Tải bản đầy đủ (.pdf) (31 trang)

Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý Đôn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.8 MB, 31 trang )

Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý  
Đôn.

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Như  chúng ta đã biết cuộc sống có biết bao nhiêu là điều kì diệu, nó 
luôn ban tặng cho ta nhiều điều hạnh phúc.Nhưng điều hạnh phúc hơn cả của 
cuộc sống là khi ta được cắp sách đến trường, được học tập, được thầy cô 
truyền đạt kiến thức, kỹ năng, đạo đức để sau này giúp ích cho bản thân, gia 
đình vàquê hương đất nước.Tri thức loài người mênh mông như biển cả, mỗi 
người chúng ta chỉ  là một hạt cát nhỏ  bé trong cái đại dương bao la  ấy mà  
thôi. Dẫu chúng ta có miệt mài học tập suốt cả  cuộc đời thì cũng chưa bao 
giờ khám phá hết kho tàng kiến thức của nhân loại.
Lê­nin từng nói “Học, học nữa, học mãi”.Nhưng vì một lý do nào đó mà 
một số  em không được đến trường đó là một thiệt thòi rất lớn, không gì bù  
đắp nổi cho bản thân các em nói riêng và cho toàn xã hội nói chung. Không  
được đến trường các em không được giáo dục một cách cơ  bản, không có 
định hướng cho cuộc sống sau này, không có kiến thức để am hiểu pháp luật 
từ đó dễ sa ngã vào các tệ nạn xã hội và vướng vào vòng pháp luật. 
Đặc biệt trong tình hình hiện nay chúng ta đang thực hiện công nghiệp  
hóa, hiện đại hóa đất nước, lại càng đòi hỏi con người có tri thức, trình độ 
cao do đó việc giáo dục phổ thông là hết sức quan trọng. Luật giáo dục năm  
2005 đã xác định: “Mục tiêu của giáo dục phổ  thông là giúp học sinh phát  
triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản 
nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. 
Trong những năm qua, tình hình học sinh bỏ  học đang là một vấn đề 
cấp bách của các cấp, các ngành, các địa phương, nhất là của ngành giáo dục  
– đào tạo, làm ảnh hưởng đến việc đào tạo nguồn nhân lực cho tương lai và  
kế  hoạch xây dựng, phát triển kinh tế  của địa phương. Vì vậy, việc tìm ra 
nguyên nhân cũng như có những biện pháp phù hợp để giảm thiểu tình trạng 
GV: Bảo Long                             1Trường THCS Lê Quý Đôn




Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý  
Đôn.

học sinh bỏ học đã và đang là một việc làm cần thiết và cấp bách đòi hỏi các  
cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, các ban ngành đoàn thể xã hội, ngành 
giáo dục và mọi gia đình.
Đối với cấp THCS việc duy trì sĩ số học sinh là việc làm rất khó khăn,  
đòi hỏi sự  quan tâm, chỉ  đạo linh hoạt và sự  phối hợp chặt chẽ  giữa nhà  
trường, gia đình và xã hội.Công tác vận động học sinh bỏ học trở lại lớp và  
duy trì sĩ số  là vấn đề  cần thiết phải tiến hành thường xuyên, liên tục trong  
năm học.
Trường Lê Quý Đôn nơi tôi công tác nằm trên địa bàn xã Đray Sáp ­ một 
trong những xã còn khó khăn của huyện Krông Ana. Đray Sáp là địa phương 
có địa bàn rộng, điều kiện kinh tế  còn rất nhiều khó khăn, chủ  yếu là sản 
xuất nông nghiệp, chất lượng cuộc sống của người dân còn thấp, tỉ  lệ  học 
sinh dân tộc cao, chiếm gần 50% số học sinh toàn trường. Hiện nay Ban giám 
hiệu và tập thể  giáo viên trường THCS Lê Quý Đôn đã nỗ  lực đưa ra nhiều  
giải pháp nhằm hạn chế  tình trạng bỏ  học của học sinh. Việc hạn chế học 
sinh bỏ  học trong tình trạng hiện nay là trách nhiệm của toàn xã hội chứ 
không phải của riêng ai.
Bản thân là một giáo viên trẻ, được phân công làm công tác chủ nhiệm 
hơn ai hết tôi luôn ý thức được trách nhiệm của mình trong việc hạn chế học 
sinh bỏ  học đặc biệt là với lớp mình chủ  nhiệm.Xuất phát từ  thực tiễn trên 
và qua thực tế công tác giảng dạy học sinh ở trường THCS Lê QuýĐôn  trong  
các năm qua, tôi nhận thấy việc mỗi giáo viên làm công tác chủ nhiệm nắm rõ  
thực trạng và đề  ra các giải pháp để  hạn chế  việc bỏ  học của học sinh lớp  
mình là đã góp phần giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ  học cho nhà trường, 
cho ngành giáo dục nước nhà. Đó chính là lý do tại sao tôi chọn đề tài: “ Một 

số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm 
tại trường THCS Lê Quý Đôn”.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
GV: Bảo Long                             2Trường THCS Lê Quý Đôn


Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý  
Đôn.

2.1. Mục tiêu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng việc học sinh bỏ 
học  ở trường THCS Lê Quý Đôn, đề tài có mục đích chia sẻ với đồng nghiệp  
một số  biện pháp để  giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ  học thông qua công 
tác chủ  nhiệm. Nhằm giúp học sinh, cha mẹ  học sinh nhận thức rõ tác hại  
của việc bỏ học.
Hy vọng với sự chung tay góp sức của mỗi cá nhân, của toàn xã hội, thì 
tình trạng học sinh bỏ học của trường THCS Lê Quý Đôn, của huyện Krông  
Ana ngày càng giảm, đáp  ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục của  
nước nhà.
2.2. Nhiệm vụ
Tìm hiểu tâm sinh lý lứa tuổi học sinh THCS.
Tham khảo các tài liệu, công văn, chỉ thị liên quan đến tình hình bỏ học 
của học sinh THCS.
Đề  xuất các giải pháp và áp dụng các giải pháp trong thực tiễn tại 
trường THCSLê Quý Đôn.
3. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về  thực trạng về  tình hình bỏ  học của học sinh trường 
THCS Lê Quý Đôn, cụ  thể  là lớp 6B (năm học 2015­2016) Và lớp 6B (năm  
học 2016­2017) từ  đó đề  ra các giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng học 
sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý Đôn trong tình 

hình hiện nay. 
4. Giới hạn đề tài
Nghiên cứu thực trạng tình hình bỏ  học của học sinh, các nguyên nhân 
dẫn đến bỏ  học của học sinh lớp lớp 6B (năm học 2016­2017) Và lớp 6B 
(năm học 2016­2017)  trường THCS Lê Quý Đôn
5. Phương pháp nghiên cứu
a)Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận.
GV: Bảo Long                             3Trường THCS Lê Quý Đôn


Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý  
Đôn.

Phương pháp phân tích ­ tổng hợp tài liệu.
Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập.
b) Nhom ph
́
ương pháp nghiên cứu thực tiễn.
Phương pháp điều tra nguyên nhân học sinh bỏ học.
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục.
Phương pháp khảo nghiệm qua các bài kiểm tra.
c) Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp thống kê số  lượng học sinh có nguy cơ  bỏ  học qua các 
năm, số lượng ngày nghỉ có phép và không phép của học sinh trong năm học.
II. PHẦN NỘI DUNG
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.Khái niệm “học sinh bỏ học”:
Học sinh bỏ họclà học sinh không tiếp tục đi học nữa, có học sinh bỏ 
học khi vừa học xong chương trình một lớp nào đó, có học sinh bỏ  học khi  
năm học mới bắt đầu, vào giữa năm học hoặc khi năm học gần kết thúc, có  

học sinh bỏ học một vài ngày, một vài tiết để đi chơi hoặc đi giải quyết vấn  
đề gì đó rồi trở lại lớp học.
Còn có một đối tượng học sinh khác, mặc dù vẫn ngồi trong lớp nhưng 
không khác gì học sinh bỏ  học. Đó là những học sinh ngồi lơ  mơ  trong lớp,  
không chú ý nghe giảng hoặc làm việc riêng trong khi thầy cô giáo đang giảng 
bài, không tham gia vào các hoạt động trên lớp và chỉ  mong hết giờ.  Đối 
tượng này là đối tượng “tiền bỏ học”.
Học sinh bỏ học có thề chia ra làm hai loại: bỏ học “tích cực” và bỏ học 
“tiêu cực”. Bỏ học “tích cực” nếu học sinh bỏ học để  đi học nghề  hoặc tiếp 
tục học bổ túc; bỏ học “ tiêu cực” nếu học sinh bỏ học để  đi chơi la cà bám 
vào cha mẹ, phá phách xóm giềng…, học sinh bỏ học “tiêu cực” có thể là đội 
quân “trù bị” của ma túy và tệ nạn xã hội. Dù học sinh bỏ học “tích cực” hay 

GV: Bảo Long                             4Trường THCS Lê Quý Đôn


Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý  
Đôn.

“tiêu cực” cũng gây  ảnh hưởng xấu đến chất lượng nguồn nhân lực, đến 
cộng đồng và xã hội.
Một trong các yếu tố cơ bản đối với quá trình dạy học nói riêng và quá 
trình giáo dục nói chung là phải đảm bảo cho mỗi học sinh được học trọn ven 
bậc học. Nhưng thực tế  do nhiều nguyên nhân tác động, học sinh bỏ  học  
không hoàn thành được hết bậc học, thậm chí có em bỏ học ngay từ lớp sáu.  
Đây là hiện tượng không bình thường, bởi vì các em còn quá nhỏ, chỉ mới hơn 
mười tuổi, tương lai các em sẽ ra sao? Các em sẽ làm được gì với  những kiến 
thức không trọn vẹn đó. Xét sâu xa hơn, việc bỏ học bất thường sẽ  gây xáo 
trộn về  mặt tâm lý của học sinh đang còn đi học, gây hậu quả  xấu cho việc  
phổ  cập giáo dục THCS, làm giảm niềm tin của xã hội vào nhà trường, ảnh  

hưởng đến chất lượng cuộc sống mai sau.
Bác Hồ  dạy: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”.Đúng vậy, khi học  
sinh bỏ  học tăng sẽ  làm tăng thêm số  lượng người thất học, mù chữ  gây ra 
nhiều hậu quả  cho nền kinh tế  xã hội. Thanh niên là trụ  cột c ủa nước nhà, 
mặc dù  ở  tuổi THCS, các em chưa phải là thanh niên, nhưng các em sẽ  lớn 
lên, sẽ  trưởng thành, sẽ  là chủ  nước nhà. Vậy các em sẽ  làm cho nước nhà  
thịnh hay suy với khối óc trống rỗng, không kiến thức, không kinh nghiệm;  
các em không hiểu rằng kiến thức tốt, kinh nghiệm phong phú sẽ  là cơ  hội 
cho người nghèo bứt phá, vượt lên phía trước tiếp cận với những cơ  hộ  có 
thu nhập cao, để cải thiện cuộc sống.
1.2. Khái niệm về “biện pháp”:
Theo cuốn sách đại từ điển tiếng Việt trang 161, nhà xuất bản Văn hóa 
thông tin, Hà Nội 1999 thì khái niệm biện pháp được hiểu như sau: Biện pháp 
là cách làm, cách tiến hành giải quyết vấn đề cụ thể.
Hiện nay chưa có định nghĩa nào về  biện pháp khắc phục học sinh bỏ 
học ngoài định nghĩa của thạc sĩ Võ Văn Nhân với luận văn nghiên cứu về 
tình trạng học sinh THPT bỏ học ở vùng sâu tỉnh Trà Vinh
GV: Bảo Long                             5Trường THCS Lê Quý Đôn


Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý  
Đôn.

Theo thạc sĩ Võ Văn Nhân thì học sinh bỏ  học là trách nhiệm của gia  
đình, nhà trường và xã hội; vì thế biện pháp khắc phục tình trạng học sinh bỏ 
học bao hàm cả biện pháp giáo dục và quản lý đối với tất cả  các đối tượng  
liên quan, tác động đến nguyên nhân bỏ học ở cấp vi mô và vĩ mô.
2. Thực trạng.
Mặc dù trong những năm gần đây Ban Giám hiệu, tập thể    giáo viên 
trường THCS Lê Quý Đôn đã nỗ  lực đưa ra nhiều giải pháp nhằm hạn chế 

tình trạng bỏ  học của học sinh như tham mưu cho Đảng ủy, UBND xã, Ban  
Chỉ đạo giáo dục cấp xã để  chỉ đạo các trưởng thôn, buôn, các đoàn thể trên 
địa bàn đến nhà học sinh để nắm bắt tâm tư, suy nghĩ của học sinh và cha mẹ 
các em, đặc biệt là những học sinh có dấu hiệu nghỉ học, muốnbỏ học; nắm  
được số học sinh đi làm ăn xa, học nghề hoặc gia đình không đồng ý cho con  
đi học để  làm tốt công tác vận động học sinh ra lớp trở  lại; Cung cấp danh 
sách địa chỉ cụ thể từng học sinh để chính quyền xã chỉ đạo Ban Tự quản các  
thôn buôn cùng tham gia công tác tuyên truyền, vận động.Thành lập ban duy 
trì sĩ số, phân công rõ trách nhiệm của Lãnh đạo nhà trường, cán bộ, giáo viên, 
nhân viên trong công tác vận động học sinh duy trì sĩ số  đến từng lớp, từng  
thôn buôn, từng học sinh. Tổ  chức dạy phụ  đạo chohọc sinh yếu kém, tăng  
cường các hoạt động ngoại khóa, văn hóa văn nghệ ­ thể dục thể thao tạo sân 
chơi bổ ích lôi cuốn học sinh tham gia…Tuy nhiên tỉ lệ học sinh bỏ học vẫn  
còn cao.
Bảng thống kê số lượng HS bỏ học của trường THCS Lê Quý Đôn trong 
các năm học từ 2014 đến 2017:
STT

Năm học

Số HS bỏ học

Số HS bỏ học trong 


1
2
3

2014­2015

2015­2016
2016­2017

19
21
22

10
18
19

GV: Bảo Long                             6Trường THCS Lê Quý Đôn


Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý  
Đôn.

Qua bảng thống kê thì tình hình bỏ  học còn rất cao.Đặc biệt là số  học 
sinh bỏ học trong hè. Lý do là trong hè một số học sinh học yếu ham chơi bị 
bạn bè rủ rề lôi cuốn nên không muốn trở lại trường, một số em trong hè theo  
bạn đi làm xa rồi không muốn về đi học lại, các em học sinh yếu kém phải ôn 
tập để thi lại, nhưng quá trình thi lại các em không đủ  điều kiện lên lớp nên 
chán nản và bỏ học.
Bảng theo dõi tình hình học sinh lớp 6B Học kỳ I năm học 2015­2016 và 
lớp 6B học kì I 2016­2017:
Năm học

Tổng 
số HS


Nữ

Dân tộc

Hộ nghèo

Cận 
nghèo

2015­2016

26

14

20

04

02

2016­2017

27

12

21

03


03

Bảng theo dõi tình hình số  lần vắng học của học sinh lớp 6B năm học 
2015 ­2016 và lớp 6B năm học 2016­2017 trong học kì I:
Năm học

Số lần vắng có phép

2015­2016

30

2016­2017

25

Số lần vắng không phép
50
45

2.1. Về phía gia đình và học sinh:
Nguyên nhân quan trọng nhất của hiện tượng bỏ học là từ phía gia đình 
và học sinh, cụ thể như sau:
Học sinh có lực học yếu, không nắm được kiến thức căn bản, dẫn đến 
tình trạng lười học, chán học và lâu dần trở thành bỏ học.
Một số  học sinh do bạn bè rủ  rê lôi kéo, không xác định rõ con đường 
tiếp theo mà mình bước đến, không có ước mơ làm mục tiêu phấn đấu. 

GV: Bảo Long                             7Trường THCS Lê Quý Đôn



Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý  
Đôn.

Học sinh thuộc gia đình nghèo, đông con, các em không có áo quần lành lặn 
để đến lớp như bao bạn khác. Những học sinh này thường hay mặc cảm, tự ti 
về hoàn cảnh, tự tách biệt khỏi tập thể, các em luôn cảm thấy lòng tự  trọng 
bị tổn thương và chán nản dẫn đến bỏ học.

Hình 1: Căn nhà tranh lụp xụp của hai bà cháu Bình Minh
Phần đa học sinh người dân tộc, bố  mẹ các em biết ít chữ, ít quan tâm  
đến việc học của con nên khi đi học về không có ai kèm, nhắc nhở dẫn đến  
tình trạng các em thường không học bài cũ ở  nhà nên học lực ngày càng yếu  
dẫn đến chán nản và muốn bỏ học
Mộtsố học sinh bố mẹ ít dành thời gian cho con cái, lo kiếm sống không 
quản lý giờ giấc của con em mình.Gia đình một số học sinh nghèo đi làm thuê  
ở xa, để con em ở nhà với anh chị, ông, bà, hoặc người thân.  Những học sinh  
này thường nói dối cha mẹ, thầy cô, thường xuyên nghĩ học không lí do, cúp 
tiết đi chơi lâu ngày dẫn đến chán học và bỏ học.  
Học sinh thuộc gia đình thiếu thốn tình cảm của bố mẹ.Tức là bố mẹ ly 
hôn, bố mẹ hay cãi nhau hoặc có những học sinh mồ côi. Những học sinh này  
thường có tính khí bất thường, hay quậy phá, đánh nhau, hoặc tự ti, mặc cảm  
xa lánh bạn bè nên hay dẫn đến tình trạng bỏ học.

GV: Bảo Long                             8Trường THCS Lê Quý Đôn


Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý  
Đôn.


Hình 2: Ba mẹ thường xuyên cãi nhau dẫn đến trẻ mặc cảm, tự ti
Do kinh tế gia đình khó khăn đã khiến nhiều học sinh phải theo cha mẹ 
đi làm nương rẫy, hoặc bỏ học để phụ giúp công việc gia đình.

GV: Bảo Long                             9Trường THCS Lê Quý Đôn


Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý  
Đôn.

Hình 3: Học sinh nghỉ học để đi chăn bò phụ giúp cha mẹ
Một số  em do nhà xa trường trên 10 km như  học sinh  ở  Buôn Kuốp, 
Buôn Tuor B, thôn Đồng Tâm.Đoạn đường tới trường gồ  gề, bụi vào mùa  
nắng và lầy lội vào mùa mưa. Các em muốn đi học phải thức dậy chuẩn bị từ 
4h sáng. Chính vì vậy tạo nên cảm giác chán nản muốn bỏ học.

Hình 4: Con đường đến trường đầy bụi bặm
Sự phối hợp giữa phụ huynh học sinh với nhà trường chưa thực sự chặt 
chẽ, nhiều phụ huynh còn có tư  tưởng trông chờ, phó mặc con em mình cho  
nhà trường.
2.2. Về phía nhà trường.
Cơ sở  vật chấtcủa nhà trường còn thiếu thốn: Trường chỉ đủ  số  phòng 
học cho các lớp chính khóa, thiếu phòng học phụ đạo cho học sinh yếu kém.
Một số giáo viên chủ nhiệm chưa thực sự quan tâm đến lớp. Sự kết hợp 
giữa giáo viên chủ  nhiệm và tổ  chức hội phụ huynh trong việc giáo dục học 
sinh yếu kém, học sinh cá biệt còn hạn chế. Việc thực hiện phân loại học  
sinh trong lớp để lên kế hoạch bồi dưỡng, tổ chức phụ đạo, giúp đỡ học sinh 

GV: Bảo Long                             10Trường THCS Lê Quý Đôn



Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý  
Đôn.

yếu kém trong nhà trường hiện nay chưa thật tích cực.Trong khi, công việc  
này lại đòi hỏi nhiều công sức, sự kiên trì và tâm huyết của những người có  
liên quan đặc biêt là giáo viên chủ nhiệm.
2.3. Về phía xã hội.
Trường THCS Lê Quý Đôn nằm trên địa bàn xã Dray Sáp. Tình hình kinh 
tế của xã còn gặp nhiều khó khăn. Xã có nhiều Buôn gồm nhiều hộ gia đinh 
người dân tộc sinh sống nên tỉ  lệ  học sinh dân tộc thiểu số  của trường cao,  
chiếm gần 50% số học sinh toàn trường
Trước thực trạng của địa phương, của trường, của lớp chủ nhiệm như 
trên, khi nhận nhiệm vụ  là một giáo viên chủ  nhiệm, tôi cảm thấy bản thân 
phải tìm cách nào đó để duy trì tốt nhất sĩ số của lớp mình, góp phần hạn chế 
tình trạng học sinh bỏ học của lớp chủ nhiệm.
Trước khi thực hiện đề  tài, tôi đã điều tra bằng hình thức trắc nghiệm  
trong học sinh về  mức độ  chuyên cần, mức độ  duy trì sĩ số  đến cuối năm 
bằng hình thức  phát phiếu thăm dò cho lớp 6B về các nội dung sau:
Câu hỏi: Em có quyết tâm sẽ đi học chuyên cần và duy trì đến cuối năm 
học hay không? (Điều tra cả lớp)
              A: CÓ       B: KHÔNG     C: CHƯA BIẾT
Kết quả thống kê cho thấy:
Lớp
6B
(2015 – 2016)
6B
(2016 – 2017)


Sĩ 
số

Đáp án A
Tỉ lệ 
SL
%

Đáp án B
Tỉ lệ 
SL
%

Đáp án C
Tỉ lệ 
SL
%

26

19

73,1

4

15,4

3


11,5

27

19

70,4

5

18,5

3

11,1

GV: Bảo Long                             11Trường THCS Lê Quý Đôn


Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý  
Đôn.

Qua bảng kết quả thăm dò tôi thấy số lượng HS có nguy cơ bỏ học cao.
Tôi xác định được rằng:
Học sinh chọn đáp án A: Là những học sinh có ý thức tốt, có lòng quyết 
tâm đến trường. Những học sinh này mặc dù không thuộc đối tượng  
học sinh có nguy cơ  bỏ  học, nhưng GVCN cũng cần theo dõi khích lệ 
để sự quyết tâm của các em ngày càng cao.
Học sinh chọn đáp án B: Là những đối tượng học sinh có nguy cơ  bỏ 
học cao, GVCN cần đặc biệt chú ý.

Học sinh chọn đáp án C: Là những học sinh chưa có sự  quyết tâm đi 
học chuyên cần. Những em học sinh này cũng thuộc vào đối tượng học 
sinh có nguy cơ bỏ học, GVCN cần phải quan tâm đặc biệt
Câu hỏi 2: Lý do vì sao em không (hoặc chưa) quyết tâm đi học chuyên cần 
và duy trì đến cuối năm? (Điều tra số HS có nguy cơ bỏ học)
(Học sinh tự ghi ra lí do của mình ra giấy)
Đây là một câu hỏi khá tế nhị lại dành cho đối tượng học sinh có nguy  
cơ  bỏ  học, có những học sinh không hợp tác trả  lời nên để  có đáp án 
chính xác, tôi vừa tổng hợp từ giấy, vừa gặp riêng các em đểhỏi  đồng 
thời tìm hiểu thông qua bạn bè, gia đình của các em. Kết quả thu được 
như sau:
Danh sách học sinh có nguy cơ bỏ học năm học 2015­2016:
STT
1
2
3
4
5

Họ và tên học sinh
Nguyên nhân
Y Guốt Hđơk 
Học yếu, ham chơi điện tử
H Diêm Niê
Học yếu, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, 
Y Chiến Bkrông
H Ôn Niê
Y Thép Byă

bố mẹ đi làm ăn xa.

Lưu ban, chán học
Nhà xa, không có xe đạp đến trường
Gia đình khó khăn, sau giờ học phải đi chăn 

GV: Bảo Long                             12Trường THCS Lê Quý Đôn


Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý  
Đôn.

6
7

Y Huynh Kbuor

bò phụ giúp bố mẹ
Lưu ban, chán học, mồ  côi bố, mẹ  đi lấy 

Trần Văn Tài

chồng, không ai quan tâm đến em
Hay thức dậy muộn, đi trễ, bố  mẹ  đi làm 
sớm, về muộn, không ai quan tâm đến việc 
học của con

Danh sách học sinh có nguy cơ bỏ học năm học 2016­2017:
STT
1
2
3

4
5
6
7
8

Họ và tên học sinh
Nguyên nhân
Y Kênan Hđơk
Học yếu, lười học
H Nguê Êya
Gia đình có hoàn cảnh khó khăn
H Ria Êban
Nhà đông con, ở nhà phụ giúp nương rẫy
Nguyễn Thị Bình Minh Gia đình có hoàn cảnh khó khăn
Y Romi Kbuor
Ba mẹ ly hôn
Y Sanra Bkrông
Lưu ban, học yếu
Y Tươi Ktul
Nhà xa trường đi lại khó khăn
Y Vinh Niê
Lười học, bị bạn bè lôi kéo,nghiện game
Qua kết quả khảo sát cho ta thấy  tỉ lệ học sinh có nguy cơ bỏ học 

chiếm tỉ lệ cao (khoảng 30%) với nhiều nguyên nhân khác nhau. Vậy là giáo 
viên chủ nhiệm chúngta phải có biện pháp gì để giúp học sinh có thêm động 
lực và sự quyết tâm đi học chuyên cần?và đó cũng chính là lý do thôi thúc tôi 
đi tìm hiểu, nghiên cứu các biện pháp nhằm giảm thiểu tình trạng bỏ học của 
học sinh lớp chủ nhiệm có hiệu quả hơn.

3. Giải pháp, biện pháp.
3.1. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp.
Với những giải pháp, biện pháp mà tôi đưa ra sau đây đã giúp học sinh 
của lớp chủ  nhiệm đi học chuyên cần hơn nhằm giảm thiểu những nguy cơ 
bỏ  học của học sinh góp phần nâng cao tỉ lệ duy trì sĩ số. Đồng thời tạo cho  
các em môi trường học tập, nghị lực vươn lên những khó khăn mà bản thân 
gặp phải, giúp các em có ước mơ  hoài bão để  các em không còn có tư  tưởng 
nghỉ học giữa chừng

GV: Bảo Long                             13Trường THCS Lê Quý Đôn


Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý  
Đôn.

Xuất phát từ  kinh nghiệm của bản thân và công tác chủ  nhiệm, bản  
thân tôi nhận thấy để  giúp học sinh đang và sẽ  có nguy cơ  bỏ  học từ  bỏ  ý  
định của mình thì vấn để  then chốt  ở  đây là giúp bản thân các em tìm được 
niềm vui trong học tập, loại bỏ những yếu tố tiêu cực cả chủ quan và khách  
quan dẫn tới việc bỏ học.
3.2.Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.
3.2.1. Giáo viên chủ  nhiệm tìm hiểu đặc điểm tình hình của lớp, 
từng học sinh.
Ngay sau khi nhận lớp chủ nhiệm, tôi đã tìm hiểu, nắm bắt thông tin về 
từng đối tượng học sinh của lớp mình chủ nhiệm, việc nắm bắt thông tin này 
được thu thập qua các kênh khác nhau như: Điều tra qua học bạ tiểu học của  
học sinh, lập phiếu điều tra thông tin cá nhân và nguyện vọng trong năm học,  
quan sát thực tiễn các giờ  học, các giờ  ra chơi. Ngoài ra tôi còn thu thập kết 
quả qua những bài kiểm tra đầu năm học của các môn học.
Việc nắm bắt các thông tin trên là căn cứ  để  lựa chọn học sinh có năng lực,  

nhiệt tình vào Ban cán sự lớp, Ban chấp hành chi đội; học sinh có học lực yếu  
cần bổ  trợ kiến thức, những học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đồng 
thời nắm bắt tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của các em nhằm đưa ra một số 
biện pháp phù hợp nhằm giảm thiểu tình trạng bỏ học của học sinh trong lớp 
mình chủ nhiệm.
Qua điều tra lớp chủ nhiệm, tôi nhận thấy:
a) Năm học 2015­2016:
­

Học sinh Trần Văn Tài là học sinhhay thức dậy muộn, đi trễ, bố 
mẹ  đi làm sớm, về  muộn, không ai quan tâm đến việc học của 
con

­

Học sinh Y Thép Byă là học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn, 
sau giờ học phải đi chăn bò phụ giúp bố mẹ

GV: Bảo Long                             14Trường THCS Lê Quý Đôn


Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý  
Đôn.

­

Học sinh Y Huynh Kbuor là học sinh lưu ban, chán học, mồ  côi  
bố, mẹ đi lấy chồng, không ai quan tâm đến em

b) Năm học 2016­2017:

­

Học sinh Nguyễn Thị  Bình Minh là  học sinh có hoàn cảnh đặc 
biệt. Bố mẹ ly hôn và đều có gia đình mới, không ai chịu nuôi em, 
em phải sống với bà ngoại. Bà ngoại của Bình Minh đã già và  
gần như  không còn khả  năng lao động. Tiền sinh hoạt trong gia  
đình chủ yếu dựa vào lương hưu và trợ cấp của xã. Tôi xác định 
đây là những hoàn cảnh thiếu thốn về vật chất lẫn tình cảm. 

­

Học sinh Y Vinh Niê thường xuyên có hành vi bắt nạt bạn và thái 
độ  bướng bỉnh khi thầy cô nhắc nhở, có hiện tượng cúp học để 
đi chơi game, bi – a

­

Học  sinh   Y   Sanra   Bkrông  và   Y   Kênan   Hđơk     là   hai   học   sinh  
lưuban,chán học, thường xuyên không học bài cũ, nghỉ học không  
lý do.

3.2.2. Gặp gỡ, trao đổi với cha mẹ học sinh.
Việc phối hợp chặt chẽ với phụ huynh trong công tác duy trì sĩ số của  
lớp là giải pháp cực kì quan trọng. Do vậy, ngay trong buổi họp phụ  huynh  
đầu  năm, tôi đã lập danh sách ghi số  điện thoại của phụ  huynh, bầu ra các 
phụ huynh  làm ban đại diện ở các thôn buôn. Thường xuyên phối hợp với các 
ban đại diện để nắm bắt, trao đổi kịp thời tình của các em đến gia đình.
Ngoài tra tôi đã tích cực gặp gỡ phụ huynh học sinh, nhất là những học  
sinh đặc biệt như Y Sanra Bkrông, Y Kênan Hđơk, Y Vinh Niê


GV: Bảo Long                             15Trường THCS Lê Quý Đôn


Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý  
Đôn.

Hình 5: GVCN tới hỏi thăm và động viên học sinh đi học chuyên 
cần
3.2.3. Xây dựng ban cán sự lớp năng nổ, nhiệt tình
Xây dựng ban cán sự  lớp năng nổ, nhiệt tình nhằm quản lí lớp đồng 
thời hỗ  trợ  giáo viên chủ  nhiệm trong việc giảm thiểu nguy cơ  bỏ  học của  
học sinh. Ban cán sự  là đội ngũ truyền thông tin nhanh nhất, giúp giáo viên 
nắm bắt sớm tình hình của lớp. Những phong trào vui học tập, giúp đỡ  bạn,  
khơi gợi niềm hứng thú học tập của học sinh, giúp các em thấy được mỗi  
ngàyđến trường là một ngày vui nhằm giảm thiểu tình trạng nghĩ học,cúp tiết  
của một học sinh được thực hiện thành công cũng nhờ vào đội ngũ ban cán sự 
này.
3.2.4. Phụ đạo cho học sinh yếu kém.
Nhiều học sinh học yếu, chán học nên có tư tưởng cúp tiết, trốn học đi 
chơi như: Y Vinh Niê, Y Kênan Hđơk.Tôi đã gặp riêng các em vào các giờ ra 
chơi để trao đổi.Cuối các buổi học tôi thường tranh thủ giảng lại bài cho các 
em. Đồng thời tôi cũng phân công cho các học sinh khá giỏi kềm cặp, giảng 

GV: Bảo Long                             16Trường THCS Lê Quý Đôn


Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý  
Đôn.

giải thêm cho các em học sinh yếu kém này, để  các em không  rơi vào cảm 

giác lạc lỏng, chán nản dẫn đến bỏ học.

Hình 6: GV phụ đạo thêm cho học sinh yếu kém
3.2.5. GVCN chia sẻ tâm tư tình cảm với học sinh.
 Các em lớp tôi đa phần là người dân tộc, cuộc sống của các em rất khó 
khăn,  các em hay tự ti ít giao tiếp với các bạn người Kinh cũng như với thầy  
cô. Hiểu được điều đó tôi luôn tìm cách xóa bỏ  khoảng cách thầy – trò, làm  
một người bạn thật sự  của các em.Để  các em trao đổi, tâm sự  với tôi về 
những khó khăn trong cuộc sống và học tập mà các em gặp phải. Vào cuối  
buổi học tôi hay gặp riêng những em có biểu hiện không tốt trong giờ  học,  
thay vì trách mắng tôi đã tìm hiểu nguyên nhân, động viên và có những lời nói  
tích cực động viên các em. 
Như  học sinh  H – Gum Hlong  thời gian đầu rất nhút nhát, thu mình, 
lầm lì, hỏi không nói, vắng học không lí do. Sau một thời gian gặp riêng hỏi  
han và động viên, em đã trở thành một học sinh hoạt bát, mạnh dạn tham gia  

GV: Bảo Long                             17Trường THCS Lê Quý Đôn


Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý  
Đôn.

các trò chơi với các bạn. Đặc biệt, em ít nghỉ  học hẳn, nếu có vắng học thì  
em đều có viết giấy xin phép.
3.2.6. Tạo môi trường vui chơi lành mạnh cho học sinh. Khơi dậy sự yêu  
thích đến trường ở học sinh. 
Các hoạt động kết hợp giữa học tập và vui chơi luôn được trường 
THCS Lê Quý Đôn quan tâm, các hoạt động này được diễn ra trong xuyên 
suốt năm học như: Trang trí lớp học thân thiện, chăm sóc công trình măng non, 
hội vuihọc tập, hoạt động ngoài giờ  lên lớp, làm báo tường, vẽ  tranh, làm 

thiệp chúc mừng 20/11, thi làm lồng đèn, làm mâm ngủ quả.

Hình 7: Học sinh chơi chuyền thun tiếp sức

GV: Bảo Long                             18Trường THCS Lê Quý Đôn


Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý  
Đôn.

Hình 8: Học sinh trong hội thi xếp sách nghệ thuật
Trong những các hoạt động này tôi luôn chú ý giao nhiệm vụ cho những 
em cónguy cơ  bỏ  học để  các em cảm thấy mình được coi trọng và có trách  
nhiệm hơn với lớp từ đó giúp các em cảm thấy yêu thích đến trường hơn.
Như học sinh Y – Tươi Bkrông học yếu, bướng bỉnh, hay đầu năm hay 
có hiện tượng cúp học đi chơi điện tử. Trong các tiết học, thường xuyên 
không học bài cũ, nằm dài trên bàn, thầy cố nhắc nhỡ không nghe. Nhân hội  
khai giảng có cuộc thi nhảy bao bố nam, tôi  đã hướng cho lớp chọn em tham  
gia trò chơi, sau buổi học tôi cùng em tập luyện. Nhờ  những buổi tập luyện  
cùng em, thầy trò gần gũi nhau, tôi đã khuyên nhủ, khích lệ, động viên em.  
Kết quả, em đã trở thành học sinh ngoan hơn, nghe lời thầy cô có trách nhiệm  
với lớp, không còn hiện tượng cúp học đi chơi điện tử.

GV: Bảo Long                             19Trường THCS Lê Quý Đôn


Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý  
Đôn.

Hình 9: Học sinh với phần thi nhảy bao bố trong hội khai giảng

3.2.7. Tuyên truyền tác hại của những tệ nạn xã hội
Ngày nay khi xã hội ngày càng phát triển, con người ngày càng chịu 
nhiều áp lực từ cuộc sống, chính vì thế cũng ngày càng xuất hiện nhiều nhiều  
tệ  nạn xã hội và đặc biệt việc phòng chống tệ  nạn xã hội trong học đường 
luôn được coi trọng hàng đầu.
Phòng chống tệ  nạn xã hội trong học đường, luôn được đưa lên hàng  
đầu bởi học sinh luôn là những mầm non của đất nước, việc phòng chống đó  
sẽ giúp cho mọi người có thêm nhiều điều kiện để phát triển bản thân, nâng  
cao tri thức, phát triển bản thân mỗi ngày. Việc phòng chống tệ nạn trong nhà 
trường luôn được nhà trường và bản thân tôi quan tâm. Trường đã thực hiện 
các chuyên đề tuyên truyền cho học sinh về tác hại của game online, tác hại 
của ma túy, thuốc lá.

GV: Bảo Long                             20Trường THCS Lê Quý Đôn


Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý  
Đôn.

Ngoài ra tôi thường kết hợp trong các buổi sinh hoạt lớp để  tuyên truyền 
phòng chống tác hại của phim ảnh đồi trụy,cờbạc, lô đề 
3.2.8. Kêu gọi tinh thần tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách :

Tục ngữ  ta có câu “ lá lành đùm lá rách”, đó là một truyền thống tốt đẹp  
của nhân dân ta. Là giáo viên chủ  nhiệm lớp có học sinh nằm trong hoàn 
cảnh đặc biệt này, bản thân  tôi đã giúp đở  các em  một phần nào về  vật 
chất để  giải quyết những khó khăn nhất thời, tôi cố  gắng vận động các 
nguồn hỗ  trợ từ  trong và ngoài nhà trường, kêu gọi những tấm lòng vàng 
và tạo điều kiện cho các em được tiếp tục đến trường theo đuổi ước mơ 
và nguyện vọng của mình. 


Hình 10: GVCN trao cặp sách cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn
Ngay tại lớp của mình, tôi đã phát động các phong trào kế  hoạch nhỏ, 
ngoài các phong trào mà đội phát động như quyên góp giấy vụn, lon bia, nuôi 
heo đất nhằm mục đích giúp đỡ các bạn nghèo trong lớp mua sách vở

GV: Bảo Long                             21Trường THCS Lê Quý Đôn


Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý  
Đôn.

Hình 11: Học sinh thu gom vỏ lon bia tham gia kế hoạch nhỏ của lớp
Tôi cũng trao đổi với nhà trường, đội về  hoàn cảnh của các em để  tranh  
thủ sự giúp đỡ từ các quỹ học bổng
Như  trường hợp em Bình Minh nhà  ở  xa trường, nhà nghèo không có xe 
đạp đến trường, thường phải đi nhờ xe bạn, bữa nào bạn không chở đi thì em  
phải nghỉ  học. Biết được hoàn cảnh của em tôi đã trao đổi với nhà trường, 
với đồng nghiệp. Rất may có giáo viên trong trường có xe đạp cũ không dùng  
tới, đồng ý tặng xe cho em, nhờ thế em đã có xe đạp để đến trường
Em Y Rin Bkrông chỉ  có một bộ  quần áo để  đi học.Có hôm trời mưa, áo  
quần không kịp khô nên em phải nghỉ học. Biết được hoàn cảnh của em, tôi 
đã bí mật gặp những học sinh trên lớp có hoàn cảnh khá giả hỏi xem các em  

GV: Bảo Long                             22Trường THCS Lê Quý Đôn


Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý  
Đôn.


có áo quần cũ để  xin và trao lại cho em để  giúp em có đồng phục mặc tới  
trường
3.3. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Các giải pháp đưa ra đều có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với  
nhau từ  đó tạo ra kết quả  nghiên cứu của đề  tài. Thiếu một trong các giải 
pháp trên sẽ  gây khó khăn, tạo rào cản trong khi thực hiện thậm chí làm cho 
quá trình nghiên cứu không thu được kết quả. Đối với mỗi học sinh có nguy  
cơ  bỏ  học chúng ta có thể  vận dụng nhiều giải pháp khác nhau để  đem lại 
hiệu quả tốt nhất và đặc biệt phải làm tốt việc phối hợp chặt chẽ giữa lãnh  
đạo nhà trường, giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm và cha mẹ học sinh.
3.4. Kết quả khảo nghiệm
Sau khi áp dụng sáng kiến “Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng 
học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý Đôn”. 
Cuối năm học tôi tiếp tục tiến hành khảo sát điều tra học sinh bằng hình thức 
trắc nghiệm, trả lời câu hỏi: “Lên lớp 7, em có quyết tâm đi học chuyên cần 
và duy trì đến cuối năm không?
A. Có

B. Không

C. Chưa biết” 

Sau khi có kết quả tôi đem đối chiếu với kết quả đầu năm học .
Bảng đối chiếu kết quả so với đầu năm học:
Đầu năm
Đáp án A
Đáp án B và C
Số  Tỉ lệ
Số 
Tỉ lệ 


Cuối năm
Đáp án A
Đáp án B và C
Số 
Tỉ lệ 
Số 
Tỉ lệ 

Năm học
HS
%
HS
%
HS
%
HS
%
2015­2016 19
73,1
7
26,9
24
92,3
2
7,7
2016­2017 19
70,4
8
29,6

25
96,2
1
3,7
Qua bảng trên tôi thấy tỉ lệ học sinh có nguy cơ bỏ học đã giảm rõ rệt 
so với khi tôi chưa áp dụng đề tài.Các em đã có sự quyết tâm đến trường.

GV: Bảo Long                             23Trường THCS Lê Quý Đôn


Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý  
Đôn.

Kết quả theo dõi tình hình đi học chuyên cần của các em trong học kì I 
và trong học kì II của hai lớp 6B năm học 2015­2016 và 6B 2016­2017 như 
sau:

Học kì I

Học kì II

Số   lần   vắng  Số lần vắng 
Năm học KP
2015­2016
2016­2017

CP
30
25


50
45

Số lần vắng KP

Số lần vắng 
CP

16
13

20
15

Kết quả duy trì sĩ số như sau
* Năm học 2015­2016 giảm: 0 học sinh đạt tỉ  lệ 100%.
* Năm học 2016­2017 giảm: 01 học sinh với lí do theo gia đình đi làm  
ăn xa đạt tỉ lệ 96,3%.
+ Phạm vi và hiệu quả ứng dụng
Khi nghiên cứu đề tài tôi áp dụng cho lớp mình chủnhiệm là lớp 6B năm 
học 2015­2015 và lớp 6B 2016­2017. Nhưng sau khi nghiên cứu đề tài tôi thấy  
hiệu quả rất cao chính vì vậy năm học 2017­2018 tôi đã và đang áp dụng đề 
tài đối với lớp mình đang chủ  nhiệm.Và tôi hy vọng đây sẽ  là một tài liệu  
tham khảo để  cho những đồng nghiệp của tôi có thể  áp dụng vào lớp chủ 
nhiệm của mình góp phần giảm tỉ lệ học sinh bỏ học của nhà trường.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Từ kết quả thu được sau nhiều năm thực hiện phương pháp này thì tỉ  lệ học  
sinh bỏ  học trong lớp tôi chủ  nhiệm đã giảm và sĩ số  học sinh trong trường 
cũng được duy trì.  Tôi thiết nghĩ, việc huy động học sinh  đến  lớp để  đảm 

bảo sĩ số  là việc làm của nhiều ban ngành, đoàn thể, trong đó nhà trường và 
GV: Bảo Long                             24Trường THCS Lê Quý Đôn


Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý  
Đôn.

giáo viên chủ nhiệm đóng vai trò nòng cốt. Bên cạnh đó chúng ta nên tìm hiểu  
rõ nguyên nhân bỏ học cụ thể của từng trường hợp để có biện pháp sát thực 
nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng, nguy cơ  bỏ  học của học sinh, đáp  ứng 
mục tiêu giáo dục mà Đảng đã đề ra.
     2. Kiến nghị
Để thực hiện tốt hơn nữa công tác huy động học sinh bỏ học ra lớp và duy trì 
sĩ số  theo tôi cần một số  biện pháp sau: Có sự  liên kết thống nhất giữa 
GVCN và các GVBMtrong việc giáo dục các em, luôn thông báo với nhau về 
tình hình học tập của các em có biểu hiện lơ  là trong học tập và những em 
hay vi phạm nội quy trường lớp  để  kịp thời có hướng chấn chỉnh những 
khuyết điểm của các em nhằm kịp thời và có biện pháp giúp các em tránh tình 
trạng bỏ học. Đối với nhà trường: Tổ chức các lớp phụ đạo cho học sinh yếu 
nhằm bù đắp lổ  hổng kiến thức cho các em, giúp các em đuổi kịp chương 
trình, tạo hứng thú trong học tập cho các em. Xây dựng trường học thân thiện,  
đảm bảo mỗi ngày đến lớp là một ngày vui. Tổ  chức các hoạt động ngoại 
khóa, hoạt động ngoài giờ  lên lớp vui chơi nhằm thu hút các em, tránh tình  
trạng các em tham gia những trò chơi vô bổ. Đối với chính quyền, đoàn thể 
địa phương:  Kết hợp với chính quyền thôn buôn để  nắm rõ tình hình hoàn  
cảnh của các em và thông báo kịp thời tình hình của các em có nguy cơ bỏ học 
để cùng kết hợp với thôn buôn đến động viên vận động các emvà gia đình tạo  
điều kiện thuận lợi nhất để  các em tới trường. Tăng cường công tác xã hội  
hóa giáo dục, quản lí thật tốt các điểm vui chơi không lành mạnh. 
Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ của bản thân  tôi. Qua bài viết này 

tôi rất mong được sự góp ý xây dựng, giúp đỡ và trao đổi. Nếu trong quá trình  
thực hiện đề tài có gì sơ suất, tôi rất mong được đón nhận sự đóng góp chân 
thành của mọi người.
Dray Sap ngày 28 tháng 02 năm 2018
    Người viết
GV: Bảo Long                             25Trường THCS Lê Quý Đôn


×