TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN
Số 22 - Tháng 8/2014
MỘT GĨC NHÌN VỀ HÀ NỘI XƯA
QUA TÁC PHẨM HÀ NỘI ĐỊA DƯ CỦA DƯƠNG BÁ CUNG
NGUYỄN THỊ NGỌC LAN(*)
TĨM TẮT
Hà Nội, thủ đơ văn hiến, thành phố hồ bình, văn minh, thanh lịch. Nói đến Hà Nội là
nói đến trung tâm văn hố, chính trị, kinh tế, ngoại giao của cả nước. Trải qua bao thăng
trầm trong tiến trình lịch sử, địa dư Hà Nội có nhiều đổi thay. Để hiểu hơn về địa danh Hà
Nội qua các thời kỳ, chúng ta nghiên cứu về giá trị của văn bản “Hà Nội địa dư” do
Dương Bá Cung biên soạn.
Từ khóa: thủ đơ văn hiến, văn minh, thanh lịch
ABSTRACT
Ha Noi is the Capital of culture, a city for peace, a courteous and refined city famed
for its civilization. Ha Noi is the political, cultural, economic and diplomatic center of the
country.Wherever the Vietnamese are, they always direct the trust and pride towards Ha
Noi. To have a better understanding of Ha Noi through different periods, the book “ Ha
Noi geographic” compiled by Duong Ba Cung will be served as a valuable referrence for
all kinds of researchers.
Keywords: capital of culture, civilization, be courteous and refined
(*)
Tác phẩm Hà Nội địa dư do Dương Bá
Cung soạn năm 1851 tập hợp tri thức về
địa lý, lịch sử của tỉnh Hà Nội thời Tự
Đức. Dương Bá Cung là một tác gia Hán
Nơm nổi tiếng cuối thế kỷ XIX. Ơng có
nhiều trước tác về các phương diện gia
phả, thế phả, địa chí, như: Hà Nội địa dư,
Dương tộc thế phả, Dương gia trữ trục,
Cấn Đình thi văn tập… trong đó, Hà Nội
địa dư là văn bản Hán Nơm đặc sắc về tỉnh
Hà Nội. Giới nghiên cứu Hà Nội học đã và
đang quan tâm đến Hà Nội địa dư của
Dương Bá Cung. Chính vì vậy, nghiên cứu
về Dương Bá Cung và “Hà Nội địa dư”
cùng các giá trị của tác phẩm là một hành
trình có ý nghĩa khi tìm về di sản văn hố
dân tộc.
Với độ dày 106 trang, hơn 13 nghìn
300 lượt chữ ghi chép khá chi tiết về tỉnh
Hà Nội, sách Hà Nội địa dư, bản lưu trữ tại
Viện nghiên cứu Hán Nơm, ký hiệu
A1154. VHv.2659 là bản chép tay. Bản
chép tay này phản ánh một cách trung
thành bản của tác giả soạn năm 1851.
Đầu thế kỷ XIX, lịch sử nước ta diễn
ra những biến động thăng trầm: nhà Lê sụp
đổ, triều đình Tây Sơn suy yếu, và cuối
cùng là sự kiện nhà Nguyễn trả thù
Tây Sơn một cách tàn nhẫn (năm 1802),
kinh thành Thăng Long khơng còn được
coi là Quốc đơ nữa.
Sau hơn 800 năm kể từ khi Lý Thái Tổ
ban Thiên đơ chiếu (1010), vị trí Quốc đơ
của Thăng Long đã “nhường” lại cho
Thuận Hóa. Thăng Long dưới thời Tây Sơn
(*)
ThS, Hội đồng Lý luận, phê bình văn học - nghệ
thuật Trung ương
63
và đầu nhà Nguyễn được mang thêm tên là
trấn Bắc Thành, rồi sau đó được đổi là
Hà Nội (1831).
Tuy nhiên, Thăng Long vẫn là thủ phủ
gồm 11 trấn nhưng gọi là Bắc Thành, riêng
phủ Phụng Thiên đổi ra Hoài Đức. Năm
1804, vua Gia Long ra lệnh phá thành cũ
xây trên đó một tòa thành mới, nay còn có
thể nhận diện: tường Bắc tương ứng với
phố Phan Đình Phùng, tường Tây tương
ứng Hùng Vương, tường Nam tương
ứng Trần Phú, tường Đông tương ứng
Phùng Hưng hiện nay. Như vậy, thành mới
này chiều Bắc-Nam mở rộng hơn thành
nhà Lê, còn mặt phía Đông thì thu hẹp hơn
thành cũ mặt phía Tây có thể vẫn trùng với
thành cũ, tương ứng với Hoàng thành đời
Lê.
Để thống trị Bắc Kỳ, năm 1805 nhà
Nguyễn cho xây lại thành Thăng Long nhỏ
hẹp hơn rất nhiều so với Hoàng thành các
thời trước.
Thời Nguyễn, triều vua Minh Mạng đã
cải cách bộ máy hành chính, bỏ các trấn,
chia cả nước làm 29 tỉnh, trong đó có tỉnh
Hà Nội gồm phủ Hoài Đức, huyện Từ
Liêm có trấn Sơn Tây và 3 phủ Ứng Hòa,
Thường Tín, Lý Nhân của trấn Sơn Nam.
Thăng Long hạ xuống thành tỉnh lỵ
Hà Nội. Hà Nội là một địa danh có từ 1831
sau công cuộc cải cách hành chính.
Theo đó, tỉnh Hà Nội - tỉnh của “vùng
đất ở trong sông” được mở rộng bao gồm
các phủ: Hoài Đức, Ứng Hòa, Ứng Hòa,
Lý Nhân, Thường Tín và 15 huyện gồm :
Thanh Trì, Thượng Phúc, Phú Xuyên,
Thanh Oai, Chương Đức, Sơn Minh,
Hoài An, Từ Liêm, Thọ Xương,
Vĩnh Thuận, Duy Tiên, Kim Bảng, Nam
Xương, Thanh Liêm, Bình Lục. Sông Nhị
Hà ôm ấp cả một vùng đất của trấn Sơn
Nam khi xưa. Tên gọi “Hà Nội” lúc đó có
nhiều nét khác với tên gọi “Hà Nội” ở các
giai đoạn sau 1888 và càng khác với tên
gọi “Hà Nội” bây giờ.
Tới thời điểm này, thành bị bạt bớt đi,
các công trình văn hoá cũng có những biến
đổi: Quốc Tử Giám cùng nhiều công trình
cung điện bị dỡ mang vật liệu vào xây dựng
ở Huế. Văn Miếu thành nơi thuộc tỉnh
Hà Nội quản lý. Trường thi Hương trên
phố Tràng Thi trở thành chốn đàn ca hát
xướng. Phường Hòe Nhai và sau đó là phố
Hàng Giấy là nơi vui chơi giải trí đàn ca.
Riêng khu vực kinh thành Thăng Long
cũ chỉ gồm hai huyện Thọ Xương và
Vĩnh Thuận. Đây là hai tên mới của huyện
Quảng Đức khi xưa. Thọ Xương có 194
phường, thôn; Vĩnh Thuận có 56 phường,
thôn. Đến thời Minh Mạng gộp lại còn 116
và 27. Một số cửa ô được xây dựng lại
trong đó có ô Quan Chưởng.
So với trước, sự phát triển kinh tế của
Hà Nội nửa đầu thế kỷ XIX không được
đều. Các phường, thôn phía Tây và Nam có
xu hướng nông thôn hoá chuyên về nghề
nông có kết hợp thủ công. Bộ mặt đô thị
Hà Nội dồn về khu phía Đông và Đông
Nam. Ở đây phố phường ngang dọc như bàn
cờ, nhà cửa kề nhau. Khu Phủ Chúa Trịnh
bị vua Chiêu Thống cho phá năm 1787 và
vùng quanh Hồ Gươm nhanh chóng thành
khu dân cư, buôn bán và thủ công.
Thăng Long với tư cách một kinh đô
thực sự bị loại bỏ trong suốt thời gian 143
năm dưới triều Nguyễn và thời Pháp thuộc.
Tuy mất vị trí kinh đô, nhưng kinh tế Hà Nội
vẫn phát triển. Người ngoại quốc tới buôn
bán đông hơn trước, nhất là Hoa kiều.
Qua những sự thay đổi về mặt địa lý
hành chính của thành phố Hà Nội đã kể ở
trên, trong Hà Nội địa dư chúng tôi mong
muốn phản ánh phần nào sự phát triển của
tỉnh Hà Nội xưa, làm cơ sở tri thức về địa lí
64
hành chính của tỉnh Hà Nội.
Chính vì có đặc điểm trên, Hà Nội địa
dư của Dương Bá Cung đã trở thành một
bộ sách quan trọng có giá trị lịch sử khi
nghiên cứu về Hà Nội, do đó ngay từ thế
kỷ trước bộ sách đã từng được nhiều tác
gia lấy làm tư liệu tham khảo để biên soạn
những bộ sách nghiên cứu về Thăng Long
– Hà Nội. Điều này có được bởi Dương Bá
Cung là nhà khảo cứu, nhà biên tập Hán
Nôm có danh tiếng.
Nhìn một cách tổng quát, Hà Nội địa
dư có kết cấu như mọi bộ địa dư địa
phương nói riêng, địa dư nói chung. Ở đây
chép theo phương pháp từ tổng quan đến
chi tiết tức là hình thế chung của tỉnh Hà
nội đến vị trí của từng địa danh lịch sử và
danh thắng của tỉnh Hà Nội. Chúng ta sẽ
thấy kết cấu của sách được trình bày theo
từng phần riêng biệt nhưng ở mỗi phần lại
có rất nhiều thông tin xung quanh liên quan
đến phần nội dung chính được đề cập. Ví
như nói về tỉnh Hà Nội, trước tiên Dương
Bá Cung đề cập tới hình thế chung, phong
tục tập quán người dân sau mới nói đến
khu vực tỉnh hạt và nội thành.
Đặc biệt, qua cách trình bày của
Dương Bá Cung, người đọc có thể thấy rõ
về một Thăng Long với vai trò là kinh đô
của nhiều triều đại qua từng câu miêu tả.
Bên cạnh đó, độc giả cũng cảm thấy rõ một
tỉnh Hà Nội thời Nguyễn với vai trò quan
trọng trong phát triển đất nước từ kinh tế
đến văn hóa.
Tác gia Dương Bá Cung đã viết tác
phẩm Hà Nội địa dư bằng lối biền văn.
Những câu, những dòng hầu hết có tính đối
xứng với nhau và thường để chỉ hai mặt
toàn diện của một vấn đề nào đó.
Có thể thấy rằng tác phẩm Hà Nội địa
dư của tác gia Dương Bá Cung không chỉ
là một văn bản ghi chép về địa dư của vùng
đất Hà Nội mà còn là một pho tư liệu về
lịch sử địa danh, lịch sử văn hóa của tỉnh
Hà Nội từ các triều đại phong kiến trong
lịch sử cho tới triều Nguyễn. Đây chính là
một bộ sách quan trọng cho bất cứ ai muốn
tìm hiểu về lịch sử và văn hóa của Hà Nội
và các địa danh.
Tác phẩm Hà Nội địa dư được tác gia
Dương Bá Cung viết với một tâm trạng
hoài niệm quá khứ, tiếc cho kinh thành
Thăng Long xưa nay đã mất đi vị thế của
một vùng kinh kỳ và chỉ còn ở vị trí của
một tỉnh. Hầu hết các di tích danh lam
thắng cảnh và địa danh của vùng kinh sư
xưa kia đã không còn được như trước, có
những địa điểm đã không còn. Ví dụ như
nói về điện chiêu sự đàn Nam Giao, ông đã
viết rất kỹ về lịch sử nhưng lại chú thích
đến hiện tại:
“Ở phía nam thành (nay là thôn Thịnh
Yên, huyện Thọ Xương). Năm Đại Định
thứ 13 triều Lý Anh Tông đắp gò đất hình
tròn làm đàn ở cổng phía nam thành Đại
La. Đến năm Quang Thuận triều Lê mới
dựng tòa chính điện 3 gian, hai tòa giả vũ
đông tây, mỗi tòa 7 gian. Các triều tiếp
theo vẫn giữ như vậy. Năm Cảnh Trị thứ 4,
điện được trùng tu dựng cột đá 4 góc, cột,
xà, đầu đốc đều sơn son thiếp vàng, văn
thần Hồ Sĩ Dương có soạn bài ký ghi chép
lại sự việc. Tới đầu triều Gia Long đã phá
dỡ đàn này lấy gạch đá để cung cấp cho
việc xây thành, nhưng tòa chính điện và bia
đá vẫn còn. Phía bên phải điện là đàn
Phong Vũ, thờ thần vị của Phong bá, Vũ
Sư và Lôi Thần, có tòa nhà ba gian, nay đã
đổ nát, dân thôn sở tại lấp thành miếu để
thờ phụng”.
Qua lời văn chúng ta cảm thấy một sự
tiếc nuối khá rõ ràng. Không chỉ vậy, ngay
tại di tích chùa Sùng Khánh Báo Thiên
cũng có đoạn:
65
“Hồi Lê mạt, quân Tây Sơn phá hủy
quả chuông này để đúc tiền, dỡ gạch đá để
xây dựng chỗ khác, trên viên gạch nào
cũng có in niên hiệu của vua Lý. Chùa
ngày nay là do viên nguyên Đốc học họ
Đặng dựa trên cơ sở chùa cũ mà tu sửa lại.
Những tảng đá sanh còn lại , trên hình hoa
sen là của bề mặt bên ngoài tháp. Có hình
bát giác của bệ tháp. Cột của nó cao 5 - 6
thước, bề ngang 8 tấc. Hình hai con chim
phượng ở bên trái tháp và hình đầu người
trên đầu tháp đều là di vật của chùa cũ”.
Ông đã nhấn mạnh việc chùa cũ đã mất đi,
nếu đơn thuần là việc ghi chép như một sử
gia thì chắc đã không có nhiều thông tin cụ
thể chi tiết về từng nét kiến trúc của ngôi
chùa đến như vậy.
Bên cạnh tâm trạng tiếc nuối về một
Thăng Long xưa, Dương Bá Cung - một
người Hà Nội – còn có những lời văn tự
hào về một Thăng Long - Hà nội với bao
danh lam thắng cảnh, lịch sử hào hùng và
văn hóa đậm đà. Thể hiện điều này, hầu hết
các địa danh của Thăng Long xưa, Hà Nội
nay đều được nhắc đến trong Hà Nội địa
dư những năm đầu thế kỷ của tác gia
Dương Bá Cung.
Như vậy, tác phẩm Hà Nội địa dư cho
đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Tác phẩm
đã cho chúng ta một cái nhìn khá toàn diện
về thành Thăng Long xưa cũng như tỉnh
Hà Nội thời Nguyễn. Với lối hành văn biền
ngẫu, sự trích dẫn đầy đủ chi tiết về các địa
danh, quá trình hình thành cũng như thay
đổi, phát triển hoặc lụi tàn của từng vị trí,
độc giả có thể thấy một tỉnh Hà Nội vô
cùng sống động với nhiều giá trị văn hóa,
lịch sử đáng tự hào.
Phương pháp trình bày của Dương Bá
Cung là theo từng mục một, mỗi mục trình
bày đầy đủ một vấn đề và toàn diện trên
nhiều khía cạnh như sự kiện lịch sử, kiến
trúc, cấu trúc của địa danh rồi sau đó là sự
phát triển, thay đổi. Khi tìm hiểu về mỗi
một mục nào đó, gần như độc giả đã có
một đáp án khá toàn diện và chi tiết. Đây
cũng chính là một đặc điểm đáng quan tâm
của không chỉ những người muốn tìm hiểu
về Hà Nội mà còn là của những người am
hiểu về tỉnh Hà Nội thời Nguyễn.
Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước, chúng ta đã và đang xây
dựng Hà Nội thành một thủ đô văn minh,
hiện đại. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên
quan tâm tìm hiểu một Hà Nội xưa, để gìn
giữ được các di sản văn hoá dân tộc và xây
dựng một Hà Nội xứng tầm một thủ đô
ngàn năm văn hiến.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Mai Thông, Đặng Xuân Khanh, Thăng Long cổ tích, Khảo tịnh hội đồ, VHv.2471.
2. Thư viện Nghiên cứu Hán – Nôm, Hà Đông xã, trang, trại bạ, A.2800.
3. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 1 Hà Nội, Danh mục làng xã Hà Nội cuối thế kỉ XIX.
4. Viện Nghiên cứu Hán – Nôm, Hà Nội địa bạ, III.628.
5. Viện Nghiên cứu Hán – Nôm, Hà Đông toàn tỉnh, Tổng xã, thôn danh sách, VHv.1365
* Ngày nhận bài: 06/5/2014. Biên tập xong: 30/7/2014. Duyệt đăng: 05/8/2014
66