TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN
Số 25 - Tháng 12/2014
BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY MƠN
TIẾNG ANH TẠI MỘT TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THƠNG
Ở TỈNH ĐỒNG THÁP
NGUYỄN VĂN ĐỊNH(*)
TĨM TẮT
Từ kết quả đạt được tại một trường trung học phổ thơng, bài viết đưa ra các biện pháp
nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Anh: nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của mơn
tiếng Anh trong đời sống làm việc; thường xun phân tích kết quả học tập, tăng cường bồi
dưỡng phụ đạo học sinh yếu kém; xây dựng nguồn tư liệu phục vụ giảng dạy; tăng cường
chia sẻ kinh nghiệm chun mơn; tổ chức các hoạt động ngoại khóa, giúp học sinh có cơ
hội sử dụng tiếng Anh trong mơi trường tập thể; tìm ra cách dạy tiếng Anh dễ nhớ, thiết kế
các hoạt động sinh động nhằm giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên và
nhẹ nhàng.
Từ khóa: giảng dạy tiếng Anh, hoạt động ngoại khóa, mơi trường tập thể
ABSTRACT
From the results obtained in a high school, this article offers measures to improve
teaching effectiveness in English: raising students’awareness about the importance of the
English language in working life; regularly analyzing of learning outcomes, mentoring
weak students; building resources for teaching; enhancing the sharing of teaching
experience; organizing extra curricular activities to help students have the opportunity to
use English in a collective environment; finding out how to teach English memorably,
designing vivid activities to help students acquire knowledge naturally and gently.
Keywords: teaching English, extra curriculum activities, collective environment
1. MỞ ĐẦU(*)
Điều 7, Luật Giáo dục năm 2005 qui
định: Ngoại ngữ quy định trong chương
trình giáo dục là ngơn ngữ được sử dụng
phổ biến trong giao dịch quốc tế. Việc tổ
chức dạy ngoại ngữ trong nhà trường và cơ
sở giáo dục khác cần bảo đảm để người
học được học liên tục và có hiệu quả [1].
Quyết định 1400/QĐ-TTg ngày 30/9/2008
của Thủ tướng chính phủ phê duyệt đề án dạy
học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc
(*)
dân giai đoạn 2008-2020 nêu mục tiêu dạy học
ngoại ngữ như sau:
“Đổi mới tồn diện việc dạy và học
ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc
dân, triển khai chương trình dạy và học
ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào
tạo, nhằm đến năm 2015 đạt được một bước
tiến rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng
ngoại ngữ của nguồn nhân lực, nhất là đối
với một số lĩnh vực ưu tiên; đến năm 2020
đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung
cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực
ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin trong giao
tiếp, học tập, làm việc trong mơi trường hội
ThS, Trường THPT Tháp Mười, Đồng Tháp
136
nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hóa; biến ngoại
ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt
Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước” [3].
Nhà trường cần xác định vai trò cần thiết
của môn ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh
nói riêng đối với giáo dục phổ thông trong
quá trình hội nhập quốc tế. Khẳng định vị trí
quan trọng của giáo viên (GV) ngoại ngữ
trong việc nâng cao chất lượng toàn diện là
trách nhiệm của các cấp quản lý giáo dục. Từ
đó có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuyên
môn nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giảng
dạy. Chính vì thế, các nhà trường và GV
ngoại ngữ phải không ngừng nghiên cứu để
tìm ra nhiều biện pháp thu hút học sinh (HS)
tích cực học tập ngoại ngữ.
2. NỘI DUNG
Hiện nay, xã hội có quá nhiều ngành
nghề yêu cầu môn thi tuyển sinh thuộc
nhóm khoa học tự nhiên (KHTN). Vì thế
hầu hết HS chỉ quan tâm đầu tư (kể cả học
thêm) các môn KHTN mà ít đầu tư môn
khoa học xã hội và nhân văn (KHXH-NV),
trong đó có tiếng Anh, nhằm mục đích thi
đỗ đại học.
Không ít GV tiếng Anh ở trường trung
học phổ thông (THPT) chỉ đối phó với việc
giải quyết chương trình, phục vụ cho các
kỳ thi theo qui định mà chưa đầu tư hoặc ít
quyết tâm tìm ra các giải pháp để thu hút
HS tích cực học tập môn học
Một số nhà trường chưa quan tâm đúng
mức việc tạo điều kiện cho GV môn tiếng
Anh phát huy khai thác thế mạnh môn học;
chưa có nhiều giải pháp đảm bảo sự cân
bằng trong truyền thụ kiến thức toàn diện
cho học sinh.
2.1. Thực trạng dạy và học môn tiếng
Anh tại Trường THPT Tháp Mười
Tiến hành phỏng vấn bằng phiếu 59 HS
tại trường THPT Tháp Mười gồm cả 3 khối
lớp được chọn lựa ngẫu nhiên. Nội dung
khảo sát thực trạng dạy học môn tiếng Anh
tại trường bao gồm: (1) Sở thích của HS về
môn ngoại ngữ tiếng Anh; (2) Nhận định về
tầm quan trọng của tiếng Anh trong cuộc
sống làm việc sau này; (3) Năng lực đội ngũ
giảng dạy môn tiếng Anh của trường; (4)
Kết quả giảng dạy tiếng Anh ở trường trong
vài năm gần đây. Khảo sát bằng hình thức:
trả lời vào phiếu hỏi; nghiên cứu hồ sơ
chuyên môn, phân tích kết quả giảng dạy
môn tiếng Anh của nhà trường. Kết quả thu
được khá tin cậy như sau:
2.1.1. Khảo sát ý kiến học sinh về sở
thích đối với môn tiếng Anh
Khi được hỏi về nhóm môn học yêu
thích, có 33/59 HS (55.9%) thích KHTN và
18 HS (30.5%) thích KHXH-NV, có 20 HS
(33.9%) thích môn tiếng Anh (trong đó có
những HS vừa thích KHTN và tiếng Anh
vừa thích KHXH-NV và tiếng Anh).
Xác định về tính phức tạp của môn
tiếng Anh: có 10/59 HS (16.9%) cho rằng
rất khó, 21/59 HS (35.6%) xác định là môn
khó học, 21/59 HS (35.5%) cho là môn học
bình thường như các môn khác, có 7/59 HS
(11.9%) xem đây là môn dễ học.
Nhận định về khả năng tiếp thu môn
tiếng Anh của mình, có 3/59 HS (5.1%) trả
lời là tiếp thu rất tốt, 10/59 HS (16.9%)
tiếp thu tốt, 39/59 HS (66.1%) tiếp thu ở
mức bình thường và có 8/59 HS (13.6%)
có khả năng tiếp thu yếu.
Về thời lượng trung bình dành cho
môn tiếng Anh mỗi ngày: có 11/59 HS
(18.6%) chỉ học chưa đầy nửa giờ, 25 HS
(42.37%) học khoảng 1 giờ, 17/59 HS
(28.81%) học từ 1 - 2 giờ và chỉ có 6/59
HS (10.16%) học trên 2 giờ mỗi ngày.
2.1.2. Nhận định về tầm quan trọng
của ngoại ngữ (tiếng Anh) trong cuộc sống
làm việc sau này
137
Có 41/59 HS (69.5%) cho là rất cần
thiết, 17 HS (17.3%) cho là cần thiết nhưng
có 2 HS (9.6%) cho là không cần thiết.
Tiến hành khảo sát ý kiến 417 HS lớp 12
về việc chọn 2 môn thi TN còn lại thì thu
được kết quả như sau: Hóa học 324 HS
(77.7%); Sinh học 222 HS (53.2%); Vật lý
154 HS (36.9%), tiếng Anh 79 HS
(18.9%), Địa lý 29 HS (7.0%), Lịch sử 26
HS (6.2%).
Về cơ cấu phân ban của trường theo
chọn lựa của HS: trường chỉ có 3/36 lớp
(8.3%) học chương trình nâng cao tiếng
Anh nhằm định hướng thi vào các trường
đại học có thi tuyển môn tiếng Anh.
Đa số HS xác định được tầm quan
trọng và sự cần thiết của ngoại ngữ, nhất là
tiếng Anh trong đời sống làm việc sau này.
Tuy nhiên nhiều HS cho rằng đây là môn
khó học. Không ít HS cảm thấy có khả
năng hạn chế trong việc tiếp thu. Học sinh
cũng chưa dành nhiều thời lượng cho môn
tiếng Anh
2.1.3. Thực trạng đội ngũ giáo viên
tiếng Anh của trường
Số lượng, thâm niên, trình độ... GV
tiếng Anh của trường [4] được thống kê
như dưới đây:
Tổng số
Nữ
Thâm niên
Trình độ
GV giỏi
GV dạy lớp 12
8
7
Dưới 5 năm: 1;
Từ 5-10 năm: 2;
Trên 10 năm: 5
Cử nhân: 6;
Thạc sĩ: 2;
Chứng chỉ C1: 2
Cấp trường: 5;
Cấp tỉnh: 2
7
2.1.4. Kết quả giảng dạy môn tiếng
Anh của trường
Số liệu các năm gần đây khẳng định
kết quả giảng dạy các môn tiếng Anh của
trường THPT Tháp Mười luôn ổn định ở
mức cao so với các môn khác và so với
toàn tỉnh, đã góp phần quan trọng trong
việc nâng cao tỉ lệ học sinh khá giỏi và hạn
chế tỉ lệ lưu ban, bỏ học cho trường trong
nhiều năm qua. Kết quả thi tốt nghiệp của
môn tiếng Anh cũng rất cao so với mặt
Năm học
Tiếng
Anh
bằng chung của tỉnh và 3 năm liền xếp
hạng nhì toàn tỉnh chỉ sau 1 trong 2 trường
chuyên. Nhiều năm liền có HSG vòng tỉnh,
học sinh đạt giải cuộc thi hùng biện, thi
Olympic tiếng Anh.
* Tỉ lệ HS đạt điểm trung bình cả năm:
Một số kết quả dạy học môn tiếng Anh
của trường trong những năm gần đây: (so
với các môn được chọn thi tốt nghiệp
THPT) [4].
Ngữ
văn
Lịch
sử
Địa
lý
Toán
học
Vật
lý
Hóa
học
Sinh
học
2011-2012
78.0%
88.1%
94.9%
88.0%
76.5%
85.3%
85.2%
92.2%
2012-2013
85.8%
95.0%
93.3%
92.4%
83.0%
82.3%
89.2%
92.2%
HKI
82.3%
2013-2014
90.5%
91.0%
91.0%
86.6%
85.9%
93.6%
90.4%
138
biện vòng tỉnh đạt 1 giải Ba, thi Olympic
tiếng Anh qua mạng 1 giải Khuyến khích
cấp tỉnh và giải Khuyến khích cấp toàn
quốc.
* Tỉ lệ điểm thi tốt nghiệp đạt từ 5
trở lên: [2]
Đạt thứ hạng cao (tỉ lệ cao so với 42
trường THPT của tỉnh Đồng Tháp)
* Kết quả thi học sinh giỏi (HSG):
[2]
- Năm học 2011-2012, đạt giải 2 HSG
vòng tỉnh (giải Ba và Khuyến khích).
- Năm học 2012-2013, trường đạt giải
1 Ba vòng tỉnh.
- Năm học 2013-2014, trường đạt 2
giải khuyến khích HSG cấp tỉnh, thi Hùng
Năm học
Trường
Toàn tỉnh
2010-2011
87.9% (hạng 2)
64.2%
2011-2012
98.8% (hạng 2)
87.1%
2012-2013
97.9% (hạng 2)
82.9%
các môn ngoại ngữ nói chung và môn tiếng
Anh nói riêng trong việc phấn đấu đạt mục
tiêu của đề án dạy học ngoại ngữ đến năm
2020. Thực tế cho thấy nhiều môn học sẽ
gắn bó thường xuyên với cuộc sống làm
việc của HS trong đó có môn ngoại ngữ
(nếu làm việc với người nước ngoài)…
Học tốt môn tiếng Anh là một công cụ
quan trọng giúp thanh niên Việt Nam thành
công trong cuộc sống làm việc sau này.
Luôn đặt môn ngoại ngữ trong mối
quan hệ biện chứng với các môn học khác
để HS và gia đình thấy rằng đây là môn
học cần thiết không thể thiếu ở trường phổ
thông.
2.2.2. Thường xuyên khảo sát, phân
tích kết quả học tập, tăng cường bồi dưỡng
phụ đạo học sinh yếu kém
Sau mỗi giai đoạn kiểm tra đánh giá,
nhà trường tiến hành phân tích kết quả đạt
được của HS; so sánh kết quả của HS trong
cùng lớp, HS giữa các lớp. Từ đó, GV phân
nhóm HS theo năng lực để có những biện
pháp bồi dưỡng hợp lý. GV quan tâm giúp
HS xóa bỏ cảm giác lo lắng tự ti khi học
ngoại ngữ bằng cách không ngừng tìm ra
* Đánh giá thực trạng
* Ưu điểm: Thực trạng đã phản ánh
khá đúng suy nghĩ của học sinh về môn
tiếng Anh. Học sinh thấy được sự cần thiết
của tiếng Anh, thích học nhưng ngại học vì
cho tiếng Anh là môn khó. Kết quả khảo
sát sẽ giúp nhà trường có những biện pháp
phù hợp trong việc đảm bảo chất lượng
môn tiếng Anh cho học sinh.
* Hạn chế: Việc khảo sát chỉ được
thực hiện trên số lượng HS chưa nhiều. Ý
kiến trả lời của HS có thể bị chi phối bởi
một số nhân tố khác nên có vài kết quả chỉ
mang tính tương đối. Phần lớn HS học
tiếng Anh nhằm mục đích chính là “đối
phó” với các kỳ thi chứ chưa nhằm mục
đích nâng cao năng lực về ngoại ngữ và có
thể giao tiếp được với người nước ngoài
trong cuộc sống làm việc sau này.
2.2. Các biện pháp nâng cao hiệu quả
giảng dạy tiếng Anh tại trường THPT
2.2.1. Nâng cao nhận thức cho HS về
tầm quan trọng của môn tiếng Anh trong
đời sống làm việc sau này
Nhà trường, giáo viên môn ngoại ngữ
phải quán triệt đầy đủ tầm quan trọng của
139
các biện pháp để làm cho môn học hấp dẫn
lý thú.
Việc tổ chức phụ đạo, giao bài tập cho
HS cần đảm bảo tính vừa sức, tránh giao
việc quá tải, quá khó sẽ tạo ra cảm giác
chán nản tự ti. GV nên quan tâm khen ngợi
động viên kịp thời các cố gắng dù rất nhỏ
của HS.
2.2.3. Xây dựng, chọn lọc nguồn tư
liệu phục vụ giảng dạy, tăng cường chia sẻ
kinh nghiệm chuyên môn trong và ngoài
đơn vị
Tài liệu dành cho môn tiếng Anh rất
phong phú, đa dạng. Chính vì thế, ngoài
sách giáo khoa, GV cần tích cực tìm và
chọn lọc các tư liệu từ nhiều nguồn như:
tìm qua mạng các tài liệu hay của các
trường trên cả nước; thu thập có hệ thống
từ các hội thảo tập huấn chuyên môn. Tổ
chuyên môn cần biên tập đề cương, xác
định những yêu cầu trọng tâm của chương
trình sao cho đảm bảo yêu cầu chương
trình nhưng phù hợp với năng lực học sinh
tại đơn vị.
Tổ chức tốt việc dự giờ, đánh giá tiết
dạy, phân tích đầy đủ ưu điểm và hạn chế
các tiết thao giảng. Tại các cuộc họp
chuyên môn, GV tập trung bàn các biện
pháp cải tiến nâng cao hiệu quả giảng dạy
theo từng bài, từng tiết.
Nhà trường tổ chức cho GV giao lưu
chia sẻ kinh nghiệm với GV ngoại ngữ của
các trường có chất lượng giảng dạy hiệu
quả. Ngoài ra, nhà trường cần mời GV
trường khác ra đề thi diễn tập tốt nghiệp và
thi thử đại học vừa để giao lưu kinh
nghiệm vừa đánh giá khách quan kết quả
giảng dạy của GV.
2.2.4. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa
Nhà trường cần tổ chức các hoạt động
ngoại khóa để giúp HS có cơ hội sử dụng
tiếng Anh trong môi trường tập thể cũng
như thường xuyên tổ chức các kỳ thi nghe
nói (listenning and speaking) để các em có
động cơ rèn luyện và học tiếng Anh.
Hoạt động ngoại khóa giúp các em
vượt qua cảm giác e ngại nói tiếng Anh.
Hoạt động này được tổ chức, tư vấn bởi
giáo viên và sự động viên cổ vũ của bạn
bè. Thông qua hoạt động ngoại khóa, các
em thấy tự tin hơn và cảm nhận rằng mình
hoàn toàn có thể nói tiếng Anh. Hoạt động
ngoại khóa cũng giúp GV tìm ra được HS
có năng khiếu môn tiếng Anh để tuyển
chọn, rèn luyện và bồi dưỡng cho các kỳ
thi: HSG, hùng biện, Olympic… từ đó tạo
hạt nhân cho bộ môn và những HS này có
thể giúp đỡ và hỗ trợ rèn luyện cho các HS
khác để giúp nhà trường gầy dựng phong
trào thực hành tiếng Anh.
Các kỳ thi nghe nói tiếng Anh giúp
nhiều HS vượt qua cảm giác tư ti trong
giao tiếp bằng tiếng Anh. Do thiếu môi
trường thực hành giao tiếp bằng ngoại ngữ
nên đa số HS không áp dụng được kiến
thức các em đã học và không có cơ hội rèn
luyện kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Anh.
Thông qua kỳ thi nghe nói tập trung, HS có
cơ hội trao đổi, chia sẻ về các chủ đề gần
gủi với cuộc sống. Thực tiễn cho thấy, học
sinh rất lo lắng trước khi cuộc thi diễn ra.
Chính vì thế các em tăng cường tìm hiểu,
rèn luyện. Sau mỗi lần tham dự cuộc thi
này, HS sẽ tiến bộ vì cảm thấy mình hoàn
toàn có thể nói được tiếng Anh, thậm chí
các em có thể đáp ứng được giao tiếp thông
thường bằng tiếng Anh.
2.2.5. Thiết kế các hoạt động sinh động
nhằm giúp HS tiếp thu kiến thức một cách
tự nhiên và nhẹ nhàng
Việc tìm ra những qui tắc giúp HS dễ
ghi nhớ bài học, ghi nhớ từ vựng sẽ giúp
các em bớt nhọc nhằn trong việc học tiếng
Anh. Những câu vè, những hình ảnh liên
140
hệ, sự tương đồng về âm thanh trong tiếng
Việt và tiếng Anh sẽ giúp HS hứng thú tìm
hiểu và tích cực ghi nhớ. Các em sẽ không
cảm thấy học tiếng Anh là một việc hết sức
khó khăn và vất vả. Giáo viên có thể sử
dụng những phút đầu giờ để giúp HS thực
hành nói tiếng Anh thay vì kiểm tra bài cũ
bằng những công thức khô khan và khó
nhớ. Ví dụ: Khi học bài 12 của chương
trình Lớp 10, giáo viên có thể cho HS nói
tiếng Anh về chủ đề âm nhạc. Để nhiều HS
có cơ hội nói tiếng Anh và học được nhiều
cấu trúc ngữ pháp và từ vựng, GV đặt câu
hỏi và yêu cầu mỗi HS phải trả lời bằng
một phương án khác nhau, câu trả lời
không được trùng nhau, học sinh trả lời
trước sẽ ít bị trùng ý và sẽ không bị “phạt”
(cần thống kê lại tất cả các câu hỏi và câu
trả lời).
Giáo viên ra câu hỏi thứ nhất: What
kind of music do you like? Why?
HS 1: I like pop music because it is
interesting.
HS 2: I like pop music because it helps
me relax.
HS 3: I like rock music because it is
rousing.
HS 4: I like folk music because it is
sweet and gentle.
……………………………….
Học sinh sẽ trả lời cho đến khi các em
không tìm ra từ vựng để trả lời cho câu hỏi
đó. Thông qua mỗi câu hỏi, tất cả HS trong
lớp sẽ học được nhiều từ vựng từ bạn bè.
Câu trả lời hay sẽ được thưởng. Trong
vòng khoảng 10 phút đầu của tiết học, GV
có thể đặt từ 2-3 câu hỏi. Nếu áp dụng tốt
cho nhiều tiết học, GV sẽ rèn luyện dần
cho HS nói tiếng Anh chứ không riêng tiết
speaking. Cách làm này sẽ giúp HS yêu
thích môn tiếng Anh và góp phần nâng cao
chất lượng dạy học môn này.
3. KẾT LUẬN
Các biện pháp nêu trên đã thực hiện tại
trường THPT Tháp Mười không là biện
pháp mới nhưng đã được tiến hành một
cách khá đồng bộ từ cán bộ quản lý, giáo
viên đến học sinh. Chính việc quan tâm
đầu tư, xác định tầm quan trọng của bộ
môn, khẳng định vai trò tích cực của GV
môn tiếng Anh mà nhà trường đã nhận
được sự hưởng ứng mạnh mẽ của tập thể
nhất là GV các môn KHXH-NV (vào thời
điểm việc giảng dạy các môn KHXH-NV
đang gặp nhiều khó khăn nhất định). Nhà
trường luôn chủ động tìm ra những biện
pháp, mô hình thiết thực để tạo điều kiện
cho môn tiếng Anh đạt hiệu quả cao nhất.
Từ kết quả đạt được tại trường THPT
Tháp Mười, những biện pháp trên có thể áp
dụng rộng rãi tại các trường trung học
nhằm từng bước thay đổi suy nghĩ, thay đổi
quan niệm của học sinh và gia đình về môn
tiếng Anh từ đó HS tự tin và hứng thú học
tập để đạt kết quả cao nhất. Giáo viên tiếng
Anh có thể tham khảo các biện pháp nhằm
nghiên cứu, khai thác tối đa điểm mạnh của
môn học. Từ đó, GV mạnh dạn điều chỉnh
phương pháp giảng dạy làm cho môn tiếng
Anh hấp dẫn và thu hút HS hứng thú học
tập hơn. Các nhà trường có thể nghiên cứu
vận dụng trong quản lý góp phần nâng cao
chất lượng chuyên môn nhà trường.
141
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Luật Giáo dục (2005). Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia.
2.
Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Tháp, Báo cáo tổng kết năm học 2012-2013 và Phương
hướng nhiệm vụ năm học 2013-2014.
3.
Thủ tướng Chính phủ, Quyết định 1400/QĐ-TTg ngày 30/9/2008 của Thủ tướng chính
phủ phê duyệt đề án dạy học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn
2008-2020.
4.
Trường Trung học phổ thông Tháp Mười, Báo cáo tổng kết năm học 2012-2013.
*Ngày nhận bài: 3/6/2014. Biên tập xong: 1/12/2014. Duyệt đăng: 6/12/2014
142