BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
KHÚC TRỌNG QUANG
NĂNG LỰC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CỦA THẨM
PHÁN TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ THỰC
TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI – 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
KHÚC TRỌNG QUANG
NĂNG LỰC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CỦA THẨM
PHÁN TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ THỰC
TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN QUỐC SỬU
HÀ NỘI – 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực.
Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa
vụ tài chính theo quy định của Học viện Hành chính Quốc gia.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Học viện Hành chính Quốc gia
xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN
Khúc Trọng Quang
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình nghiên cứu đề tài luận văn tác giả đã nhận
được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của tập thể và cá nhân các
nhà khoa học. Tác giả xin chân thành cám ơn tập thể Lãnh đạo Học viện Hành
Chính Quốc Gia, Khoa sau đại học và giảng viên đã giúp đỡ tác giả trong suốt
thời gian học tập, nghiên cứu tại Học viện Hành Chính Quốc Gia.
Tác giả xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Quốc Sửu, người
hướng dẫn khoa học đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn, giúp đỡ
tác giả hoàn thành luận văn này.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo Tòa án nhân dân
huyện Thủy Nguyên, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tạo điều kiện
giúp đỡ cho tác giả trong quá trình thu thập thông tin và số liệu để thực hiện
luận văn này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thành luận văn, tuy nhiên do kinh
nghiệm nghiên cứu còn chưa nhiều, thời gian nghiên cứu ngắn, luận văn
không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Tác giả rất mong nhận được
sự đóng góp ý kiến quý báu của Quý thầy cô và các bạn để bản thân hoàn
thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2018
Tác giả
Khúc Trọng Quang
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ADPL
: Áp dụng pháp luật
BLHS
: Bộ luật hình sự
BLTTHS
: Bộ luật tố tụng hình sự
NNPQ
: Nhà nước pháp quyền
TAND
: Tòa án nhân dân
VAHS
: Vụ án hình sự
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
CỦA THẨM PHÁN TRONG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ................... 8
1.1. Khái quát về năng lực áp dụng pháp luật của Thẩm phán trong xét xử vụ
án hình sự .......................................................................................................... 8
1.2. Các yếu tố cấu thành năng lực áp dụng pháp luật của Thẩm phán trong
xét xử vụ án hình sự ........................................................................................ 24
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực áp dụng pháp luật của Thẩm phán
trong xét xử các vụ án hình sự ........................................................................ 32
Tiểu kết chương 1............................................................................................ 36
Chương 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CỦA
THẨM PHÁN TRONG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở TÒA ÁN
NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG..................................................... 37
2.1. Khái quát chung về Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng .................... 37
2.2. Thực trạng áp dụng pháp luật của Thẩm phán trong xét xử vụ án hình sự
tại Tòa án nhân dân ở thành phố Hải Phòng. .................................................. 41
2.3. Đánh giá chung về năng lực áp dụng pháp luật của Thẩm phán trong xét
xử vụ án hình sự ở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng..... ....................... 58
Tiểu kết chương 2............................................................................................ 68
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC ÁP
DỤNG PHÁP LUẬT CỦA THẨM PHÁN TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH
SỰ TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở HẢI PHÒNG .................... 69
3.1. Quan điểm về nâng cao năng lực áp dụng pháp luật của Thẩm phán trong
xét xử vụ án hình sự ....................................................................................... 69
3.2. Giải pháp nâng cao năng lực áp dụng pháp luật của Thẩm phán trong xét
xử vụ án hình sự từ thực tiễn thành phố Hải Phòng........................................ 75
Tiểu kết chương 3............................................................................................ 93
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 97
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Kết quả xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa Hình sự - Tòa án
nhân dân thành phố Hải Phòng năm 2016 ...................................................... 46
Bảng 2.2. Kết quả xét xử phúc thẩm vụ án hình sự của Tòa Hình sự - Tòa án
nhân dân thành phố Hải Phòng năm 2016 ...................................................... 50
Bảng 2.3. Kết quả xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa Hình sự - Tòa án
nhân dân thành phố Hải Phòng năm 2017 ...................................................... 53
Bảng 2.4. Kết quả xét xử phúc thẩm vụ án hình sự của Tòa Hình sự - Tòa án
nhân dân thành phố Hải Phòng năm 2017 ...................................................... 56
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng nhà nước pháp quyền (NNPQ) Việt Nam là con đường phát
triển tất yếu, phù hợp với xu thế chung của thời đại. Trong NNPQ, quyền tư
pháp giữ một vai trò đặc biệt quan trọng. Vì vậy, mục tiêu của chiến lược cải
cách tư pháp ở nước ta đến năm 2020 đã được chỉ ra trong Nghị quyết số 49NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị (gọi tắt là Nghị quyết số 49NQ/TW) là: "Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm
minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN); hoạt động tư pháp mà trọng tâm là
hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao" [2].
Áp dụng pháp luật (ADPL) trong hoạt động giải quyết án hình sự là
hoạt động thường xuyên của Tòa án nhân dân (TAND) trong quá trình thực
hiện chức năng, nhiệm vụ của mình do Hiến pháp và pháp luật quy định.
ADPL trong hoạt động giải quyết án hình sự của Toà án mang những đặc
điểm chung của hoạt động ADPL, bên cạnh đó, nó còn có những đặc điểm
riêng. Quy trình ADPL trong hoạt động giải quyết án hình sự của Toà án được
thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) nhưng luật nội
dung giải quyết vụ án hình sự (VAHS) phải là Bộ luật hình sự (BLHS). Việc
ADPL trong hoạt động của Toà án luôn là mối quan tâm của xã hội, đặc biệt
là khi chúng ta đang tiến hành cải cách tư pháp nhằm thực hiện tốt nhất công
cuộc đổi mới, xây dựng NNPQ.
Hoạt động ADPL về xét xử các VAHS của tòa án có vai trò đặc biệt
quan trọng đối với việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ công
lý, công bằng xã hội. ADPL về xét xử các VAHS của tòa án phải tuân thủ
đúng các nguyên tắc cơ bản của xét xử hình sự, các nguyên tắc hiến định đã
1
được quy định trong Hiến pháp năm 2013 và trong BLTTHS, BLHS, đáp ứng
yêu cầu xây dựng NNPQ ở nước ta hiện nay.
Để việc ADPL được thực hiện đúng và đảm bảo quyền lợi, lợi ích
chính đáng của Nhà nước, tổ chức, cá nhân thì vai trò của Thẩm phán, người
trực tiếp xét xử, hay nói cách khác là năng lực ADPL của Thẩm phán trong
quá trình giải quyết các VAHS đóng một vai trò hết sức quan trọng. Thực tiễn
về năng lực ADPL của Thẩm phán trong xét xử VAHS tại TAND thành phố
Hải Phòng trong thời gian qua về cơ bản đã đáp ứng được các nhiệm vụ đề ra
nhưng vẫn còn một số hạn chế như: vẫn còn tình trạng có tỷ lệ các bản án bị
hủy, bị cải sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán, năng lực, trình độ của Thẩm
phán ở một số Tòa còn những hạn chế nhất định, còn tình trạng Thẩm phán có
những nhận thức không thống nhất trong giải quyết án,.... Đó là những hạn
chế cần được khắc phục để nâng cao hơn nữa chất lượng xét xử của TAND
thành phố Hải Phòng nói riêng của Tòa án nói chung.
Từ những phân tích và lập luận trên học viên quyết định chọn đề tài
“Năng lực ADPL của Thẩm phán trong xét xử VAHS từ thực tiễn TAND
thành phố Hải Phòng” để làm luận văn cao học chuyên ngành Luật Hiến
pháp – Luật Hành chính tại Học viện Hành chính Quốc gia.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu đề tài vai trò tòa án, về
ADPL trong quá trình xét xử của TAND. Có thể điểm qua một số công trình
khoa học sau đây.
- Luận văn cao học của tác giả Phan Huyền Ly về đề tài “Vai trò của
tòa án trong NNPQ" năm 2015 tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội [13].
Tại luận văn này, tác giả nghiên cứu xác định nội dung có liên quan đến vai
trò của tòa án trong NNPQ. Luận văn đã xác định được khái niệm và đặc
điểm về vai trò của tòa án trong NNPQ. Luận văn cũng đã phân tích được nội
dung thể hiện vai trò của Tòa án trong NNPQ. Tuy nhiên, công trình nghiên
2
cứu trên đây chỉ xác định về vai trò của Tòa án trong NNPQ nói chung mà
không cụ thể tập trung nghiên cứu về vai trò của Tòa án trong xét xử VAHS.
- Luận văn cao học của tác giả Nhữ Văn Tâm về đề tài "Xây dựng đội
ngũ Thẩm phán theo hướng nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức nghề
nghiệp – liên hệ vào thực tiền của ngành tòa án tỉnh Thái Nguyên", năm
2006, tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội [35]. Trong luận văn trên, tác
giả Nhữ Văn Tâm đã nghiên cứu về vai trò, nội dung của đội ngũ Thẩm phán
trong hoạt động của Tòa án. Luận văn tập trung phân tích các giải pháp nhằm
xây dựng được đội ngũ thẩm phán của Tòa án nhân dân tại tỉnh Thái Nguyên.
- Luận văn cao học của tác giả Vũ Thu Hiền “Xây dựng đội ngũ Thẩm
phán đáp ứng với yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay” năm 2008,
tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội [7]. Trong luận văn này tác giả Vũ
Thu Hiền đã phân tích và đưa ra các quan điểm xây dựng đội ngũ Thẩm phán
nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay. Đội ngũ
thẩm phán có vai trò rất quan trọng trong cải cách tư pháp, trong đó hoạt động
xét xử VAHS. Trong chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Đảng và Nhà
nước ta luôn đặt vấn đề xây dựng đội ngũ thẩm phán là nội dung rất quan
trọng, chất lượng cải cách tư pháp đến năm 2020 có đạt được tốt hay không
phụ thuộc nhiều vào chất lượng đội ngũ thẩm phán trong giai đoạn tới.
Luận văn cao học của tác giả Trần Thị Thanh Bình "Xây dựng ý thức
pháp luật của thẩm phán trong bối cảnh cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay"
của tác giả Trần Thị Thanh Bình, năm 2014, Trường Đại học Luật Hà Nội [1].
Trong luận văn này, tác giả Trần Thị Thanh Bình đã tập trung luận giải một
số nội dung liên quan đến khái niệm ý thức pháp luật của thẩm phán trong
hoạt động xét xử các vụ án dân sự, hành chính và hình sự trong bối cảnh cải
cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay. Trong bối cảnh cải cách tư pháp ở Việt
Nam hiện nay, việc đảm bảo ý thức pháp luật của thẩm phán nhằm góp phần
tăng cường chất lượng xét xử trong tình hình mới.
3
Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Văn Kiểm: “ADPL trong hoạt động
xét xử án hình sự của TAND ở tỉnh Nam Định”, năm 2013, tại Khoa Luật Đại
học Quốc gia Hà Nội [11]. Trong luận văn này, tác giả Trần Văn Kiểm nghiên
cứu về hoạt động ADPL trong xét xử vụ án hình sự. Việc xét xử VAHS là
hoạt động cụ thể hóa các quy định của pháp luật hình sự vào thực tiễn vụ án
cụ thể. Trong hoạt động ADPL trong xét xử VAHS vai trò của Thẩm phán rất
quan trọng, nắm giữ vị trí trung tâm của hoạt động xét xử.
Luận văn thạc sỹ của tác giả Cao Thị Nga: “Văn hóa pháp luật của
Thẩm phán trong lĩnh vực tố tụng hành chính” năm 2014, tại Khoa Luật Đại
học Quốc gia Hà Nội [16]. Trong luận văn này, tác giả Cao Thị Nga luận giải
về khái niệm văn hoá pháp luật và văn hoá pháp luật của Thẩm phán trong
lĩnh vực xét xử vụ án hành chính ở Việt Nam hiện nay. Thẩm phán là trung
tâm của hoạt động xét xử, đảm bảo công cuộc cải cách tư pháp, việc xây dựng
nâng cao chất lượng của đội ngũ thẩm phán là một yêu cầu rất quan trọng.
Bài viết của tác giả Nguyễn Ngọc Chí, “Chức năng của Tòa án trong tố
tụng hình sự trước yêu cầu cải cách tư pháp”, Tạp chí khoa học Đại học quốc
gia Hà Nội năm 2009 [3]. Trong bài viết của mình, tác giả Nguyễn Ngọc Chí,
đã phân tích và đưa ra khái niệm về chức năng của Toà án trong tố tụng hình
sự. Trong đó, tác giả tập chung xây dựng quan điểm về chức năng xét xử của
Toà án, việc đảm bảo chức năng xét xử và hoạt động xét xử là rất quan trọng
trong giai đoạn hiện nay.
Bài viết của tác giả Đinh Văn Quế, “Thực tiễn ADPL hình sự, những
vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Toà án nhân dân số 3 năm 2012 [23].
Trong bài viết của mình, tác giả phân tích về hoạt động áp dụng pháp luật nói
chung và áp dụng pháp luật trong vụ án hình sự nói riêng. Trong hoạt động
ADPL vai trò của thẩm phán là rất quan trọng, đặc biệt là hoạt động ADPL
trong xét xử vụ án hình sự vv...
4
Tất cả các công trình nghiên cứu trên đây đã phân tích và đưa ra những
lập luận về nội dung liên quan đến ADPL và vai trò của thẩm phán trong
ADPL nói chung. Tuy nhiên, do cách tiếp cận vấn đề ở các khía cạnh khác
nhau, cũng như xác định nội dung nghiên cứu khác nhau nên các đề tài này
mới chỉ phân tích, làm rõ được một số vấn đề có liên quan đến hoạt động xét
xử của Toà án và ADPL trong xét xử hình sự của thẩm phán… mà chưa phân
tích cụ thể về hoạt động ADPL trong hoạt động xét xử vụ án hình sự của
Thẩm phán và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực ADPL của
Thẩm phán trong xét xử vụ án hình sự.
Đây là những công trình có chất lượng cao, là nguồn tài liệu để tác giả
tham khảo cho việc thực hiện luận văn. Đồng thời tác giả còn nghiên cứu các
báo cáo thực tiễn của Tòa án thành phố Hải Phòng, các bài viết, bài phát biểu
của các lãnh đạo Đảng, nhà nước gần đây về cải cách tư pháp, thi hành Hiến
pháp năm 2013.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Thông quan việc phân tích, đánh giá thực trạng ADPL của thẩm phán
trong giải quyết án hình sự tại TAND thành phố Hải Phòng, đề xuất quan
điểm và giải pháp nhằm nâng cao năng lực ADPL của Thẩm phán trong hoạt
động giải quyết án hình sự ở nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Từ mục đích nghiên cứu trên, đề tài có những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận của luận văn;
- Đánh giá thực trạng năng lực ADPL của thẩm phán trong xét xử án
hình sự thông qua khảo sát, đánh giá thực trạng ADPL của thẩm phán trong
xét xử VAHS từ thực tiễn thành phố Hải Phòng.
- Đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm tăng cường năng lực ADPL của
Thẩm phán trong xét xử các VAHS hiện nay.
5
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc ADPL hình sự và năng lực
ADPL của thẩm phán trong quá trình xét xử VAHS của TAND từ thực tiễn
thành phố Hải Phòng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Tác giả giới hạn phạm vi luận văn ở việc nghiên cứu
những vấn đề lý luận cơ bản và đánh giá tổng quan về thực trạng, đề xuất quan
điểm, giải pháp ADPL hình sự, pháp luật tố tụng hình sự mà không đi sâu vào
nghiên cứu cụ thể việc ADPL đối với các loại tội phạm cụ thể.
- Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu thực tiễn ADPL trong xét xử
hình sự của Thẩm phán TAND tại Thành phố Hải Phòng trong 5 năm từ năm
2013 đến năm 2017.
- Phạm vi không gian: TAND ở thành phố Hải Phòng (Bao gồm:
TAND thành phố và TAND các quận/huyện).
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được tiếp cận trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, các quan điểm của Đảng ta về NNPQ, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của khoa học pháp lý.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng trong luận văn là: phương pháp phân
tích, phương pháp tổng hợp, so sánh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về mặt lý luận: Luận văn góp phần làm sáng tỏ lý luận về ADPL và
năng lực ADPL của Thẩm phán trong xét xử VAHS của TAND .
- Về mặt thực tiễn: Luận văn có ý nghĩa thực tiễn đối với việc nâng cao
trình độ lý luận, chuyên môn cho Thẩm phán, Thư ký Tòa án, những người
6
trực tiếp làm công tác giải quyết án hình sự tại các TAND, góp phần nâng cao
chất lượng giải quyết án hình sự của TAND.
7. Kết cấu luận văn
Luận văn bao gồm phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và 3
chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về năng lực áp dụng pháp luật của thẩm phán
trong xét xử các vụ án hình sự
Chương 2. Thực trạng năng lực áp dụng pháp luật của Thẩm phán trong
xét xử các vụ án hình sự ở Tòa án nhân dân thành phố Hải phòng
Chương 3. Quan điểm và giải pháp nâng cao năng lực áp dụng pháp
luật của Thẩm phán trong xét xử các vụ án hình sự từ thực tiễn Tòa án nhân
dân ở Hải Phòng.
7
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CỦA
THẨM PHÁN TRONG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Khái quát về năng lực áp dụng pháp luật của Thẩm phán trong
xét xử vụ án hình sự
1.1.1. Khái niệm Thẩm phán
Theo quy định tại khoản 1, Điều 102 của Hiến pháp nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam năm 2013: "TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp" [30]. Theo đó, Tòa án là cơ quan
duy nhất được giao nhiệm vụ xét xử các vụ án và giải quyết các tranh chấp
xảy ra trong xã hội, "bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công
dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân" [30]. Tòa án thực hiện chức năng xét xử của mình
thông qua Thẩm phán và HTND.
Đội ngũ Thẩm phán ra đời khá muộn mặc dù nhiệm vụ xét xử đã có từ
rất lâu và không thể thiếu trong bộ máy nhà nước. Dưới chế độ Chiếm hữu nô
lệ, Nhà vua là người đại diện cho pháp luật, đồng thời có quyền xét xử. Khi
mà quyền lực nhà nước được chia thành ba quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp độc lập nhau, kiềm chế đối trọng nhau thì cũng đồng nghĩa với sự tách
biệt của Tòa án ra khỏi quyền hành pháp và lập pháp. Từ đó một đội ngũ
chuyên làm nhiệm vụ xét xử - Thẩm phán ra đời. Cho tới ngày nay, Thẩm
phán đã tham gia xét xử vào tất cả các lĩnh vực của đời sống, đáp ứng được
nhu cầu phát triển của nền kinh tế, xã hội.
Hiện nay, một hệ thống các văn bản pháp luật, Từ điển Luật học đã làm
sáng tỏ được rất nhiều về khái niệm Thẩm phán.
Theo từ điển Luật học và Điều 65 của Luật tổ chức TAND đã xác định
Thẩm phán là: 1. Thẩm phán là người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy
định của Luật này được Chủ tịch nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử.
8
2. Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 2 của
Luật này và các luật có liên quan” [30].
Như vậy, Thẩm phán là một chức danh tư pháp, chỉ người làm việc
trong Tòa án, nhân danh Nhà nước tham gia vào các hoạt động xét xử. Thẩm
phán là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước
Cộng hòa XHCN Việt Nam; Có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị
vững vàng, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và
trung thực.Có trình độ cử nhân luật trở lên. Đã được đào tạo nghiệp vụ xét xử;
Có thời gian làm công tác thực tiễn pháp luật; Có sức khỏe bảo đảm hoàn
thành nhiệm vụ được giao.
Cũng theo quy định tại Điều 66 của Luật tổ chức TAND thì Thẩm phán
TAND gồm có: Thẩm phán TANDTC; Thẩm phán cao cấp; Thẩm phán trung
cấp; Thẩm phán sơ cấp.
Hoạt động xét xử là một hoạt động nghề nghiệp đặc thù so với các
nghề nghiệp khác ở chỗ hoạt động xét xử của Thẩm phán đòi hỏi một trình độ
chuyên môn cao trong các lĩnh vực pháp luật, chính trị và xã hội. Hầu hết họ
phải có kiến thức trên mọi lĩnh vực, bởi lẽ họ là người đại diện cho nền công
lý, cho lẽ phải cho công bằng của toàn xã hội. Vậy hoạt động xét xử là nghề
nghiệp của Thẩm phán có một số đặc điểm, đặc trưng sau:
Thứ nhất: Tính đặc thù trong ADPL.
Tính đặc thù trong ADPL thể hiện ở chỗ, Thẩm phán với vai trò là
người đưa ra phán quyết dựa trên những chứng cứ khách quan, thực tế, không
định kiến với mục đích duy nhất là bảo vệ công lý. Tất cả mọi tư vấn tranh
luận tại phiên tòa phải đảm bảo sự bình đẳng cho các bên trong vụ án. Mọi
hành vi ép buộc làm ảnh hưởng tới sự khách quan đối với phán quyết của
Thẩm phán đều trái với mục đích ADPL. Đặc thù này khẳng định Thẩm phán
phải là người hết sức vô tư, tôn trọng bằng chứng, xem xét đứng đắn các bằng
9
chứng thực tế mà mỗi bên đương sự đưa ra trong quá trình giải quyết vụ án
của mình.
Thứ hai: Hoạt động xét xử là một cuộc đấu tranh tìm ra sự thực khách
quan, hoạt động này chịu sự giám sát nghiêm ngặt của các cơ quan, tổ chức
và cá nhân.
Trong quá trình xử lý vụ án, Thẩm phán phải sử dụng năng lực và toàn
bộ kiến thức cần thiết nhằm giải quyết đúng đắn vụ án trên cơ sở bằng chứng
thực tế. Đây là cả một quá trình tố tụng phức tạp đòi hỏi ngay từ đầu người
Thẩm phán phải thực sự toàn tâm toàn lực. Họ phải rất khéo léo và nhạy bén
tại phiên tòa, giai đoạn tố tụng cuối cùng rất quan trọng.
Để không bị cám dỗ trên con đường tìm kiếm lẽ phải, cuộc đấu tranh
tinh thần của người Thẩm phán đòi hỏi họ phải luôn kiên quyết, vững vàng ý
chí. Mục tiêu cuối cùng mà người Thẩm phán phải đạt được và cũng là mục
đích mà toàn bộ nhân dân hướng tới sau một vụ án đó là một phán quyết thấu
tình đạt lý, đảm bảo tính đúng đắn của bản án, không bỏ lọt kẻ phạm tội. Phán
quyết đó còn mang tính giáo dục ý thức pháp luật trong toàn bộ dân chúng.
Chính vì thế hoạt động xét xử của Thẩm phán được toàn xã hội giám sát.
Nguyên tắc Tòa án xét xử công khai, khi xét xử có sự tham gia của HTND
chính là sự giám sát ở bên trong phiên tòa. Khi xét xử HTND ngang quyền
với Thẩm phán, cùng Thẩm phán đưa ra quyết định đúng pháp luật.
Thứ ba: Hoạt động này đòi hỏi một con người toàn diện, bản lĩnh vững
vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, vô tư khách quan.
Đây không những là đặc thù nghề nghiệp Thẩm phán mà còn là các tiêu
chuẩn mà pháp luật đặt ra đối với người Thẩm phán hiện nay. Chỉ có thể có
kiến thức rộng rãi trên nhiều lĩnh vực, luôn đấu tranh cho công bằng vô tư,
một tâm hồn trong sáng và một bản lĩnh vững vàng thì nghề Thẩm phán và
người Thẩm phán mới tạo dựng được sự tin tưởng và tôn kính. Bởi lẽ cần
thiết có một chuẩn mực lý tưởng được xã hội thừa nhận, nắm giữ cán cân
công lý để điều chỉnh xã hội đi đúng hướng của nó. Người Thẩm phán phải
10
bênh vực cho người bị hại, không thiên vị hay dao động ý chí trước bất kỳ sự
việc nào. Tất cả những yêu cầu trên sẽ góp phần tạo dựng nên hình ảnh một
nghề biểu tượng cho sự khát khao công lý.
Thứ tư: Hoạt động xét xử của Thẩm phán tuân theo một trình tự tố tụng
chặt chẽ do pháp luật quy định.
Phán quyết của Thẩm phán có liên quan trực tiếp tới quyền lợi và nghĩa
vụ của cá nhân, tổ chức có liên quan. Để bảo đảm phán quyết đó thấu tình đạt
lý thì hoạt động xét xử phải tuân theo một trình tự tố tụng chặt chẽ là điều dễ
hiểu. Việc quy định như vậy tránh sự tùy tiện lạm quyền, bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Vi phạm các quy định của pháp luật tố
tụng, bản án dù có hiệu lực pháp luật cũng sẽ được Tòa án cấp trên xem xét
lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Như vậy, từ các phân tích trên có thể đưa ra định nghĩa khái niệm
Thẩm phán như sau: Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của
pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác
thuộc thẩm quyền của Tòa án.
Với tư cách là người được giao thực hiện chức năng xét xử của Tòa án,
Thẩm phán có vị trí rất quan trọng và có vai trò không thể thay thế trong việc
thực hiện một trong những quyền lực nhà nước, đó là quyền tư pháp. Trong
điều kiện xây dựng NNPQ Việt Nam XHCN, với chủ trương xây dựng một
nền tư pháp công bằng, dân chủ và nghiêm minh thì việc củng cố và tăng
cường vai trò, địa vị pháp lý của Thẩm phán gắn với nâng cao hiệu quả hoạt
động và kiện toàn tổ chức của tòa án là yêu cầu cơ bản và quan trọng hàng
đầu hiện nay.
1.1.2. Khái niệm hoạt động áp dụng pháp luật của Thẩm phán trong
xét xử vụ án hình sự
Áp dụng pháp luật là một trong bốn hình thức thực hiện pháp luật cơ
bản, có tính chất đặc biệt. Sự phân định thành bốn hình thức thực hiện pháp
11
luật cũng chỉ mang tính tương đối, trên thực tế, giữa các hình thức thực hiện
pháp luật luôn có mối quan hệ mật thiết.
Các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành cần được thực hiện
trong cuộc sống thì chúng mới có ý nghĩa. Mục đích của việc ban hành văn
bản pháp luật chỉ có thể đạt được khi các quy phạm pháp luật do Nhà nước
đặt ra được các tổ chức và cá nhân trong xã hội thực hiện một cách chính xác,
đầy đủ. Do vậy, vấn đề không phải chỉ là xây dựng và ban hành thật nhiều các
văn bản pháp luật, điều quan trọng là phải thực hiện pháp luật, làm cho những
yêu cầu, quy định của chúng trở thành hiện thực. Là biểu hiện của việc thực
hiện các quy phạm pháp luật.
Áp dụng pháp luật thể hiện tính quyền lực nhà nước, mang tính tổ chức
chặt chẽ theo những thủ tục và trật tự đã được pháp luật quy định và là hoạt
động mang tính sáng tạo, mặc dù được thực hiện thông qua cơ quan nhà nước,
cụ thể là những người có thẩm quyền.
Áp dụng pháp luật thể hiện sự khác biệt so với các hình thức thực hiện
pháp luật khác qua việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cá nhân hay
nhóm cá nhân được Nhà nước trao quyền luôn luôn chủ động trong việc
ADPL, nghĩa là việc thực hiện ADPL là nghĩa vụ của chủ thể có quyền [9,
tr.154].
Xem xét dưới góc độ chủ động tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ
quan, người có thẩm quyền thì ADPL có đặc điểm gần giống với các hình
thức thi hành pháp luật vì việc thực hiện pháp luật ở đây là trách nhiệm, nghĩa
vụ của các cơ quan, người có thẩm quyền. Do vậy ADPL nếu xem xét ở góc
độ chủ thể áp dụng luôn là cơ quan hay cá nhân có thẩm quyền với những
quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể thì ADPL còn được xem như là việc thi
hành pháp luật của các cơ quan người có thẩm quyền trong việc tổ chức thực
hiện quyền lực nhà nước nói chung.
12
Như vậy, ADPL là hình thức thực hiện pháp luật đặc thù, do cơ quan
nhà nước, công chức nhà nước được trao quyền tiến hành theo một thủ tục do
pháp luật quy định; nhằm thực hiện các biện pháp cưỡng chế khi có hành vi vi
phạm pháp luật hoặc hành vi phạm tội; khi phải giải quyết các tranh chấp về
quyền chủ thể và các nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể trong một quan hệ
pháp luật nhất định; hoặc khi Nhà nước thấy cần phải can thiệp, cần phải
tham gia để bảo đảm việc thực thi trên thực tế của các chủ thể trên các lĩnh
vực của đời sống xã hội theo quy định của pháp luật.
Áp dụng pháp luật về xét xử các VAHS của TAND là một trong những
dạng ADPL nói chung do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện. Về
thuật ngữ, trong thực tế cũng có cách sử dụng khác như ADPL hình sự về xét
xử các VAHS của TAND. Tuy vậy, khi dùng khái niệm ADPL ở đây có thể
còn bao hàm ý nghĩa rộng hơn, vì theo nguyên tắc pháp quyền, tòa án ngoài
việc căn cứ vào pháp luật hình sự còn phải căn cứ vào Hiến pháp để giải
quyết VAHS.
Trong luận văn này, như đã nêu ở phạm vi nghiên cứu đề tài luận văn,
tác giả xin được giới hạn vào ADPL hình sự về xét xử các VAHS của TAND.
Xét về bản chất, ADPL hình sự của Tòa án là một hình thức áp dụng
pháp luật do Tòa án tiến hành, áp dụng quy phạm pháp luật tố tụng hình sự và
quy phạm pháp luật hình sự để giải quyết các VAHS thuộc thẩm quyền và
thực hiện một số nhiệm vụ trong giai đoạn thi hành án hình sự.
Để nhận thức đầy đủ về ADPL hình sự trong xét xử các VAHS của tòa
án, cần thiết xác định vị trí của hoạt động này trong toàn bộ hoạt động tố tụng
hình sự theo quy định pháp luật hiện hành.
Hoạt động giải quyết án hình sự của TAND là một giai đoạn trong toàn
bộ quá trình giải quyết án hình sự.
Hoạt động tố tụng hình sự bao gồm cả áp dụng quy phạm pháp luật nội
dung và quy phạm pháp luật hình thức, thủ tục. Tầm quan trọng đều như nhau
13
để đảm bảo công lý, quyền, lợi ích của con người cũng như sự trong sạch, tính
khách quan của các cơ quan tiến hành tố tụng. Đặc biệt là trong bối cảnh xây
dựng NNPQ, yêu cầu tuân thủ quy trình, thủ tục tố tụng trong cả quá trình giải
quyết VAHS lại được đặt ra một cách nghiêm ngặt so với các thời kỳ trước
đây. Sự tuân thủ các quy định pháp luật thủ tục và nội dung nhằm đảm bảo
quyết định chính xác trách nhiệm hình sự, bảo đảm nguyên tắc khách quan,
công bằng, tránh sự oan sai cũng như bỏ lọt tội phạm, bằng cách đó để tạo lập
niềm tin của xã hội vào công lý.
Trong hoạt động tố tụng hình sự nói chung và hoạt động xét xử VAHS
nói riêng thì Thẩm phán luôn luôn là trung tâm của hoạt động xét xử. Trong
hoạt động xét xử các VAHS, vai trò và nhiệm vụ của Thẩm phán là rất quan
trọng. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán được xác định từ khi Thẩm phán
được Chánh án hoặc Phó Chánh án ra quyết định phân công giải quyết
VAHS. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình, Thẩm phán được phân
công giải quyết VAHS thực hiện các hoạt động như: nghiên cứu hồ sơ chuẩn
bị xét xử, quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn trừ
biện pháp tạm giam, ra các quyết định tố tụng như: đưa vụ án ra xét xử, trả hồ
sơ điều tra bổ sung, tạm đình chỉ vụ án… tại phiên tòa sơ thẩm hình sự thẩm
phán điều khiển hoạt động của phiên tòa trong đó có hoạt động tranh tụng, là
trung tâm của quá trình xét xử…
Như vậy có thể rút ra khái niệm sau: Hoạt động ADPL của Thẩm phán
trong xét xử VAHS là hoạt động cá biệt hóa các quy định của pháp luật hình
sự, pháp luật tố tụng hình sự của Thẩm phán – một chủ thể có vị trí trung tâm
trong xét xử VAHS, được xác định từ khi thẩm phán được phân công thụ lý vụ
án cho đến khi bản án hoặc quyết định giải quyết VAHS có hiệu lực pháp luật
trong đó thẩm phán thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình để ban hành
các văn bản ADPL nhằm giải quyết đúng đắn VAHS.
14
* Đặc điểm hoạt động áp dụng pháp luật của Thẩm phán trong xét
xử vụ án hình sự
Áp dụng pháp luật trong xét xử các VAHS của TAND là một trong
những hoạt động ADPL của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho nên
cũng có những đặc điểm chung như của các loại hình ADPL nói chung. Đồng
thời, ADPL trong xét xử các VAHS của TAND lại có những đặc điểm riêng
xuất phát từ đối tượng xét xử, từ chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân
trong bộ máy nhà nước. Trong điều kiện NNPQ, tổ chức thi hành Hiến pháp
năm 2013, cần có sự bỏ sung, tiếp cận mới đầy đủ hơn về TAND nói chung,
về ADPL trong xét xử VAHS nói riêng.
Hoạt động ADPL trong xét xử VAHS của Thẩm phán có những đặc
điểm cơ bản sau:
Đặc điểm thứ nhất, ADPL trong xét xử các VAHS của Thẩm phán là
hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước, nhân danh công lý do Tòa án
thực hiện
Tòa án là cơ quan duy nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam có
thẩm quyền xét xử. Điều 102 của Hiến pháp năm 2013 quy định: “TAND là
cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư
pháp” [28]. TAND có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người,
quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Hoạt động ADPL trong xét xử các VAHS của Tòa án có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng trong toàn bộ qúa trình giải quyết VAHS. Thông qua phiên
tòa xét xử công khai, mọi kết quả điều tra, truy tố, các chứng cứ buộc tội, gỡ
tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, được thẩm vấn, đối chất, tranh luận, làm
sáng tỏ các tình tiết của vụ án tại phiên tòa. Việc xét xử phải tuân thủ đúng
thủ tục luật định và các quy phạm pháp luật về nội dung, không nên coi nhẹ
quy trình thủ tục, điều mà có thể nói thời kỳ trước đây còn có sự xem nhẹ.
15
Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự của Thẩm phán
phải đảm bảo các nguyên tắc về tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước, của
TAND và phải tuân thủ các nguyên tắc đặc thù theo quy định của BLHS,
BLTTHS.
Đồng thời những nguyên tắc cơ bản khác trong ADPL trong hoạt động
xét xử án hình sự của Thẩm phán cũng phải được tuân thủ nghiêm ngặt nhằm
đảm bảo cho tính khách quan, công bằng của các bản án, bảo vệ công lý,
quyền, lợi ích của con người, trật tự an toàn xã hội và phát triển đất nước như
nguyên tắc xét xử công khai, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo,
nguyên tắc hai cấp xét xử, nguyên tắc xác định sự thật của vụ án, nguyên tắc
bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, nguyên tắc
không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Trong quá trình xét xử, yêu cầu cao nhất là bảo đảm ra bản án, quyết
định đúng pháp luật, mang lại công lý cho mọi người, không được để xảy ra
án oan và bỏ lọt tội phạm [36, tr.13]. Chủ thể trực tiếp ADPL trong hoạt động
xét xử bao giờ cũng là hội đồng xét xử án hình sự. Hội đồng xét xử sơ thẩm
gồm thẩm phán và hội thẩm nhân dân. Điều 254 BLTTHS năm 2015 quy
định:
1. Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm.
Trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử sơ
thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm.
Đối với vụ án có bị cáo về tội mà BLHS quy định mức cao nhất của
khung hình phạt là tù chung thân, tử hình thì Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm
hai Thẩm phán và ba Hội thẩm.
2. Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán [32].
Đặc điểm thứ hai, ADPL trong xét xử VAHS hình sự của Thẩm phán
chủ yếu được tiến hành tại phiên tòa công khai.
16
Từ khi nhận được hồ sơ vụ án cho đến khi ban hành bản án, quyết định
thi hành án, Tòa án tiến hành nhiều hoạt động ADPL như: Quyết định việc
tạm giam, quyết định đưa vụ án ra xét xử…do Thẩm phán chủ tọa, chánh án,
phó chánh án tiến hành theo quy định tại điều 44, 45 BLTTHS năm 2015.
Hoạt động ADPL hình sự được biểu hiện tập trung ở kết quả là Tòa án
là quyết định tội danh và hình phạt, hoạt động này phải được tiến hành tại
phiên tòa công khai, trừ trường hợp đặc biệt phiên tòa cần giữ bí mật Nhà
nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của đương sự theo
yêu cầu chính đáng của họ thì Tòa án xét xử kín theo quy định tại điều 25
BLTTHS năm 2015, nhưng tuyên án phải công khai.
Các phiên tòa hình sự được tổ chức trang nghiêm, theo trình tự thủ tục
chặt chẽ, hoàn toàn công khai, dưới sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa. Mọi
công dân từ 16 tuổi trở lên đều có quyền dự phiên tòa. Các cơ quan truyền
thông, báo chí đều có quyền tham dự và đưa tin về phiên tòa. Bản án được gửi
cho tất cả những người tham gia tố tụng, cơ quan hữu quan, chính quyền địa
phương nơi bị cáo cư trú.
Phiên tòa hình sự là trọng tâm của việc giải quyết VAHS, trước sự
chứng kiến của đông đảo quần chúng nhân dân, nhân chứng, người liên quan,
bị hại, luật sư, giám định viên…, toàn bộ tài liệu chứng cứ thu thập trong quá
trình điều tra, truy tố được xem xét, đánh giá, thẩm tra, thẩm vấn, đối chất,
tranh tụng công khai, làm sáng tỏ các tình tiết, nội dung của vụ án tại phiên
tòa.
Sự công khai đòi hỏi thành phần tham dự phiên tòa từ những cá nhân,
cơ quan truyền thông báo chí đưa thông tin về phiên tòa để có sự cập nhật cho
xã hội một cách kịp thời. Nội dung VAHS khi được công khai đến xã hội sẽ
phần nào răn đe, giáo dục công dân trong việc phòng, chống tội phạm. Đồng
thời, việc ADPL hình sự công khai tại phiên tòa cũng nói lên được tính khả
thi của pháp luật tố tụng hình sự được thực hiện từ phía chủ thể là TAND.
17
Ngoài ra, khi bản án, quyết định của TAND được ban hành thì nó phải được
công khai gửi tới người tham gia tố tụng tại phiên tòa hay các chủ thể khác có
liên quan như cơ quan thi hành án, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn trong
việc tạo điều kiện cho cơ quan thi hành án thực hiện nhiệm vụ của mình.
Theo luật định, bị cáo được quyền tự do trình bày ý kiến của mình về
lời buộc tội của cơ quan công tố, đối chất với bị hại…luật sư có quyền đưa ra
các chứng cứ, quan điểm, tranh luận với kiểm sát viên duy trì công tố tại
phiên tòa để bảo vệ quyền lợi cho thân chủ của mình (Luật sư có thể là người
bảo vệ quyền lợi cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan).
Tính công khai của phiên tòa xét xử là sự thể hiện bản chất và nguyên
tắc của một nền tư pháp dân chủ, minh bạch và công bằng, góp phần đảm bảo
tính khách quan, không thiên vị của hoạt động xét xử các VAHS trong bối
cảnh xây dựng NNPQ.
Kết quả ADPL trong xét xử các VAHS của tòa án được biểu hiện ở bản
án – văn bản ADPL trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật, được soạn
thảo, công bố tại phiên toà. Dư luận xã hội đặc biệt quan tâm đến kết luận của
các bản án, do vậy người làm công tác xét xử phải có trình độ chuyên môn rất
vững vàng, bản lĩnh pháp lý, độc lập khách quan để có thể đưa ra được quyết
định đúng đắn.
Có rất nhiều hoạt động để đảm bảo việc xét xử được độc lâp, khách
quan song có thể nói phiên tòa hình sự là nơi thể hiện các giá trị dân chủ,
nhân văn của nền tư pháp dân chủ, nơi các thẩm phán là công việc “ ở đời và
làm người “ như Bác Hồ đã từng căn dặn cán bộ ngành tư pháp: "Nghĩ cho
cùng, vấn đề tư pháp cũng như mọi vấn đề khác, trong lúc này là vấn đề ở đời
và làm người, ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương
nhân loại đau khổ, bị áp bức" [15, tr.138].
Đặc điểm thứ ba, ADPL trong xét xử VAHS của Thẩm phán phải
tuân thủ chặt chẽ về trình tự thủ tục do BLTTHS quy định.
18