Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết cuộc sống có biết bao nhiêu là điều kì diệu, nó
luôn ban tặng cho ta nhiều điều hạnh phúc.Nhưng điều hạnh phúc hơn cả của
cuộc sống là khi ta được cắp sách đến trường, được học tập, được thầy cô
truyền đạt kiến thức, kỹ năng, đạo đức để sau này giúp ích cho bản thân, gia
đình vàquê hương đất nước.Tri thức loài người mênh mông như biển cả, mỗi
người chúng ta chỉ là một hạt cát nhỏ bé trong cái đại dương bao la ấy mà
thôi. Dẫu chúng ta có miệt mài học tập suốt cả cuộc đời thì cũng chưa bao
giờ khám phá hết kho tàng kiến thức của nhân loại.
Lênin từng nói “Học, học nữa, học mãi”.Nhưng vì một lý do nào đó mà
một số em không được đến trường đó là một thiệt thòi rất lớn, không gì bù
đắp nổi cho bản thân các em nói riêng và cho toàn xã hội nói chung. Không
được đến trường các em không được giáo dục một cách cơ bản, không có
định hướng cho cuộc sống sau này, không có kiến thức để am hiểu pháp luật
từ đó dễ sa ngã vào các tệ nạn xã hội và vướng vào vòng pháp luật.
Đặc biệt trong tình hình hiện nay chúng ta đang thực hiện công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, lại càng đòi hỏi con người có tri thức, trình độ
cao do đó việc giáo dục phổ thông là hết sức quan trọng. Luật giáo dục năm
2005 đã xác định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát
triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản
nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
Trong những năm qua, tình hình học sinh bỏ học đang là một vấn đề
cấp bách của các cấp, các ngành, các địa phương, nhất là của ngành giáo dục
– đào tạo, làm ảnh hưởng đến việc đào tạo nguồn nhân lực cho tương lai và
kế hoạch xây dựng, phát triển kinh tế của địa phương. Vì vậy, việc tìm ra
nguyên nhân cũng như có những biện pháp phù hợp để giảm thiểu tình trạng
GV: Bảo Long 1Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
học sinh bỏ học đã và đang là một việc làm cần thiết và cấp bách đòi hỏi các
cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, các ban ngành đoàn thể xã hội, ngành
giáo dục và mọi gia đình.
Đối với cấp THCS việc duy trì sĩ số học sinh là việc làm rất khó khăn,
đòi hỏi sự quan tâm, chỉ đạo linh hoạt và sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà
trường, gia đình và xã hội.Công tác vận động học sinh bỏ học trở lại lớp và
duy trì sĩ số là vấn đề cần thiết phải tiến hành thường xuyên, liên tục trong
năm học.
Trường Lê Quý Đôn nơi tôi công tác nằm trên địa bàn xã Đray Sáp một
trong những xã còn khó khăn của huyện Krông Ana. Đray Sáp là địa phương
có địa bàn rộng, điều kiện kinh tế còn rất nhiều khó khăn, chủ yếu là sản
xuất nông nghiệp, chất lượng cuộc sống của người dân còn thấp, tỉ lệ học
sinh dân tộc cao, chiếm gần 50% số học sinh toàn trường. Hiện nay Ban giám
hiệu và tập thể giáo viên trường THCS Lê Quý Đôn đã nỗ lực đưa ra nhiều
giải pháp nhằm hạn chế tình trạng bỏ học của học sinh. Việc hạn chế học
sinh bỏ học trong tình trạng hiện nay là trách nhiệm của toàn xã hội chứ
không phải của riêng ai.
Bản thân là một giáo viên trẻ, được phân công làm công tác chủ nhiệm
hơn ai hết tôi luôn ý thức được trách nhiệm của mình trong việc hạn chế học
sinh bỏ học đặc biệt là với lớp mình chủ nhiệm.Xuất phát từ thực tiễn trên
và qua thực tế công tác giảng dạy học sinh ở trường THCS Lê QuýĐôn trong
các năm qua, tôi nhận thấy việc mỗi giáo viên làm công tác chủ nhiệm nắm rõ
thực trạng và đề ra các giải pháp để hạn chế việc bỏ học của học sinh lớp
mình là đã góp phần giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học cho nhà trường,
cho ngành giáo dục nước nhà. Đó chính là lý do tại sao tôi chọn đề tài: “ Một
số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm
tại trường THCS Lê Quý Đôn”.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
GV: Bảo Long 2Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
2.1. Mục tiêu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng việc học sinh bỏ
học ở trường THCS Lê Quý Đôn, đề tài có mục đích chia sẻ với đồng nghiệp
một số biện pháp để giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học thông qua công
tác chủ nhiệm. Nhằm giúp học sinh, cha mẹ học sinh nhận thức rõ tác hại
của việc bỏ học.
Hy vọng với sự chung tay góp sức của mỗi cá nhân, của toàn xã hội, thì
tình trạng học sinh bỏ học của trường THCS Lê Quý Đôn, của huyện Krông
Ana ngày càng giảm, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục của
nước nhà.
2.2. Nhiệm vụ
Tìm hiểu tâm sinh lý lứa tuổi học sinh THCS.
Tham khảo các tài liệu, công văn, chỉ thị liên quan đến tình hình bỏ học
của học sinh THCS.
Đề xuất các giải pháp và áp dụng các giải pháp trong thực tiễn tại
trường THCSLê Quý Đôn.
3. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về thực trạng về tình hình bỏ học của học sinh trường
THCS Lê Quý Đôn, cụ thể là lớp 6B (năm học 20152016) Và lớp 6B (năm
học 20162017) từ đó đề ra các giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng học
sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý Đôn trong tình
hình hiện nay.
4. Giới hạn đề tài
Nghiên cứu thực trạng tình hình bỏ học của học sinh, các nguyên nhân
dẫn đến bỏ học của học sinh lớp lớp 6B (năm học 20162017) Và lớp 6B
(năm học 20162017) trường THCS Lê Quý Đôn
5. Phương pháp nghiên cứu
a)Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận.
GV: Bảo Long 3Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu.
Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập.
b) Nhom ph
́
ương pháp nghiên cứu thực tiễn.
Phương pháp điều tra nguyên nhân học sinh bỏ học.
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục.
Phương pháp khảo nghiệm qua các bài kiểm tra.
c) Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp thống kê số lượng học sinh có nguy cơ bỏ học qua các
năm, số lượng ngày nghỉ có phép và không phép của học sinh trong năm học.
II. PHẦN NỘI DUNG
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.Khái niệm “học sinh bỏ học”:
Học sinh bỏ họclà học sinh không tiếp tục đi học nữa, có học sinh bỏ
học khi vừa học xong chương trình một lớp nào đó, có học sinh bỏ học khi
năm học mới bắt đầu, vào giữa năm học hoặc khi năm học gần kết thúc, có
học sinh bỏ học một vài ngày, một vài tiết để đi chơi hoặc đi giải quyết vấn
đề gì đó rồi trở lại lớp học.
Còn có một đối tượng học sinh khác, mặc dù vẫn ngồi trong lớp nhưng
không khác gì học sinh bỏ học. Đó là những học sinh ngồi lơ mơ trong lớp,
không chú ý nghe giảng hoặc làm việc riêng trong khi thầy cô giáo đang giảng
bài, không tham gia vào các hoạt động trên lớp và chỉ mong hết giờ. Đối
tượng này là đối tượng “tiền bỏ học”.
Học sinh bỏ học có thề chia ra làm hai loại: bỏ học “tích cực” và bỏ học
“tiêu cực”. Bỏ học “tích cực” nếu học sinh bỏ học để đi học nghề hoặc tiếp
tục học bổ túc; bỏ học “ tiêu cực” nếu học sinh bỏ học để đi chơi la cà bám
vào cha mẹ, phá phách xóm giềng…, học sinh bỏ học “tiêu cực” có thể là đội
quân “trù bị” của ma túy và tệ nạn xã hội. Dù học sinh bỏ học “tích cực” hay
GV: Bảo Long 4Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
“tiêu cực” cũng gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng nguồn nhân lực, đến
cộng đồng và xã hội.
Một trong các yếu tố cơ bản đối với quá trình dạy học nói riêng và quá
trình giáo dục nói chung là phải đảm bảo cho mỗi học sinh được học trọn ven
bậc học. Nhưng thực tế do nhiều nguyên nhân tác động, học sinh bỏ học
không hoàn thành được hết bậc học, thậm chí có em bỏ học ngay từ lớp sáu.
Đây là hiện tượng không bình thường, bởi vì các em còn quá nhỏ, chỉ mới hơn
mười tuổi, tương lai các em sẽ ra sao? Các em sẽ làm được gì với những kiến
thức không trọn vẹn đó. Xét sâu xa hơn, việc bỏ học bất thường sẽ gây xáo
trộn về mặt tâm lý của học sinh đang còn đi học, gây hậu quả xấu cho việc
phổ cập giáo dục THCS, làm giảm niềm tin của xã hội vào nhà trường, ảnh
hưởng đến chất lượng cuộc sống mai sau.
Bác Hồ dạy: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”.Đúng vậy, khi học
sinh bỏ học tăng sẽ làm tăng thêm số lượng người thất học, mù chữ gây ra
nhiều hậu quả cho nền kinh tế xã hội. Thanh niên là trụ cột c ủa nước nhà,
mặc dù ở tuổi THCS, các em chưa phải là thanh niên, nhưng các em sẽ lớn
lên, sẽ trưởng thành, sẽ là chủ nước nhà. Vậy các em sẽ làm cho nước nhà
thịnh hay suy với khối óc trống rỗng, không kiến thức, không kinh nghiệm;
các em không hiểu rằng kiến thức tốt, kinh nghiệm phong phú sẽ là cơ hội
cho người nghèo bứt phá, vượt lên phía trước tiếp cận với những cơ hộ có
thu nhập cao, để cải thiện cuộc sống.
1.2. Khái niệm về “biện pháp”:
Theo cuốn sách đại từ điển tiếng Việt trang 161, nhà xuất bản Văn hóa
thông tin, Hà Nội 1999 thì khái niệm biện pháp được hiểu như sau: Biện pháp
là cách làm, cách tiến hành giải quyết vấn đề cụ thể.
Hiện nay chưa có định nghĩa nào về biện pháp khắc phục học sinh bỏ
học ngoài định nghĩa của thạc sĩ Võ Văn Nhân với luận văn nghiên cứu về
tình trạng học sinh THPT bỏ học ở vùng sâu tỉnh Trà Vinh
GV: Bảo Long 5Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
Theo thạc sĩ Võ Văn Nhân thì học sinh bỏ học là trách nhiệm của gia
đình, nhà trường và xã hội; vì thế biện pháp khắc phục tình trạng học sinh bỏ
học bao hàm cả biện pháp giáo dục và quản lý đối với tất cả các đối tượng
liên quan, tác động đến nguyên nhân bỏ học ở cấp vi mô và vĩ mô.
2. Thực trạng.
Mặc dù trong những năm gần đây Ban Giám hiệu, tập thể giáo viên
trường THCS Lê Quý Đôn đã nỗ lực đưa ra nhiều giải pháp nhằm hạn chế
tình trạng bỏ học của học sinh như tham mưu cho Đảng ủy, UBND xã, Ban
Chỉ đạo giáo dục cấp xã để chỉ đạo các trưởng thôn, buôn, các đoàn thể trên
địa bàn đến nhà học sinh để nắm bắt tâm tư, suy nghĩ của học sinh và cha mẹ
các em, đặc biệt là những học sinh có dấu hiệu nghỉ học, muốnbỏ học; nắm
được số học sinh đi làm ăn xa, học nghề hoặc gia đình không đồng ý cho con
đi học để làm tốt công tác vận động học sinh ra lớp trở lại; Cung cấp danh
sách địa chỉ cụ thể từng học sinh để chính quyền xã chỉ đạo Ban Tự quản các
thôn buôn cùng tham gia công tác tuyên truyền, vận động.Thành lập ban duy
trì sĩ số, phân công rõ trách nhiệm của Lãnh đạo nhà trường, cán bộ, giáo viên,
nhân viên trong công tác vận động học sinh duy trì sĩ số đến từng lớp, từng
thôn buôn, từng học sinh. Tổ chức dạy phụ đạo chohọc sinh yếu kém, tăng
cường các hoạt động ngoại khóa, văn hóa văn nghệ thể dục thể thao tạo sân
chơi bổ ích lôi cuốn học sinh tham gia…Tuy nhiên tỉ lệ học sinh bỏ học vẫn
còn cao.
Bảng thống kê số lượng HS bỏ học của trường THCS Lê Quý Đôn trong
các năm học từ 2014 đến 2017:
STT
Năm học
Số HS bỏ học
Số HS bỏ học trong
hè
1
2
3
20142015
20152016
20162017
19
21
22
10
18
19
GV: Bảo Long 6Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
Qua bảng thống kê thì tình hình bỏ học còn rất cao.Đặc biệt là số học
sinh bỏ học trong hè. Lý do là trong hè một số học sinh học yếu ham chơi bị
bạn bè rủ rề lôi cuốn nên không muốn trở lại trường, một số em trong hè theo
bạn đi làm xa rồi không muốn về đi học lại, các em học sinh yếu kém phải ôn
tập để thi lại, nhưng quá trình thi lại các em không đủ điều kiện lên lớp nên
chán nản và bỏ học.
Bảng theo dõi tình hình học sinh lớp 6B Học kỳ I năm học 20152016 và
lớp 6B học kì I 20162017:
Năm học
Tổng
số HS
Nữ
Dân tộc
Hộ nghèo
Cận
nghèo
20152016
26
14
20
04
02
20162017
27
12
21
03
03
Bảng theo dõi tình hình số lần vắng học của học sinh lớp 6B năm học
2015 2016 và lớp 6B năm học 20162017 trong học kì I:
Năm học
Số lần vắng có phép
20152016
30
20162017
25
Số lần vắng không phép
50
45
2.1. Về phía gia đình và học sinh:
Nguyên nhân quan trọng nhất của hiện tượng bỏ học là từ phía gia đình
và học sinh, cụ thể như sau:
Học sinh có lực học yếu, không nắm được kiến thức căn bản, dẫn đến
tình trạng lười học, chán học và lâu dần trở thành bỏ học.
Một số học sinh do bạn bè rủ rê lôi kéo, không xác định rõ con đường
tiếp theo mà mình bước đến, không có ước mơ làm mục tiêu phấn đấu.
GV: Bảo Long 7Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
Học sinh thuộc gia đình nghèo, đông con, các em không có áo quần lành lặn
để đến lớp như bao bạn khác. Những học sinh này thường hay mặc cảm, tự ti
về hoàn cảnh, tự tách biệt khỏi tập thể, các em luôn cảm thấy lòng tự trọng
bị tổn thương và chán nản dẫn đến bỏ học.
Hình 1: Căn nhà tranh lụp xụp của hai bà cháu Bình Minh
Phần đa học sinh người dân tộc, bố mẹ các em biết ít chữ, ít quan tâm
đến việc học của con nên khi đi học về không có ai kèm, nhắc nhở dẫn đến
tình trạng các em thường không học bài cũ ở nhà nên học lực ngày càng yếu
dẫn đến chán nản và muốn bỏ học
Mộtsố học sinh bố mẹ ít dành thời gian cho con cái, lo kiếm sống không
quản lý giờ giấc của con em mình.Gia đình một số học sinh nghèo đi làm thuê
ở xa, để con em ở nhà với anh chị, ông, bà, hoặc người thân. Những học sinh
này thường nói dối cha mẹ, thầy cô, thường xuyên nghĩ học không lí do, cúp
tiết đi chơi lâu ngày dẫn đến chán học và bỏ học.
Học sinh thuộc gia đình thiếu thốn tình cảm của bố mẹ.Tức là bố mẹ ly
hôn, bố mẹ hay cãi nhau hoặc có những học sinh mồ côi. Những học sinh này
thường có tính khí bất thường, hay quậy phá, đánh nhau, hoặc tự ti, mặc cảm
xa lánh bạn bè nên hay dẫn đến tình trạng bỏ học.
GV: Bảo Long 8Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
Hình 2: Ba mẹ thường xuyên cãi nhau dẫn đến trẻ mặc cảm, tự ti
Do kinh tế gia đình khó khăn đã khiến nhiều học sinh phải theo cha mẹ
đi làm nương rẫy, hoặc bỏ học để phụ giúp công việc gia đình.
GV: Bảo Long 9Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
Hình 3: Học sinh nghỉ học để đi chăn bò phụ giúp cha mẹ
Một số em do nhà xa trường trên 10 km như học sinh ở Buôn Kuốp,
Buôn Tuor B, thôn Đồng Tâm.Đoạn đường tới trường gồ gề, bụi vào mùa
nắng và lầy lội vào mùa mưa. Các em muốn đi học phải thức dậy chuẩn bị từ
4h sáng. Chính vì vậy tạo nên cảm giác chán nản muốn bỏ học.
Hình 4: Con đường đến trường đầy bụi bặm
Sự phối hợp giữa phụ huynh học sinh với nhà trường chưa thực sự chặt
chẽ, nhiều phụ huynh còn có tư tưởng trông chờ, phó mặc con em mình cho
nhà trường.
2.2. Về phía nhà trường.
Cơ sở vật chấtcủa nhà trường còn thiếu thốn: Trường chỉ đủ số phòng
học cho các lớp chính khóa, thiếu phòng học phụ đạo cho học sinh yếu kém.
Một số giáo viên chủ nhiệm chưa thực sự quan tâm đến lớp. Sự kết hợp
giữa giáo viên chủ nhiệm và tổ chức hội phụ huynh trong việc giáo dục học
sinh yếu kém, học sinh cá biệt còn hạn chế. Việc thực hiện phân loại học
sinh trong lớp để lên kế hoạch bồi dưỡng, tổ chức phụ đạo, giúp đỡ học sinh
GV: Bảo Long 10Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
yếu kém trong nhà trường hiện nay chưa thật tích cực.Trong khi, công việc
này lại đòi hỏi nhiều công sức, sự kiên trì và tâm huyết của những người có
liên quan đặc biêt là giáo viên chủ nhiệm.
2.3. Về phía xã hội.
Trường THCS Lê Quý Đôn nằm trên địa bàn xã Dray Sáp. Tình hình kinh
tế của xã còn gặp nhiều khó khăn. Xã có nhiều Buôn gồm nhiều hộ gia đinh
người dân tộc sinh sống nên tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số của trường cao,
chiếm gần 50% số học sinh toàn trường
Trước thực trạng của địa phương, của trường, của lớp chủ nhiệm như
trên, khi nhận nhiệm vụ là một giáo viên chủ nhiệm, tôi cảm thấy bản thân
phải tìm cách nào đó để duy trì tốt nhất sĩ số của lớp mình, góp phần hạn chế
tình trạng học sinh bỏ học của lớp chủ nhiệm.
Trước khi thực hiện đề tài, tôi đã điều tra bằng hình thức trắc nghiệm
trong học sinh về mức độ chuyên cần, mức độ duy trì sĩ số đến cuối năm
bằng hình thức phát phiếu thăm dò cho lớp 6B về các nội dung sau:
Câu hỏi: Em có quyết tâm sẽ đi học chuyên cần và duy trì đến cuối năm
học hay không? (Điều tra cả lớp)
A: CÓ B: KHÔNG C: CHƯA BIẾT
Kết quả thống kê cho thấy:
Lớp
6B
(2015 – 2016)
6B
(2016 – 2017)
Sĩ
số
Đáp án A
Tỉ lệ
SL
%
Đáp án B
Tỉ lệ
SL
%
Đáp án C
Tỉ lệ
SL
%
26
19
73,1
4
15,4
3
11,5
27
19
70,4
5
18,5
3
11,1
GV: Bảo Long 11Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
Qua bảng kết quả thăm dò tôi thấy số lượng HS có nguy cơ bỏ học cao.
Tôi xác định được rằng:
Học sinh chọn đáp án A: Là những học sinh có ý thức tốt, có lòng quyết
tâm đến trường. Những học sinh này mặc dù không thuộc đối tượng
học sinh có nguy cơ bỏ học, nhưng GVCN cũng cần theo dõi khích lệ
để sự quyết tâm của các em ngày càng cao.
Học sinh chọn đáp án B: Là những đối tượng học sinh có nguy cơ bỏ
học cao, GVCN cần đặc biệt chú ý.
Học sinh chọn đáp án C: Là những học sinh chưa có sự quyết tâm đi
học chuyên cần. Những em học sinh này cũng thuộc vào đối tượng học
sinh có nguy cơ bỏ học, GVCN cần phải quan tâm đặc biệt
Câu hỏi 2: Lý do vì sao em không (hoặc chưa) quyết tâm đi học chuyên cần
và duy trì đến cuối năm? (Điều tra số HS có nguy cơ bỏ học)
(Học sinh tự ghi ra lí do của mình ra giấy)
Đây là một câu hỏi khá tế nhị lại dành cho đối tượng học sinh có nguy
cơ bỏ học, có những học sinh không hợp tác trả lời nên để có đáp án
chính xác, tôi vừa tổng hợp từ giấy, vừa gặp riêng các em đểhỏi đồng
thời tìm hiểu thông qua bạn bè, gia đình của các em. Kết quả thu được
như sau:
Danh sách học sinh có nguy cơ bỏ học năm học 20152016:
STT
1
2
3
4
5
Họ và tên học sinh
Nguyên nhân
Y Guốt Hđơk
Học yếu, ham chơi điện tử
H Diêm Niê
Học yếu, gia đình có hoàn cảnh khó khăn,
Y Chiến Bkrông
H Ôn Niê
Y Thép Byă
bố mẹ đi làm ăn xa.
Lưu ban, chán học
Nhà xa, không có xe đạp đến trường
Gia đình khó khăn, sau giờ học phải đi chăn
GV: Bảo Long 12Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
6
7
Y Huynh Kbuor
bò phụ giúp bố mẹ
Lưu ban, chán học, mồ côi bố, mẹ đi lấy
Trần Văn Tài
chồng, không ai quan tâm đến em
Hay thức dậy muộn, đi trễ, bố mẹ đi làm
sớm, về muộn, không ai quan tâm đến việc
học của con
Danh sách học sinh có nguy cơ bỏ học năm học 20162017:
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
Họ và tên học sinh
Nguyên nhân
Y Kênan Hđơk
Học yếu, lười học
H Nguê Êya
Gia đình có hoàn cảnh khó khăn
H Ria Êban
Nhà đông con, ở nhà phụ giúp nương rẫy
Nguyễn Thị Bình Minh Gia đình có hoàn cảnh khó khăn
Y Romi Kbuor
Ba mẹ ly hôn
Y Sanra Bkrông
Lưu ban, học yếu
Y Tươi Ktul
Nhà xa trường đi lại khó khăn
Y Vinh Niê
Lười học, bị bạn bè lôi kéo,nghiện game
Qua kết quả khảo sát cho ta thấy tỉ lệ học sinh có nguy cơ bỏ học
chiếm tỉ lệ cao (khoảng 30%) với nhiều nguyên nhân khác nhau. Vậy là giáo
viên chủ nhiệm chúngta phải có biện pháp gì để giúp học sinh có thêm động
lực và sự quyết tâm đi học chuyên cần?và đó cũng chính là lý do thôi thúc tôi
đi tìm hiểu, nghiên cứu các biện pháp nhằm giảm thiểu tình trạng bỏ học của
học sinh lớp chủ nhiệm có hiệu quả hơn.
3. Giải pháp, biện pháp.
3.1. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp.
Với những giải pháp, biện pháp mà tôi đưa ra sau đây đã giúp học sinh
của lớp chủ nhiệm đi học chuyên cần hơn nhằm giảm thiểu những nguy cơ
bỏ học của học sinh góp phần nâng cao tỉ lệ duy trì sĩ số. Đồng thời tạo cho
các em môi trường học tập, nghị lực vươn lên những khó khăn mà bản thân
gặp phải, giúp các em có ước mơ hoài bão để các em không còn có tư tưởng
nghỉ học giữa chừng
GV: Bảo Long 13Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
Xuất phát từ kinh nghiệm của bản thân và công tác chủ nhiệm, bản
thân tôi nhận thấy để giúp học sinh đang và sẽ có nguy cơ bỏ học từ bỏ ý
định của mình thì vấn để then chốt ở đây là giúp bản thân các em tìm được
niềm vui trong học tập, loại bỏ những yếu tố tiêu cực cả chủ quan và khách
quan dẫn tới việc bỏ học.
3.2.Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.
3.2.1. Giáo viên chủ nhiệm tìm hiểu đặc điểm tình hình của lớp,
từng học sinh.
Ngay sau khi nhận lớp chủ nhiệm, tôi đã tìm hiểu, nắm bắt thông tin về
từng đối tượng học sinh của lớp mình chủ nhiệm, việc nắm bắt thông tin này
được thu thập qua các kênh khác nhau như: Điều tra qua học bạ tiểu học của
học sinh, lập phiếu điều tra thông tin cá nhân và nguyện vọng trong năm học,
quan sát thực tiễn các giờ học, các giờ ra chơi. Ngoài ra tôi còn thu thập kết
quả qua những bài kiểm tra đầu năm học của các môn học.
Việc nắm bắt các thông tin trên là căn cứ để lựa chọn học sinh có năng lực,
nhiệt tình vào Ban cán sự lớp, Ban chấp hành chi đội; học sinh có học lực yếu
cần bổ trợ kiến thức, những học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đồng
thời nắm bắt tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của các em nhằm đưa ra một số
biện pháp phù hợp nhằm giảm thiểu tình trạng bỏ học của học sinh trong lớp
mình chủ nhiệm.
Qua điều tra lớp chủ nhiệm, tôi nhận thấy:
a) Năm học 20152016:
Học sinh Trần Văn Tài là học sinhhay thức dậy muộn, đi trễ, bố
mẹ đi làm sớm, về muộn, không ai quan tâm đến việc học của
con
Học sinh Y Thép Byă là học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn,
sau giờ học phải đi chăn bò phụ giúp bố mẹ
GV: Bảo Long 14Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
Học sinh Y Huynh Kbuor là học sinh lưu ban, chán học, mồ côi
bố, mẹ đi lấy chồng, không ai quan tâm đến em
b) Năm học 20162017:
Học sinh Nguyễn Thị Bình Minh là học sinh có hoàn cảnh đặc
biệt. Bố mẹ ly hôn và đều có gia đình mới, không ai chịu nuôi em,
em phải sống với bà ngoại. Bà ngoại của Bình Minh đã già và
gần như không còn khả năng lao động. Tiền sinh hoạt trong gia
đình chủ yếu dựa vào lương hưu và trợ cấp của xã. Tôi xác định
đây là những hoàn cảnh thiếu thốn về vật chất lẫn tình cảm.
Học sinh Y Vinh Niê thường xuyên có hành vi bắt nạt bạn và thái
độ bướng bỉnh khi thầy cô nhắc nhở, có hiện tượng cúp học để
đi chơi game, bi – a
Học sinh Y Sanra Bkrông và Y Kênan Hđơk là hai học sinh
lưuban,chán học, thường xuyên không học bài cũ, nghỉ học không
lý do.
3.2.2. Gặp gỡ, trao đổi với cha mẹ học sinh.
Việc phối hợp chặt chẽ với phụ huynh trong công tác duy trì sĩ số của
lớp là giải pháp cực kì quan trọng. Do vậy, ngay trong buổi họp phụ huynh
đầu năm, tôi đã lập danh sách ghi số điện thoại của phụ huynh, bầu ra các
phụ huynh làm ban đại diện ở các thôn buôn. Thường xuyên phối hợp với các
ban đại diện để nắm bắt, trao đổi kịp thời tình của các em đến gia đình.
Ngoài tra tôi đã tích cực gặp gỡ phụ huynh học sinh, nhất là những học
sinh đặc biệt như Y Sanra Bkrông, Y Kênan Hđơk, Y Vinh Niê
GV: Bảo Long 15Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
Hình 5: GVCN tới hỏi thăm và động viên học sinh đi học chuyên
cần
3.2.3. Xây dựng ban cán sự lớp năng nổ, nhiệt tình
Xây dựng ban cán sự lớp năng nổ, nhiệt tình nhằm quản lí lớp đồng
thời hỗ trợ giáo viên chủ nhiệm trong việc giảm thiểu nguy cơ bỏ học của
học sinh. Ban cán sự là đội ngũ truyền thông tin nhanh nhất, giúp giáo viên
nắm bắt sớm tình hình của lớp. Những phong trào vui học tập, giúp đỡ bạn,
khơi gợi niềm hứng thú học tập của học sinh, giúp các em thấy được mỗi
ngàyđến trường là một ngày vui nhằm giảm thiểu tình trạng nghĩ học,cúp tiết
của một học sinh được thực hiện thành công cũng nhờ vào đội ngũ ban cán sự
này.
3.2.4. Phụ đạo cho học sinh yếu kém.
Nhiều học sinh học yếu, chán học nên có tư tưởng cúp tiết, trốn học đi
chơi như: Y Vinh Niê, Y Kênan Hđơk.Tôi đã gặp riêng các em vào các giờ ra
chơi để trao đổi.Cuối các buổi học tôi thường tranh thủ giảng lại bài cho các
em. Đồng thời tôi cũng phân công cho các học sinh khá giỏi kềm cặp, giảng
GV: Bảo Long 16Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
giải thêm cho các em học sinh yếu kém này, để các em không rơi vào cảm
giác lạc lỏng, chán nản dẫn đến bỏ học.
Hình 6: GV phụ đạo thêm cho học sinh yếu kém
3.2.5. GVCN chia sẻ tâm tư tình cảm với học sinh.
Các em lớp tôi đa phần là người dân tộc, cuộc sống của các em rất khó
khăn, các em hay tự ti ít giao tiếp với các bạn người Kinh cũng như với thầy
cô. Hiểu được điều đó tôi luôn tìm cách xóa bỏ khoảng cách thầy – trò, làm
một người bạn thật sự của các em.Để các em trao đổi, tâm sự với tôi về
những khó khăn trong cuộc sống và học tập mà các em gặp phải. Vào cuối
buổi học tôi hay gặp riêng những em có biểu hiện không tốt trong giờ học,
thay vì trách mắng tôi đã tìm hiểu nguyên nhân, động viên và có những lời nói
tích cực động viên các em.
Như học sinh H – Gum Hlong thời gian đầu rất nhút nhát, thu mình,
lầm lì, hỏi không nói, vắng học không lí do. Sau một thời gian gặp riêng hỏi
han và động viên, em đã trở thành một học sinh hoạt bát, mạnh dạn tham gia
GV: Bảo Long 17Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
các trò chơi với các bạn. Đặc biệt, em ít nghỉ học hẳn, nếu có vắng học thì
em đều có viết giấy xin phép.
3.2.6. Tạo môi trường vui chơi lành mạnh cho học sinh. Khơi dậy sự yêu
thích đến trường ở học sinh.
Các hoạt động kết hợp giữa học tập và vui chơi luôn được trường
THCS Lê Quý Đôn quan tâm, các hoạt động này được diễn ra trong xuyên
suốt năm học như: Trang trí lớp học thân thiện, chăm sóc công trình măng non,
hội vuihọc tập, hoạt động ngoài giờ lên lớp, làm báo tường, vẽ tranh, làm
thiệp chúc mừng 20/11, thi làm lồng đèn, làm mâm ngủ quả.
Hình 7: Học sinh chơi chuyền thun tiếp sức
GV: Bảo Long 18Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
Hình 8: Học sinh trong hội thi xếp sách nghệ thuật
Trong những các hoạt động này tôi luôn chú ý giao nhiệm vụ cho những
em cónguy cơ bỏ học để các em cảm thấy mình được coi trọng và có trách
nhiệm hơn với lớp từ đó giúp các em cảm thấy yêu thích đến trường hơn.
Như học sinh Y – Tươi Bkrông học yếu, bướng bỉnh, hay đầu năm hay
có hiện tượng cúp học đi chơi điện tử. Trong các tiết học, thường xuyên
không học bài cũ, nằm dài trên bàn, thầy cố nhắc nhỡ không nghe. Nhân hội
khai giảng có cuộc thi nhảy bao bố nam, tôi đã hướng cho lớp chọn em tham
gia trò chơi, sau buổi học tôi cùng em tập luyện. Nhờ những buổi tập luyện
cùng em, thầy trò gần gũi nhau, tôi đã khuyên nhủ, khích lệ, động viên em.
Kết quả, em đã trở thành học sinh ngoan hơn, nghe lời thầy cô có trách nhiệm
với lớp, không còn hiện tượng cúp học đi chơi điện tử.
GV: Bảo Long 19Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
Hình 9: Học sinh với phần thi nhảy bao bố trong hội khai giảng
3.2.7. Tuyên truyền tác hại của những tệ nạn xã hội
Ngày nay khi xã hội ngày càng phát triển, con người ngày càng chịu
nhiều áp lực từ cuộc sống, chính vì thế cũng ngày càng xuất hiện nhiều nhiều
tệ nạn xã hội và đặc biệt việc phòng chống tệ nạn xã hội trong học đường
luôn được coi trọng hàng đầu.
Phòng chống tệ nạn xã hội trong học đường, luôn được đưa lên hàng
đầu bởi học sinh luôn là những mầm non của đất nước, việc phòng chống đó
sẽ giúp cho mọi người có thêm nhiều điều kiện để phát triển bản thân, nâng
cao tri thức, phát triển bản thân mỗi ngày. Việc phòng chống tệ nạn trong nhà
trường luôn được nhà trường và bản thân tôi quan tâm. Trường đã thực hiện
các chuyên đề tuyên truyền cho học sinh về tác hại của game online, tác hại
của ma túy, thuốc lá.
GV: Bảo Long 20Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
Ngoài ra tôi thường kết hợp trong các buổi sinh hoạt lớp để tuyên truyền
phòng chống tác hại của phim ảnh đồi trụy,cờbạc, lô đề
3.2.8. Kêu gọi tinh thần tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách :
Tục ngữ ta có câu “ lá lành đùm lá rách”, đó là một truyền thống tốt đẹp
của nhân dân ta. Là giáo viên chủ nhiệm lớp có học sinh nằm trong hoàn
cảnh đặc biệt này, bản thân tôi đã giúp đở các em một phần nào về vật
chất để giải quyết những khó khăn nhất thời, tôi cố gắng vận động các
nguồn hỗ trợ từ trong và ngoài nhà trường, kêu gọi những tấm lòng vàng
và tạo điều kiện cho các em được tiếp tục đến trường theo đuổi ước mơ
và nguyện vọng của mình.
Hình 10: GVCN trao cặp sách cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn
Ngay tại lớp của mình, tôi đã phát động các phong trào kế hoạch nhỏ,
ngoài các phong trào mà đội phát động như quyên góp giấy vụn, lon bia, nuôi
heo đất nhằm mục đích giúp đỡ các bạn nghèo trong lớp mua sách vở
GV: Bảo Long 21Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
Hình 11: Học sinh thu gom vỏ lon bia tham gia kế hoạch nhỏ của lớp
Tôi cũng trao đổi với nhà trường, đội về hoàn cảnh của các em để tranh
thủ sự giúp đỡ từ các quỹ học bổng
Như trường hợp em Bình Minh nhà ở xa trường, nhà nghèo không có xe
đạp đến trường, thường phải đi nhờ xe bạn, bữa nào bạn không chở đi thì em
phải nghỉ học. Biết được hoàn cảnh của em tôi đã trao đổi với nhà trường,
với đồng nghiệp. Rất may có giáo viên trong trường có xe đạp cũ không dùng
tới, đồng ý tặng xe cho em, nhờ thế em đã có xe đạp để đến trường
Em Y Rin Bkrông chỉ có một bộ quần áo để đi học.Có hôm trời mưa, áo
quần không kịp khô nên em phải nghỉ học. Biết được hoàn cảnh của em, tôi
đã bí mật gặp những học sinh trên lớp có hoàn cảnh khá giả hỏi xem các em
GV: Bảo Long 22Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
có áo quần cũ để xin và trao lại cho em để giúp em có đồng phục mặc tới
trường
3.3. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Các giải pháp đưa ra đều có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với
nhau từ đó tạo ra kết quả nghiên cứu của đề tài. Thiếu một trong các giải
pháp trên sẽ gây khó khăn, tạo rào cản trong khi thực hiện thậm chí làm cho
quá trình nghiên cứu không thu được kết quả. Đối với mỗi học sinh có nguy
cơ bỏ học chúng ta có thể vận dụng nhiều giải pháp khác nhau để đem lại
hiệu quả tốt nhất và đặc biệt phải làm tốt việc phối hợp chặt chẽ giữa lãnh
đạo nhà trường, giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm và cha mẹ học sinh.
3.4. Kết quả khảo nghiệm
Sau khi áp dụng sáng kiến “Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng
học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý Đôn”.
Cuối năm học tôi tiếp tục tiến hành khảo sát điều tra học sinh bằng hình thức
trắc nghiệm, trả lời câu hỏi: “Lên lớp 7, em có quyết tâm đi học chuyên cần
và duy trì đến cuối năm không?
A. Có
B. Không
C. Chưa biết”
Sau khi có kết quả tôi đem đối chiếu với kết quả đầu năm học .
Bảng đối chiếu kết quả so với đầu năm học:
Đầu năm
Đáp án A
Đáp án B và C
Số Tỉ lệ
Số
Tỉ lệ
Cuối năm
Đáp án A
Đáp án B và C
Số
Tỉ lệ
Số
Tỉ lệ
Năm học
HS
%
HS
%
HS
%
HS
%
20152016 19
73,1
7
26,9
24
92,3
2
7,7
20162017 19
70,4
8
29,6
25
96,2
1
3,7
Qua bảng trên tôi thấy tỉ lệ học sinh có nguy cơ bỏ học đã giảm rõ rệt
so với khi tôi chưa áp dụng đề tài.Các em đã có sự quyết tâm đến trường.
GV: Bảo Long 23Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
Kết quả theo dõi tình hình đi học chuyên cần của các em trong học kì I
và trong học kì II của hai lớp 6B năm học 20152016 và 6B 20162017 như
sau:
Học kì I
Học kì II
Số lần vắng Số lần vắng
Năm học KP
20152016
20162017
CP
30
25
50
45
Số lần vắng KP
Số lần vắng
CP
16
13
20
15
Kết quả duy trì sĩ số như sau
* Năm học 20152016 giảm: 0 học sinh đạt tỉ lệ 100%.
* Năm học 20162017 giảm: 01 học sinh với lí do theo gia đình đi làm
ăn xa đạt tỉ lệ 96,3%.
+ Phạm vi và hiệu quả ứng dụng
Khi nghiên cứu đề tài tôi áp dụng cho lớp mình chủnhiệm là lớp 6B năm
học 20152015 và lớp 6B 20162017. Nhưng sau khi nghiên cứu đề tài tôi thấy
hiệu quả rất cao chính vì vậy năm học 20172018 tôi đã và đang áp dụng đề
tài đối với lớp mình đang chủ nhiệm.Và tôi hy vọng đây sẽ là một tài liệu
tham khảo để cho những đồng nghiệp của tôi có thể áp dụng vào lớp chủ
nhiệm của mình góp phần giảm tỉ lệ học sinh bỏ học của nhà trường.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Từ kết quả thu được sau nhiều năm thực hiện phương pháp này thì tỉ lệ học
sinh bỏ học trong lớp tôi chủ nhiệm đã giảm và sĩ số học sinh trong trường
cũng được duy trì. Tôi thiết nghĩ, việc huy động học sinh đến lớp để đảm
bảo sĩ số là việc làm của nhiều ban ngành, đoàn thể, trong đó nhà trường và
GV: Bảo Long 24Trường THCS Lê Quý Đôn
Một số biện pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học trong công tác chủ nhiệm tại trường THCS Lê Quý
Đôn.
giáo viên chủ nhiệm đóng vai trò nòng cốt. Bên cạnh đó chúng ta nên tìm hiểu
rõ nguyên nhân bỏ học cụ thể của từng trường hợp để có biện pháp sát thực
nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng, nguy cơ bỏ học của học sinh, đáp ứng
mục tiêu giáo dục mà Đảng đã đề ra.
2. Kiến nghị
Để thực hiện tốt hơn nữa công tác huy động học sinh bỏ học ra lớp và duy trì
sĩ số theo tôi cần một số biện pháp sau: Có sự liên kết thống nhất giữa
GVCN và các GVBMtrong việc giáo dục các em, luôn thông báo với nhau về
tình hình học tập của các em có biểu hiện lơ là trong học tập và những em
hay vi phạm nội quy trường lớp để kịp thời có hướng chấn chỉnh những
khuyết điểm của các em nhằm kịp thời và có biện pháp giúp các em tránh tình
trạng bỏ học. Đối với nhà trường: Tổ chức các lớp phụ đạo cho học sinh yếu
nhằm bù đắp lổ hổng kiến thức cho các em, giúp các em đuổi kịp chương
trình, tạo hứng thú trong học tập cho các em. Xây dựng trường học thân thiện,
đảm bảo mỗi ngày đến lớp là một ngày vui. Tổ chức các hoạt động ngoại
khóa, hoạt động ngoài giờ lên lớp vui chơi nhằm thu hút các em, tránh tình
trạng các em tham gia những trò chơi vô bổ. Đối với chính quyền, đoàn thể
địa phương: Kết hợp với chính quyền thôn buôn để nắm rõ tình hình hoàn
cảnh của các em và thông báo kịp thời tình hình của các em có nguy cơ bỏ học
để cùng kết hợp với thôn buôn đến động viên vận động các emvà gia đình tạo
điều kiện thuận lợi nhất để các em tới trường. Tăng cường công tác xã hội
hóa giáo dục, quản lí thật tốt các điểm vui chơi không lành mạnh.
Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ của bản thân tôi. Qua bài viết này
tôi rất mong được sự góp ý xây dựng, giúp đỡ và trao đổi. Nếu trong quá trình
thực hiện đề tài có gì sơ suất, tôi rất mong được đón nhận sự đóng góp chân
thành của mọi người.
Dray Sap ngày 28 tháng 02 năm 2018
Người viết
GV: Bảo Long 25Trường THCS Lê Quý Đôn