BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM MINH KHOA
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ QUẢN LÝ HỘ KINH DOANH
TỪ THỰC TIỄN QUẬN GÒ VẤP,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM MINH KHOA
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ QUẢN LÝ HỘ KINH DOANH
TỪ THỰC TIỄN QUẬN GÒ VẤP,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Mã số: 8 38 01 02
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN THÚY VÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Phạm Minh Khoa, cam đoan rằng:
Những kết quả nghiên cứu đƣợc trình bày trong Luận văn là công trình
của riêng tác giả dƣới sự hƣớng dẫn của TS.Trần Thúy Vân.
Những kết quả nghiên cứu của các tác giả khác và số liệu đƣợc sử dụng
trong luận văn đều có trích dẫn đầy đủ.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn đƣợc tập hợp từ nhiều nguồn tài
liệu và liên hệ thực tế, các thông tin trong luận văn là trung thực và đều có
nguồn gốc rõ ràng.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của Luận văn này.
TP. Hồ Chí Minh,ngày
tháng 10 năm 2019
Học viên
Phạm Minh Khoa
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã nhận đƣợc sự hƣớng dẫn
và giúp đỡ tận tình của TS. Trần Thúy Vân, các Thầy, cô giáo Học viện Hành
chính Quốc gia cùng các cơ quan, đơn vị trên địa bàn quận Gò Vấp, Thành
phố Hồ Chí Minh.
Với tình cảm chân thành, tôi xin gửi lời cảm ơn đến:
- Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, các Giảng viên Học viện Hành
chính Quốc gia đã giảng dạy và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong khóa học và
trong quá trình thực hiện nghiên cứu viết Luận văn này.
- Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Trần Thúy Vân, là
ngƣời Thầy hƣớng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo và cho tôi những lời
khuyên sâu sắc giúp tôi hoàn thành Luận văn.
-Lãnh đạo Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, Chi
cục Thống kê quận Gò Vấp, Phòng Kinh tế quận Gò Vấp, Phòng Lao động Thƣơng binh và Xã hội, Ủy ban nhân dân các phƣờng, Ban Quản lý chợ Hạnh
Thông Tây và một số đại diện một số hộ kinh doanh đã tạo điều kiện tốt nhất
cho tôi trong quá trình làm Luận văn.
- Gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, những ngƣời luôn sát cánh động viên
và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu.
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng đề hoàn thiện luận văn của mình, tuy
nhiên vẫn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế nhất định.
Tôi rất mong nhận đƣợc sự đóng góp quý báu của các thầy cô giáo và
các bạn.
Cuối cùng tôi xin chúc Quý thầy, cô và các bạn luôn mạnh khỏe, hạnh
phúc và thành đạt trong cuộc sống.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
TP. Hồ Chí Minh, ngày
tháng 10 năm 2019
Học viên
Phạm Minh Khoa
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU……………………………………………..……………………….1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ
HỘ KINH DOANH…………..…………..………………….……...…….....8
1.1. Những vấn đề chung về hộ kinh doanh………………..….…..…....…8
1.1.1. Khái niệm về hộ kinh doanh……………….…..…...…….....……....8
1.1.2. Đặc điểm hộ kinh doanh…………………………...………....……10
1.1.3. Vai trò hộ kinh doanh trong sự phát triển kinh tế - xã
hội…........................................................................................................…....17
1.1.4. Phân biệt quản lý nhà nƣớc với quản trị hộ kinh doanh
……….……………………………………………………………………..…20
1.2. Các nội dung cơ bản của pháp luật về quản lý hộ kinh doanh……..21
1.2.1. Pháp luật về đăng ký, thay đổi và chấm dứt hoạt động của hộ kinh
doanh………………………………………………………………….....…..21
1.2.2. Pháp luật về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh……....…..……...23
1.2.3. Pháp luật về đầu tƣ đối với hộ kinh doanh………………......……..24
1.2.4. Pháp luật về môi trƣờng đối với hộ kinh doanh…………......….….27
1.2.5. Pháp luật về lao động đối với hộ kinh doanh……………....…....…28
1.2.6. Pháp luật xử phạt vi phạm hành chính đối với hộ kinh doanh…......30
1.3. Thực hiện pháp luật về quản lý hộ kinh doanh…...……………..…..33
1.3.1. Khái niệm về thực hiện pháp luật quản lý hộ kinh doanh…......…...33
1.3.2. Các nội dung cơ bản về thực hiện pháp luật quản lý hộ kinh
doanh………………………………………………………………………...34
1.3.3. Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật quản lý hộ kinh
doanh………………………………………………………………..……….39
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ
HỘ KINH DOANH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH…………………………………………………...…….…..44
2.1. Khái quát chung về quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh............44
2.2. Tình hình thực hiện pháp luật về quản lý hộ kinh doanh từ thực tiễn
quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh………………….………........….46
2.2.1. Thực hiện pháp luật về đăng ký, thay đổi của hộ kinh doanh.......…46
2.2.2. Thực hiện pháp luật về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh….....…47
2.2.3. Thực hiện pháp luật về quản lý đầu tƣ đối với hộ kinh doanh..........49
2.2.4. Thực hiện pháp luật quản lý môi trƣờng đối với hộ kinh doanh.......50
2.2.5. Thực hiện pháp luật quản lý lao động đối với hộ kinh doanh.......…51
2.2.6. Thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành đối với hộ kinh
doanh………………………………………………………………………...52
2.3. Đánh giá tình hình thực hiện pháp luật quản lý hộ kinh doanh từ
thực tiễn quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh…………………….…53
2.3.1. Kết quả đạt đƣợc……………..…...…………….....………...…..….53
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân…………………….……….....……...…...59
Chƣơng 3. QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT VỀ QUẢN LÝ HỘ KINH DOANH TỪ THỰC TIỄN QUẬN GÒ
VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH…..…..…...…………………..…….63
3.1. Quan điểm phát triển hộ kinh doanh ………………….………….....63
3.1.1. Phát triển hộ kinh doanh đảm bảo theo đúng chủ trƣơng, đƣờng lối
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc……………………..…..…...63
3.1.2. Phát triển hộ kinh doanh phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN
tại địa phƣơng……………………………………………………...…..…….64
3.1.3. Phát triển hộ kinh doanh phù hợp với định hƣớng, quy hoạch, kế
hoạch phát triển chung tại địa phƣơng………………………….…………...65
3.1.4. Phát triển hộ kinh doanh theo phƣơng châm đa dạng hoá, tăng quy
mô, có trách nhiệm và góp phần giải quyết các vấn đề an sinh xã hội…...….65
3.2. Các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về quản lý hộ kinh doanh
từ thực tiễn quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh………………….…66
3.2.1. Hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan đến hộ kinh
doanh…..………………………………………………………………….....66
3.2.2. Tăng cƣờng hoạt động tuyên truyền, phổ biến chủ trƣơng của Đảng,
pháp luật của Nhà nƣớc về phát triển kinh tế tƣ nhân, bảo đảm quyền tiếp cận
thông tin của công dân………………..………………………..............….…76
3.2.3. Hoàn thiện công tác quản lý nhà nƣớc đối với hộ kinh doanh......…77
3.2.4. Thực hiện đơn giản hoá các thủ tục hành chính……….……,....…..77
3.2.5. Tăng cƣờng thanh tra, xử phạt vi phạm hành chính…………......…77
KẾT LUẬN ……………………………………………………...……..…..80
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ:
Một số yếu tố ảnh hƣởng đến hộ kinh doanh đƣợc đăng tải trên Tạp chí
Công an nhân dân kỳ tháng 8 năm 2019.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
Hộ kinh doanh
HKD
Thành phố Hồ Chí Minh
TP.HCM
Ủy ban nhân dân
UBND
Xã hội chủ nghĩa
XHCN
Chủ nghĩa tƣ bản
CNTB
Doanh nghiệp
DN
Doanh nghiệp tƣ nhân
DNTN
Đăng ký kinh doanh
ĐKKD
Sản xuất kinh doanh
SXKD
Quản lý nhà nƣớc
QLNN
Nhà xuất bản NXB
NXB
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Trang
Bảng 1. Tình hình hình đăng ký kinh doanh trên địa bàn quận Gò Vấp từ năm
2014 – 2018……………………………………………………………….....53
Bảng 2. Thống kê số thuế/HKD đối với hộ khoán…………………………..55
Bảng 3. Thống kê số thuế/HKD sử dụng hóa đơn…………...………………56
Bảng 4: Vốn đầu tƣ tại hộ kinh doanh tại quận Gò Vấp từ năm 2014 đến năm
2018………………………………………………..……..………………….58
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tinh thần khởi nghiệp là điều kiện cần để một quốc gia có đƣợc một
nền kinh tế phát triển, vấn đề là làm sao để tinh thần khởi nghiệp đó đƣợc
nâng đỡ, hỗ trợ là câu hỏi cho toàn bộ xã hội trong đó vai trò quan trọng nhất
thuộc về Nhà nƣớc, vì nó nắm giữ những nguồn lực thiết yếu, chịu trách
nhiệm quản lý và điều phối xã hội. Một trong những công cụ quan trọng để
điều tiết nền kinh tế của Nhà nƣớc chính là các quy định của pháp luật. Nếu
pháp luật rõ ràng, dễ tiệm cận và tin cậy thì chi phí để tra cứu, tìm hiểu và
chọn lựa phƣơng án kinh doanh cũng nhƣ triển khai một giao dịch kinh doanh
sẽ giảm; khi chi phí giảm sẽ làm cho môi trƣờng kinh doanh có tính cạnh
tranh và nơi đó nền kinh tế sẽ phát triển.
Ở nƣớc ta, trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng theo định
hƣớng xã hội chủ nghĩa, vấn đề phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
đƣợc đặt ra nhƣ một tất yếu đối với nền kinh tế Việt Nam, là phƣơng sách
quan trọng để giải phóng sức sản xuất; huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu
quả các nguồn lực phát triển; quyền tự do kinh doanh của công dân đã trở
thành quyền hiến định tại Điều 57 Hiến pháp 1992, sau đó là Điều 33 Hiến
pháp 2013.
Theo Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2017 của Ban
Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa XII xác định: “Kinh tế tư nhân là một
động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát
triển nền kinh tế độc lập, tự chủ; khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để kinh
tế tư nhân phát triển nhanh; kinh tế tư nhân được phát triển ở tất cả các
ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Phát huy phong trào khởi nghiệp và
đổi mới sáng tạo; nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và
vừa. Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để các hộ kinh doanh (HKD) tự
2
nguyện liên kết hình thành các hình thức tổ chức hợp tác hoặc hoạt động theo
mô hình doanh nghiệp”.
Qua tìm hiểu về khái niệm, đặc điểm và vai trò của hộ kinh doanh tác
giả nhận thấy cùng với các loại hình kinh doanh khác, sự phát triển của HKD
đã góp phần giải phóng lực lƣợng sản xuất, tạo nhiều việc làm, thúc đẩy phân
công lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, phát triển và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trƣờng định
hƣớng xã hội chủ nghĩa, tăng thêm số lƣợng thƣơng nhân Việt Nam, thực hiện
các chủ trƣơng xã hội hóa y tế, văn hóa, giáo dục.
Tuy nhiên, những cơ chế chính sách hiện hành về HKD không còn hay
chƣa phù hợp với thực tiễn đã ảnh hƣởng đến hoạt động đầu tƣ kinh doanh
đối với HKD, cụ thể:
- Khái niệm về HKD quy định tại Điều 66 Nghị định số 78/2015/NĐCP ngày 14 tháng 9 năm 2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp (Nghị
định số 78/2015/NĐ-CP), HKD còn hạn chế quyền đầu tƣ kinh doanh của
ngƣời không có quốc tịch Việt Nam, trong khi đó Điều 33 Hiến pháp năm
2013 lại không hạn chế việc đầu tƣ kinh doanh của ngƣời không có quốc tịch
Việt Nam, điều này cũng là một trong nhiều nguyên nhân làm hạn chế việc
đầu tƣ kinh doanh với nguồn vốn nƣớc ngoài cho mô hình kinh doanh là
HKD
- Việc quy định về ngành nghề đối với hộ kinh doanh
Theo Điều 5 Thông tƣ 14/2010/TT-BKH&ĐT ngày 04 tháng 6 năm
2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ quy định ngành, nghề kinh doanh ghi trong
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp phải đƣợc lựa chọn từ hệ thống
ngành kinh tế Việt Nam. Trong thực tế có những trƣờng hợp ngành, nghề mà
HKD dự định kinh doanh không thuộc những ngành, nghề bị cấm kinh doanh,
bị hạn chế kinh doanh hay kinh doanh có điều kiện nhƣng lại không có trong
mã số ngành nghề đăng ký kinh doanh quy định tại Thông tƣ 14/2010/TT-
3
BKH&ĐT hoặc tại Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm
2007 của Thủ tƣớng Chính phủ ban hành hệ thống ngành kinh tế Việt Nam,
Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ
quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tƣ kinh
doanh có điều kiện. Điều này chƣa phù hợp với nguyên tắc đƣợc quyền chủ
động lựa chọn ngành, nghề đăng ký kinh doanh của cá nhân theo quy định của
Hiến pháp.
Mặt khác, việc áp dụng mã số ngành nghề trên thực tế rất khó do có sự
không tƣơng thích giữa ngành, nghề đăng ký kinh doanh với ngành nghề kinh
tế Việt Nam. Theo quan điểm của tác giả thì ngành nghề đăng ký kinh doanh
là của ngƣời dân. Ngƣời dân có quyền đăng ký kinh doanh ngành, nghề mà
pháp luật không cấm. Cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ là ngƣời ghi nhận,
định hƣớng. Cho nên ngành nghề đăng ký kinh doanh cần đƣợc thiết kế theo
nguyên tắc mở để có thể bổ sung những ngành nghề mới là do ngƣời dân sáng
tạo.
- Việc quy định về vốn đối với HKD rất hình thức, không ngăn chặn việc
làm ăn phi pháp, lừa đảo, dẫn đến đổ bể. Những ngƣời đầu tƣ không nghiêm
chỉnh có ý định lừa đảo, có thể "lách" qua các quy định về vốn kinh doanh
một cách dễ dàng
- Việc thực hiện Chính phủ điện tử đối với thủ tục đăng ký kinh doanh,
đăng ký thuế, xử phạt vi phạm hành trong các lĩnh vực liên quan còn nhiều
hạnh chế, bất cập.
Qua một số ý kiến nêu trên tác giả nhận thấy cần hoàn thiện pháp luật
về HKD sao cho phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất
nƣớc, cũng nhƣ yêu cầu của công cuộc đổi mới mà Đảng ta đã đề ra theo
Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2017 tại Hội nghị lần thứ 5
Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa XII về phát triển kinh tế tƣ nhân trở
thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội
4
chủ nghĩa. Hội nghị đã định hƣớng phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trƣờng
định hƣớng xã hội chủ nghĩa, trong đó khuyến khích, tạo điều kiện cho các
HKD mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả hoạt động bảo đảm cho các HKD
phát huy đƣợc vai trò của mình trong cơ chế thị trƣờng, chủ động và tự chủ
trong sản xuất kinh doanh, tôn trọng và bình đẳng trƣớc pháp luật, góp phần
quan trọng vào sự phát triển nền kinh tế đất nƣớc, giải quyết tốt các vấn đề xã
hội đặt ra nhƣng cũng đồng thời đảm bảo có những đóng góp đối với nền kinh
tế đất nƣớc. Do đó, tác giả chọn đề tài nghiên cứu: “Thực hiện pháp luật về
quản lý HKD từ thực tiễn quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh” làm
Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ ngành Luật Hiến pháp - Luật Hành chính theo
Chƣơng trình đào tạo tại Học viện Hành chính Quốc gia niên khóa 2017 2019.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Kể từ khi nƣớc ta thực hiện đƣờng lối đổi mới kinh tế do Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) đề ra, đã có rất nhiều công trình khoa học
trên các bình diện khác nhau về kinh tế tƣ nhân (KTTN), trong số đó có rất
ít công trình khoa học nghiên cứu về HKD, tác giả đã tìm kiếm một số
công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến hoạt động của HKD nhƣ
sau:
- Hồ Văn Vĩnh (2001), Kinh tế tư nhân và quản lý nhà nước đối với kinh
tế tư nhân ở nước ta, Tác giả đã khẳng định vai trò to lớn của kinh tế tƣ nhân,
nêu ra những định hƣớng phát triển kinh tế tƣ nhân và đƣa ra các giải pháp về
pháp luật, về chính sách, về tổ chức để khuyến khích thành phần kinh tế tƣ
nhân phát triển.
- Mai Hồng Quỳ (2012), Tự do kinh doanh và vấn đề bảo vệ quyền con
người tại Việt Nam, NXB Lao động chi nhánh phía Nam, TP.Hồ Chí Minh.
Tác giả cung cấp cho bạn đọc những vấn đề lý luận cơ bản về quyền con
ngƣời và quyền tự do kinh doanh cũng nhƣ thực trạng quyền tự do kinh doanh
của công dân theo pháp luật Việt Nam;
5
- Trịnh Thị Hoa Mai (2005), Kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình
hội nhập, NXB Thế giới, Hà Nội. Tác giả đƣa ra những vấn đề chung về khu
vực kinh tế tƣ nhân; phát triển kinh tế tƣ nhân Việt Nam trong điều kiện hội
nhập quốc tế;
- Tổng cục Thống kê, Kết quả điều tra cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể
phi nông nghiệp giai đoạn 2005-2015, Hà Nội.
- Viện Chính sách và Chiến lƣợc phát triển nông nghiệp nông thôn
(Ipsard) thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2011), Kết quả điều
tra, khảo sát tình hình phát triển của HKD tại tỉnh Bắc Ninh và Vĩnh Phúc
năm 2011.
- Đỗ Khánh Tặng (2019), Nói và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh
tế tư nhân về vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển kinh
tế tư nhân là một quá trình lâu dài từ thấp đến cao, Thời báo kinh tế Việt
Nam, số 108 đăng ngày 06 tháng 5 năm 2019;
- Trần Hoàng Phƣơng (2017), Phát triển doanh nghiệp tư nhân trên địa
bàn quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, Học viện nhận định khái quát
những thuận lợi, khó khăn về phát triển kinh tế Chính trị. Tác giả đã tƣ nhân
trên địa bàn quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó tập trung phân
tích nguyên nhân về những hạn chế và phƣơng hƣớng giải pháp phát triển
doanh nghiệp tƣ nhân trên địa bàn quận Gò Vấp.
Đề tài nghiên cứu: “Thực hiện pháp luật về quản lý HKD từ thực tiễn
quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh” là đề tài chƣa đƣợc nghiên cứu một
cách toàn diện.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu luận lý luận về thực hiện pháp luật về quản lý
HKD và thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý HKD trên địa bàn quận Gò
Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh từ đó tác giả đề xuất các giải pháp bảo đảm
6
thực hiện pháp luật về quản lý HKD góp phần phát triển kinh tế - xã hội tại
địa phƣơng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Cơ sở lý luận thực hiện pháp luật về quản lý HKD;
- Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý HKD tại quận Gò
Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua, nguyên nhân của những
thành công và hạn chế;
- Nêu các phƣơng hƣớng và đề xuất giải pháp đảm bảo thực hiện pháp
luật về quản lý HKD từ thực tiễn quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ với một đề tài có tính mới và với
nguồn tài liệu tham khảo rất ít, công trình nghiên cứu này chƣa thể bao quát
hết các vấn đề về HKD mà dừng lại ở các vấn đề cơ bản nhất về lý luận và
thực tiễn thực hiện pháp luật về quản lý HKD.
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện pháp luật về quản lý HKD từ thực tiễn quận Gò Vấp, Thành
phố Hồ Chí Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
4.2.1. Phạm vi về nội dung:
- Nghiên cứu quy định pháp luật về: đăng ký, thay đổi, chấm dứt, thuế,
đầu tƣ, xử phạt vi phạm hành chính, môi trƣờng, lao động đối với HKD;
- Chủ thể quản lý HKD;
- Thẩm quyền quản lý đối với HKD;
- Các hình thức thực hiện pháp luật đối với HKD.
4.2.2. Phạm vi nghiên cứu về thời gian (05 năm): Từ ngày 01 tháng 01
năm 2014 đến năm 2018.
4.2.3. Phạm vi nghiên cứu về không gian
Hoạt động của HKD từ thực tiễn quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
7
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
- Phƣơng pháp luận: Luận văn nghiên cứu dựa trên phƣơng pháp luận
duy vật biện chứng và phƣơng pháp luận duy vật lịch sử.
- Quan điểm, chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách pháp luật của
Nhà nƣớc về HKD.
- Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu: Luận văn sử dụng phƣơng pháp phân
tích, phƣơng pháp tổng hợp, phƣơng pháp thống kê, phƣơng pháp so sánh để
nghiên cứu đánh giá tình hình thực hiện pháp luật của hộ kinh doanh trên địa
bàn quận Gò Vấp.
6. Ý ngh a của đề tài
- Ý nghĩa lý luận: Đây là công trình nghiên cứu một cách hệ thống về
HKD, góp phần làm sáng tỏ các vấn đề cơ bản về thực hiện pháp luật về quản
lý HKD. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả lần lƣợt trình bày các nội dung
cơ bản của luận văn nhƣ: khái niệm, đặc điểm, vai trò về HKD; khái niệm và
thực hiện pháp luật quản lý HKD, các yếu tố ảnh hƣởng đến thực hiện pháp
luật về quản lý HKD.
- Ý nghĩa thực tiễn: Mặc dù còn nhiều khó khăn về tài liệu và hạn chế
về mặt kiến thức nhƣng tác giả hy vọng luận văn này cũng là một tài liệu
tham khảo có ích đối với việc nghiên cứu và giảng dạy, học tập tại các cơ sở
đào tạo ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính và cho những ngƣời có sự
quan tâm đến hoạt động của HKD.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận thực hiện pháp luật về quản lý hộ kinh doanh.
Chƣơng 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý hộ kinh doanh từ
thực tiễn quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chƣơng 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về quản
lý hộ kinh doanh từ thực tiễn quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
8
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ QUẢN LÝ HỘ KINH DOANH
1.1. Những vấn đề chung về hộ kinh doanh
1.1.1. Khái niệm về hộ kinh doanh
- Khái niệm kinh doanh theo Từ điển tiếng Việt thuật ngữ kinh doanh
là tổ chức sản xuất, buôn bán sao cho sinh lời; còn với tiếng Anh thì thuật ngữ
kinh doanh đƣợc viết là “business” và bao hàm các nghĩa nhƣ sau:“nghề
nghiệp, công việc, mối quan tâm hoặc trách nhiệm của ai; công việc quan
trọng, việc phải làm, cơ sở thương mại”.
Theo Khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì kinh doanh là
việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình,
đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị
trường nhằm mục đích sinh lợi.
Nhƣ vậy, kinh doanh có nghĩa rất rộng, bao hàm tất cả các hoạt động có
mục đích sinh lợi. Mặt khác, không phải tất cả các hoạt động đầu tƣ, sản xuất,
mua, bán đều là kinh doanh, mà chỉ những hoạt động đầu tƣ, sản xuất, mua,
bán nào có mục đích sinh lợi mới đƣợc coi là kinh doanh.
Có thể thấy rằng kinh doanh là hoạt động ra đời sớm trong lịch sử xã
hội loài ngƣời, trên cơ sở phân công lao động xã hội, nó đã tồn tại và phát
triển qua nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau, theo đó sự phát triển của
kinh doanh gắn liền với nền sản xuất hàng hóa.
Khi có sự phân công lao động lần thứ ba trong xã hội, hoạt động kinh
doanh, buôn bán đƣợc hình thành, trong xã hội xuất hiện tầng lớp chuyên
buôn bán các hàng hóa để kiếm lời đó là các thƣơng nhân, lúc đó hành vi kinh
doanh đã đƣợc hình thành.
Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2015 của chính phủ
về đăng ký kinh doanh (viết tắt là Nghị định số 78/2015/NĐ-CP).
Theo Điều 66 Nghị định này quy định:
9
“Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá
nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ,
hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm,
sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của
mình đối với hoạt động kinh doanh”.
Khái niệm về HKD chính thức đƣợc sử dụng từ năm 2006 đến nay
thông qua quy định tại các Nghị định số 88/2006/NĐ-CP, Nghị định số
43/2010/NĐ-CP và Nghị định số 78/2015/NĐ-CP, theo đó các tiêu chí quy
định về HKD ngày càng cụ thể, rõ ràng hơn điều này giúp cho việc tham gia
đăng ký kinh doanh của ngƣời dân ngày càng thuận lợi. Cụ thể:
Một là: tại Nghị định số 88/2006/NĐ-CP quy định cá nhân đăng ký
kinh doanh là công dân Việt Nam nhƣng không quy định về độ tuổi tham gia
kinh doanh, quy định thêm một nhóm ngƣời cũng có thể tham gia đăng kí
thành lập HKD mà không quy định về nhóm ngƣời này có cần phải là công
dân Việt Nam hay không; đồng thời không quy định về năng lực hành vi dân
sự khi tham gia kinh doanh.
Hai là: tại Nghị định số 78/2015/NĐ-CP quy định cá nhân tham gia
đăng ký kinh doanh hoặc nhóm cá nhân tham gia đăng ký kinh doanh phải
đảm bảo 03 tiêu chí nhƣ sau: là công dân Việt Nam; đủ 18 tuổi trở lên; có
năng lực hành vi dân sự đầy đủ mới đủ điều kiện để đăng ký HKD.
Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh
tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động
lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình
đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật”.
Theo tinh thần Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 15 tháng 7 năm 1988
của Đảng về đổi mới chính sách và cơ chế quản lý đối với các cơ sở sản xuất
thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh nêu rõ [3]:
10
“Kinh tế tư nhân là đơn vị kinh tế do những người có vốn, có tài sản
lập ra, sản xuất kinh doanh theo pháp luật; kinh tế tư nhân bao gồm các hình
thức: Hộ cá thể; hộ tiểu chủ; xí nghiệp tư bản sản xuất công nghiệp”;
Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng khảng định:
“Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền
tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân; kinh tế cá thể tiểu chủ được Nhà
nước tạo điều kiện và giúp đỡ phát triển” [32].
Theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 51 Hiến pháp năm 2013 ghi
nhận:
“Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền
kinh tế quốc dân. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp
tác và cạnh tranh theo pháp luật; Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để
doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh
doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước.
Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được
pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa”.
Tại Điều 33 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận:“Mọi người có quyền tự do
kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” [42].
Từ quan điểm phát triển kinh tế của Đảng, quy định của Hiến pháp tác
và quy định tại Nghị định số 78/2015/NĐ-CP của Chính phủ tác giả đề xuất
khái niệm về HKD nhƣ sau:
“Hộ kinh doanh là một cơ sở kinh doanh do một cá nhân hoặc một
nhóm người gồm các cá nhân đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ,
hoặc một hộ gia đình làm chủ, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của
mình đối với hoạt động kinh doanh”.
1.1.2. Đặc điểm của hộ kinh doanh
Hiện nay theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 có nhiều loại hình doanh
nghiệp khác nhau, trong đó có loại hình doanh nghiệp do Nhà nƣớc làm chủ
sở hữu, loại hình doanh nghiệp do tƣ nhân trong nƣớc làm chủ sở hữu và loại
11
hình doanh nghiệp vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. HKD không có trong hệ thống các
loại hình doanh nghiệp Việt Nam, không đƣợc quy định tại Luật Doanh
nghiệp năm 2014 mà chỉ đƣợc quy định tại Nghị định số 78/2015/NĐ-CP.
Nhƣ đã trình bày ở phần khái niệm thì HKD đƣợc xác định là một chủ
thể thuộc thành phần kinh tế tƣ nhân đƣợc đăng kí kinh doanh và tham gia
vào hoạt động kinh doanh nhƣ doanh nghiệp nhƣng không phải là doanh
nghiệp. Theo khái niệm về HKD thì chủ thể kinh tế này đƣợc cấu thành bởi
các yếu tố: Do một cá nhân, một nhóm ngƣời là công dân Việt Nam hoặc một
hộ gia đình làm chủ; chỉ đƣợc kinh doanh tại một địa điểm; sử dụng không
quá mƣời lao động; không có con dấu; chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản
của mình đối với hoạt động kinh doanh. Do đó, HKD có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, chủ cơ sở là một cá nhân duy nhất, một nhóm người hoặc
một hộ gia đình. HKD không phải là pháp nhân, có thể do một cá nhân duy
nhất, một nhóm ngƣời hoặc một hộ gia đình làm chủ. Vốn kinh doanh ban đầu
của HKD là vốn của một cá nhân duy nhất, một nhóm ngƣời hoặc vốn chung
của một hộ gia đình. Đối với trƣờng hợp HKD do một cá nhân duy nhất làm
chủ sở hữu thì cá nhân này đồng thời là ngƣời quyết định mọi vấn đề liên
quan đến HKD, quyết định việc ĐKKD, thực hiện SXKD hoặc chấm dứt hoạt
động của hộ. Đƣơng nhiên chủ HKD là đối tƣợng duy nhất có quyền hƣởng
mọi lợi nhuận do công việc kinh doanh của hộ tạo ra, là ngƣời duy nhất chịu
mọi nghĩa vụ tài chính với Nhà nƣớc và cũng là ngƣời duy nhất chịu mọi rủi
ro đối với hoạt động của hộ.
Trong trƣờng hợp HKD do một nhóm cá nhân hoặc một hộ gia đình
làm chủ thì HKD này phải cử ra một đại diện. Ngƣời đại diện này sẽ thay mặt
hộ thực hiện các quyền, nghĩa vụ của cả hộ. Tuy nhiên, ngƣời đại diện không
chịu trách nhiệm thay cho những thành viên khác trong gia đình. Lợi nhuận
cũng nhƣ rủi ro sẽ chia cho các thành viên trong hộ gia đình theo thỏa thuận
của tất cả các thành viên (có thể dựa vào số vốn của mỗi thành viên đóng góp
trong hộ hoặc công sức của từng thành viên cấu thành nên lợi nhuận của hộ).
12
Thứ hai, quy mô kinh doanh nhỏ. HKD thƣờng kinh doanh với quy mô
nhỏ hẹp đƣợc sử dụng tối đa không quá mƣời lao động, đối với các loại hình
doanh nghiệp, pháp luật không hề đƣa ra một hạn chế nào trong việc các
doanh nghiệp sử dụng bao nhiêu lao động, việc sử dụng lao động làm thuê có
diễn ra thƣờng xuyên hay không, cũng nhƣ doanh nghiệp có bao nhiêu cơ sở
SXKD. Không giống nhƣ vậy đối với HKD pháp luật đƣa ra một số nhận biết
đối với loại hình kinh doanh này có những đặc điểm làm cho HKD dƣờng nhƣ
có quy mô nhỏ hẹp. Những dấu hiệu mà pháp luật lựa chọn là địa điểm kinh
doanh; số lƣợng lao động mà HKD sử dụng; không đƣợc đăng ký con dấu
riêng, không đƣợc mở chi nhánh, văn phòng đại diện, không đƣợc thực hiện
các quyền mà doanh nghiệp đang có nhƣ hoạt động xuất nhập khẩu hay áp
dụng Luật Phá sản khi kinh doanh thua lỗ.
Mặc dù đƣợc phân biệt với các loại hình doanh nghiệp bởi quy mô kinh
doanh nhỏ hẹp nhƣng HKD không phải là đối tƣợng có quy mô kinh doanh
nhỏ nhất. Loại hình kinh doanh này vẫn đƣợc coi là có quy mô kinh doanh
lớn hơn và ổn định hơn so với một số hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngƣ
nghiệp, làm muối và những ngƣời bán hàng rong, quà vặt, làm dịch vụ có thu
nhập thấp. Những đối tƣợng trên đây không phải ĐKKD mặc dù vẫn thực
hiện hành vi mua bán hàng hóa kiếm lời. Dấu hiệu để phân biệt đối tƣợng này
với HKD đó là mức thu nhập thấp. Mức thu nhập đƣợc coi là thấp theo quy
định cụ thể của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng, tuy nhiên mức
thu nhập này không đƣợc vƣợt quá mức khởi điểm chịu thuế thu nhập cá nhân
đối với ngƣời có thu nhập cao.
Thứ ba, chủ HKD chịu trách nhiệm về các khoản nợ của HKD bằng
toàn bộ tài sản của mình.
Cũng giống nhƣ đối với chủ doanh nghiệp tƣ nhân, chủ HKD không chỉ
chịu trách nhiệm bằng phần vốn và tài sản dùng để trực tiếp kinh doanh mà
còn phải chịu nghĩa vụ trên phần tài sản thuộc sở hữu của mình mặc dù không
đƣa vào kinh doanh trong trƣờng hợp số nợ lớn hơn số vốn kinh doanh của
13
HKD. Nếu chủ HKD là một nhóm ngƣời hay hộ gia đình tham gia đăng ký
thành lập HKD thì mỗi thành viên trong HKD sẽ chịu trách nhiệm bằng tất cả
tài sản của mình, cụ thể: nếu số vốn chung không đủ để trả nợ thì mỗi thành
viên sẽ đóng góp thêm bằng tài sản riêng của mình hoặc tài sản dân sự chung
của cả HKD để trả nợ. Việc góp thêm này sẽ chấm dứt khi số nợ của cả HKD
đƣợc trả hết. Mức góp của mỗi thành viên có thể đồng đều hoặc khác nhau
dựa trên sự thỏa thuận nhƣng trong mọi trƣờng hợp, HKD phải có trách
nhiệm thanh toán hết nợ cho các chủ nợ. Nếu một trong các thành viên không
có khả năng góp thêm để trả nợ nhƣ thỏa thuận thì các thành viên khác có
nghĩa vụ phải lấy tài sản của mình để tiếp tục trả nợ. Quan hệ nợ nần chỉ đƣợc
coi là chấm dứt khi HKD đã thanh toán hết khoản nợ.
Thứ tư ở Việt Nam có khái niệm HKD do “hộ gia đình làm chủ”, đây là
một chủ thể kinh doanh "rất đặc biệt" của Việt Nam, bởi vì đa phần các quốc
gia trên thế giới không thừa nhận hộ gia đình là một thực thể pháp lý đƣợc
tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh giống nhƣ một thƣơng nhân,
hoặc một công ty. Việc quy định "hộ gia đình" đƣợc kinh doanh dƣới hình
thức HKD nhƣ trên vừa nói có lẽ xuất phát từ thực tế cuộc sống và Bộ luật
dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2015 quy định "hộ gia đình" là chủ
thể của quan hệ pháp luật dân sự. Tại Khoản 1 Điều 101 Bộ luật dân sự năm
2015 quy định:
“Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách
pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp
tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập,
thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác
lập, thực hiện giao dịch dân sự. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản,
trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Khi có sự thay đổi người đại diện thì phải
thông báo cho bên tham gia quan hệ dân sự biết.
Trường hợp thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không
có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự không được các thành viên
14
khác ủy quyền làm người đại diện thì thành viên đó là chủ thể của quan hệ
dân sự do mình xác lập, thực hiện”.
Từ việc quy định HKD do một hộ gia đình làm chủ làm nảy sinh nhiều
khía cạnh pháp lý về chủ thể này mà chúng ta cần nghiên cứu để làm sáng tỏ.
Hộ gia đình là một chủ thể đặc biệt của pháp luật Việt Nam vì hộ gia đình
không phải là cá nhân và cũng không phải là pháp nhân mà tập hợp các thành
viên có tài sản chung. Do đó HKD không hoàn toàn là thƣơng nhân thể nhân,
nhƣng trƣớc đây hộ cá thể và hộ tiểu công nghiệp (hình thức đầu tiên của
HKD), theo Nghị định số 27-HĐBT ngày 09 tháng 3 năm 1988 của Hội Đồng
Bộ trƣởng thì HKD là thƣơng nhân thể nhân.
Theo pháp luật hiện hành, khái niệm về hộ gia đình (sẽ đƣợc làm rõ ở
phần sau) chƣa xác định rõ các điều kiện hay các tiêu chí xác lập một hộ gia
đình. Tập hợp các thành viên của hộ gia đình cũng không dễ xác định. Dấu
hiệu của hộ gia đình đƣợc thể hiện qua quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết
thống hay quan hệ nuôi dƣỡng.
Xuất phát từ thực tiễn xã hội Việt Nam cũng nhƣ căn cứ vào quy định
của pháp luật, tác giả nhận thấy thông thƣờng các thành viên trong hộ gia
đình phải có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dƣỡng;
cùng cƣ trú ở một nơi, có cùng hoạt động kinh tế chung trên một sản nghiệp
chung.
Bộ luật dân sự năm 2015 quy định cụ thể về việc xác định sở hữu tài
sản của thành viên hộ gia đình, việc xác định tƣ cách thành viên hộ gia đình là
rất quan trọng. Bởi lẽ, từ đó xác định đƣợc các quyền sở hữu khối tài sản
chung và nghĩa vụ liên đới phát sinh nếu có rủi ro trong các giao dịch. Tuy
nhiên, số lƣợng các thành viên trong hộ gia đình có thể thay đổi, gây khó
khăn trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan.
Trong thực tiễn các cơ quan hành pháp và tƣ pháp thƣờng xác định tập
hợp các thành viên hộ gia đình thông qua sổ hộ khẩu và nếu có bất kỳ giao
dịch dân sự nào liên quan đến hộ gia đình thì cơ quan quản lý nhà nƣớc cũng
15
nhƣ ngƣời dân luôn yêu cầu ngƣời đại diện phải là chủ hộ trong sổ hộ khẩu
nhƣ việc giao đất cho hộ gia đình,…Theo Điều 24 Luật Cƣ trú năm 2006 thì:
"Sổ hộ khẩu được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký thường trú và
có giá trị xác định nơi thường trú của công dân" Sổ hộ khẩu không có giá trị
chứng minh quyền sở hữu hoặc việc sử dụng một khối tài sản chung nào đó
của những ngƣời có tên trong Sổ hộ khẩu.
Thực tế trên đã và đang làm các giao dịch dân sự liên quan đến hộ gia
đình bị hiểu và thực hiện lệch lạc so với quy định pháp luật về hộ gia đình.
Hơn nữa, Sổ hộ khẩu không nói lên vấn đề rằng các thành viên có cùng trú
ngụ hay cùng kiếm sống hay không.
Hộ gia đình có thể đăng ký kinh doanh (ĐKKD) dƣới hình thức HKD.
Nhƣng theo Khoản 3 Điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP những hộ gia đình
sản xuất nông, lâm, ngƣ nghiệp, làm muối và những ngƣời bán hàng rong, quà
vặt, buôn chuyến, kinh doanh lƣu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không
phải ĐKKD, trừ trƣờng hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện.
Trên thế giới phổ biến có hình thức cá nhân kinh doanh (sole
proprietorship) gần giống nhất đối với hình thức HKD của Việt Nam. Tuy
nhiên, hình thức cá nhân kinh doanh này theo pháp luật các nƣớc lại không
quy định cho một nhóm ngƣời hay một hộ gia đình đƣợc ĐKKD với hình
thức HKD nhƣ quy định về HKD của Việt Nam. Việc kinh doanh do một cá
nhân làm chủ đƣợc pháp luật các nƣớc quy định khá thống nhất với nhau và
cũng khá tƣơng đồng với quy định về HKD do cá nhân làm chủ và doanh
nghiệp tƣ nhân của Việt Nam.
Pháp luật Trung Quốc quy định rõ doanh nghiệp thuộc sở hữu cá nhân
là một chủ thể kinh doanh đƣợc thành lập tại Trung Quốc bởi sự đầu tƣ của
một ngƣời, phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với tất cả các khoản nợ bởi tài
sản của cá nhân chủ doanh nghiệp [93].
Tại Mỹ, gần 2/3 chủ thể kinh doanh là cá nhân kinh doanh, thƣờng là
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Cá nhân kinh doanh ở Mỹ thông thƣờng không
16
phải đăng ký với cơ quan có thẩm quyền để bắt đầu kinh doanh trừ một số
ngành nghề bắt buộc phải đăng ký. Ngƣời chủ chịu trách nhiệm vô hạn đối
với các khoản nợ (bao gồm cả những trách nhiệm liên quan đến sự gây thiệt
hại của nhân viên đối với một bên thứ ba trong quá trình làm việc) trên tài sản
cá nhân của mình [94]. Các nguyên tắc trên cũng phù hợp với pháp luật Anh.
Pháp luật Anh quan niệm: Thƣơng nhân đơn lẻ (sole trader) là một ngƣời tiến
hành kinh doanh với tài khoản của mình; tự lựa chọn nơi thích hợp để hoạt
động; có hoặc không có sự trợ giúp của ngƣời làm công trong kinh doanh;
vốn góp ban đầu là nguồn vốn cá nhân do tiết kiệm hoặc vay mƣợn cá nhân
(Abdul Kadar và cs., 1985). Pháp luật Hoa Kỳ quan niệm: Doanh nghiệp cá
thể (sole proprietorship) là một doanh thƣơng (a business) đƣợc vận hành bởi
một ngƣời nhƣ một tài sản cá nhân của ngƣời đó; và doanh nghiệp
(enterprise) này là một sự mở rộng đơn thuần của chủ sở hữu cá nhân
(individual owner) (Jame Barnet và cs., 1991). Thƣơng nhân đơn lẻ hay
doanh nghiệp cá thể theo các quan niệm này là một hình thức kinh doanh có
kết cấu khác với các hình thức kinh doanh khác nhƣ hợp danh hay các công
ty.
Ở Trung Quốc, Mỹ hay Anh, khi một nhóm ngƣời hoặc một hộ gia đình
muốn cùng nhau kinh doanh thì họ thƣờng phải đăng ký kinh doanh với hình
thức là hợp danh hoặc thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty cổ
phần. Trong khi đó, khái niệm HKD trong pháp luật Việt Nam lại có khả năng
bao chùm cho cả 3 hình thức: cá nhân kinh doanh, một nhóm ngƣời hoặc một
hộ gia đình cùng tham gia kinh doanh.
Tuy nhiên cần phải thấy doanh nghiệp là một thuật ngữ có nhiều nghĩa
khác nhau. Bộ luật dân sự Nga 1994 tại Điều 132 xem doanh nghiệp là một tổ
hợp tài sản sử dụng cho một hoặc một số hoạt động thƣơng mại nhất định.
Pháp luật của các nƣớc theo Civil Law có quan niệm tƣơng tự. Ở Hoa Kỳ
thuật ngữ doanh nghiệp đôi khi đƣợc sử dụng để chỉ toàn bộ các thực thể kinh
doanh không kể tới quy mô và phạm vi của chúng. Vậy việc không xem HKD