Tải bản đầy đủ (.pdf) (3 trang)

Tính nhạc trong ví giặm Nghệ Tĩnh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (156.27 KB, 3 trang )

XỨ NGHỆ - ĐẤT VÀ NGƯỜI

TÍNH
NHẠC
TRONG
VÍ GIẶM
NGHỆ
TĨNH

Lễ đón bằng công nhận dân ca Ví Giặm Nghệ Tĩnh
là di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại

Tồn tại trong không gian và thời
gian, được gọt dũa bởi bao thế hệ
người lao động Nghệ Tĩnh, ngôn ngữ
ví giặm thực sự có nhiều nét độc đáo
và tinh tế. Có thể nói, ngôn ngữ ví
giặm đã kết tụ những đặc điểm tinh
tuý nhất của tiếng Việt: vừa có cả
những cách nói óng ả, trau chuốt của
ngôn ngữ văn học dân tộc, vừa vận
dụng một cách tự nhiên, linh hoạt thứ
ngôn ngữ thô mộc địa phương.
Dễ dàng nhận ra, ví giặm Nghệ
Tĩnh, dù tồn tại trong không gian diễn
xướng hay đọc lên thành tiếng từ các
văn bản mà người đời sau sưu tầm thì
âm hưởng vẫn vang lên từ mặt âm
thanh của nó. Đó chính là tính nhạc
của ví giặm Nghệ Tĩnh, tức là những
phẩm chất âm thanh trong ngôn từ ví


giặm có phẩm chất của âm thanh
trong âm nhạc, là cơ sở để tạo nên
một số hình thức diễn tả tương tự như
trong âm nhạc. Tuy nhiên, cần phải đi
đến tận cùng câu hỏi, tính nhạc được
biểu hiện như thế nào trong ví giặm
Nghệ Tĩnh. Bài viết này góp phần trả
lời cho câu hỏi đó.

SỐ 2/2015

n TS. Nguyễn Hoài Nguyên
Trường Đại học Vinh

1. Biểu hiện tính nhạc trong ví giặm Nghệ Tĩnh
1.1. Nói đến tính nhạc, hai yếu tố phải xem xét đầu tiên
là âm vực và âm điệu. Âm vực thực chất là sự đối lập về
cao độ. Trong ngữ âm tiếng Việt, đó là sự đối lập giữa âm
tiết cao (bổng) và âm tiết thấp (trầm), tựa như các nốt nhạc
cao/thấp trong âm nhạc. Tính chất cao thấp của âm tiết
tiếng Việt lại do thanh điệu đảm nhiệm. Đó là sự đối lập
các thanh cao: thanh ngang, thanh ngã, thanh sắc và các
thanh thấp: thanh huyền, thanh hỏi, thanh nặng. Do đó,
nếu tổ chức có chủ ý các âm tiết mang thanh điệu cao/thấp
thì hiệu quả của sự đối lập âm vực càng bộc lộ rõ.
Cùng với âm vực, yếu tố giai điệu cũng hết sức quan
yếu trong âm nhạc. Nếu chỉ đối lập âm vực không thôi thì
chưa thành âm nhạc. Trong phạm vi một âm tiết chứa
thanh điệu, sự biến thiên âm vực theo thời gian gọi là âm
điệu. Còn trong một ngữ đoạn, sự biến thiên âm vực theo

thời gian gọi là ngữ điệu. Hai yếu tố âm điệu và ngữ điệu
tựa như giai điệu trong âm nhạc, do vậy, chúng có vai trò
rất quan yếu trong tổ chức âm nhạc. Sự đối lập âm điệu
trong âm tiết tiếng Việt chính là sự đối lập giữa thanh bằng
(thanh ngang, thanh huyền) và thanh trắc (thanh ngã,
thanh hỏi, thanh sắc, thanh nặng). Sự luân phiên bằng/trắc
trong các ngữ đoạn tạo nên giai điệu.
Trong ví giặm Nghệ Tĩnh, hai yếu tố âm vực và âm
điệu được thể hiện khá rõ ràng: chúng phối hợp, hỗ trợ
cho nhau để xác định tính nhạc. Chẳng hạn, đây là sự phân
bố bằng (B)/trắc (T), cao (c)/thấp (t) ở một khổ trong bài
hát giặm:
Nhớ (Tc) thuốc (Tc) gói (Tc), trầu (Bt) cơi (Bc)
Tạp chí

KH-CN Nghệ An

[49]


XỨ NGHỆ - ĐẤT VÀ NGƯỜI
Nhớ (Tc) thuốc (Tc) mở (Tt), trầu (Bt) mời (Bt)
Mới (Tc) vắng (Tc) mặt (Tt) một (Tt) hồi (Bt)
Trong (Tc) rọt (Tt) đã (Tc) nóng (Tc) sôi (Tc)
Trên (Bc) trán (Tc) đổ (Tt) mồ (Bt) hôi (Bc)
Ra (Bc) ngóng (Tc) đất (Tc) ngó (Tc) trời (Bt)
Ra (Bc) ngóng (Tc) ngược (Tc) ngó (Tc) xuôi (Bc)
Nước (Tc) uống (Tc) nỏ (Tt) muốn (Tc) rót (Tc)
Cơm (Bc) ăn (Bc) nỏ (Tt) muốn (Tc) nhơi (Bc)
Ta thấy, các âm tiết trắc, cao/thấp xuất hiện dày đặc, cho

nên, các câu thơ phải đọc một hơi, không nghỉ như niềm yêu
đang dồn nén, đang dâng trào trong tâm tư. Hai câu mở đầu
sử dụng biện pháp lặp (lặp mô hình câu, lặp từ, lặp khuôn
nhịp) nhưng có sự đối lập trắc cao (gói)/trắc thấp (mở), bằng
cao (cơi)/bằng thấp (mời) ở những âm tiết cuối nhịp nhằm tạo
tiết tấu chung cho đoạn thơ: nhanh, gấp gáp. Cao trào là câu
thơ gần cuối khổ Nước uống nỏ muốn rót gồm 5 âm tiết trắc,
trong đó, chen giữa 4 âm tiết trắc, cao (nước, uống, muốn rót)
là một âm tiết trắc thấp (nỏ) như tiếng nấc nghẹn ngào chứa
chan niềm thương, nỗi nhớ đang dâng.
Hát giặm (thường là thơ 5 chữ), hát ví (thường theo thể lục
bát) thể hiện khá phong phú về giai điệu do sự phân bố đối
lập và/hoặc hài hòa bằng trắc. Còn những bài theo thể thơ tự
do thì có sự biến hóa đa dạng hơn. Trong những trường hợp
như thế, ngữ điệu của câu thơ đóng vai trò quan trọng trong
việc tạo tính nhạc. Chẳng hạn, so sánh giai điệu 2 bài hát ví
dưới đây:
- Đi (Bc) qua (Bc) nghe (Bc) tiếng (Tc) em (Bc) reo (Bc)
Nghe (Bc) xa (Bc) em (Bc) kéo (Tc) muốn (Tc) đeo (Bc)
em (Bc) về (Bt)
- Anh (Bc) nghe (Bc) em (Bc) đau (Bc) đầu (Bt) chưa (Bc)
khá (Tc)
Anh (Bc) băng (Bc) ngàn (Bt) bẻ (Tt) lá (Tc) em (Bc) xông (Bc)
Biết (Tc) mần (Bt) răng (Bc) cho (Bc) đó (Tc) vợ (Tt) đây
(Bc) chồng (Bt)
Đổ (Tt) mồ (Bt) hôi (Bc) ra (Bc) thì (Bt) anh (Bc) chận
(Tt) ngọn (Tt) gió (Tc) nồng (Bt) anh (Bc) che (Bc).
Ở bài hát ví là một cặp lục bát, các âm tiết trắc tiếng (câu
lục), kéo, muốn (câu bát) là những vị trí nhấn mạnh (nốt nhấn)
trên cái nền âm điệu cao vút, du dương của 11 âm tiết bằng,

trong đó có 10 bằng cao. Dễ nhận ra, tuy tỷ lệ không cân xứng
nhưng vẫn đảm bảo sự hài hòa bằng trắc, diễn tả tiếng reo vui,
náo nức, si mê của lòng trai đang yêu.
Còn ở bài hát ví theo thể tự do, sự luân phiên bằng/ trắc,
sự phân bố cao/ thấp biến thiên đa dạng bởi không bị ràng
buộc âm luật, do đó, tạo được sự phong phú, đa dạng về giai
điệu. Các âm tiết bằng xuất hiện dày đặc làm khung âm điệu
mượt mà, thướt tha cho bài hát ví, nhưng trên cái nền âm điệu
ấy xuất hiện những nốt nhấn cao/thấp (chủ yếu âm vực cao)
từ các âm tiết trắc đan xen. Các âm tiết trắc xuất hiện theo
hướng tăng dần, phân bố ở các vị trí hết sức quan trọng trong
các câu thơ: câu mở đầu có một âm tiết trắc (khá) ở cuối, câu
tiếp theo có 2 âm tiết trắc (bẻ, lá) ở giữa, câu thứ ba có 3 âm
tiết trắc (biết, đó, vợ) ở đầu và giữa, câu cuối có 4 âm tiết trắc
SỐ 2/2015

(đổ, chận, ngọn, gió) ở đầu và giữa. Sự phân
bố có chủ ý đó tạo nên âm hưởng trầm bổng
cho bài hát ví.
1.2. Nhạc điệu ví giặm còn được hình
thành từ hiệp vần và ngắt nhịp
Về hiệp vần, do hầu hết các bài ví giặm
sáng tác theo thể lục bát (ví), hoặc ngũ ngôn
(giặm) nên các câu bao giờ cũng kết dính với
nhau bằng cách hiệp vần ở những vị trí nhất
định. Đó là kiểu vần lưng ở hát ví. Chẳng hạn:
Bao giờ Hồng Lĩnh đá mòn/ Hoành Sơn mây
phủ, dạ còn nhớ anh... Đó là vần chân ở hát
giặm. Chẳng hạn: Dù biển cạn đá mòn/ Dạ
sắt với lòng son/ Biết khi mô (nào) phai lạt

(nhạt)/ Biết thủa nào phai lạt... Cách hiệp vần
trong ví giặm hầu hết là vần chính (đồng nhất
hoàn toàn ở các yếu tố thanh điệu, âm cuối,
âm chính), chỉ có một ít vần thông, do đó,
chức năng hòa âm của vần phát huy tối đa.
Trong nhiều trường hợp, ngay các âm tiết
(tiếng) trong câu cũng bắt vần với nhau gia
tăng âm hưởng cho câu ví giặm. Chẳng hạn:
Đi qua nghe tiếng em reo/ Nghe xa em kéo
muốn đeo (đem) em về; ngoài cặp vần lưng
trong reo/đeo còn có các âm tiết bắt vần:
qua/xa, nghe/về, reo/kéo/đeo. Hay: Đôi đụa
(đũa) sơn son/ Gắp hòn tro đỏ/ Bỏ vô cơi
vàng/ Đến đây xa xạ (xã) ngái làng/ Ước
răng (sao) cho được con phượng bắc ngang
con rồng. Bài ví phường vải hợp thể này,
ngoài các âm tiết hiệp vần theo nguyên tắc thi
ca son/hòn, vàng/làng/ngang, còn có hàng
loạt âm tiết cũng bắt vần đụa/ tro/ đỏ/ bỏ/ vô/
cho, cơi/ đây/ ngái, làng/ răng/ ngang, ước/
được/ bắc ríu vào nhau tạo nên âm điệu thiết
tha, da diết, qua đó bộc lộ nội dung câu ví.
Nhạc tính của ví giặm còn được hình
thành từ ngắt nhịp (ngừng giọng) trong từng
câu, từng bài. Trong ví giặm Nghệ Tĩnh, ngắt
nhịp không chỉ thực hiện chức năng phân giới
các thành phần câu, các câu mà còn thực hiện
chức năng duy trì nhạc tính, qua đó tăng thêm
sức mạnh biểu đạt ý nghĩa, góp phần thể hiện
nội dung các câu ví giặm. Do đó, ngoài việc

tổ chức nhịp theo thi pháp thể loại (nhịp chẵn
2/2/2 và 2/2/2/2 lục bát trong ví, nhịp 3/2 ngũ
ngôn trong giặm), ngắt nhịp trong ví giặm
Nghệ Tĩnh không phải bao giờ cũng suôn sẻ,
êm đềm mà biến thiên đa dạng theo cảm hứng
của chủ thể trữ tình, từ đó làm nên các phức
điệu. Chẳng hạn: Đừng/ cờ/ cờ/ bạc/ bạc//
Đừng/ rượu/ rượu/ chè/ chè// Đừng/ rủ bạn/
rủ bè// Đừng/ nghe mồm thiên hạ// Chớ/ nghe
Tạp chí

KH-CN Nghệ An

[50]


XỨ NGHỆ - ĐẤT VÀ NGƯỜI
mồm thiên hạ (Hát giặm). Trong một khổ năm câu, mỗi
câu có nhịp biến thiên khác nhau: nhịp 1/1/1/1/1 (câu 1
và 2), nhịp 1/2/2 (câu 3), nhịp 1/4 (câu 4 và 5). Hay: Một/
là duyên/ là nợ// Hai/ tại mẹ/ tại thầy// Ba/ tại số ai đây//
Cho duyên rày áy náy// Cho phận rày áy náy (Hát giặm).
Những dẫn cứ này cho ta thấy nhịp trong ví giặm gồ ghề,
đa dạng như cuộc sống gian khó của người lao động Nghệ
Tĩnh vậy.
1.3. Cuối cùng, hiện tượng điệp âm ở các cấp độ cũng
tạo nên tính nhạc trong ví giặm Nghệ Tĩnh
Tính nhạc được hình thành từ điệp âm đầu. Chẳng
hạn: Biết là chắc chắn chi chăng/ Giơ tay ta chỉ bóng
trăng ta thề (hát ví). Âm đầu ch trong bốn âm tiết chắc

chắn chi chăng (ở câu lục) hình thành tiết tấu chậm nhưng
dứt khoát, một kiểu âm điệu nhấn nhá, thắc thỏm.
Hay: Một tại duyên tại số/ Hai tham lắm thời thâm/
Đã lừa lắm thời lầm/ Đoạn trường rồi mới biết (hát
giặm). Âm đầu th trong các âm tiết tham, thời, thâm, kết
hợp với âm đầu l trong lừa, lắm, lầm giống như những
nốt luyến láy trong âm nhạc. Với cách điệp âm đầu, hai
câu thơ giữa khổ thơ không thể đọc nhanh mà phải đọc
chậm theo cái nhạc điệu buồn cứ lan ra, thấm dần vào
tâm can người đọc, mang chứa một triết lí nhân nào quả
ấy nhuốm màu sắc Phật giáo.
Có trường hợp, cách điệp âm đầu trong ví giặm không
chỉ mang đến những xúc cảm mạnh mẽ về mặt thính giác
mà còn gửi đến người nghe một thông điệp nhân văn, ấm
áp tình người. Chẳng hạn: Anh ơi, mời anh vô nhà/ Đừng
đứng ngoài ngõ sương sa lạnh lùng (hát ví). Cái nhịp đôi
lục bát cộng hưởng làm nổi rõ các âm đầu được lặp lại
đều đặn ở câu bát đ/đ (đừng đứng), ng/ng (ngoài ngõ),
s/s (sương sa), l/l (lạnh lùng) tạo âm hưởng trầm bổng
diễn tả lời thủ thỉ tâm tình của người con gái. Cái tài của
tác giả dân gian Nghệ Tĩnh không chỉ đưa âm nhạc vào
ví giặm mà còn dùng nhạc điệu của ngôn ngữ để tạo hình.
Điệp vần cũng là một yếu tố góp phần tạo nhạc điệu
cho ví giặm. Hiện tượng điệp vần xuất hiện dày đặc trong
các bài ví giặm Nghệ Tĩnh. Có khi, điệp vần xuất hiện ở
câu lục. Chẳng hạn, đó là vần ơi trong các âm tiết (tiếng)
ơi, mời, chơi: Anh ơi, mời anh chơi nhà/ Võng đào ra
rước, chiếu hoa trải ngồi (hát ví). Có khi, điệp vần xuất
Tài liệu trích dẫn


hiện ở câu bát. Chẳng hạn, đó là vần o trong các
âm tiết (tiếng) có, đó, vô: Lắng tai nghe tiếng ai
mô/ Có phải chàng đó mời vô ăn trầu (hát ví).
Nhiều trường hợp, điệp vần xuất hiện ở cả cặp lục
bát. Chẳng hạn, đó là vần o trong các âm tiết
(tiếng) có, vo, cho, o: Cây cao có lá trong vo/ Cho
anh chung cậu chung o (cô) với chàng (hát giặm).
Ở các ví dụ trên, điệp vần, bao gồm vần bằng
và vần trắc vừa tạo nên nhịp điệu cho lời hát vừa
tăng sức gợi cảm. Trong những trường hợp này,
người lao động Nghệ Tĩnh đã dùng nhạc điệu của
ngôn từ để mô phỏng nhạc điệu của cuộc sống và
tâm hồn mình.
Nhạc tính của ví giặm Nghệ Tĩnh còn được
thể hiện ở biện pháp điệp âm tiết (tiếng) trong các
lời hát. Chẳng hạn: Thương thương, nhớ nhớ, sầu
sầu/ Biết là bấc có bén dầu cho không (hát ví).
Ba cung bậc tình cảm trong tình yêu lứa đôi là
thương, nhớ, sầu được lặp lại cùng với sự đều đặn
của khuôn thanh điệu lục bát truyền thống BB TT
BB cộng hưởng tạo nên cái âm điệu sâu lắng mà
da diết, thấp thỏm và khắc khoải từ những cơn
sóng lòng của người Nghệ Tĩnh đang yêu. Còn
thêm câu hỏi lửng lơ bấc có bén dầu như một nốt
trầm thổn thức lòng người.
2. Nhạc điệu là yếu tính của ngôn từ thi ca
và cũng là yếu tố tạo mĩ cảm cho người thưởng
thức. Nhạc tính trong ví giặm Nghệ Tĩnh được
tạo nên bởi cách sử dụng ngôn từ độc đáo: kết
hợp khai thác những ưu thế vỏ ngữ âm của tiếng

Việt toàn dân với việc chắt lọc những tinh túy
của phương ngữ Nghệ Tĩnh. Từ cách tổ chức
âm vực và âm điệu, vần và nhịp cho đến biện
pháp điệp âm thanh ở các cấp độ, người lao
động Nghệ Tĩnh đã làm cho ngôn từ ví giặm
giàu có nhạc điệu. Những phân tích trên đây cho
thấy nhạc điệu trong ví giặm Nghệ Tĩnh là hơi
thở nồng nàn, là tiếng lòng thổn thức, là điệu
tâm hồn dung dị và thành thực nhưng cũng rất
đa cảm và tinh tế của biết bao thế hệ người lao
động Nghệ Tĩnh./.

1. Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, Hát giặm Nghệ Tĩnh, tập 1, 2, Nxb Khoa học xã hội, H. 1962.
2. Ninh Viết Giao, Hát phường vải, Nxb Văn hoá thông tin, H. 2002.

Tài liệu tham khảo

1. Ninh Viết Giao, Về văn học dân gian xứ Nghệ, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2004.
2. Mai Ngọc Chừ, Tính nhạc trong thơ ca Việt Nam, Ngôn ngữ, 2006, số 5, 3-7.
3. Nguyễn Thị Thanh Hà, Giá trị nghệ thuật và các phương thức sử dụng hiện tượng láy trong thơ Việt Nam, Luận án
TS Ngữ văn, H. 2002.
4. Nguyễn Hoài Nguyên, Ngôn từ thể hiện ý nghĩa trào phúng trong ví giặm Nghệ Tĩnh, Ngôn ngữ, 2015, số 1, 23-30.
SỐ 2/2015

Tạp chí

KH-CN Nghệ An

[51]




×