sĩ
Dưới 5 triệu đồng
Từ 5 đến 10 triệu đồng
Từ 11 đến 20 triệu đồng

Từ 21 đến 30 triệu đồng
Nhiều hơn 30 triệu đồng
Học sinh/Sinh viên
Nhân viên văn phòng
Nội trợ
Nông/lâm/ngư dân
Nhân viên ngành dịch vụ
Khác
Bắc Bộ (bao gồm khu vực
Đông Bắc Bộ, Tây Bắc Bộ
và đồng bằng sông Hồng)
Trung Bộ (bao gồm khu vực
Bắc Trung Bộ, Nam Trung
Bộ và Tây Nguyên)
Nam Bộ (bao gồm khu vực
Đông Nam Bộ và đồng
bằng sông Cửu Long)
Một lần

Số lần tham
gia hoạt động
Hai lần
du lịch tại
Từ 3 lần trở lên
Phú Quốc
tính đến thời
điểm hiện tại
(Nguồn: Từ kết quả tính toán của nhóm tác giả)
185


26
20
23
14
3
49
9
62
35
24
52
7
2
32
36
33
15
4
28
22
13
5
18
34

21.7
16.7
19.2
11.7
2.5

40.8
7.5
51.7
29.2
20.0
43.3
5.8
1.7
26.7
30
27.5
12.5
3.3
23.3
18.3
10.8
4.2
15.0
28.3

6

5.0

20

16.7

94


78.3

51

42.5

27

22.5

42

35.0


Kỷ yếu Nghiên cứu khoa học sinh viên UEH 2019
20 biến quan sát được đưa vào kiểm định Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố
khám phá EFA. Phép trích Principal Axis Factory cùng với phép quay vuông góc
Promax được sử dụng để phản ánh cấu trúc dữ liệu chính xác hơn và phù hợp với các
bước kiểm định tiếp theo là CFA và SEM. Sau nhiều lần loại biến quan sát để thỏa
các tiêu chuẩn hệ số KMO
= 0.804 > 0.5, eigenvalue > 1, các trọng số nhân tố < 0.5 hoặc chênh lệch giữa hai
trọng số > 0.3, nhóm tác giả đã tiến hành loại bỏ 4 biến không phù hợp với tổng
phương sai trích là 63,8% nằm ở cột cho biết các nhân tố này giải thích được lượng
biến thiên của dữ liệu, còn lại 26.2% là bởi các nhân tố khác không rút trích được.
Sau khi loại các biến quan sát do kết quả phân tích EFA, hệ số Cronbach’s alpha của
các nhân tố còn lại đều > 0.6 và hệ số tương quan biến tổng hiệu chỉnh > 0.3 nên đều
đạt yêu cầu.
Kết quả phân tích nhân tố khẳng định CFA với 14 biến quan sát được giữ lại đều đạt
yêu cầu về trọng số chuẩn hóa > 0.5 cho thấy mô hình tới hạn phù hợp với dữ liệu

khi các chỉ số quan trọng đều đạt yêu cầu: CMIN/DF = 1.961< 3; GFI = 0.872, CFI =
0.927, TLI = 0.901 đều > 0.9; AGFI = 0.831 > 0.8; 0.05 < RMSEA = 0.090 < 0.10.
Khi xem xét yêu cầu về độ tin cậy tổng hợp CR (Composite Reliability) > 0.7; giá trị
hội tụ và giá trị phân biệt thể hiện qua phương sai trích EVA (Average Variance
Extracted) > 0.5; thang đo với 5 nhân tố, thang đo với 4 nhân tố và 14 biến quan sát
đều đạt yêu cầu. Kết quả phân tích nhân tố khẳng định CFA được trình bày trong
bảng 3.
Bảng 3. Tổng hợp các kết quả Cronbach’s anpha, trọng số
nhân số EFA, trọng số chuẩn hóa CFA
Trọng số nhân tố
Biến quan sát
EFA
1

2

3

4

Trọng số
chuẩn hóa
CFA

HIEUBIET1

0.747

0.640


HIEUBIET2

0.705

0.678

HIEUBIET3

0.655

0.737

HIEUBIET4

0.556

0.606

HIEUBIET5

0.510

0.662

NHAYCAM1

0.877

0.912


NHAYCAM3

0.868

0.873

GANBO1

0.781

0.892
186


Kỷ yếu Nghiên cứu khoa học sinh viên UEH 2019
GANBO2

0.885

0.823

GANBO3

0.699

0.773

GANBO4

0.691


0.811

MOITRUONG
3
MOITRUONG
4
MOITRUONG
5
Giá trị
5.367
2.228
1.457
Eigenvalue
Phương sai
49.198
61.821
35.671
trích
Cronbach’s
0.875
0.797
0.840
Alpha
(Nguồn: từ kết quả tính toán của nhóm tác giả)

0,812

0.794


0,641

0.820

0,786

0.782

1.001
57.153
0.885

Kết quả phân tích mô hình SEM với phương pháp ước lượng hợp lý cực đại
Maximum Likelihood cho thấy mô hình có ý nghĩa thống kê. Bảng 4, bảng 5 và hình
2 thể hiện kết quả độ phù hợp của mô hình nghiên cứu so với dữ liệu.
Bảng 4. Thống kê mô tả, tương quan, độ tin cậy tổng hợp và phương sai trích
Me
SD
CR
AV
1
2
an
E
1. HIEUBIET
5.22
1.0
0.7
0.4
0.6

3
41
88
80
93
2. NHAYCAM
6.0
0.9
0.8
0.7
0.6
0.8
04
24
87
97
50
93
4.1
1.1
0.8
0.6
0.7
0.3
3. GANBO
08
40
75
36
94

94
4.
4.4
1.1
0.8
0.6
0.5
0.3
MOITRUONG
31
34
41
38
88
43
Các phần tử in đậm trên đường chéo là các căn bậc hai của mỗi AVE.
(Nguồn: Từ kết quả tính toán của nhóm tác giả)

187

3

4

0.7
97
0.6
14

0.7

99


Kỷ yếu Nghiên cứu khoa học sinh viên UEH 2019

Hình 2. Kết quả phân tích mô hình SEM
(Nguồn: từ kết quả tính toán của nhóm tác giả)
Ngoài ra, kết quả ước lượng bootstrap với số lượng mẫu lặp là 200 đối với mô hình
cho thấy các sai số lệch chuẩn của độ chênh lệch (SE-Bias) giữa ước lượng
bootstrap và ước lượng Maximum Likelihood đều không có ý nghĩa thống kê (p <
0.05). Hơn nữa, tất cả các chỉ số tới hạn C.R (Critical ratio) đều đạt yêu cầu (<
1.96). Vì vậy, các số liệu, ước lượng trong mô hình hoàn toàn đảm bảo độ tin cậy,
chứng minh rằng mô hình phù hợp với nghiên cứu.
Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu được trình bày trong bảng 5. Các kết quả
kiểm định giả thuyết khẳng định mối quan hệ cùng chiều giữa các yếu tố: Sự hiểu
biết về môi trường, Độ nhạy cảm về môi trường, Sự gắn bó điểm đến và Hành vi
trách nhiệm đối với môi trường.
Bảng 5. Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu

Giả
thuyết

β
ch
uẩ
n


β
chư

a
chu
ẩn

S,E,

C,R
,

188

P

Kết quả
kiểm định giả
thuyết


Kỷ yếu Nghiên cứu khoa học sinh viên UEH 2019
a

hóa

H1

0.70
0.74
0.15
4.86
5

7
4
4
H2
0.24
0.31
0.13
2.43
5
6
0
4
H3
0.26
0.31
0.11
2.75
7
9
6
6
H4
0.45
0.42
0.09
4.60
7
4
2
0

(Nguồn: từ kết quả tính toán của nhóm tác giả)

***

Chấp nhận

0.0
15
0.0
06
***

Chấp nhận
Chấp nhận
Chấp nhận

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Đóng góp về mặt lý thuyết
Trong bối cảnh du lịch biển đảo ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt là tình hình du lịch ở
Phú Quốc, nghiên cứu đã có những kết quả phù hợp với các dữ liệu đã thu được. Các
giả thuyết đã được chấp nhận có tính tương đồng cao và hoàn toàn phù hợp với
nghiên cứu trước của Cheng & Wu (2015) trong khoảng thời gian gần đây. Nghiên
cứu đã khẳng định Sự hiểu biết về môi trường tác động cùng chiều đến Độ nhạy cảm
về môi trường; Độ nhạy cảm về môi trường tác động cùng chiều đến Sự gắn bó điểm
đến và Hành vi trách nhiệm đối với môi trường du lịch; Sự gắn bó điểm đến tác động
cùng chiều lên Hành vi trách nhiệm đối với môi trường.
Hệ số β đã chuẩn hóa (theo bảng 5) cho thấy mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến
thái độ hành vi trách nhiệm của người dân và du khách đối với môi trường du lịch
biển đảo. Thông qua các kết quả phân tích SEM thể hiện các nhân tố tác động đến

Hành vi trách nhiệm của khách du lịch đến môi trường biển đảo, các kết quả chỉ ra
rằng Sự gắn bó điểm đến có tác động trực tiếp và mạnh nhất (β = 0.457) và còn lại là
Độ nhạy cảm về môi trường có tác động trực tiếp (β = 0.267) đối với Hành vi trách
nhiệm đối với môi trường. Độ nhạy cảm về môi trường tác động trực tiếp lên Sự gắn
bó đối với điểm đến là yếu nhất (β = 0.245) và kém hơn sự tác động của biến đến
Hành vi trách nhiệm đối với môi trường du lịch biển đảo (β = 0.267). Từ các kết quả
trên nhóm tác giả nhận ra rằng những hành vi trách nhiệm đối với du lịch biển đảo
của người dân và khách du lịch chịu sự ảnh hưởng trực tiếp và đáng kể nhất bởi yếu
tố tâm lý gắn bó đối với điểm đến và một phần chịu sự ảnh hưởng bởi tâm lý nhạy
cảm đối với môi trường của người dân và du khách. Có thể kết luận rằng: Việc yêu
thích điểm đến du lịch khiến du khách có trách nhiệm với môi trường hơn; đặc biệt
trong bối cảnh du lịch biển đảo đang phát triển ở Việt Nam như hiện nay. Đồng thời,
du khách Việt Nam dần trở nên văn minh hơn khi họ chứng kiến những tác động tiêu
cực đến môi trường. Điều đó khiến du khách một phần tự điều chỉnh hành vi của
mình có trách nhiệm với môi trường hơn khi đi du lịch đặc biệt là du lịch ở biển đảo.
189


Kỷ yếu Nghiên cứu khoa học sinh viên UEH 2019
Ngoài ra, yếu tố sự hiểu biết về môi trường có tác động khá lớn và trực tiếp đến Độ
nhạy cảm về môi trường (β = 0.705), giúp nhóm tác giả đưa ra kết luận rằng việc du
khách có những hiểu biết, những kiến thức về bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên
nhiên du lịch biển đảo tác động mạnh mẽ đến độ nhạy cảm của họ đối với điểm du
lịch biển đảo. Như đã đề cập ở trên, du khách Việt Nam khi đi du lịch dần có những
biểu hiện văn minh hơn nên những tác động mạnh mẽ của yếu tố sự hiểu biết về môi
trường lên độ nhạy cảm về môi trường là hoàn toàn hợp lý. Tác động mạnh mẽ trên
là cơ sở để giải thích tác động trực tiếp của yếu tố độ nhạy cảm về môi trường lên sự
gắn bó đối với điểm đến (β = .245) và cũng giải thích cho tác động gián tiếp của yếu
tố sự hiểu biết về môi trường lên yếu tố sự gắn bó đối với điểm đến.
Đóng góp về mặt thực tiễn

Kết quả của nghiên cứu về “Tác động của sự hiểu biết về môi trường, độ nhạy cảm
về môi trường và sự gắn bó điểm đến tới hành vi trách nhiệm của du khách đối với
môi trường du lịch biển đảo Việt Nam: Trường hợp Phú Quốc” cung cấp cho các nhà
quản lý du lịch những khám phá mới mẻ về thái độ và hành vi của du khách đối với
môi trường.
Dựa trên những kết quả nghiên cứu về mặt lý thuyết, nhóm tác giả xin đưa ra một số
kiến nghị về mặt thực tiễn như sau:
1.

Nâng cao nhận thức, sự hiểu biết và quan tâm về môi trường

Chúng ta luôn rất cần phổ biến rộng rãi hơn đối với du khách về những kiến thức
môi trường cũng như bảo vệ môi trường biển đảo trong hoạt động du lịch để du
khách Việt Nam trở nên văn minh hơn khi tham gia du lịch biển bảo.
Thông qua các chiến dịch về môi trường
Tổ chức các triển lãm tại các bãi biển về các sản phẩm tái chế từ rác thải, hay các
tranh ảnh về tác động tiêu cực của du lịch đến tài nguyên tự nhiên tại Phú Quốc. Bên
cạnh đó, cần chú trọng thực hiện các chiến dịch về môi trường dựa trên các phân
khúc du khách như trong bài nghiên cứu, ví dụ: “Biển Việt Nam xanh”, “Hãy làm
sạch biển”,… nhằm xây dựng cho du khách một cái nhìn cụ thể, khách quan về hành
vi trách nhiệm đối với môi trường.
2.

Nhắn gửi thông điệp hướng đến hành động đẹp
Thông điệp về môi trường cần được in vào brochure của các công ty du lịch, in bằng
giấy hay trình chiếu bằng các bảng điện tử tại điểm đến nhằm mang đến cho du
khách sự hiểu biết về tầm quan trọng của tài nguyên du lịch biển đảo
3.

Thông qua hướng dẫn viên của các chương trình du lịch

Những kiến thức về môi trường cần được hướng dẫn viên giới thiệu đến du khách
một cách thường xuyên, rõ ràng và chi tiết. Những gì cần được giới thiệu không chỉ
là kiến thức về môi trường, mà còn có kiến thức về phát triển du lịch bền vững hay
cụ thể hơn là bảo vệ môi trường tại chính điểm đến du lịch. Bên cạnh đó, hướng dẫn
4.

190


Kỷ yếu Nghiên cứu khoa học sinh viên UEH 2019
viên còn đề xuất cho du khách sử dụng những vật dụng cá nhân thân thiện với môi
trường, chỉ dẫn và giải thích những hoạt động có thể gây ảnh hưởng xấu đến môi
trường, cảnh quan thiên nhiên.
Gia tăng sự gắn bó giữa con người đối với điểm đến du lịch
Các hoạt động về nâng cao nhận thức và sự hiểu biết về môi trường cần được tiến
hành một cách chặt chẽ và thường xuyên nhất. Ngoài ra, việc đón nhận một cách cởi
mở và thân thiện của cộng đồng địa phương cũng là một khía cạnh đáng lưu tâm vì
nó có thể tạo được hình ảnh điểm đến khiến du khách thoải mái và có cảm giác an
toàn, hứng thú với điểm du lịch.
5.

6.

Thực thi các chính sách phù hợp và hiệu quả

Những nhà chủ đầu tư, các bên tham gia khai thác hoạt động du lịch tại đảo Phú
Quốc nên có giải pháp góp phần phát triển du lịch biển đảo tại đây một cách bền
vững. Chính phủ cùng các Sở, ban ngành liên quan cần ban hành điều lệ liên quan
đến bảo vệ, bảo tồn môi trường biển đảo trong khai thác các loại hình du lịch tại Phú
Quốc. Cụ thể, các dự án, công trình về khai thác du lịch bắt buộc thực hiện đánh giá

tác động môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, báo cáo đánh
giá tác động môi trường phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trước khi khởi
công dự án đầu tư.
Chính phủ cần phải ban hành những quyết định, điều lệ liên quan nhằm tránh việc
đầu tư cơ sở hạ tầng, địa ốc hoặc các dịch vụ phục vụ cho hoạt động du lịzch gây nên
sức ép đến hệ sinh thái cảnh quan của quần đảo, của biển và vườn quốc gia trong khu
vực.
Việc định hướng quy hoạch khu du lịch phải đặc biệt lưu tâm đến môi trường tự
nhiên của biển, thảm thực vật, rặng san hô biển, bờ biển,…. Ngoài ra, việc quy hoạch
các khu du lịch cũng phải hài hoà với khu dân cư, làng chài, và các thắng cảnh của
hòn đảo. Song song đó, hệ thống cấp thoát, xử lý nước cũng nên được đầu tư, tránh
việc thải trực tiếp ra biển mà không qua xử lý.
Quan trọng hơn, Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch và Sở Du lịch tỉnh Kiên Giang cần
khuyến khích các hãng lữ hành sáng tạo, thiết kế, xây dựng được các sản phẩm du
lịch đặc trưng của Phú Quốc nhưng gắn liền với phát triển bền vững.
Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo
Bài nghiên cứu trên sử dụng hai phương pháp là nghiên cứu dữ liệu thứ cấp và
nghiên cứu định lượng. Việc thay đổi cách thức nghiên cứu kết hợp giữa định tính và
định lượng sẽ tăng tính khách quan cho nghiên cứu trong tương lai. Vì nghiên cứu
định tính sẽ biết được chính bản thân du khách nghĩ gì các vấn đề môi trường biển
đảo, việc thu thập các ý kiến cá nhân sẽ phản ảnh thực tế và đưa ra cái nhìn trực quan
191


Kỷ yếu Nghiên cứu khoa học sinh viên UEH 2019
hơn. Hơn hết là sẽ phù hợp với bối cảnh du lịch đại chúng ngày càng phát triển. Từ
đó cho kết quả chính xác, khách quan hơn.
Bên cạnh đó, đối tượng tham gia khảo sát 100% là khách nội địa, chỉ phản ánh một
phần nhận thức và suy nghĩ của du khách về vấn đề môi trường biển đảo. Nhóm tác
giả chưa tiếp cận được đến khách du lịch quốc tế tham gia du lịch tại Phú Quốc nên

chưa có số liệu, thông tin cũng như suy nghĩ của họ về vấn đề mà nhóm tác giả đang
nghiên cứu. Mặt khác, việc khảo sát được thực hiện với số lượng mẫu chưa nhiều
nên khả năng phản ánh thực tế cũng chưa thực sự cao. Nếu số lượng mẫu tăng thêm
có thể dẫn đến thay đổi kết quả của nghiên cứu này. Mặt khác, khi thực hiện khảo
sát không thể tránh khỏi việc đối tượng khảo sát không hiểu được câu hỏi dẫn đến
chọn đáp án một cách cảm tính, đây cũng là một nguyên nhân khiến cho kết quả
nghiên cứu có thể bị sai lệch thực tế.
Ngoài ra, đối tượng của nghiên cứu này chỉ tập trung vào du khách, trong khi đó
trách nhiệm đối với môi trường du lịch còn bao gồm nhiều đối tượng khác như các
nhà cung ứng dịch vụ du lịch (phương tiện vận chuyển, cơ sở lưu trú địa phương,
khu vui chơi giải trí, điểm tham quan,…), người dân địa phương và những đối tượng
khác tham gia vào hoạt động du lịch . Vì vậy, những nghiên cứu tiếp theo có thể tiến
hành nghiên cứu với phạm vi rộng hơn về ảnh hưởng của các bên tham gia vào hoạt
động du lịch đối với môi trường.
Một hạn chế khác của nghiên cứu này đó là chỉ tập trung vào đảo Phú Quốc; các
nghiên cứu trong tương lai nên mở rộng nghiên cứu theo khu vực hoặc theo tuyến,
theo thị trường,.. để khám phá được các đặc trưng, tính chất khác của môi trường tại
điểm du lịch. Mô hình nghiên cứu của nghiên cứu này đã chứng minh mối quan hệ
giữa bốn biến. Các nhà nghiên cứu trong tương lai nên tập trung vào các biến số
khác, chẳng hạn như thái độ của du khách đối với phát triển du lịch bền vững và sự
hỗ trợ của cộng đồng địa phương cho du lịch bền vững để có thể có cách tiếp cận
mới mẻ hơn về mối quan hệ nguyên nhân – kết quả của hành vi trách nhiệm đối với
môi trường du lịch.

192


Kỷ yếu Nghiên cứu khoa học sinh viên UEH 2019
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Arcury, T. A. (1990). Environmental attitude and environmental knowledge. Human

organization, 300-304.
Bohdanowicz, P. (2006). Environmental awareness and initiatives in the Swedish
and Polish hotel industries—survey results. International Journal of Hospitality
Management, 25(4), 662-682.
Bradley, J. C., Waliczek, T. M., & Zajicek, J. M. (1999). Relationship between
environmental knowledge and environmental attitude of high school students. The
Journal of Environmental Education, 30(3), 17-21.
Chen, C.-L., & Bau, Y.-P. (2016). Establishing a multi-criteria evaluation structure
for tourist beaches in Taiwan: A foundation for sustainable beach tourism. Ocean &
Coastal Management, 121, 88-96.
Cheng, T.-M., C. Wu, H., & Huang, L.-M. (2013). The influence of place attachment
on the relationship between destination attractiveness and environmentally
responsible behavior for island tourism in Penghu, Taiwan. Journal of Sustainable
Tourism, 21(8), 1166- 1187.
Cheng, T.-M., & Wu, H. C. (2015). How do environmental knowledge,
environmental sensitivity, and place attachment affect environmentally responsible
behavior? An integrated approach for sustainable island tourism. Journal of
Sustainable Tourism, 23(4), 557-576.
Eusébio, C., Vieira, A. L., & Lima, S. (2018). Place attachment, host–tourist
interactions, and residents’ attitudes towards tourism development: the case of Boa
Vista Island in Cape Verde. Journal of Sustainable Tourism, 26(6), 890-909.
Fryxell, G. E., & Lo, C. W. (2003). The influence of environmental knowledge and
values on managerial behaviours on behalf of the environment: An empirical
examination of managers in China. Journal of business ethics, 46(1), 45-69.
Hai, M. A., & Alamgir, M. B. (2017). Local Community Attitude and Support
Towards Tourism Development at Saint Martin Island, Bangladesh: Local
Community Attitude and Support. International Journal of Tourism and Hospitality
Management in the Digital Age (IJTHMDA), 1(2), 32-41.

193



Kỷ yếu Nghiên cứu khoa học sinh viên UEH 2019
Hanafiah, M. H., Jamaluddin, M. R., & Zulkifly, M. I. (2013). Local community
attitude and support towards tourism development in Tioman Island, Malaysia.
Procedia- Social and Behavioral Sciences, 105, 792-800.
Hair, J. F., Black W. C., Babin, B. J., Anderson, R. E., & Tatham, R. L. (2006).
Multivariate Data Analysis, 6th Ed, Upper Saddle River, NJ: Prentice–Hall.
Ho, J. A., Chia, K. W., Ng, S. I., & Ramachandran, S. (2017). Problems and
stakeholder responsibilities in island tourism: The case of Tioman Island in
Malaysia. Journal of Hospitality & Tourism Research, 41(4), 445-474.
Jackie Ong, L. T., & Smith, R. A. (2014). Perception and reality of managing
sustainable coastal tourism in emerging destinations: the case of Sihanoukville,
Cambodia. Journal of Sustainable Tourism, 22(2), 256-278.
Kline, R. B. (2011). Principles and practice of structural equation modelling, 3rd
Ed., New York: Guilford Press.
Lee, T. H., & Jan, F.-H. (2015). The influence of recreation experience and
environmental attitude on the environmentally responsible behavior of communitybased tourists in Taiwan. Journal of Sustainable Tourism, 23(7), 1063-1094.
Lozoya, J. P., Sardá, R., & Jiménez, J. A. (2014). Users expectations and the need
for differential beach management frameworks along the Costa Brava: Urban vs.
natural protected beaches. Land Use Policy, 38, 397-414.
Presenza, A., Del Chiappa, G., & Sheehan, L. (2013). Residents’ engagement and
local tourism governance in maturing beach destinations. Evidence from an Italian
case study. Journal of Destination Marketing & Management, 2(1), 22-30.
Ram, Y., Björk, P., & Weidenfeld, A. (2016). Authenticity and place attachment of
major visitor attractions. Tourism Management, 52, 110-122.
Ramkissoon, H. (2016). Place satisfaction, place attachment and quality of life:
Development of a conceptual framework for island destinations. Sustainable Island
Tourism: Competitiveness and Quality of Life; Modica, P., Uysal, M., Eds, 106-116.
Ramsey, C. E., & Rickson, R. E. (1976). Environmental knowledge and attitudes.

The Journal of Environmental Education, 8(1), 10-18.

194


Kỷ yếu Nghiên cứu khoa học sinh viên UEH 2019
Ribeiro, M. A., Valle, P. O. d., & Silva, J. A. (2013). Residents’ attitudes towards
tourism development in Cape Verde Islands. Tourism Geographies, 15(4), 654-679.
Vaske, J. J., & Kobrin, K. C. (2001). Place attachment and environmentally
responsible behavior. The Journal of Environmental Education, 32(4), 16-21.

195




×