ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*****
NGUYỄN VĂN SƠN
QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ
PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Mã số: 60 31 02 01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Xuân Tuất
Hà Nội – 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng
dẫn của PGS.TS Đỗ Xuân Tuất. Các số liệu, tài liệu trình bày trong luận văn là trung
thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học. Các tài liệu có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Những kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào.
Tác giả Luận văn
Nguyễn Văn Sơn
1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Chỉ số phát triển con người
Giáo dục và Đào tạo
Hiệp Định đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific
Strategic Economic Partnership Agreement )
Hiệp Hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast
Asian Nations)
`Kinh tế - Xã hội
Khoa học và Công nghệ
Tổ chức Thương mại thế giới (World Trade Organization)
Tổng thu nhập quốc dân
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..................................................................................................................... 4
Chƣơng 1. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG
VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC............................................................. 13
1.1. Về lý luận........................................................................................................... 13
1.2. Về thực tiễn........................................................................................................ 18
1.3. Phát triển giáo dục đại học - những khái niệm cơ bản...................................25
Chƣơng 2. NỘI DUNG CƠ BẢN QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY................................................ 30
2.1. Xác định giáo dục đại học là quốc sách hàng đầu............................................... 30
2.2. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học, phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao.................................................................................................................... 34
2.3. Phát triển hệ thống giáo dục đại học................................................................... 41
2.4. Phát triển đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục đại học..........................45
2.5. Xã hội hóa giáo dục đại học và tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục đại học 49
Chƣơng 3. TIẾP TỤC ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THEO QUAN ĐIỂM
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM.................................................................... 54
3.1. Góp phần vào thành tựu chung về công tác lý luận trong thời kỳ đổi mới...54
3.2. Tạo bƣớc phát triển mới đối với giáo dục đại học, đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế........................................................ 56
3.2.1. Ưu điểm và nguyên nhân.................................................................................. 56
3.2.2. Hạn chế và nguyên nhân................................................................................... 65
3.3. Một số vấn đề tồn tại của giáo dục đại học Việt Nam cần phải giải quyết
gấp rút và có tính lâu dài......................................................................................... 71
3.4. Giải pháp phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam đến năm 2020.................72
3.4.1. Những yếu tố tác động đến giáo dục đại học Việt Nam thời gian tới................72
3.4.2. Giải pháp phát triển giáo dục đại học............................................................................ 82
KẾT LUẬN.................................................................................................................. 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................... 92
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, khoa học và công nghệ (KH – CN) có những bước tiến kỳ diệu.
Kinh tế tri thức ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển lực lượng
sản xuất, tạo ra năng suất lao động ngày càng cao. Hội nhập kinh tế quốc tế và toàn
cầu hóa là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, tuy nhiên
toàn cầu hóa đang bị một số nước phát triển và tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc
gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có những mặt tích cực, song vừa có
mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh.
Dưới tác động của cuộc cách mạng KH - CN, đặc biệt là công nghệ thông tin ở
vào nửa sau thế kỷ XX đến nay, nền kinh tế thế giới đã có những bước chuyển biến
mạnh mẽ, sâu rộng về cơ cấu ngành nghề, về vai trò của các yếu tố trong sản xuất sản
xuất. Sự thay đổi này không chỉ đơn giản là sự chuyển đổi về lượng mà là sự chuyển
đổi về chất hay nói cách khác đó là sự chuyển dịch từ nền kinh tế công nghiệp sang
nền kinh tế tri thức. Sự dịch chuyển này kéo theo một loạt sự biến đổi sâu sắc về các
mặt của đời sống xã hội.
Sự thay đổi sâu sắc trong cơ cấu ngành nghề, đời sống KT - XH trở thành yêu
cầu khách quan đối với giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng. Trong lĩnh
vực giáo dục đại học, nhờ có sự hỗ trợ về công nghệ thông tin, giáo dục đại học các
nước đang có sự phát triển không ngừng, là nền tảng cho sự phát triển của tri thức
nhân loại. Bên cạnh đó giáo dục đại học phải tự đổi mới để thích nghi với sự biến đổi
mau lẹ của xã hội, đổi mới giáo dục là một xu thế tất yếu hiện nay.
Tháng 1- 2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ
chức thương mại thế giới (WTO). Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế
giới đánh dấu mốc quan trọng trong việc hội nhập nền kinh tế thế giới của Việt Nam.
Trở thành viên của WTO, ngoài những thuận lợi thì nền kinh tế Việt Nam cũng phải
đối mặt với nhiều khó khăn thách thức mới trong sân chơi quốc tế đặc biệt là việc
cạnh tranh từ các công ty nước ngoài, các hàng rào bảo hộ của nhà nước bị rỡ bỏ.
Trong khi nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền
kinh tế còn thấp nhiều vấn đề kinh tế - xã hội (KT – XH) khác còn chậm được giải
quyết, gây nhiều bức xúc trong xã hội, nguồn nhân lực có
4
trình độ và tay nghề vừa thiếu lại vừa yếu đó thực sự là một thách thức đối với Việt
Nam.
Tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và hội nhập quốc tế
Đảng, Nhà nước Việt Nam đã dành sự quan tâm đặc biệt, tạo điều kiện cho giáo dục
đại học phát triển, nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp
phát triển đất nước là một vấn đề thức thiết. Phát triển giáo dục đại học sẽ tạo tiền đề,
động lực thúc đẩy và hoàn thành CNH, HĐH.
Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12 - 1986) đã khởi xướng
đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Đại hội nhận định đổi mới giáo dục là vấn đề
cấp bách là động lực, là nền tảng cho phát KT - XH. Nhận thức sâu sắc vai trò của
giáo dục đại học với sự phát triển KT - XH, cùng với sự định hình đường lối đổi mới
trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, đường lối phát triển giáo dục đào tạo (GD – ĐT) cũng từng bước được Đảng Cộng sản Việt Nam bổ sung và phát
triển hoàn thiện, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục đại học.
Thế kỷ XXI được dự đoán là thế kỷ của KH - CN, của nền kinh tế tri thức. Do
đó, đổi mới và phát triển giáo dục đại hoc phải đi trước một bước thậm chí là nhiều
bước so với những lĩnh vực và ngành nghề khác, để tạo tiền đề cho phát triển KT XH. Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: phải thực sự coi GD – ĐT là quốc sách
hàng đầu phục vụ đắc lực sự nghiệp CNH, HĐH hóa đất nước, trong đó chú ý phát
huy vai trò tích cực của giáo dục đại học.
Chiến lược phát triển KT - XH 10 năm (2011 – 2020) một lần nữa khẳng định
vai trò của lĩnh vực giáo dục đại học với sự phát triển của đất nước, đó là: Phát triển
nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi
mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn
nhân lực với phát triển và ứng dụng KH - CN.
Thực hiện đường lối phát triển GD - ĐT, trong đó phát triển giáo dục đại học
là một khâu then chốt trong đường lối đổi mới, giáo dục đại học Việt Nam đã đạt
được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần tích cực vào sự nghiệp CNH, HĐH và hội
nhập quốc tế. Tuy nhiên, đến nay nền giáo dục đại học Việt Nam vẫn còn nhiều hạn
chế, bất cập. Chất lượng, hiệu quả GD - ĐT còn thấp so với yêu cầu phát triển KT XH của đất nước; Quản lí GD - ĐT còn nhiều yếu kém; Đội ngũ nhà giáo và cán bộ
5
quản lí giáo dục còn nhiều bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; Đầu tư cho GD
- ĐT chưa hiệu quả. Chính sách, cơ chế tài chính cho GD - ĐT chưa phù hợp… Do
vậy, đổi mới và phát triển giáo dục đại học đáp ứng sự phát triển nhanh và bền vững
của đất nước là một nhu cầu bức thiết.
Chính với những lý do trên tôi quyết định lựa chọn đề tài “Quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay” làm
nội dung nghiên cứu Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Chính trị học.
2. Tình hình nghiên cứu
Ngày nay cuộc cách mạng KH - CN đang có những bước tiến nhảy vọt trong
nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Điều đó đang hướng
nhân loại bước vào nền văn minh trí tuệ với hai đặc trưng cơ bản là "xã hội thông tin"
và "kinh tế tri thức". Với xã hội thông tin và kinh tế tri thức, những thế mạnh tương
đối về nguồn lao động, tài nguyên thiên nhiên đã mất dần ý nghĩa và lợi thế đang dần
thuộc về những quốc gia có lực lượng lao động được đào tạo ở trình độ cao đáp ứng
được sự đòi hỏi của sự tiến bộ về KH - CN; sản phẩm được tạo ra ngày càng phản
ánh sự kết tinh từ "chất xám", từ trí tuệ chứ không phải chủ yếu từ cơ bắp.
Những năm gần đây, khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu với thế giới, bên
cạnh những thuận lợi thì những thách thức luôn song hành. Thực hiện đường lối đổi
mới đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam
khẳng định đổi mới đất nước trên mọi phương diện. Trong đó, đổi mới giáo dục nói
chung và giáo dục đại học nói riêng là một khâu quan trọng then chốt. GD - ĐT được
xem là quốc sách hàng đầu, được ưu tiên, tạo điều kiện phát triển nhằm đào tạo nguồn
nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Do tầm quan trọng
của nó, giáo dục đại học đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Đã có rất
nhiều công trình khoa học được công bố trên các sách báo, tạp chí với mong muốn
chỉ ra những phương hướng và giải pháp nhằm phát triển giáo dục đại học Việt Nam.
Liên quan đến vấn đề giáo dục nói chung có thể kể đến các công trình như:
Đổi mới căn bản, toàn diện GD - ĐT Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội (Ban
Tuyên giáo Trung ương - Tổng cục dạy nghề - Viện nghiên cứu phát triển phương
Đông (2012)); Giáo dục Việt Nam hướng tới thế kỷ XXI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
6
Nội (Vũ Đình Cự (chủ biên) (1990)); Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong
thế kỷ XXI, Nxb. Giáo dục, Hà Nội (Trần Khánh Đức (2010)); Bàn về triết lý giáo
dục Việt Nam, Nxb. Đại học sư phạm, Hà Nội (Phạm Minh Hạc – Phan Văn Kha (chủ
biên) (2013)); Mười năm đổi mới giáo dục, Nxb. Giáo dục, Hà Nội ( Phạm Minh Hạc
(1996)); Nguyễn Thế Long (2006): Đổi mới tư duy, phát triển giáo dục Việt Nam
trong kinh tế thị trường, Nxb. Lao động, Hà Nội…cụ thể như sau:
-
Năm 2002, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách:“GD - ĐT trong
thời kỳ đổi mới: Chủ trương, thực hiện, đánh giá”, do Ban Khoa giáo Trung ương tổ
chức biên soạn. Cuốn sách gồm những văn kiện của Đảng và Nhà nước về GD - ĐT,
một số bài phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã tập trung đánh
giá những ưu điểm và khuyết điểm của ngành giáo dục trong những năm gần đây,
đồng thời chỉ ra phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện trong thời gian tới.
- Giáo dục Việt Nam 1945 – 2005 (2004), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,
cuốn sách đã nêu một cách tổng quan về phát triển giáo dục ở Việt Nam, những chặng
đường phát triển từ 1945 – 1986 và giáo dục Việt Nam thời kỳ đổi mới.
-
Năm 2007, Nhà xuất bản giáo dục cho ra mắt cuốn “Giáo dục Việt Nam – đổi mới
và phát triển hiện đại hóa”. Cuốn sách là cái nhìn tổng quát về phương hướng phát triển
của nền giáo dục Việt Nam từ năm 1945 đến 2006 và tầm nhìn đến năm 2020. Phát
triển giáo dục Việt Nam là đòi hỏi bức thiết phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Đồng thời đã nêu những chính sách, chiến lược phát triển giáo dục trong thời kỳ
CNH, HĐH đất nước trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay và các giải pháp đổi
mới hệ thống giáo dục ở Việt Nam. Mặt khác, qua đây tác giả cũng nhấn mạnh vai trò
to lớn của giáo dục - là nhân tố then chốt của sự phát triển của một quốc gia và Việt
Nam cũng không phải một ngoại lệ.
-
Phạm Tất Dong – Đào Hoàng Nam (2011): Phát triển giáo dục hướng tới một xã
hội học tập, Nxb. Dân trí, cuốn sách đưa ra bối cảnh kinh tế xã hội Việt Nam những năm
80 của thế kỷ XX, đưa ra quan điểm xác định giáo dục là động lực là mục tiêu cho sự
phát triển, đổi mới tư duy về giáo dục, xây dựng xã hội học tập, những thách thức mà
nền giáo dục Việt Nam gặp phải trong sự phát triển. Đồng thời cuốn sách đưa ra
những định hướng phát triển giáo dục Việt Nam.
7
-
Năm 2011, Ban Tuyên giáo Trung ương đã xuất bản cuốn sách “Đổi mới căn bản,
toàn diện GD - ĐT Việt Nam”, Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia, cuốn sách gồm 3 phần
(Phần 1: Đổi mới căn bản, toàn diện, GD - ĐT; Phần 2: Đổi mới và phát triển dạy nghề ở
Việt Nam; Phần 3: Đổi mới và phát triển các trường ngoài công lập ở Việt Nam) tập
hợp các bài viết của nhiều tác giả, bàn về những vấn đề căn cốt nhất tại sao phải đổi
mới giáo dục và đổi mới như thế nào, những vấn đề gì là trọng tâm.
-
Nguyễn Văn Lượng: “Đổi mới quản lý – khâu đột phá trong đổi mới căn bản và
toàn diện giáo dục”, Tạp chí Lý luận Chính trị, Số 12 năm 2013. Bài viết đã đưa ra thực
trạng quản lý giáo dục hiện nay những thành tựu, những hạn chế và khẳng định đổi mới
quản lý là khâu then chốt cả đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Việt Nam…
-
Trần Ngọc Hiên: “Chất lượng GD - ĐT – Nhân tố quyết định sự phát triển bền
vững của Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, Số 854 tháng 12 năm 2013. Bài viết đã
khẳng định muốn giải quyết vấn đề chất lượng phát triển, như thực tiễn đặt ra chỉ có
thể bắt đầu từ chất lượng giáo dục, đào tạo nhân lực. Do đó, cần nhận thức được vị
trí, vai trò của GD - ĐT trong giai đoạn hiện nay và đưa ra mấy vấn đề quyết định
trong chiến lược cải cách giáo dục.
- Trần Thị Kiều Nga:“Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH”, Tạp chí Lịch sử Đảng, Số 3 năm 2014. Bài viết là đưa ra những quan điểm
cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nguồn nhân lực giai đoạn hiên nay,
khẳng định quan điểm: phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cần tập trung vào đổi
mới căn bản toàn diện GD - ĐT và đưa ra những quan điểm về đổi mới giáo GD - ĐT.
- Bùi Đình Phong: “Đổi mới căn bản, toàn diện GD – ĐT trên nền tảng tư tưởng
Hồ
Chí Minh”, Đặc sản Hồ Chí Minh (Viện Hồ Chí Minh – Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh), Số 4 năm 2013. Bài viết đã chỉ ra sự cần thiết của việc đổi mới căn
bản, toàn diện GD - ĐT, những mục tiêu, phương châm, phương pháp giáo dục trên
nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh.
-
Nguyễn Thị Mai:“Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về hợp
tác GD - ĐT với các nước ASEAN từ năm 1995 đến năm 2010”, luận án tiến sĩ chuyên
ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm
2013. Luận án đã nêu lên những quan điểm cơ bản, sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt
8
Nam về hợp tác giáo dục với các nước ASEAN từ 1995 đến 2010 và đưa ra một số
kinh nghiệm sau khi đánh giá kế quả thực hiện.
Các công trình trên đã đưa ra một cách khái quát các vấn đề về giáo dục Việt
Nam như những chặng đường phát triển, cơ sở lí luận và thực tiễn về xây dựng chiến
lược phát triển GD - ĐT ở Việt Nam hiện nay, với những định hướng, mục tiêu phát
triển của giáo dục. Nhằm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam theo hướng
chuẩn hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế trong GD - ĐT. Chỉ ra vai trò của GD - ĐT
đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, sự tác động của kinh tế thị trường, vận dụng
cơ chế thị trường trong phát triển giáo dục…, đào tạo nguồn nhân lực nhân tài phục
vụ sự nghiệp CNH,HĐH đất nước.
Một số công trình liên quan đến giáo dục đại học như:
-
“Giáo dục đại học – quan điểm và giải pháp” của Lê Đức Ngọc, Nhà xuất bản
Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2004. Cuốn sách này bao gồm các bài tham luận tuyển
chọn từ các hội thảo quốc gia và quốc tế của tác giả, trình bày các quan điểm và giải
pháp về giáo dục đại học cho giai đoạn 1995 – 2010. Các quan điểm và giải pháp về
giáo dục đại học trình bày trong cuốn sách này được tác giả
đúc rút, từ các học giả trong nước, ngoài nước và kinh nghiệm của tác giả trong quá
trình công tác.
-
Năm 2004, Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản cuốn sách: Giáo dục đại học Việt
Nam, do Đoàn Duy Lục, Cù Đức Hoà, Nguyễn Đức Chỉnh đồng chủ biên. Các tác giả
đã khái lược lịch sử phát triển của giáo dục học nước ta những thập niên đầu thế kỉ
XXI. Trình bày các chiến lược và chính sách phát triển giáo dục đai học ở Việt Nam
cũng như các mục tiêu, nhiệm vụ; thực trạng nền giáo dục việt Nam về đội ngũ giảng
viên; quy mô đào tạo, ngành nghề đào tạo....
-
Vũ Ngọc Hải (2004): Cải cách giáo dục đại học ở Việt Nam phục vụ sự
nghiệp CNH, HĐH, từng bước xây dựng, phát triển nền kinh tế tri thức định hướng
xã hội chủ nghĩa, Tạp chí Phát triển giáo dục, Số 2 – 2004. Tác giả đã chỉ ra những
yêu cầu bức thiết phải đổi mới giáo dục đại học, nhằm đào tạo nhân lực nhân tài phục
vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
-
Trần Quốc Toản (2005): Diễn đàn quốc tế về giáo dục Việt Nam “Đổi mới
giáo dục đại học và hội nhập quốc tế”, Nxb Giáo dục, Hà Nội. Cuốn sách là tập hợp
những bài phát biểu, báo cáo nghiên cứu khoa học của các tác giả cung cấp các
9
thông tin đa dạng - phong phú, những kinh nghiệm, ý tưởng, đề xuất có tính chất tư
vấn cho việc đổi mới và phát triển giáo dục Đại học ở Việt Nam.
-
Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2005), Một số vấn đề về Giáo dục đại học, Nxb Đại học
quốc gia, Hà Nội. Tác giả đã chỉ ra những vấn đề chung về giáo dục đại học: vài nét
về lịch sử giáo dục đại học thế giới và Việt Nam. Hệ thống đảm bảo chất
lượng cho giáo dục đại học Việt Nam. Chương trình và quy trình đào tạo đại học...;
Những vấn đề về tâm lý, sư phạm đại học..
-
Nguyễn Thị Hồng Hạnh:“Hồ Chí Minh về giáo dục và giáo dục đại học”, Tạp
chí Xây dựng Đảng, Số 6 năm 2013. Bài viết đã nêu ra các quan điểm của Hồ
Chí Minh về giáo dục, giáo dục đại học và phương châm của nền giáo dục mới đó là:
học đi đôi với hành, thực hiện dân chủ trong giáo dục và lấy tự học làm cốt, tự học
suốt đời.
-
Nguyễn Bá Cần: “Hoàn thiện chính sách phát triển giáo dục đại học Việt Nam
hiện nay”, luận án tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị, Trường Đại học Kinh tế
quốc dân, năm 2009, đã nêu ra những vấn đề cơ bản của chính sách phát triển giáo
dục đại học trong nền kinh tế thị trường, phân tích đánh giá chính sách về
giáo dục đại học trong những năm qua và đề xuất quan điểm, phương hướng và giải
pháp hoàn thiện chính sách phát triển giáo dục đại học trong những năm tiếp theo.
- Chu Trí Thắng: “Chính sách hợp tác với nước ngoài về đào tạo sau đại học ở
Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế”, luận án tiến sĩ chuyên ngành quản lý giáo
dục, Trường Đại học giáo dục - Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2011, đề cập tới các
chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học từ khi Chính phủ Việt Nam gửi người
đi học ở các nước xã hội chủ nghĩa đến nay, trọng tâm là thời gian gần đây. Luận án
đã phân tích, đánh giá các chính sách về hợp tác quốc tế về GD - ĐT sau đại học. Từ
đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách về phát triển nguồn nhân lực sau
đại học phục vụ mục tiêu hội nhập của đất nước.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu công bố đã đề cập đến nhiều khía cạnh
khác nhau của việc giáo dục đại học Việt Nam hiện nay như: thực trạng chất lượng
đào tạo giáo dục, cơ chế quản lý, quy mô và cơ cấu đào tạo. Đồng thời chỉ ra vai trò
quan trọng của giáo dục đại học đối với sự phát triển đất nước, từ đó đưa ra
10
những quan điểm và giải pháp phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong thời gian
tới.
Một số công trình nước ngoài:
Ngày nay, đổi mới giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng là một xu thế
của nhân loại, đặc biệt là các nước phát triển. Do đó, trên thế giới có rất nhiều công
trình nhiên cứu về giáo dục về tầm quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển của
một quốc gia. Ngày nay, giáo dục được xem là chìa khóa cho sự phát triển, chìa khóa
của tương lai.
-
WB (1994), Higher Education: The lessons of experience, A WB
publication, Washington, D.C. Từ những năm đầu của thập niên 90 của thế kỳ
XX, Ngân hàng thế giới đã chỉ ra tầm quan trọng của giáo dục bậc cao và những kinh
nghiệm phát triển giáo dục bậc cao ở các nước trên thế giới, đó là là xác định lại vai
trò quan trọng của Chính phủ trong việc thúc đẩy giáo dục bậc cao phát triển đồng
thời mở rộng quyền tự chủ và trách nhiệm của các trường đại học công. Nhưng đồng
thời, cũng khuyến khích quá trình xã hội hóa GD - ĐT, tăng cường hợp tác quốc tể về
giáo dục đào tạo, để các nước đang phát triển và chậm phát triển, tiếp cận được với
nền giáo dục tiên tiến, hiện đại trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
-
Globalization and International Education,
Robin Shields, (2013).
Bloomsbury Publishing Plc. Tác giả đã chỉ ra một cách khái quát giáo dục về
một nền giáo dục và sự tác động của toàn cầu hóa đối với GD - ĐT, chỉ ra những sự
biến đổi trong quan niệm về vị trí, vai trò của giáo dục đối với sự phát triển của một
quốc gia dưới tác động của toàn cầu hóa. Toàn cầu hóa một mặt tạo ra những thách
thức không nhỏ đối với các nước đang phát triển thì nó lại tạo điều kiện cho nền giáo
dục của các nước này tiếp cận với nền giáo dục hiện đại, giúp sinh viên có cơ hội tiếp
xúc với các nền giáo dục tiên tiến.
Tóm lại, đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục và giáo dục
đại học, tuy nhiên, còn thiếu vắng những công trình nghiên cứu sâu về quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển giáo dục đại học như một hệ thống từ quan
điểm đến đánh giá quá trình quá trình triển khai thực hiện trong giai đoạn hiện nay. Vì
vậy, Luận văn tập trung giải quyết vấn đề trên và đây
11
được xem là điểm mới của đề tài này. Những kết quả của các công trình nghiên cứu
nêu trên là tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả trong quá trình thực hiện đề tài
Luận văn.
3.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Khái quát quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển giáo dục đại
học và rút ra giá trị của quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển giáo
dục đại học ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
-
Làm rõ những nhân tố tác động đến đổi mới, phát triển giáo dục đại học ở Việt
Nam hiện nay;
- Các quan điểm cơ bản của Đảng về phát triển giáo dục đại học từ 1996 đến
nay;
- Đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, những vấn đề đặt ra;
- Dự báo những yếu tố tác động;
-
Đưa ra phương hướng, giải pháp phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam đến
năm 2020.
4.
-
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu: Khái quát Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về phát triển giáo dục đại học hiện nay.
- Về thời gian: Từ năm 1996 đến nay.
5.
-
Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Quan điểm của các nhà kinh điển Chủ nghĩa Mác – Lê nin, của
Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam về GD - ĐT và giáo dục đại học.
-
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng chủ yếu là phương pháp lôgic và
lịch sử cụ thể; phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh; phương
pháp thống kê… để làm sáng tỏ những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt về phát
triển giáo dục đại học từ năm 1996 đến nay.
6.
Những đóng góp khoa học của luận văn
Qua nghiên cứu “quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về phát triển giáo
dục đại học ở Việt Nam hiện nay” Luận văn cho thấy bước phát triển trong tư duy,
12
nhận thức của Đảng, Nhà nước về lãnh đạo, chỉ đạo phát triển giáo dục đại học ở Việt
Nam hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới và chấn hưng đất nước.
Luận văn là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy có liên
quan đến GD - ĐT và giáo dục đại học.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3
chương, 12 tiết.
Chƣơng 1
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG
VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
1.1. Về lý luận
Cùng với việc xây dựng và bảo vệ đất nước, tổ tiên ta đã dành nhiều công sức
phát triển nền giáo dục dân tộc. Cơ sở giáo dục đầu tiên của nhà nước phong kiến Việt
Nam (được ghi nhận trong sử sách) là Quốc Tử Giám - Thăng Long, do vua Lý Nhân
Tông cho thành lập vào năm 1076. Lúc đầu Quốc Tử Giám chỉ nhằm dạy con em dòng
dõi vua quan, hoàng thân quốc thích, sau mở rộng dần cho những thanh thiếu niên có tư
chất và đủ trình độ trong dân gian. Về lực lượng giảng dạy, ngoài những quan chức ở
Quốc Tử Giám, triều đình còn cho phép các nhà Nho uyên thâm đến giảng dạy. Sau này,
triều Nguyễn đóng đô tại Phú Xuân, đã mở Quốc Tử Giám tại Huế. Ngày nay, Quốc Tử
Giám - Thăng Long được xem là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Sau khi mở
mang việc dạy học ở kinh đô, dần dần nhà nước phong kiến chú ý đến việc tổ chức hoạt
động giáo dục ở địa phương. Năm 1397, thời vua Trần Thuận Tông, triều đình cho đặt
học quan ở các lộ, phủ lớn (đơn vị hành chính tương đương với cấp tỉnh ngày nay) để lo
việc giáo dục. “Đến thế kỷ XV - XVI, nền giáo dục Việt Nam đã phát triển rực rỡ. Các
phủ, lộ đều có trường công” [21, tr. 55]. Đồng thời việc thi cử tuyển chọn các quan lại
được tiến hành khá chặt chẽ xem đây là biện pháp quan trọng nhằm chọn người tài giỏi
tham gia bộ máy điều hành quốc gia. Bằng việc tuyển chọn nhân tài thông qua thi cử, tuy
hết sức khắt khe nhưng lại mang yếu tố dân chủ vì đã tạo được cơ may cho con cái tầng
lớp bình dân. Một điều đặc biệt lý thú là, trong giai đoạn mới thành lập, triều Trần cũng
đã tính đến điều kiện học tập không đồng đều giữa các địa phương từ đó quy định một
13
kỳ thi có hai trạng nguyên: kinh trạng nguyên cho khu vực thuận lợi và trại trạng
nguyên cho khu vực khó khăn.
Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, nhân dân ta từ địa vị nô lệ trở
thành người chủ vận mệnh của mình. Nước ta từ nước thuộc địa nửa phong kiến trở
thành quốc gia độc lập, tự do. Bước vào xây dựng xã hội mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh
chủ trương “mở một chiến dịch chống mù chữ, coi đó là nhiệm vụ cấp bách thứ hai
(chống nạn đói) trong nhiệm vụ cấp bách của chính quyền non trẻ. Vì người cho rằng
dốt cũng là kẻ địch. Địch dốt nát giúp cho địch ngoại xâm. Địch dốt nát cũng như
địch tấn công ta về mặt tinh thần cũng như địch thực dân tấn công ta bằng vũ lực.
Địch thực dân dựa vào địch dốt nát để thực hiện chiến lược ngu dân. Địch dốt nát dựa
vào địch thực dân để đưa ta vào nơi mù quáng”[100, tr. 52]. Hồ Chí Minh đã khẳng
định “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, dốt đồng nghĩa với kém, kém là đồng
nghĩa với yếu. Ngày 10/10/1945 chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 45 thành lập
Đại học Văn Khoa Hà Nội, nay là Đại học Quốc gia Hà Nội, nhằm đào tạo và bồi
dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.
Ph. Ăngghen đã từng khẳng định: “... chỉ có phương tiện cơ giới và hóa học
phụ trợ thì không đủ. Cần phải phát triển một cách tương xứng năng lực của con
người sử dụng phương tiện đó nữa”[88, tr. 474]. Năng lực ấy, trong điều kiện hiện
nay chính là trí tuệ, bản lĩnh, năng lực sáng tạo... của con người. Nó không thể là cái
gì khác ngoài sản phẩm của một quá trình giáo dục và tự giáo dục. Do đó, đầu tư cho
giáo dục “phải đi trước một bước, thậm chí nhiều bước. Điều này càng đúng hơn nếu
muốn CNH, HĐH đất nước”[24, tr. 5].
CNH, HĐH là quá trình tất yếu đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp
theo hướng hiện đại. Nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển nguồn nhân lực là
khâu quyết định sự thành bại của quá trình CNH, HĐH hóa đất nước. Khi Cách mạng
Tháng Mười Nga thành công, bước vào xây dựng chế độ mới, V.I.Lênin đã chỉ rõ,
''không có tri thức thì không có chủ nghĩa xã hội'' và Người đã yêu cầu mọi người
phải luôn luôn ''học, học nữa, học mãi".
Bên cạnh đó, nền kinh tế tri thức đang từng bước hình thành, phát triển, trở
thành một xu thế tất yếu chi phối lịch sử phát triển nhân loại. Trong cuốn Thăng trầm
quyền lực, Avin Toffler đã khẳng định: “Con đường quyền lực và phát triển kinh tế
14
của thế kỷ XXI không còn là con đường khai phá phát từ nguyên liệu và gân cốt của
con người. Mà như chúng ta đã thấy là phải vận dụng con đường Tâm Trí mà thôi”
[113, tr. 262]. Nhận thức sâu sắc về sức mạnh của kinh tế tri thức Đảng Cộng sản Việt
Nam khẳng định: “Kinh tế tri thức là nền kinh tế mạng, một nền kinh tế có đặc trưng
là thông tin, tri thức và kỹ năng có thể chuyển đi bất cứ đâu, bất chấp biên giới quốc
gia. Những phương thức quản lý mới, các hình thức kinh doanh mới, những sản phẩm
mới trên thị trường hoàn toàn không có trong nền kinh tế công nghiệp…đã bắt đầu
xuất hiện” [41, tr. 8]. Do đó, phải có nhận thức mới về con đường phát triển quốc gia,
việc cấp bách hiện nay là phải phát triển nhanh giáo dục đặc biệt là giáo dục đại học
nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự CNH, HĐH đất nước. Nền
giáo dục ấy phải đáp ứng được những đòi hỏi gay gắt của xã hội hay nói một cách
khác là phải phù hợp với thực tiễn – đào tạo gắn liền với nhu cầu xã hội và bắt kịp
bước tiến của nhân loại. Đặc trưng rõ rệt nhất của nền kinh tế tri thức, cuộc cách
mạng KH - CN so với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây là các ngành đã
đưa ra các yếu tố là thông tin và tri thức lên hàng đầu, đẩy những yếu tố cạnh tranh
truyền thống như tài nguyên, vốn… xuống hàng thứ yếu, con người trở thành trung
tâm của sự phát triển.
Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của giáo dục với sự phát triển của đất nước,
Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng bổ sung hoàn thiện quan điểm chỉ đạo,
nhằm giải quyết những vấn đề tồn tại, đồng thời đã xây dựng những chiến lược dài
hơi với những mục tiêu dài hạn nhằm xây dựng nền giáo dục đại học Việt Nam hiện
đại, tiên tiến mang đậm bản sắc dân tộc Việt. Đảng Cộng sản Việt Nam xác định để
đạt được mục tiêu của sự nghiệp đổi mới, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
đất nước, đổi mới không chỉ bằng sự nhiệt tình và lòng dũng cảm mà cần phải có
trình độ tri thức khoa học, huy động mọi tài năng sáng tạo và khẳng định: GD – ĐT là
quốc sách hàng đầu. Nhân thức rõ điều đó Đảng và Nhà nước đã ghi nhận một cách
cụ thể, rõ ràng lần lượt qua các bản Hiến pháp.
Trong hai bản hiến pháp đầu tiên tuy giáo dục chưa được quy định trong một chế
định riêng biệt nhưng đã được đề cập đến trong phần quyền và nghĩa vụ của người
công dân.
15
Hiến pháp 1946 vấn đề GD- ĐT đã được đề cập trong điều 15: Nền sơ học
cưỡng bách và không học phí. Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có
quyền học bằng tiếng của mình. Học trò nghèo được Chính phủ giúp. Trường tư được
mở tự do và phải dạy theo chương trình Nhà nước. Tuy chưa được quy định cụ thể
song nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục nên Nhà nước đã ban hành hàng
loạt các văn bản pháp luật như sắc lệnh số 17 ngày 08/9/1945 đặt ra một bình dân học
vụ, sắc lệnh số 19 ngày 08/9/1945 lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp bình
dân buổi tối, sắc lệnh số 20 ngày 08/9/1945 định rằng việc học chữ quốc ngữ từ nay
bắt buộc và không mất tiền, sắc lệnh số 146 ngày 10/8/1946 đặt những nguyên tắc
căn bản của nền giáo dục mới.
Điều 33 Hiến pháp 1959: Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có
quyền học tập. Nhà nước thực hiện từng bước chế độ giáo dục cưỡng bách, phát triển
dần các trường đại học và cơ quan văn hóa phát triển hình thức giáo dục bổ túc văn
hóa, kỹ thuật, nghiệp vụ, tại các cơ quan, xí nghiệp và các tổ chức khác ở thành thị và
nông thôn để bảo đảm cho công dân được hưởng quyền đó.
Đến Hiếp pháp 1980 giáo dục đại học bắt đầu được tách riêng ra và đưa vào
trong một chế định cụ thể, những quy định về giáo dục cũng cụ thể và hoàn thiện hơn,
thể hiện trong điều 41: Sự nghiệp giáo dục do Nhà nước thống nhất quản lý. Nhà
nước chăm lo phát triển cân đối hệ thống giáo dục đại học.
Đến Hiến pháp năm 1992, những quy định cơ bản về giáo dục đã thể hiện rõ
nét tính kế thừa Hiến pháp năm 1980 đồng thời có bước phát triển mới. Tuy chỉ thể
hiện trong hai điều 35 và 36 nhưng những nội dung trong đó là tương đối đầy đủ,
hoàn thiện và sát với yêu cầu thực tế, đó là: Nhà nước phát triển giáo dục nhằm nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Nhà nước thống nhất quản lý hệ
thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu
chuẩn giáo viên, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng. Nhà nước ưu tiên đầu tư cho
giáo dục, khuyến khích các nguồn đầu tư khác. Đặc biệt Hiến pháp năm 1992 đã ghi
nhận “ GD – ĐT là quốc sách hàng đầu”.
Bên cạnh việc tiếp tục khẳng định quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu,
điều 61, Hiến pháp 2013 quy định: Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu
16
tư khác cho phát triển giáo dục đại học. Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu
nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Cùng với đó, từ khi đổi mới đến nay, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan
tâm, tạo điều kiện cho giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng phát triển.
Nhằm nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Điều đó, được cụ thể hóa trong đường lối chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam qua
các kỳ Đại hội, được xem như là nền tảng lý luận sâu sắc về đổi mới phát triển giáo
dục đại học ở Việt Nam hiện nay.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12 – 1986) của Đảng Cộng sản Việt
Nam là dấu mốc quan trọng trong chặng đường phát triển của dân tộc Việt Nam. Đại
hội đề ra đường lối đổi mới toàn diện, sâu sắc trên tất cá các lĩnh vực của đời sống xã
hội, trong đó có GD - ĐT nói chung, giáo dục đại học nói riêng.
Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (tháng
01/1993) về “tiếp tục đổi mới sự nghiệp GD - ĐT” đã khẳng định quan điểm: “GD ĐT cùng với KH - CN được xem là quốc sách hàng đầu. Coi đầu tư cho GD - ĐT là
một trong những hướng chính của đầu tư phát triển”[41, tr. 159].
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) Đảng Cộng sản Việt Nam
“chủ trương phát triển mạnh mẽ sự nghiệp GD - ĐT, cùng với khoa học là quốc sách
hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Coi trọng cả
quy mô, chất lượng và hiệu quả GD - ĐT, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu
CNH, HĐH”[20, tr. 596].
Vì vậy, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi phát triển nguồn nhân lực là
nhiệm vụ hàng đầu là khâu đột phá của nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay. Trong
chiến lược phát KT - XH 2001- 2010 và chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn
2011 – 2020 đã xác định rõ vai trò của phát triển nguồn nhân lực và khẳng định:
"Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao là
một đột phá chiến lược"(Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020). Nguồn nhân
lực chất lượng cao là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy CNH, HĐH, là
yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng nhanh và bền vững” và nguồn nhân
lực là yếu tố quyết định sự phát triển trong quá trình CNH, HĐH đất nước. Tuy nhiên,
để có nguồn nhân lực chất lượng cao cần có một hệ thống giáo dục phát triển.
17
Đặc biệt là giáo dục đại học là khâu thiết yếu quan trọng có nhiệm vụ đào tạo nguồn
nhân lực có trình độ cao.
Giáo dục đại học có vị trí đặc biệt trong hệ thống giáo dục quốc dân là nhân tố
nòng cốt trong đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao để thỏa mãn nhu cầu phát triển xã
hội, nên hầu hết các nước trong khu vực và trên thế giới, nhất là các nước có nền kinh
tế phát triển luôn quan tâm đến giáo dục đại học, tạo những điều kiện thuận lợi để
giáo dục đại học có điều kiện phát triển tốt nhất. Do đó, nội dung chương trình giảng
dạy, phương pháp giáo dục đại học luôn luôn phải thay đổi để cung cấp, cập nhật tri
thức mới tiến bộ của nhân loại cho người học, đáp ứng yêu cầu phát triển mới của xã
hội – giáo dục phải gắn liền với nhu cầu của xã hội, giáo dục phải đi sâu, đi sát với
thực tế, nắm bắt những đòi hỏi của thực tế, đồng thời có dự báo trong tương lai. Đó là
một nền giáo dục linh hoạt, một nền giáo dục mở, đảm bảo được yêu cầu trên giáo
dục mới giải quyết được bài toán phát triển ở mỗi quốc gia.
Tuy nhiên, mỗi nước cần có những bước đi đúng đắn, phù hợp với điều kiện
hoàn cảnh thực tế của mình, đảm bảo rằng quốc gia đó không bị “tụt hậu” trong thế
giới đang biến đổi không ngừng. Từ những kinh nghiệm rút ra từ các nước đi trước,
căn cứ vào xu thế phát triển của nhân loại và thực tiễn Việt Nam, Đảng, Nhà nước
Việt Nam luôn quan tâm, tạo điều kiện cho giáo dục phát triển, đặc biệt là giáo dục
đại học, nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH
đất nước. Quan điểm chỉ đạo về phát triển giáo dục trong tình hình mới có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn sâu sắc.
1.2. Về thực tiễn
Thế kỷ XXI được đánh dấu với sự phát triển vô cùng mạnh mẽ của lực lượng
sản xuất. Sự nhảy vọt của những thành tựu KH - CN đã đưa loài người tiến những
bước dài hơn trong tiến trình phát triển lịch sử của mình. KH - CN phát triển như vũ
bão đã và đang làm cho hàm lượng tri thức trong mỗi sản phẩm chiếm tỷ lệ ngày càng
cao, giá trị sản phẩm chủ yếu dựa trên giá trị tri thức tạo ra nó. Thực tiễn đó đòi hỏi
các quốc gia cần phải đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu tiến tiến của
khoa học công nghệ vào trong quá trình sản xuất để nâng cao năng suất lao động.
Hiện nay, loài người đã bước vào nền văn minh tri thức, kỷ nguyên thông tin.
Tính trung bình cứ 7 năm tri thức loài người tăng gấp đôi. Như vậy, một phép tính
đơn giản là sau 4 năm đại học, kiến thức của người học đã lạc hậu tới 50%. Sự bùng
18
nổ thông tin đã làm đảo lộn mục tiêu giáo dục truyền thống, đặc biệt là mục tiêu của
giáo dục đại học mà cốt lõi là chuyển từ chủ yếu đào tạo kiến thức kỹ năng sang chủ
yếu đào tạo năng lực. Điểm chốt này cũng dẫn đến từng người chúng ta không chỉ
học khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn có cơ hội học tập suốt đời tạo dựng một
xã hội học tập.
Những tiến bộ của KH - CN và cuộc cách mạng thông tin đang làm thay đổi
phương pháp dạy và phương pháp học một cách sâu sắc, thúc đẩy nhanh tốc độ toàn
cầu hóa. Việc bùng nổ KH - CN đã làm cho công nghệ viễn thông, công nghệ điện tử,
công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ Nano…phát triển với tốc độ
cao. Điều đó đã làm cho lượng thông tin tăng với cấp số nhân, nhu cầu thông tin của
mỗi cá nhân, tổ chức tăng lên với cấp số mũ, tốc độ truyền tin tăng theo cấp lũy thừa.
Không chỉ vậy, sự phát triển của KH - CN còn làm phong phú các hình thức truyền
tin: sách, báo, phát thanh, truyền hình, internet,… Do đó, tri thức nhân loại không
ngừng được mở rộng.
Minh chứng cho những tiến bộ vượt bậc của KH - CN là sự thành công trong
việc ứng năng lượng nguyên tử vào trong sản xuất, làm cho năng suất lao động xã hội
được nâng lên rõ rệt. Việc xây dựng các nhà máy điện chạy bằng năng lượng hạt
nhân, chế tạo những tàu thủy phá băng dùng năng lượng nguyên tử hay việc ứng dụng
công nghệ mới vào chữa bệnh, phát triển cây trồng. Những thành tựu của công nghệ
sinh học đã tạo một bước ngoặt trong các lĩnh vực nông nghiệp, y học, dược học…đã
góp phần không nhỏ vào việc đưa nền kinh tế công nghiệp sang giai đoạn mới giai
đoạn hậu công nghiệp, giai đoạn văn minh thông tin giai đoạn của nền kinh tế tri
thức. Ai giữ và nắm được nền kinh tế tri thức sẽ là người thắng cuộc trong sân chơi
quốc tế. Kinh tế tri thức đã và đang trở thành dòng thác lớn không gì ngăn nổi, là xu
hướng tất yếu của thời đại, bất cứ cá nhân, tổ chức, quốc gia nào có đầy đủ tri thức,
thông tin sẽ có cơ hội làm giàu và chiến thắng. Vì vậy, thông tin, tri thức là cơ sở của
quyền lực mới về chính trị và kinh tế thế giới đương đại; là kim chỉ nam cho mỗi
quốc gia, dân tộc, cá nhân trên con đường khẳng định mình trong tương lại.
Nhìn lại lịch sử nhân loại thế kỷ XX, sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ là
nước khởi đầu cuộc cách mạng KH - CN hiện đại và đạt được nhiều thành tựu to lớn,
điều đó đã góp phần không nhỏ tạo động lực cho nền kinh tế phát triển và kết quả Mỹ
19
vươn lên trở thành siêu cường số một thế giới về kinh tế, quân sự... Mỹ là nước đi đầu
trong các lĩnh vực chế tạo công cụ sản xuất mới (máy tính điện tử, máy tự động), vật
liệu mới (pôlime, vật liệu tổng hợp), năng lượng mới (năng lượng nguyên tử, năng
lượng nhiệt hạch), chinh phục vũ trụ, và đi đầu trong cuộc cách mạng xanh trong
nông nghiệp… Các nước tư bản chủ nghĩa trước hết là Mỹ, đã rất năng động trong
việc ứng dụng các thành tựu của cuộc cách mạng KH - CN để phát triển KT - XH. Sự
tận dụng hiệu quả các thành tựu của cuộc cách mạng KH - CN hiện đại cùng với tính
năng động của nhiều nước tư bản chủ nghĩa kết quả là những nước này đã đạt được
những bước đột phá. Lý do là họ đã giải quyết thấu đáo bài toán giữa tăng trưởng
kinh tế với nâng cao dân trí. Một ví dụ khác là, năm 1957, Liên Xô đã làm cả thế giới
kinh ngạc khi phóng thành công vệ tinh nhân tạo, đã mở ra một kỷ nguyên công nghệ
mới cho loài người. Tiếp sau đó, Iu.Gagarin đã bay vòng quanh trái đất trên con tàu
vũ trụ mà con người sáng tạo ra, rồi hai phi hành gia người Mỹ đặt chân lên mặt
Trăng. Những sự kiện vĩ đại ấy nói lên rằng, con người đã sáng tạo ra được công
nghệ mới phục vụ cuộc sống của loài người, con người có thể chinh phục được thế
giới và ước mơ đó có thể thực hiện được.
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là xu hướng khách quan. Đó là quá trình vừa
hợp tác vừa đấu tranh của các quốc gia trên thế giới để bảo vệ lợi ích quốc gia dân
tộc. Cạnh tranh kinh tế ngày càng diễn ra quyết liệt, vì vậy, các quốc gia cần thường
xuyên đổi mới công nghệ để tăng năng suất lao động. Điều đó đã và đang tạo ra
những áp lực mới, gay gắt hơn đối với GD - ĐT, nhất là giáo dục đại học. Giáo dục
đại học với tư cách là bậc học cao nhất, nơi tiếp thu ở trình độ cao nhất các thành tựu
KH - CN được đặc biệt đề cao, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của một
quốc gia. Phát triển giáo dục được xem là nhiệm vụ trọng tâm của chiến lược phát
triển KT - XH ở mỗi quốc gia, các quốc gia đều ưu tiên đầu tư cho giáo dục, xem đầu
tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai, đầu tư cho phát triển, là chìa khóa để đi tới
thành công.
Vì vậy, bất kỳ quốc gia nào đặc biệt là các nước đang phát triển, nếu biết đề
cao yếu tố tri thức và thông tin, bỏ qua những bước phát triển tuần tự, mạnh dạn
chuyển sang bước phát triển mới, tập trung phát triển các ngành công nghệ cao, công
nghệ sản xuất mới, dựa vào quần chúng nhân dân để tiến hành công nghiệp hóa thì có
20
thể rút ngắn thời gian hóa hiện đại hóa của mình. Thực tế cho thấy, nhiều quốc gia đã
“cất cánh” do ứng dụng thành công, có hiệu quả những thành tựu của cuộc cách mạng
KH - CN như Nhật Bản, Hàn Quốc... Đó là minh chứng rõ nét nhất cho việc cần thiết
phải thay đổi tư duy, cách làm cũ mà thay vào đó là mạnh dạn ứng dụng cái mới, phương
thức mới để phát triển đất nước. Để làm được điều đó, thiết nghĩ không còn con đường
nào khác ngoài con đường phát triển GD - ĐT, trọng tâm là giáo dục đại học.
Ngày nay, đổi mới giáo dục đại học đang diễn ra trên quy mô toàn cầu, đó là
một xu thế tất yếu của thời đại. Hầu hết các nước trên thế giới, nhất là các nước phát
triển đều tiến hành cải cách hệ thống giáo dục đại học. Mặt khác, một xu thế là hiện
nay các trường đại học trên thế giới đang tiến hành quá trình tự biến đổi, để trở thành
những trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học, sản xuất, chuyển giao công nghệ và
xuất khẩu tri thức chứ không đơn thuần chỉ là một trung tâm đào tạo như truyền
thống.
“GD - ĐT đang trở thành yếu tố quyết định là ưu tiên hàng đầu trong chính
sách phát triển của mỗi quốc gia. Nhật Bản là một trong những nước đi đầu trong
hoạt động giáo dục đào tạo. Là quốc gia nghèo tài nguyên thiên nhiên, để phát triển
Nhật Bản chỉ có thể trông chờ vào chính mỗi người dân. Nhận thức được điều đó,
Chính phủ Nhật Bản đặc biệt chú trọng đến GD - ĐT, coi đây là quốc sách hàng đầu”
[75, tr. 478]. Xingapo được biết tới như là một con rồng của châu
Á Cũng giống như nhiều nước khác trên thế giới, Xingapo đang chuyên dần sang
chiến lược dựa vào tri thức để phát triển kinh tế, đặc biệt là thương mại hóa tri thức
để tạo ra giá trị gia tăng cao. Là quốc gia có diện tích nhỏ, tài nguyên thiên nhiên
khan hiếm, tuy nhiên, lại được thừa hưởng và phát triển từ hệ thống giáo dục lâu đời
của Anh. “Xingapo đặt nền giáo dục là yếu tố chủ chốt trong sự lớn mạnh và phát
triển xã hội”[75, tr. 505].
Sau gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu có ý nghĩa
lịch sử to lớn, với vị thế và diện mạo mới. Kinh tế có bước phát triển, chính trị ổn
định, quốc phòng, an ninh được giữ vững. Tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức hợp lý,
từ năm 2013 dần phục hồi, năm sau cao hơn năm trước, “tăng trưởng GDP năm 2011
đạt 6,24%, năm 2012: 5,25%, năm 2013: 5,42%, năm 2014: 5,98% và kế hoạch năm
2015 là 6,5%. Tốc độ tăng Tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình
21
quân 5 năm đạt 5,825/năm. Quy mô và tiềm lực của nền kinh tế tiếp tục tăng lên;
GDP năm 2015 đạt khoảng 204 tỷ USD, bình quân đầu người khoảng 2.200 USD”[8,
tr. 2].
Mới đây ngày 29 tháng 5 năm 2015, tại Kazakhstan, Thủ tướng Nguyễn Tấn
Dũng cùng Thủ tướng các nước thành viên Liên minh Kinh tế Á-Âu, bao gồm Nga,
Armenia, Belarus, Kazakhstan và Kyrgyzstan đã ký chính thức Hiệp định Thương
mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á-Âu…Bên cạnh những cơ hội lớn, là
bàn đạp để thúc đẩy phát triển thương mại và đầu tư vào Việt Nam thì cũng còn nhiều
khó khăn nhất định mà Việt Nam phải đối mặt trong sân chơi quốc tế khi Việt Nam
ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới là sự cạnh tranh gay gắt từ các quốc
gia trên thế giới và khu vực, đặc biệt là từ các quốc gia có trình độ phát triển cao.
Đặc biệt năm 2015 khi Hiệp định thương mại tự do khu vực ASEAN được hoàn
tất thì áp lực cạnh tranh lại càng lớn. Để giải quyết bài toán phát triển đất nước, không
còn con đường nào khác là phải đầu tư cho phát triển giáo dục bậc cao, đào tạo nguồn
nhân lực có chất lượng, đủ sức để cạnh tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Những năm tới là giai đoạn kinh tế Việt Nam phục hồi, lấy lại đà tăng trưởng
sau thời kỳ suy thoái, việc cấu trúc lại nền kinh tế để phát triển nhanh, bền vững là rất
quan trọng. Sau đổi mới năm 1986, diện mạo Việt Nam có nhiều thay đổi, thế và lực
vững mạnh hơn nhiều. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên, đã và
đang tạo ra những tiền đề quan trọng thúc đẩy hội nhập quốc tế, đẩy nhanh CNH,
HĐH và nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân. Năm năm tới là thời kỳ Việt Nam
thực hiện đầy đủ các cam kết trong Cộng đồng ASEAN và WTO, tham gia các hiệp
định thương mại tự do, hội nhập quốc tế ở mức sâu rộng hơn giai đoạn trước, đòi hỏi,
Đảng, Nhà nước và nhân dân ta phải nỗ lực rất cao để tận dụng thời cơ, vượt qua
thách thức trong quá trình hội nhập.
Tuy nhiên, những thành tựu đạt được là chưa tương xứng với tiềm năng hiện có,
Việt Nam vẫn đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn
biến phức tạp. Nguy cơ tụt hậu về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới
vẫn tồn tại, bẫy nghèo đói vẫn luôn rình rập. Các lĩnh vực văn hóa xã hội, có một số mặt
yếu kém chậm được khắc phục, nhất là về GD - ĐT và y tế…Trong khi đó, chuyển dịch
22
cơ cấu kinh tế còn chậm, tỷ trọng dịch vụ và công nghiệp trong Tổng thu nhập quốc
dân (GDP) còn thấp, tỷ trọng nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ cao. Quản lý nhà nước của
nhà nước đối với nhiều lĩnh vực KT - XH còn chưa hiệu quả, trong đó có quản lý về
giáo dục đại học.
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra chủ trương đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước và xây dựng nền kinh tế hàng hóa, nhiều thành phần theo định
hướng xã hội chủ nghĩa (nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa). Giáo
dục đại học đã trở thành một ngành sản xuất đặc biệt – sản xuất nguồn nhân lực và
cũng tuân theo quy luật cạnh tranh của nền kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường tạo
nên một môi trường cạnh tranh đòi hỏi phải đào tạo nguồn nhân lực có số lượng, chất
lượng và hiệu quả cao.
Tri thức ngày nay đã trở thành lực lượng sản xuất chủ yếu, trực tiếp tham gia
vào tất cả các khâu trong mọi hoạt động đời sống xã hội. Cuộc cách mạng công nghệ
ngày càng phát triển, những thế mạnh tương đối về nguồn lao động đơn giản hoặc tay
nghề thấp sẽ dần mất đi ý nghĩa của nó và lợi thế sẽ thuộc về quốc gia nào có nguồn
nhân lực trí tuệ cao, có kỹ năng vững vàng, có khả năng sáng tạo theo kịp sự phát
triển của khoa học công nghệ hiện đại. Nên giáo dục đại học cần phải gắn bó chặt chẽ
hơn nữa với thực tế sản xuất và đời sống. Thực hiện phương châm học đi đối với
hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với đời sống xã
hội. Vì đầu tư vào giáo dục là đầu tư thông minh nhất, đem lại hiệu quả cao nhất.
Đánh giá đúng vị trí, vai trò của GD - ĐT trong sự nghiệp đổi mới đất nước,
Đảng, Nhà nước Việt Nam đã khẳng định: GD - ĐT là quốc sách hàng đầu trong quá
trình đổi mới và hội nhập thế giới. Do đó, tiến hành sự nghiệp đổi mới từ năm 1986
đến nay, Việt Nam luôn có sự quan tâm đặc biệt tới giáo dục nói chung và giáo dục
đại học nói riêng. Nhằm đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực trình độ cao phục vụ yêu
cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Toàn cầu hóa là xu thế phát triển khách quan
đã và đang lôi cuốn nhiều nước tham gia vào sân quốc tế này, mở ra những vận hội và
thách thức mới cho các quốc gia dân tộc. Đối với Việt Nam, hội nhập quốc tế đã tạo
điều kiện cho giáo dục đại học Việt Nam phát triển, hội nhập, hiện đại hóa, vươn lên
đạt chuẩn mực so với các nước trong khu vực và trên
23
thế giới, chỉ có GD - ĐT mới biến gánh nặng dân số của Việt Nam trở thành lợi thế so
sánh của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Vì trong nền kinh tế mới nguồn
nhân lực chất lượng cao là cơ sở căn bản, nguồn lực quyết định sự phát triển, đồng
thời rút ngắn khoảng cách với các nước, khai thác được những tiềm năng của toàn
cầu hóa mang lại.
Mặt khác, hội nhập quốc tế cũng đặt ra những thách thức lớn đối với Việt
Nam, đó là giải quyết bài toán phát triển đất nước đi đôi với giữ vững độc lập, tự chủ
trong quá trình hội nhập quốc tế, hội nhập quốc tế cũng nảy sinh những tiêu cực mới
do chủ nghĩa thực dụng, làm xói mòn truyền thống đạo đức, bản sắc văn hóa dân tộc
Việt Nam. Hơn lúc nào hết, cần có những giải pháp phát huy truyền thống quý báu
của cha ông, giữ gìn bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Trong đó nhấn mạnh vai trò
của ngành giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học là chìa khóa để giải quyết vấn đề giáo dục đại học có vị trí, vai trò quan trọng trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc.
Sau nhiều năm phát triển, giáo dục đại học Việt Nam đã có bước tiến nhất định và
đạt được những thành tựu bước đầu. Quy mô giáo dục đại học tăng nhanh, các loại hình
đào tạo được phát triển, bao gồm các đại học quốc gia, đại học khu vực đa ngành, đa lĩnh
vực, các trường đại học và cao đẳng dân lập. Cơ cấu đào tạo đại học với ba cấp chính là
cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ được xác lập, phù hợp với sự phát triển KT - XH nước ta và
hội nhập khu vực, thế giới. Mục tiêu chương trình đào tạo đại học được cải tiến dần dần.
Cơ sở vật chất các trường đại học bước đầu được tăng cường.
Mặc dù đã đạt được những thành công đáng khích lệ nhưng giáo dục đại học Việt
Nam vẫn đang tồn tại nhiều nhiều yếu kém, bất cập. Điểm nổi bật là chất lượng đào tạo
còn rất yếu, việc đào tạo đại học còn ít gắn với sản xuất và đời sống, với nghiên cứu
khoa học. Phương pháp dạy học còn lạc hậu, chưa phát huy tính chủ động, tư duy sáng
tạo của người học. Giáo dục trí lực chưa kết hợp nhuần nhuyễn với trau dồi đạo đức. Đội
ngũ nhà giáo đại học vừa thiếu lại vừa yếu. Hệ thống thi cử còn nặng nề, kém khoa học,
đặc biệt là thi tuyển đại học. Những hiện tượng tiêu cực trong thi cử, trong quản lý văn
bằng còn phổ biến gây bức xúc trong xã hội, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục còn những
nếp nghĩ, cách làm giống vài chục năm trước đây, điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến
sự phát triển chung của toàn ngành giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học. Những yếu
24