TẠP CHÍ ĐẠI HỌC SÀI GÒN
Số 20 - Tháng 4/2014
THỜ NỮ THẦN Ở PHÚ QUỐC: TỪ TÍN NGƯỠNG
THỜ BÀ THUỶ ĐẾN TÍN NGƯỠNG THỜ THÁNH MẪU
TRẦN THỊ AN (*)
TĨM TẮT
Sử dụng các kiến thức điền dã các ngơi dinh thờ nữ thuỷ thần ở Phú Quốc: Dinh
Bà Dương Đơng, Dinh Bà Hàm Ninh, Dinh Bà Ơng Lang, Dinh Bà Cửa Cạn, bài viết đã
chỉ ra nhu cầu mãnh liệt của người dân trong tục thờ cúng các vị nữ thần được thờ ở các
Dinh Bà trên đảo, về sự đa dạng của văn hố tộc người và sự đa dạng của văn hố vùng
miền thể hiện trong tín ngưỡng thờ Bà ở các ngơi Dinh. Từ điểm nhìn đương đại, bài viết
đã chỉ ra sự vận động của tín ngưỡng thờ Bà ở các Dinh từ tục thờ bà Thủy của các cư dân
ngư nghiệp (trên đảo) và người đi biển (ở trên đảo và ở các vùng khác) đến tín ngưỡng thờ
Thánh Mẫu của các tầng lớp cư dân (trên đảo, trong nước và nước ngồi) với tư cách là
một hệ thống mở để có thể đáp ứng nhu cầu gửi gắm niềm tin của người dân trước những
biến đổi mau lẹ của đời sống hơm nay.
Từ khố: tín ngưỡng, thờ cúng, nữ thần, thờ Thánh Mẫu
ABSTARCT
Based on countryside knowledge of temples with naiad worship in Phu Quoc such as:
Lady Duong Dong’s Temple, Lady Ham Ninh’s Temple, Lady Ong Lang’s Temple, Lady
Cua Can’s Temple, the article has shown the strong demand of the people in the practice
of worshipping goddesses at Ladies’ Temples on the island as well as the diversity of the
ethnic culture and the regional culture shown in goddess worshipping faiths at different
Ladies’ Temples. Based on the contemporary points of view, the article points out the
developments of the naiad worshipping beliefs at the temples from naiad worshipping
beliefs of the fishery residents (living on the island) and the seafarers (living on the island
and in other regions) to “Thanh Mau” worshipping beliefs of different classes of the
people (living on the island as well as in Vietnam and foreign countries) as an open system
which can meet the people’s needs of relying their faiths in facing the rapid change of
modern life.
Keywords: belief, worship, goddess, “Thanh Mau” worship
*
Là một hòn đảo lớn nhất trong số 22
hòn đảo của huyện đảo Phú Quốc với diện
tích là 574 km² (tồn huyện đảo là 593,05
km²), đảo Phú Quốc là nơi có cảnh sắc
thiên nhiên đẹp, đ a hình đa dạng: có núi,
có sơng, có suối và bao quanh tứ bề là biển.
Với đặc điểm này, Phú Quốc được coi là
một nơi trú ẩn an tồn, một nơi dừng chân
lí tưởng trên các chuyến hải hành hay
những chuyến tìm đất nên đã đón nhận
nhiều đợt di dân. Bên cạnh đó, do nhiều cơ
dun trong l ch sử, đảo Phú Quốc cũng đã
là nơi dừng chân, nơi trú ngụ của một số
nhân vật l ch sử quan trọng. Những đặc
điểm đ a lý, l ch sử này khiến cho Phú
Quốc trở thành nơi hội tụ nhiều luồng văn
hóa và sự đan xen văn hố của các cộng
đồng dân cư trong q trình cộng cư và đã
(*)
PGS.TS, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
5
làm nên nét đặc sắc của văn hoá nơi đây.
Bao quanh là biển, do vậy, để bám trụ
lại hòn đảo này, dù không hành nghề chài
lưới thì người dân nơi đây cũng phải
thường xuyên đối diện với biển; họ đương
nhiên phải thích ứng với biển để tồn tại,
phải nương vào biển để sống. Sự thích ứng
ấy dẫn đến sự gắn bó sâu sắc với vùng đất
đang sống; sự nương tựa đó dẫn đến một
lòng biết ơn và tình yêu với biển khơi. Nó
đã được chưng cất thành những biểu tượng
của đời sống tâm linh con người Phú Quốc.
Một trong những biểu hiện của tính đa sắc
thái văn hóa, tính thích ứng và nương tựa
vào biển cả của Phú Quốc là tín ngưỡng
thờ nữ thần, mà người dân ở đây quen gọi
là Bà và di tích thờ Bà được gọi là Dinh:
Dinh Bà.
1. VỀ HỆ THỐNG DINH BÀ Ở
ĐẢO PHÚ QUỐC
Đảo Phú Quốc có 4 ngôi Dinh Bà, đó
là: Dinh Bà Dương Đông (thờ Thủy Long
Thánh Mẫu) ở th trấn Dương Đông; Dinh
Bà Ông Lang (còn gọi là Dinh Bà Lớn
Tướng, thờ bà Lê Kim Đ nh) ở ấp Ông
Lang, xã Cửa Dương, Dinh Bà Hàm Ninh
(thờ Thiên Ya Na ở xã Hàm Ninh), Dinh
Bà Cửa Cạn (thờ bà Kim Giao) ở xã Cửa
Cạn. Phú Quốc có 5 khu dân cư chính thì
các di tích thờ Bà trên nằm ở 3 khu dân
cư/làng chài: th trấn Dương Đông (vốn là
một làng chài lớn của đảo), làng chài Hàm
Ninh và làng chài Cửa Cạn.
1.1. Dinh Bà Dương Đông
Nổi tiếng nhất đối với du khách là
Dinh Bà Dương Đông (nằm trên đường Võ
Th Sáu, Khu 1, Th trấn Dương Đông)
trông ra biển, dưới chân núi Dinh Cậu.
Dinh Bà Dương Đông thờ Thuỷ Long
Thánh Mẫu.
Dinh Bà Dương Đông được bài trí đơn
giản: từ ngoài đường vào, qua một cái sân
nhỏ có một bức bình phong là một gian thờ
Mẫu có tên là Thủy Long Thánh Mẫu cung.
Phía trong, không gian thờ cúng gồm một
gian thờ có ba ban: ban chính giữa thờ Mẫu
có bức đại tự: “Vạn cổ anh linh”, ban bên
phải thờ Tiền hiền, ban bên trái thờ Hậu
hiền. Ban thờ Mẫu được thiết kế gần giống
với điện thờ Tứ phủ gồm có phía trên thờ
Mẫu, và phía dưới là một khám nhỏ. Nhìn
vào cách bài trí này, có thể thấy ở đây sự
hội nhập giữa việc thờ Mẫu với tín ngưỡng
thờ các v khai canh (tiền hiền, hậu hiền) –
vốn là một bước đệm cho việc xây dựng
biểu tượng của tín ngưỡng thờ thành hoàng
từ Trung Bộ vào Nam Bộ. Bên trái của lối
vào gian thờ là một tủ quần áo của Mẫu do
người dân cúng Bà, tủ quần áo này giống
như tủ quần áo mà ta thấy ở đền thờ bà
Chúa Xứ (Châu Đốc, An Giang).
Về nhân vật được thờ, một số tài liệu
cho biết, Dinh thờ bà Kim Giao, công chúa
của vương quốc Khmer có công khai phá
đảo. Dinh Bà Dương Đông và Dinh Bà
Cửa Cạn đều cùng thờ Bà. Trong khi đó,
Trương Thanh Hùng lại cho rằng, dinh Bà
Dương Đông thờ Thủy Long Thánh Mẫu,
được gọi là Dinh Bà Ngoài để phân biệt
với Dinh Bà Trong thờ Kim Giao1. Điều
này cũng được xác nhận thêm bởi ch Tư,
người trông coi Dinh Bà Dương Đông
trong d p điền dã tháng 6/2013 của chúng
tôi. Ch Tư cho biết: Dinh Bà Dương Đông
thờ Thủy Long Thánh Mẫu, trong Dinh
hiện có bức cuốn thư đề Thủy Long Thánh
Mẫu cung khẳng đ nh đây là cung điện thờ
Thánh Mẫu. Hiện nay, bức cuốn thư được
trang trí rất đẹp nhưng một bức ảnh khác
(nguồn Internet, không rõ năm chụp) cho
thấy vào năm 1970, năm chữ này chỉ mới
được viết lên tường (phụ đề dưới cụm từ
trên là “Kỉ niệm tái thiết năm canh tuất
ngày 18-10-1970”). Bức ảnh này cho ta
6
biết ít nhất là việc đ nh danh “Thủy Long
Thánh Mẫu” đã có từ năm 1970. Hai bên
cửa ra vào của gian thờ Thánh Mẫu (cùng
với bức ảnh ghi năm tu sửa 1970) là đôi
câu đối:
Siêu tứ thủy dĩ vi vương công năng phối địa
Mại quần long nhi lập cực đức khả tham thiên
Có nghĩa là:
Vượt qua bốn bể làm vương, công sánh
cùng với Đất
Cao hơn cả đoàn rồng để lập ngôi cao, đức
lớn ngang Trời.
Đôi câu đối này đã dùng 2 chữ “Thủy”
và “Long” ở 2 vế để chỉ danh xưng Thủy
Long của Mẫu và dùng những lời tán tụng
để ca ngợi công đức sánh ngang Trời, Đất
của ngài. Điều này cho thấy người soạn đôi
câu đối đã bày tỏ lòng tôn kính bà Thủy
Long với tư cách là v vua biển mà công
đức được đánh giá ở mức tuyệt đối.
1.2. Dinh Bà Ông Lang
Cách th trấn Dương Đông 7 km về
phía Tây Bắc là một ngôi Dinh Bà Ông
Lang (ở ấp Ông Lang, xã Cửa Dương) là
một ngôi dinh nằm sát bờ biển phía Bắc
đảo. Nằm trong một khuôn viên rất rộng,
nhưng Dinh cũng chỉ mới có một gian thờ
nhỏ. Theo đại tự ghi ngay cửa vào Dinh
thờ, Dinh được dựng năm 1946, và mới
được tu sửa lại năm 2007 với kiến trúc rất
mới. Trong gian thờ chỉ có một ban thờ bà
Lê Kim Đ nh. Ngai thờ được bài trí bằng
một bức tượng bà mặc quần áo có màu sắc
rực rỡ và đeo vòng xuyến rất đẹp và bên
trái là bức chân dung Nguyễn Trung Trực.
Hai bên ban thờ là 2 dòng chữ đắp nổi theo
hàng dọc: “Anh hùng dân tộc” và “Trung
trinh liệt nữ”. Lối vào bên trái cũng có một
tủ quần áo Bà Lớn Tướng được người dân
cúng như ở Dinh Bà Dương Đông. Ngoài
sân, phía trông ra biển có hai pho tượng
thờ Quan Âm Nam Hải.
Về nhân vật được thờ, Dinh Bà Ông
Lang thờ bà Lê Kim Đ nh, tương truyền là
vợ Nguyễn Trung Trực. Bà cùng ông tham
gia chống quân Pháp những năm cuối đời
nên được dân gian tôn vinh là bà Lớn
Tướng (người kể cho tôi biết gọi như thế
bởi bà vừa là bà tướng, vừa là vợ ông lớn).
Cách đó khá xa, nằm ngay sát mé biển là
ngôi mộ của bà. Đường đi đến mộ bà tương
đối khó khăn, phải vượt qua một cánh đồng
cát trắng, chưa có đường ô tô, qua một cái
cầu nhỏ, đến mép biển thì mới đến mộ.
Mặc dù nằm giữa một vùng cát khá hoang
vu nhưng ngôi mộ của bà được xây khá
khang trang.
1.3. Dinh Bà Hàm Ninh
Ở làng chài Hàm Ninh có một ngôi
dinh được gọi là Dinh Bà Hàm Ninh. Khác
với hai ngôi dinh trên, Dinh Bà Hàm Ninh
không nằm sát biển mà nằm sâu trong xã.
Người dân ở đây kể lại là trước đây, ngôi
dinh nằm sát biển nhưng do sạt lở đã được
chuyển vào v trí hiện nay. Ông Vạn (65
tuổi ở tổ 13, ấp Rạch Hàm, xã Hàm Ninh)
và ch Phúc (47 tuổi, nhà ở ngay cạnh
Dinh) cho biết, khi ông Vạn về đây ở (cách
đây 40 năm) và khi ch Phúc còn nhỏ, ngôi
dinh đã được chuyển về đ a điểm này.
Dinh Bà Hàm Ninh có 2 gian thờ là
Dinh Ông Nam Hải và Dinh Bà Thuỷ; phía
ngoài sân là hai khám thờ nhỏ bên trái bên
phải kiểu như ban thờ Cô, thờ Cậu trong
tín ngưỡng Tứ phủ. Trong Dinh Ông Nam
Hải có một bộ xương cá Ông, trong Dinh
Bà Thủy có hai cung thờ, cung phía ngoài
chỉ có một bát hương và hai con hạc chầu
hai bên; cung trong thờ Bà, có một pho
tượng Bà khá nhỏ nhắn, cao chừng 30 cm.
Hai bên của ban thờ Bà có 2 chiếc thuyền
gỗ và một số sản vật biển như san hô. Phía
trái lối vào có một tủ quần áo cúng Bà, các
bộ quần áo ở đây bằng kích thước quần áo
7
của người bình thường dùng để treo và một
số bộ quần áo nhỏ để thay cho bà vào d p
lễ hội (tối 22, ngày 23/3 âm l ch).
Đặc biệt, ngay trước cửa vào gian thờ
bà Thủy là một tấm liễn nhỏ bằng gỗ,
chính giữa khắc chữ “Tâm”. Dòng lạc
khoản hai bên ghi là: Quang Tự, Quý Mão
niên, quý xuân nguyệt, cát đán, Hải Nam
tín phàm Hoàng Ứng Tinh, Khánh Vân,
Đắc Lan, Quách Viễn Phiên đồng kính
phụng (có nghĩa là: Ngày tốt đầu tháng Ba
năm Quý Mão, niên hiệu Quang Tự (1903),
Tín chủ là người phàm trần ở Hải Nam là
Hoàng Ứng Tinh, Hoàng Khánh Vân,
Hoàng Đắc Lan và Quách Viễn Phiên cùng
kính thờ). Đây là một thông tin hết sức
quan trọng. Thông tin này cho biết: đây là
tấm liễn do những người ở đảo Hải Nam
ghé lên bờ cúng. Có thể đây là những
người làm ăn trên biển (theo lời người dân
kể là Dinh Bà trước đây nằm sát bờ biển),
trên đường đi đã lên cúng ở Dinh Bà, do
được bà phù hộ nên đã trở lại lễ tạ. Nếu
đúng là như vậy thì có thể thấy rằng, Dinh
Bà Hàm Ninh đã nổi tiếng là một đ a chỉ
thiêng ít nhất vào cuối thế kỉ XIX.
Về đối tượng được thờ, Dinh Bà Hàm
Ninh thờ Ông Nam Hải (cá Ông) và thờ Bà
Thuỷ (Thuỷ Long Thánh Mẫu). Theo lời kể
của ông Vạn, Thủy Long Thánh Mẫu đây
là Thiên Ya Na được người dân Hàm Ninh
rước từ Khánh Hòa vào thờ. Ngày rước bà
là ngày 23/3, ngày Ông lụy cũng là ngày
23/3 nên đó là ngày lễ hội của Dinh.
1.4. Dinh Bà Cửa Cạn
Cách Dinh Bà Ông Lang chừng 5 km
về phía Tây Bắc, nằm ở hữu ngạn sông
Cửa Cạn, là một ngôi Dinh khác, được gọi
là Dinh Bà Cửa Cạn (thường được gọi là
Dinh Trong – để phân biệt với Dinh Ngoài
thờ Thủy Long Thánh Mẫu ở Dương
Đông). Dinh nằm ở cửa sông, cạnh vũng
nước sâu (dân đ a phương gọi là “búng”)
nên còn được gọi là Búng Dinh Bà.
Về nhân vật được thờ, các tài liệu
truyền ngôn cho biết, Dinh thờ Bà Kim
Giao, tương truyền là người Khơ Me, thuộc
dòng dõi vua Campuchia. Do vua b lật đổ
nên Bà lánh nạn sang đảo Phú Quốc. Khi
đi, Bà mang theo đàn trâu để khai phá đất
đai tìm đất làm ruộng. Tương truyền, Bà
Kim Giao lập trại bên bờ Búng, hiện vẫn
còn cánh đồng gọi là Đồng Bà và các dấu
vết cột được coi là cột buộc trâu của Bà
xưa kia. Người dân Phú Quốc có một niềm
tin thiêng liêng đối với Bà – với tư cách là
người khai khẩn hòn đảo này.
Nhìn một cách tổng thể 4 di tích Dinh
Bà ở đảo Phú Quốc, có thể bước đầu rút ra
một số nhận xét sau: việc hình thành tín
ngưỡng thờ Bà và lập Dinh để thờ là một
quá trình khá lâu dài, thể hiện trong đó
trước hết là nhu cầu về đời sống tâm linh
của người dân. Trong quá trình thích ứng
với vùng đất mới gồm một phức hệ đ a lý
rừng, núi, sông biển, các cư dân đảo đã có
một nỗ lực không ngừng để chung sống với
môi trường đ a lý-xã hội mới. Sự nỗ lực
thích nghi trong đời sống xã hội đã thể hiện
rõ trong đời sống tâm linh khi mà tín
ngưỡng được hình thành, được tin tưởng,
trở thành một động lực tinh thần vô giá cho
con người lạ lẫm trước vùng đất mới và
chơi vơi giữa biển khơi. Bên cạnh đó, tín
ngưỡng thờ Bà ở đảo Phú Quốc đã thể hiện
quá trình hội nhập không ngừng của các
chiều cạnh khác nhau của niềm tin, và đến
nay, đã hình thành một tín ngưỡng thờ Bà
trong các dinh, dù đã được đ nh v phần
nào nhưng vẫn là một hệ thống mở để đón
nhận những sắc thái mới của đời sống tâm
linh người dân.
8
2. CÁC LỚP VĂN HÓA TRONG
TÍN NGƯỠNG THỜ BÀ Ở PHÚ QUỐC
Qua việc giới thiệu di tích của 4 ngôi
Dinh Bà ở trên, có thể thấy các lớp văn hoá
đan xen trong tín ngưỡng của người dân
Phú Quốc như sau:
2.1. Tín ngưỡng thờ thần phù hộ
ngư dân
Ở 4 ngôi Dinh Bà và mộ Bà Lớn
Tướng Lê Kim Đ nh, một bộ phận lớn
người đi lễ là ngư dân. Theo lời của người
dân mà chúng tôi có d p phỏng vấn trong
tháng 6/2013 (người hướng dẫn du l ch,
người lái xe ôm, những người trông coi tại
các di tích: Dinh Bà Dương Đông, Dinh
Cậu, Dinh Bà Hàm Ninh, Dinh Bà Ông
Lang, Đình thần Nguyễn Trung Trực) thì
hầu hết các chủ ghe, tàu đều gửi niềm tin
vào sự phù hộ của các v thần được thờ ở
các di tích trên. Các chủ ghe, tàu khi đi
đánh cá thì có thể không lên cầu cúng ở các
di tích trên vì ghe, tàu nào cũng đều có ban
thờ Quan Âm Nam Hải nhưng khi đi qua
họ đều bái vọng lên các di tích. Ông Võ
Vạn, thành viên Ban quản tr Hội Dinh Bà
Hàm Ninh cho biết: “Dân ở đây tin dữ lắm.
Vào ngày vía Bà, người dân Hàm Ninh dù
có đánh bắt xa bờ đến đâu cũng quay về
đến lễ Bà. Người dân trong xã từ nhỏ tới
lớn đều rất tin… Dân ở đây làm nghề hạ
bạc, Ông Nam Hải độ cho đánh được nhiều
cá, ghe cộ chìm thì ông đưa vô bờ. Bà phù
hộ, độ cho cô bác ngư dân chài lưới, nghèo
khổ, không con cái, buôn bán, sức khỏe, ai
cầu gì được nấy” (Phỏng vấn ngày
5/6/2013). Trong Dinh Bà Hàm Ninh, như
đã nói ở trên, có một gian thờ Nam Hải;
trong sân ngôi Dinh Bà Ông Lang có 2 pho
tượng Quan Âm Nam Hải; các ngôi Dinh
Bà đều trông ra biển và tọa lạc ở ngay bờ
biển (trừ Dinh Bà Hàm Ninh do b sạt lở
nên chuyển sâu vào trong đảo). Câu đối ở
Dinh Bà Dương Đông (như đã nói ở trên)
đã thể hiện sự ca tụng của người dân đối
với một v vua của biển cả. Đôi câu đối ở
Dinh Cậu cũng thể hiện một cảm hứng
ngợi ca như thế: Phong điều vũ thuận dân
an lạc, Hải yến hà thanh thế thái bình,
D ch nghĩa là: Mưa thuận gió hòa, dân an
lạc, Sông yên biển lặng đời thái bình. Ước
muốn về mưa thuận gió hòa, về sông yên
biển lặng là ước muốn thường trực nhất
của cư dân biển, và họ đã tìm thấy nơi
nương tựa về mặt tinh thần ở những v thần
linh này.
Hơn nữa, trong 4 ngôi Dinh Bà ở đảo
Phú Quốc thì có 2 ngôi dinh có tên là Thủy
Long Thánh Mẫu, riêng Dinh Bà Hàm Ninh
lại có cung thờ ghi là Dinh Bà Thủy. Điều
này cho thấy lớp tín ngưỡng thờ thần phù hộ
ngư dân là rất rõ ở các Dinh Bà Phú Quốc.
2.2. Tín ngưỡng thờ người mở cõi
Trong các truyền thuyết của người dân
được lưu truyền trên các trang mạng, Dinh
Bà Dương Đông và Dinh Bà Cửa Cạn đều
thờ một v thần là Kim Giao, tương truyền
là người khai phá đảo Phú Quốc. Các
truyền thuyết về bà Kim Giao, như đã nói ở
trên, đều kể về một người có công khai
khẩn hòn đảo này và người dạy dân cách
làm ruộng ở đây. Hiện bà Kim Giao được
thờ ở dinh Cửa Cạn, nơi còn vết tích cánh
đồng bà khai hoang và hàng loạt cột buộc
trâu xưa kia. Còn Dinh Bà Dương Đông,
nơi hiện nay thờ Thủy Long Thánh Mẫu thì
vẫn còn những dấu vết của tín ngưỡng thờ
thần khai canh. Dù người trông coi Dinh
Thủy Long Thánh Mẫu Dương Đông
khẳng đ nh, ngôi Dinh này thờ bà Thuỷ
Long nhưng trong hậu cung, có hai ban thờ
Tiền hiền và Hậu hiền - những người có
công khai khẩn trong tín ngưỡng của người
dân miền Trung trở vào Nam.
9
Phú Quốc đã tạo nên sự gắn kết giữa l ch
sử chống ngoại xâm vẻ vang của dân tộc
với đời sống của cư dân trên đảo.
3. TÍN NGƯỠNG THỜ BÀ – SỰ HỘI TỤ
VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÍN NGƯỠNG
THỜ MẪU
3.1. Tín ngưỡng thờ Bà - Cậu
Nói đến tín ngưỡng thờ Bà của ngư
dân đảo Phú Quốc không thể không nhắc
đến tín ngưỡng thờ Bà - Cậu.
Bà - Cậu là ai?
Tín ngưỡng đặc biệt này đã được nhắc
đến trong các bài viết của Huỳnh T nh Của,
Nguyễn Thanh Lợi (2004 và 2012)2,
Dương Hoàng Lộc (2010)3 và Trương
Thanh Hùng (2012)4. Về vấn đề này,
Trương Thanh Hùng viết: “Hầu hết người
dân hoạt động trên sông nước đều rất tin
tưởng “Bà Cậu”. Họ cho đó là một v thần
có quyền năng rất lớn, chi phối đến đời
sống, làm ăn của dân làm nghề sông biển,
kể cả dân đánh bắt và giao thông. Đến nay,
nhiều người không hiểu Bà Cậu là ai, là
một người hay hai người. Chỉ biết rằng,
nếu Bà Cậu độ thì làm ăn sẽ phát đạt, đánh
bắt trúng, an toàn khi hành nghề. Hình
tượng Bà Cậu đối với dân sông nước nói
chung có thể là Bà Thiên Hậu (đối với
người Hoa), Bà Chúa Liễu, Thủy Long
Thánh Mẫu, là một v hoàng tử con của
Long Vương, là một v thuỷ thần, sau cùng
là những người khuất mặt nào đó tế độ cho
người làm nghề sông nước… Trên ghe tàu
có một bàn thờ Bà Cậu mà bài v được viết
bằng chữ Hán là “Thủy Long Thánh Mẫu”
hay “Thánh Mẫu nương nương”. Như vậy,
chúng ta thấy rằng, Bà Cậu không còn là
hai v thần Bà và Cậu mà đó là một v thần
gọi là Bà Cậu. Tuy nhiên, nếu trên bờ thì
lại phân biệt rõ ràng Bà và Cậu, có Miễu
Bà và Dinh Cậu” (tr.90). Về nguồn gốc tục
2.3. Tín ngưỡng thờ nhân vật lịch sử
Một hiện tượng đã thành phổ biến
trong truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian
Việt Nam là xu hướng “l ch sử hóa truyền
thuyết” và “truyền thuyết hóa l ch sử”.
Điều này có nghĩa là các lớp truyền ngôn
thường có xu hướng được dân gian “gắn”
vào một sự kiện l ch sử nào đó để tăng tính
chính thống, tầm vóc và quy mô của sự
kiện và nhân vật được kể trong truyền
thuyết. Ngược lại, các nhân vật và sự kiện
l ch sử nhiều khi được “ảo hóa” bằng cách
gán cho họ những chi tiết nhuốm màu sắc
thần kỳ để tăng tính kỳ vĩ của nhân vật l ch
sử. Hai xu hướng này đan quyện vào nhau
khiến cho nhiều truyền thuyết đàng hoàng
đi vào l ch sử và nhiều nhân vật l ch sử
được tôn vinh như những v thánh, thần.
Xu hướng này có thể thấy trong tín ngưỡng
thờ Bà Lê Kim Đ nh (được cho là phu nhân
Nguyễn Trung Trực) ở ngôi Dinh Bà Ông
Lang. Đáng chú ý là, sách sử ghi chép về
chiến công của Nguyễn Trung Trực đều
không ghi chép về vợ của ông. Tuy nhiên,
do Nguyễn Trung Trực đã gắn bó với đảo
Phú Quốc vào 2 năm cuối đời (1885-1886)
với một tinh thần yêu nước rạng ngời nên
người dân Phú Quốc đã viết thêm một
trang sử mới về ông, nối dài cuộc đời ngắn
ngủi của ông, tạo nên những vầng hào
quang lung linh khiến cuộc đời ông bất tử
để có thể sống với người dân trong những
thời khắc đương đại: đó là việc thêu dệt
nên truyền thuyết về bà Lê Kim Đ nh. Và
truyền thuyết này đã không chỉ được lưu
truyền trong ngôi đền thờ Nguyễn Trung
Trực ở Gành Dầu (một bãi biển đẹp của
Phú Quốc) mà còn nhanh chóng chiếm chỗ
trong Dinh thờ Bà và hội nhập với tín
ngưỡng thờ Bà Thủy nơi đây. Bằng việc
thờ cúng hai nhân vật (một l ch sử, một dã
sử) này, tín ngưỡng thờ Bà của cư dân đảo
10
thờ này, Trương Thanh Hùng đã dẫn ý của
Huỳnh T nh Của cho rằng, “Bà - Cậu chính
là “ba Bà, bảy Cậu” gắn với việc thờ Liễu
Hạnh Công Chúa”.5
Bên cạnh đó, có một số ý kiến khá
thống nhất cho rằng, Bà là Bà Thủy, còn
Cậu đây là Cậu Tài, Cậu Quý. Đó là các ý
kiến của Dương Hoàng Lộc, Nguyễn Thanh
Lợi và người trông coi Dinh Cậu ở Phú
Quốc. Dương Hoàng Lộc cho rằng: “Đặc
biệt, đối với các nghề liên quan đến sông
nước và biển cả ở Nam bộ, người ta thường
vái van Bà Cậu để cầu mong độ trì qua cơn
sóng gió. Chắc vì thế mà người ta thường
hay gọi dân làm nghề thương hồ hạ bạc là
“dân Bà - Cậu”. Bà Cậu chính là Bà Thủy
và hai người con trai: Cậu Tài và Cậu
Quý”. Nguyễn Thanh Lợi cũng cho biết,
Bà-Cậu trong tín ngưỡng ở Bà R a – Vũng
Tàu là Bà Thuỷ và Cậu Tài, Cậu Quý.
Trong lần điền dã buổi tối vào tháng
6/2013, ch Tư, người trông coi Dinh Bà
Dương Đông và ông Minh, người trông coi
Dinh Cậu đều cho tôi biết, Bà là Thủy Long
Thánh Mẫu và Cậu là Cậu Tài, Cậu Quý.
Ông Nguyễn Văn Minh (87 tuổi, người An
Giang, trông coi Dinh Cậu đã 27 năm) gọi
Cậu một cách tôn xưng là “Ông” chứ không
gọi “Cậu” và không cho người khác gọi
“Cậu”. Ông nói với tôi là: “Dân chài đi biển
tất nhiên là phải đến, không ai không dám
nghe. Nếu muốn đóng ghe phải lên khai
báo, sau đó xin keo, nếu ngài không cho thì
đi làm nghề khác, trồng hồ tiêu hay làm gì
đó. Đố ai dám cãi. Khi tôi hỏi, dân làm gì
đều xin Cậu phải không, ông Minh nổi
giận: Dân đến đây cúng không ai dám gọi
là ông Cậu, chỉ dám gọi là ông Cù. (Nói
đến đây, ông bỏ vào phòng trong nằm).
Vậy Cậu Tài, Cậu Quý là ai?
Nguyễn Thanh Lợi (2004) và Dương
Hoàng Lộc (2010) đều cho rằng, cậu Tài và
cậu Quý là con của Thiên Ya Na Diễn
Ngọc Phi, và ở đây Thiên Ya Na đã được
đồng nhất với bà Thủy. Nguyễn Thanh Lợi
viết: “Bà chúa Tiên (chúa Ngọc) còn có hai
người con là Cậu Tài và Cậu Quý, là
những v thần đặc biệt “bảo hộ” cho vùng
sông nước. Dân sống bằng nghề hạ bạc và
dân thương hồ đã đồng hoá Pô Nưgar với
Thuỷ Long thánh phi, kèm theo hai người
con của Bà là Cậu và Bà Cậu - những v
thần cai quản các hải đảo hoặc cù lao ven
sông, biển”. Dương Hoàng Lộc viết:
“Người ta còn có quan niệm Bà Thuỷ
chính là hoá thân của Thiên Ya Na. Trong
văn bia của Phan Thanh Giản tại Tháp Bà
Nha Trang, có đoạn kể về Thiên Ya Na đã
hoá phép nổi sóng gió nhấn chìm thuyền
của thái tử Trung Quốc, biến chiếc thuyền
này thành tảng đá. Do đó, Thiên Ya Na và
2 người con của Bà (Cậu Tài, Cậu Quý)
được xem là v thần của sông biển, cù lao”.
Tuy dẫn nguồn nhưng hai bài viết trên đều
đã có chỗ khúc xạ: trong văn bia do Phan
Thanh Giản soạn năm 1856 và truyền
thuyết vùng Khánh Hòa thì 2 người con
của Thiên Ya Na là một trai, một gái;
người con trai tên Trí và người con gái tên
Quý. Như vậy, chúng ta thấy xuất hiện ở
đây một người mới là: Cậu Tài. Danh xưng
của Cậu, nguồn “xuất thân” của Cậu,
truyền thuyết không giải thích rõ; chúng ta
cần cắt nghĩa xem, tại sao lại có một nhân
vật mới là “Cậu Tài” trong tất cả các
truyền thuyết về Bà - Cậu ở vùng Nam Bộ.
Tại ngôi Dinh Cậu, ta thấy một phức
thể thú v . Tên di tích là Dinh Cậu, nhưng
ban thờ chính lại ghi bài v là Chúa Ngọc
Nương Nương (một tên gọi khác của Thiên
Ya Na), hai bên có 2 tượng thờ nhỏ dưới
hai dòng chữ Nhị hiền vương Thái tử.
(tương truyền là cậu Tài, cậu Quý - hai con
11
của Thiên Ya Na). Tuy nhiên, khi được hỏi
thì ông Nguyễn Văn Minh thì lại kể: “Hai
ông Cậu (Cậu Quý và Cậu Tài) là hai thiên
thần được phái xuống, một người trông coi
toàn vùng biển, một người trông coi rốn
biển. Hai ông là tiên, được phái xuống
2.000 năm, nay chưa được về vì giặc dưới
biển còn quậy quá. Trước đây 5-60 năm
mới có một cơn bão lớn, nay có nhiều bão
quá. Vì thế ông phải trông coi. Đảo Phú
Quốc có 99 ngọn núi, ở dưới biển có 99 dải
đá ngầm, là nơi ở của các loài cá. Vì thế,
có đánh bắt bao nhiêu cũng không hết
được. Ông cai quản các luồng cá ở đây”.
Với truyền thuyết này, hai cậu đã trở thành
là người trời, dường như không có liên
quan gì đến các bà Thủy, bà Thiên Ya Na
hay bà Thủy Long Thánh Mẫu ở đây.
Bên cạnh truyền thuyết cho rằng, Bà là
Thủy Long Thánh Mẫu và Cậu là Cậu Tài,
Cậu Quý (hai con của Thiên Ya Na),
Nguyễn Thanh Lợi (2012) lại cho biết một
truyền thuyết khác: ở Côn Đảo, Bà được
đồng nhất với đức Bà Phi Yến (Lê Th
Răm), tương truyền là thứ phi của Nguyễn
Ánh, mẹ của Hoàng tử Cải và Cậu được
đồng nhất với hoàng tử Cải, v hoàng tử
yểu mệnh b ông vua đầu triều Nguyễn
ném xuống biển khi vừa lên bốn tuổi.6
Một sự thống kê và khảo sát bước đầu
cho thấy, các lớp truyền ngôn về Bà và Cậu
(danh xưng, đ a điểm thờ, cách xưng hô,
truyền tích về công trạng của ông) cho thấy
tính động và tính lỏng của truyền thuyết về
Bà - Cậu - hệ quả của một tín ngưỡng mở
mà tục thờ và truyền thuyết đã và đang tiếp
tục đón nhận những lớp đắp bồi qua thời
gian và trong không gian để trở thành một
phức thể rộng hơn và thống nhất hơn.
3.2. Từ tín ngưỡng thờ nữ thần biển
tới tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu
Như đã nói ở trên, các Dinh Bà ở Phú
Quốc đều có v trí sát mép biển. Đây hẳn
không phải là một sự tình cờ. V trí này
chắc hẳn đã thể hiện sự đáp ứng nhu cầu
của ngư dân và người đi biển về một v
thần mà họ trông chờ sự độ trì. Thực tế các
cuộc phỏng vấn của chúng tôi đều cho thấy
rằng, ngư dân rất tin tưởng vào các Bà và
thường đến cầu xin khi ra khơi, tạ ơn khi
trúng vụ, tham dự một cách kính cẩn ngày
vía Bà hàng năm. Ở khía cạnh này, các Bà
được thờ trong 4 ngôi Dinh ở đảo Phú
Quốc xuất hiện với tư cách là các nữ thần
(Bà Thuỷ, Bà Kim Giao, Bà Lớn Tướng Lê
Kim Đ nh) chở che cho những người đi
biển được bình an vô sự, phù hộ cho ngư
dân đánh bắt được nhiều tôm cá, độ trì cho
họ gặp an lành trên biển.
Tuy nhiên, phạm vi phù hộ độ trì của
các Bà không chỉ dừng lại ở đó. Các cuộc
phỏng vấn mà chúng tôi tiến hành ở Dinh
Bà Hàm Ninh, Dinh Bà Ông Lang, Dinh
Bà Dương Đông, Dinh Cậu Dương Đông
cho thấy rằng: người dân đến các di tích
này lễ bái không chỉ là ngư dân và nội
dung cầu cúng của họ không chỉ là cầu
đánh được nhiều tôm cá.
Ch Tư (Ngọc Lệ), người trông coi
Dinh Bà Dương Đông và ch Trần Th
Ngân, thành viên của Hội Dinh Bà Dương
Đông, cho tôi biết, lượng khách thập
phương đến Dinh cúng lễ hơn phân nửa là
những người nơi khác, gồm khách du l ch
và khách trong đất liền đến cầu an, giải
hạn. Một điều đặc biệt là, khách thập
phương muốn đến xin cầu an, giải hạn thì
chỉ đến Dinh Bà, chứ không đến Dinh Cậu,
trong khi đó, khi đi biển thì họ vái Bà-Cậu.
Ch Tư và ch Ngân cho biết, vào đêm giao
thừa và ngày mùng Một Tết âm l ch, khách
thập phương đến lễ cầu an “đông không thể
tưởng tượng được, người chen vô không
lọt” và “các ch làm việc muốn xỉu luôn”.
12
Một trong những điều mà khách thập
phương muốn đến cầu an ở Dinh Bà
Dương Đông, có lẽ ngoài sự thuận tiện về
giao thông, còn là sự ân cần của người thực
hành nghi lễ. Ch Tư cho biết, khi cúng cầu
an, có khi cả gia đình chỉ gửi lễ 10 ngàn
đồng ch vẫn cúng, không gửi lễ ch vẫn
cúng. Vì thế, người dân trên đảo và khách
thập phương vẫn đến gửi niềm tin vào các
nghi thức cúng cầu an, giải hạn ở đây.
Ch Nguyễn Th Lệ, 65 tuổi (Dinh Bà,
ấp Ông Lang, xã Cửa Dương) cho tôi biết,
khách đến Dinh Bà phần lớn là ngư dân,
nhưng càng ngày càng có nhiều người đến
lễ về các nhu cầu khác trong đời sống như
chữa bệnh, học hành, buôn bán. Ch cho
biết, vào tháng 5 năm 2013, có người từ
Hòn Đất (Kiên Giang) đến đây kêu cầu về
việc bán đất; hai tuần sau khi kêu cầu và
được Bà làm phép cho, người đàn ông này
đã bán được đất và gọi điện cảm ơn người
trông coi Dinh. Trong tình trạng bất động
sản đóng băng vào thời điểm này, việc cầu
và bán được đất có thể coi là một nội dung
mới khẳng đ nh tính thiêng đậm màu sắc
đương đại của v thần nữ được thờ cúng tại
ngôi dinh này. Bên cạnh đó, người dân Phú
Quốc còn lưu truyền truyện kể rằng, trong
những ngày gian khó của Nguyễn Trung
Trực chống Pháp, Bà Lê Kim Đ nh mất
ngay khi sinh con và đứa con mới chào đời
của ông bà đã mất vì khát sữa. Bà Lớn
Tướng giận người dân vùng này không cưu
mang con bà nên hễ ai sinh con đều b bà
“bắt chết”. Vì thế, người dân lập đền thờ và
sửa sang ngôi mộ thờ bà và thường xuyên
lui tới cúng bái. Ở một truyền ngôn khác,
bà Lê Kim Đ nh còn được tin là một v
phúc thần toàn năng: “Bà rất thiêng, vào
những đêm trăng sáng, người dân thường
thấy Bà đi thuyền từ căn cứ ra làng. Thuyền
có che lọng xanh, lướt đi êm đềm trên mặt
sông. Người gặp Bà liền quỳ lạy, cầu khẩn
gì cũng được. Quả nhiên, năm nào có
thuyền Bà xuất hiện thì nhân dân Phú Quốc
làm ăn khấm khá và phát đạt. Người dân
Phú Quốc tin rằng Bà là người đem lại cuộc
sống an lành và sung túc cho họ.”7
Một nội dung cầu xin khác tương đối
phổ biến ở các ngôi Dinh Bà, Dinh Cậu ở
Phú Quốc là cầu tự. Các câu chuyện của
chúng tôi với những người đang có mặt tại
khuôn viên di tích đều dẫn tới sự thành công
của một số trường hợp cầu tự nào đó. Bà
Hoa, một người bán vé số ở Dinh Cậu, nói
với tôi: “Dân ở đây đa số là đi biển, mới
đây, chỉ có người ở đất liền ra là làm du l ch
thôi. Ở đây cầu được nhiều thứ lắm: tài lộc
(hai cậu là bộ trưởng bộ ngân khố đấy), làm
ăn may mắn, con cái. Cầu gì được nấy.
Chính mắt tôi đã trông thấy một bà Việt
kiều Mỹ qua đây xin cho con dâu có thai.
Tháng sau về cô con dâu có bầu, bà cùng
con trai và con dâu quay lại tạ ơn”. Các
dòng đ a chỉ của khách thập phương được
ghi trên ghế đá tặng Dinh Cậu, Dinh Bà cho
thấy sự phong phú của các lớp người, đến từ
nhiều miền quê khác nhau, trong đó có
nhiều người đang sống ở nước ngoài.
Một hiện tượng đáng chú ý là việc tách
riêng các đối tượng thờ như ở Dinh Bà
Hàm Ninh (Dinh Nam Hải và Dinh Bà
Thuỷ). Ở đây, theo ông Vạn, “Dân ở đây
làm nghề hạ bạc, Ông Nam Hải độ cho
đánh được nhiều cá, ghe cộ chìm thì ông
đưa vô bờ biển. Bà phù hộ, độ cho cô bác
ngư dân chài lưới, nghèo khổ, không con
cái, buôn bán, sức khỏe, ai cầu gì được
nấy”. Ta thấy hiện tượng tương tự mối
quan hệ giữa Dinh Cậu (vốn là nơi thờ
Nam Thần Biển)8 và Dinh Bà ở Dương
Đông: trong khi ngư dân cầu cả Dinh Bà và
Dinh Cậu thì người giải hạn, cầu an chỉ có
thể làm ở Dinh Bà. Hiện tượng này không
13
chứng tỏ độ đậm nhạt của tính thiêng mà
thể hiện độ mở của một tín ngưỡng: với tín
ngưỡng thờ Long Vương hay Nam Hải,
người dân mong chờ sự độ trì cho những
chuyến đi biển thì với tín ngưỡng thờ Bà
Thủy, nội dung cầu cúng có một độ mở
không ngừng trong thời gian nhằm đáp ứng
nhu cầu tâm linh của người dân.
Qua đây, có thể thấy, tín ngưỡng thờ
nữ thần biển đã mở ra để trở thành một
phức hệ tín ngưỡng mới, tín ngưỡng về
Thánh Mẫu, bởi chỉ có Mẫu mới đáp ứng
được nhu cầu muôn mặt đời thường của
người dân. Đây cũng là một biểu hiện cho
tính mở của hệ thống tín ngưỡng thờ Tứ
Phủ, tín ngưỡng này luôn không ngừng mở
ra cho mọi người dân đều có thể nương
tựa, mở ra để ứng hợp với nhu cầu muôn
mặt đời thường của người dân. Cuộc hầu
đồng được tổ chức lần đầu tiên ở Phú Quốc
(8/2013 tại Dinh Bà Thủy Long Thánh
Mẫu ở Dương Đông) được người dân nơi
đây đón nhận một cách nồng nhiệt9 càng
chứng tỏ điều đó.
4. KẾT LUẬN
Khảo sát bước đầu về tín ngưỡng thờ
nữ thần ở Phú Quốc có thể rút ra một số
kết luận sau:
Tín ngưỡng thờ nữ thần thể hiện nhu
cầu mãnh liệt về đời sống tâm linh của
người dân: Khảo sát sự hình thành và phát
triển của tục thờ cúng trong thời gian, khảo
sát bước đầu về cách thực hành nghi lễ của
người dân, khảo sát sự phát triển của quy
mô lễ hội tại các di tích Dinh Bà, thấy rất
rõ nguyện vọng về nhu cầu tâm linh của
người dân: họ thực sự khát khao được thể
hiện đời sống ấy thông qua thiết chế di
tích, thông qua việc tổ chức lễ hội, thông
qua việc thực hành nghi lễ thường ngày,
thông qua việc gửi gắm niềm tin vào những
phép lạ qua việc thờ Bà.
Sự phát triển từ tục thờ Bà Thủy đến
tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu: Mang đặc
trưng của một hòn đảo, tín ngưỡng thờ nữ
thần ở Phú Quốc khởi thuỷ là tục thờ Bà
Thuỷ với mong muốn cầu xin sự an toàn
khi ra khơi vào lộng. Tuy nhiên, cùng với
thời gian, các truyền ngôn, các cách thực
hành nghi lễ, các đối tượng hành lễ và các
nội dung cầu cúng của người dân ngày
càng đa dạng, tiệm cận với tín ngưỡng thờ
Thánh Mẫu mà tính linh động và độ dung
hợp lớn của nó đang là một ngôi nhà mở ra
nhiều cánh cửa để tích hợp tất cả các nội
dung, thu hút nhiều tầng lớp dân cư trên
đảo cũng như khách thập phương trong và
ngoài nước.
Sự đa dạng văn hóa tộc người. Các lớp
truyền ngôn và di tích ở các ngôi Dinh Bà,
Dinh Cậu cùng những di tích khác liên
quan, các đ a danh và các chứng tích văn
hoá vật thể cho thấy sự đan xen của văn
hoá các dân tộc: Việt, Hoa, Khmer, Chăm.
Và điều quan trọng là sự đan xen này đã
được quyện chặt một cách nhuần nhuyễn
và trở thành tài sản chung của người dân
đảo Phú Quốc hôm nay.
Sự đa dạng văn hóa vùng miền: Dù
còn cần nhiều thời gian để nghiên cứu sâu
hơn, cũng có thể nhìn thấy rõ trong phức
thể tín ngưỡng Bà - Cậu của người dân đảo
Phú Quốc hành trang của ngư dân Nam
Trung Bộ (Quảng Ngãi, Bình Đ nh) đan
xen với tín ngưỡng của cư dân Tây Nam
Bộ và hội nhập với tín ngưỡng Tứ Phủ của
Bắc Bộ để trở thành một phức thể đang dần
dần đ nh hình thành hệ thống. Hệ thống
này đang là một hệ thống mở nên vừa có
khả năng đáp ứng nhu cầu gửi gắm niềm
tin của mọi người dân lại vừa có thể dung
chứa được những biến đổi mau lẹ của nhu
cầu tâm linh của họ trước tác động của sự
biến đổi kinh tế - xã hội và ảnh hưởng của
hội nhập hôm nay./.
14
Chú thích:
*
Trương Thanh Hùng (2012), Văn hóa dân gian huyện đảo Phú Quốc và Lý Sơn,
Nxb. Văn hóa dân tộc, H., tr. 90.
2
Nguyễn Thanh Lợi (2004), Tín ngưỡng thờ nữ thần ở Bà Rịa-Vũng Tàu. Trong Tìm hiểu
đặc trưng di sản văn hóa văn nghệ dân gian Nam Bộ, Nxb Khoa học xã hội, tr.146.
Nguyễn Thanh Lợi (2012), Câu chuyện bà Phi Yến ở Côn Đảo, Tham luận Hội thảo
khoa học.
3
Dương Hoàng Lộc (2010), Tín ngưỡng thờ Bà Thủy của cộng đồng ngư dân An Thủy
(Huyện Ba Tri-Tỉnh Bến Tre), Tạp chí Nguồn sáng Dân gian, số 2.
4
Trương Thanh Hùng & Phan Đình Độ (2012), Văn hóa dân gian huyện đảo Phú Quốc và
Lý Sơn, Nxb Văn hóa Dân tộc, H.
5
Trương Thanh Hùng (2012), Sách đã dẫn, tr. 37.
6
Nguyễn Thanh Lợi (2012): Câu chuyện bà Phi Yến ở Côn Đảo: “Qua khảo sát thực tế, kết
hợp với các tài liệu nghiên cứu, chúng tôi cho rằng miếu Bà Phi Yến và miếu Cậu trên Côn
Đảo thực chất là tín ngưỡng thờ Bà Cậu vốn rất phổ biến trong các cộng đồng của cư dân
hải đảo và ven biển Trung Nam Bộ. (Hội thảo: Côn Đảo – 150 năm đấu tranh, xây dựng và
phát triển, tháng 8/2012).
7
Nguồn: />BB%9Bn&type=A0
8
Nguyễn Th Diệp Mai cho biết, GS. Trần Quốc Vượng đã khẳng đ nh Dinh Cậu vốn là
một ngôi miếu thờ Long Vương; còn người dân ở Phú Quốc cho rằng, trước đây, ngôi
miếu này thờ Đông Hải Long Vương. (Bài Tục thờ Bà ở Phú Quốc, tọa đàm Văn hóa tín
ngưỡng Mẫu Thoải - Thủy Long và Nghi lễ Chầu văn tại Phú Quốc, 10-8-2013).
9
Trình diễn nghệ thuật hát chầu văn trên đảo Ngọc, Nguồn: website của Sở Văn hóa, Thể
thao và Du l ch Kiên Giang.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Trương Thanh Hùng (2012), Văn hóa dân gian đảo Phú Quốc, Nxb KHXH, H.
2.
Nguyễn Thanh Lợi (2004), Tín ngưỡng thờ nữ thần ở Bà Rịa-Vũng Tàu, trong Tìm
hiểu đặc trưng di sản văn hóa văn nghệ dân gian Nam Bộ, Nxb Khoa học xã hội,
3.
Dương Hoàng Lộc (2010), Tín ngưỡng thờ bà Thủy của cộng đồng ngư dân An Thủy
(huyện Ba Tri-tỉnh Bến Tre), Tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 2
4.
Cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực (2008), Nxb QĐND.
5.
Nguyễn Hữu Thông (Chủ biên, 2001), Tín ngưỡng thờ Mẫu ở miền Trung Việt Nam,
Nxb Thuận Hóa, Huế.
* Nhận bài ngày: 15/1/2014. Biên tập xong: 10/4/2014. Duyệt đăng: 22/5/2014
15