Đề bài: Phân tích bức tranh thiên nhiên và con người trong bài thơ Chiều tối
Bài làm
Bác Hồ người Cha già muôn vàn kính yêu của dân tộc, đã mở ra con đường cứu nước,
giúp dân tộc ta có được độc lập, tự do, thoát khỏi kiếp nô lệ lầm than. Người không chỉ là
một con người đầy tài trí, tinh thông văn hóa các dân tộc mà còn là người am hiểu văn thơ.
Nhật kí trong tù của Người là một trong những tập thơ xuất sắc nhất trong nền thơ ca
Việt. Tập thơ đó được viết trong những năm tháng Người bị giam cầm ở nhà tù Tưởng
Giới Thạch. Mỗi bài thơ là một câu chuyện Người kể lại về cuộc sống trong tù, là mơ
ước, là khát khao được tự do của Người. Trong số đó, bài thơ Chiều tối là một bài thơ
hay nhất, là bức tranh thiên nhiên và con người cùng hòa quyện.
"Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn độ thiên không
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng"
Dịch thơ:
"Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng"
Trong cả tập thơ Nhật kí trong tù, có lẽ Chiều tối là bài thơ có hoàn cảnh ra đời đặc biệt
nhất. Bài thơ được gợi cảm hứng và được viết lên sau lần Bác Hồ phải chuyển trại giam
từ Tĩnh Tây đến nhà lao Thiên Bảo. Và trong lần ấy, Người đã viết lên Chiều tối để ca
ngợi bức tranh thiên nhiên đẹp mơ màng cùng với đó là bức tranh về cuộc sống con người
trong buổi chiều hôm. Được viết bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt cổ điển, bài thơ vừa là
tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống của Người, vừa thể hiện ý chí mãnh liệt vượt lên trên
mọi hoàn cảnh của Hồ Chí Minh.
Mở đầu bài thơ, Người đã vẽ lên cho người đọc thấy một khung cảnh thiên nhiên đẹp tới
mơ màng, một khung cảnh vừa nhẹ nhàng, êm dịu, vừa đằm thắm, sinh động biết nhường
nào:
"Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn độ thiên không
Dịch thơ:
"Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không".
Mở đầu bài thơ cổ với chỉ bằng vài nét bút chấm phá, Hồ Chí Minh đã cho chúng ta thấy
được cả một không gian thật rộng lớn, mênh mông và thoáng đãng. Đó là một bầu trời với
những cánh chim đang chao lượn "quyện điểu", lướt thật nhanh bay về rừng, và những
chòm mây "cô vân" lác đác lững lờ giữa không trung. Hai câu thơ bật lên, chỉ gợi tả chứ
không hề đặc tả vậy mà cái hồn của cảnh vật vẫn cứ hiện lên thật rõ ràng. Khung cảnh
hiện lên thật bình dị: cảnh chiều với một đàn chim đang vỗ đôi cánh mệt mỏi tìm về với
nơi trú ngụ của mình và những áng mây lẻ loi đang chập chờn bay chầm chậm giữa tầng
không bao la. Chẳng hề có một từ chỉ cảnh chiều, thế mà chỉ cần đọc hai câu thơ thôi,
người đọc vẫn nhận ngay ra rằng đây là một buổi chiều hoàng hôn ửng đỏ. Nghệ thuật
lấy điểm tả diện đã phát huy tác dụng thật rõ ràng bởi sự vận dụng đầy sáng tạo của
Người. Chỉ nhìn cánh chim kia, tầng mây kia, người ta dường như thấy được cả không
gian đang trải rộng ra, bầu trời cao hơn, mênh mông hơn còn không gian thì thật êm đềm,
tĩnh lặng. Chỉ là nét chấm phá nhẹ nhàng cơ bản, nhưng bức tranh thiên nhiên ở đây đã
hiện lên thật đầy cảm xúc và màu sắc.
Cũng như Nguyễn Du đã từng cảm thán:
"Chim hôm thoi thót bay về rừng"
Thì ở đây, Hồ Chí Minh cũng đã làm được điều tương tự. Chỉ với cánh chim chao nghiêng
trên bầu trời chiều kia, Người đã gợi lên ý niệm không chỉ không gian mà còn cả về thời
gian nữa. Chỉ bằng hai câu thơ rất mộc mạc thôi, Người đã vẽ lên bức tranh thiên nhiên
yên bình, tĩnh tại. Không như cánh chim trong câu ca dao "chim bay về núi tối rồi" hay
trong câu thơ của Nguyễn Du đều có sự chuyển động đôi cánh "bay", cánh chim trong thơ
của Người chỉ tĩnh lặng lướt nhẹ trên tầng không bởi vì nó đã rất mỏi mệt, chỉ muốn
lướt nhẹ thật nhanh tìm về một "chốn ngủ" trong rừng của mình. Hình ảnh cánh chim
trong thơ của Hồ Chí Minh dường như mang một nỗi niềm rất sâu sắc về tâm trạng, về
cảm xúc. Cánh chim ấy có chăng chính là cảm xúc của Người trên con đường di chuyển
tới nhà lao, mỏi mệt chỉ muốn tìm một "chốn ngủ", chốn trú chân trong cuộc hành trình
để rồi ngày mai lại tiếp tục một hành trình mới? Có thể nhận ra rằng dường như có một
sợi dây vô hình tương đồng nào đó trong cánh chim kia với tâm trạng của Người hay
chăng?
Không gian chiều tối ấy trong bài thơ, không chỉ có cánh chim chao lượn mà còn có cả
những áng mây bồng bềnh. Người ta đã từng thấy nhiều áng mây khác trong thơ của
Nguyễn Khuyến:
"Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt"
Hay trong thơ của người xưa:
"Mặt đất mây đùn cửa ải xa"
Nhưng ở trong thơ Hồ Chí Minh, mây ấy lại khác vô cùng:
"Cô vân mạn mạn độ thiên không"
Không như Nguyễn Khuyến viết về tầng mây trong tiết trời thu, không buồn bã như trong
thơ Đỗ Phủ với "mây đùn cửa ải", mây trong thơ của bác lại dường như chuyển động, dù
cái chuyển động ấy chỉ rất nhẹ nhàng "trôi nhẹ":
"Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không"
Dù là một chất liệu vô cùng quen thuộc, thế nhưng Người vẫn dựng lên cho nó một cái
hay rất riêng. Mây trong Chiều tối gợi lên sự cô đơn đến khó tả, đọc thơ Người mà ta như
thấy cả một không gian cô đơn, quạnh quẽ đến nao lòng. Chỉ có một "chòm mây" riêng lẻ
"cô vân", lững lờ trôi nhẹ, lãng đãng trên "tầng không". "Chòm mây" ấy phải chăng chính
là con người đang cô đơn, đang lẻ loi, băn khoăn mà trăn trở, lo lắng cho tương lai của
người tù rồi sẽ đi về đâu?
Tóm lại, chỉ bằng hai câu thơ ngắn ngủi, thế nhưng Hồ Chí Minh đã vẽ lên một bức tranh
thiên nhiên thôn dã thật yên bình biết mấy với những cánh chim trời và những làn mây
trôi. Cánh chim trong thơ Người không mất hút trong không trung vô tận như thơ Lý Bạch
"bầy chim một loạt bay cao" mà nó đang bay theo nhịp điệu yên bình bất tận của cuộc
sống hiện thực: sáng đi kiếm ăn, chiều về nhà ngủ. Và đám mây kia, cũng không vồn vã,
buồn tủi mà cũng đang trôi yên ả trong không gian thanh bình. Vậy mới biết, Bác Hồ dù
đang trong cảnh lao ngục tù đày, phải sống trong cảnh đày đọa, thì Người vẫn giữ được
hồn thơ, ý chí của mình vượt lên trên tất cả để có thể cảm nhận được cảnh sắc thiên
nhiên, bức tranh thiên nhiên chiều tối đẹp và bình yên đến vậy. Quả thật là một ý chí
"thép" của người làm cách mạng! Ta cũng thấy được trong đó sự ung dung của Người,
phong thái đĩnh đạc của thi nhân dù Người đang trong vòng xiềng xích, lao tù.
Nếu như trong hai câu đầu, nét bút chấm phá của Hồ Chí Minh đã gợi tả lên một khung
cảnh thiên nhiên chiều tối đầy thanh bình thì ở hai câu sau, Người lại vẽ lên khung cảnh
của cuộc sống con người nơi thôn dã:
"Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng".
Vẫn là nét bút chấm phá quen thuộc, nhưng ở đây Hồ Chí Minh còn sử dụng thêm biện
pháp ước lệ của thơ ca cổ khi vẽ lên hình ảnh cô thôn nữ xóm núi. Vậy nên, bức tranh về
cuộc sống con người ấy hiện lên thật chân thực và sống động. Trên nền của không gian
nơi thôn dã, hình ảnh người thôn nữ trở thành nhân vật trung tâm của bức tranh. Hồ Chí
Minh dù vẫn còn đang lê bước chân mình trong xiềng xích, thế nhưng Hồ Chí Minh vẫn
cảm nhận được thật rõ vẻ đẹp của con người lao động.
Nếu như ở hai câu thơ trên, hình ảnh thiên nhiên đang đi vào chiều tối, đàn chim cũng
đang trở về tổ của mình để nghỉ ngơi sau một ngày mỏi mệt, và đám mây cũng lững lờ
trôi nhàn tản trên bầu trời, thì hai câu sau, nhịp thơ lại nhanh hẳn lên để thể hiện nhịp
sống của con người lao động. Khi thiên nhiên đang dần bước vào giai đoạn nghỉ ngơi thì
con người vẫn đang tiếp tục nhịp sống thường ngày của mình và dường như nhịp sống ấy
còn gấp gáp hơn nữa. Con người giờ đây trở thành chủ thể trung tâm của bức tranh thiên
nhiên. Cô thôn nữ trong bức tranh thơ đang chăm chỉ lao động cần mẫn, không ngừng
nghỉ, "ma bao túc" rồi lại "bao túc ma hoàn" một vòng lặp tuần hoàn. Những vòng quay
lặp lại ấy đang vun vút xay ngô còn thời gian đang trôi dần đi trong tĩnh lặng. Con người
trong thơ Bác chẳng tĩnh lặng, buồn tẻ như trong thơ bà Huyện Thanh Quan:
"Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà"
Mà con người ở đây dù trời xế tà thì họ vẫn đang vận động, đang lao động trong cuộc
sống hằng ngày. Chính hành động ấy đã góp phần làm tăng thêm tính sống động, góp thêm
hơi ấm con người cho bức tranh thiên nhiên thanh bình kia. Con người trong Chiều tối đã
trở thành chủ thế làm chủ thiên nhiên chứ chẳng bị thiên nhiên bức ép như trong thơ cổ
xưa nữa. Hai câu thơ tả thiên nhiên thật tĩnh lặng, im lìm đến nhường nào thì hai câu thơ
này lại đột nhiên sôi nổi hẳn lên. Chính cuộc sống con người đã mang thêm phần hơi ấm
cho khung cảnh thiên nhiên. Không chỉ vậy, Người còn gọi người con gái đang xay ngô
bên bếp lửa kia là "sơn thôn thiếu nữ" một từ thật gợi lên bao nhiêu cảm xúc. "Thiếu
nữ" một cô gái trẻ, tràn trề thanh xuân, đó là tiếng gọi thân thương, trìu mến, gợi tả
niềm vui sướng, hân hoan khi bắt gặp con người chốn hoang sơ này.
Hơn thế nữa, hình ảnh "cô em xóm núi" không xuất hiện một mình đơn độc như cánh
chim ở trên mà bên cạnh còn là một "lò than" nóng hổi đang dần "rực hồng". Trong một
buổi chiều tà dần tối, không khí đang dần trở lên cóng lạnh thì một bếp lửa hồng ánh lên
kia thật làm người ta ấm lòng biết bao. Chẳng những nó sưởi ấm không khí mà còn sưởi
ấm cả tâm hồn của người thi sĩ. Nó ấm áp và lan tỏa biết nhường nào. Bếp lửa "rực
hồng" ấy qua con mắt tinh tế của người thi sĩ cũng thể hiện niềm lạc quan, niềm tin
tưởng của người cộng sản rằng ngày mai sẽ luôn tươi sáng, rực hồng như bếp lửa kia.
Từng câu thơ trong Chiều tối của Hồ Chí Minh chẳng hề nhắc tới một khái niệm thời
gian, thế nhưng từ khi nhìn thấy bức tranh thiên nhiên rồi đến bức tranh con người, người
đọc vẫn nhận thấy sự luân chuyển của thời gian theo cánh chim, theo làn mây, theo cả
những vòng quay xay ngô của cô thôn nữ. Cô thôn nữ xay xong ngô thì lò than cũng hồng
rực lên, tức là trời đã sập tối hẳn. Buổi chiều qua rồi buổi tối đến nhưng cái tối của buổi
đêm không hề âm u mà lại rất ấm áp, rất sáng bởi có bếp lửa hồng đã làm rực lên tất cả.
Sự vận động, luân chuyển liên tục từ sáng vào tối rồi lại từ tối trở lại sáng. Nếu cả bài
thơ là một bầu trời lẻ loi, cô đơn buồn tủi thì hai câu thơ cuối với sự xuất hiện của con
người, của bếp lửa đã làm ấm lòng người thi sĩ và người đọc chúng ta rất nhiều. Cô thôn
nữ và bếp lửa hồng đã châm lên ngọn lửa sưởi ấm cả khung cảnh cô đơn của người tù xa
quê nơi xứ người. Cũng từ đó, nó như tiếp thêm cho con người đang bị xiềng xích kia
niềm tin và sức mạnh, niềm lạc quan để vượt qua nghịch cảnh khó khăn này.
Bài thơ Chiều tối là sự kết hợp của bức tranh thiên nhiên và bức tranh con người lao
động. Bức tranh thiên nhiên tĩnh lặng nhưng bức tranh con người lại sinh động, chân thực
và ấm áp vô cùng. Tổng thể của bức tranh ấy là tâm hồn yêu thiên nhiên, niềm lạc quan,
tin tưởng của người tù xa quê vào cuộc sống, vượt lên trên nghịch cảnh.
Bằng thể thơ cổ thất ngôn tứ tuyệt cùng với các biện pháp chấm phá, ước lệ cổ điển, Hồ
Chí Minh đã vẽ lên bức tranh Chiều tối thật hài hòa giữa thiên nhiên và con người. Có thể
nói, đây là một trong những bài thơ hay nhất trong các tác phẩm thơ ca của Hồ Chủ tịch.
Không chỉ thể hiện tình yêu thiên nhiên, niềm tin cuộc sống mà nó còn thể hiện một tinh
thần, ý chí sắt đá trong tâm hồn thi sĩ của Hồ Chí Minh.
Bài làm 2
Bài thơ “Chiều tối” là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất nằm trong tập “Nhật ký
trong tù” của Hồ Chí Minh. Bài thơ được ra đời trong hoàn cảnh Người đang trên đường
bị áp giải chuyển lao từ nhà lao Tĩnh Tây đến nhà lao Thiên Bảo. Có thể nói bài thơ như
một bức tranh hài hòa, giao quyện giữa bức tranh thiên nhiên và cuộc sống của con người,
hay chính là sự kết hợp giữa bức tranh hiện thực đời sống và tinh thần thép của người tù
cộng sản Hồ Chí Minh.
Có người nào được như Bác, có tinh thần nào lạc quan và yêu đời hơn tinh thần của Bác?
Dù trong hoàn cảnh bị chuyển lao cực khổ nhưng trên đường đi Bác vẫn dùng tâm hồn
yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống của mình để ghi lại những khung cảnh thiên nhiên và con
người để rồi qua đó gửi gắm những nỗi niềm, tâm sự và cảm xúc thầm kín của mình. Mở
đầu bài thơ là cảm xúc của người thi sĩ trước cảnh thiên nhiên vùng rừng núi khi chiều tà
sẩm tối:
“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn độ thiên không”
(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không)
Cảnh chiều tối vùng sơn cước hiện lên rộng lớn, mênh mông nhưng hoang vắng, tĩnh
mịch, người thi sĩ đã sử dụng bút pháp chấm phá của thơ cổ điển để tạo nên vẻ đẹp của
bức tranh. Bằng những hình ảnh như cánh chim, chòm mây vốn đã quen thuộc trong thơ ca
cổ, tác giả đã gợi lên không gian cuối ngày, một ngày đang dần tan trôi từ từ vào đêm tối,
thời khắc cuối cùng của mọi hoạt động ban ngày. Trong không gian mênh mông, bóng
đêm đang dần bao trùm xuống vạn vật ấy, những hình ảnh này tuy nhỏ bé, mờ nhạt
nhưng lại làm tăng thêm sự trống trải, hoang vắng của cảnh núi rừng, đồng thời khắc họa
rõ sự cô đơn của người tù cách mạng đang một thân một mình nơi đất khách quê người.
Cánh chim mệt mỏi bởi chính không gian rộng lớn làm nó bay mải miết, về rừng tìm
chốn ngủ đã nhấn mạnh đến thời điểm kết thúc ngày, cánh chim đã mỏi sau một ngày
hoạt động, phải tìm nơi dừng chân, chỗ trú ngụ. Còn người chiến sĩ cách mạng dù cũng
đã mệt mỏi nhưng biết bao giờ mới được dùng chân và cũng không biết sẽ dừng chân tại
đâu. Hình ảnh “Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không” gợi ra sự lững lờ, ung dung tự tại
nhưng lại có phần đơn độc, lẻ loi của người tù cách mạng đang lưu lạc. Mây trôi nhẹ
giữa không gian rộng lớn còn gợi sự chậm chạp, khắc khoải trong mơ hồ, cũng giống
như Người, trên đường chuyển lao Người băn khoăn trăn trở không biết được tương lai
sẽ đi đến đâu, còn cả sự nghiệp cách mạng phía trước sẽ ra sao.
Bỗng trong không gian thiên nhiên ấy hiện lên bóng dáng của con người, sự sống của con
người đã làm sống dậy bức tranh, trở thành tâm điểm của cả bức tranh. Sự xuất hiện của
cuộc sống con người đã xua tan đi nỗi cô đơn, lẻ loi của người tù cách mạng:
“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”
(Cô em xóm núi xay ngô tối,
Xay hết lò than đã rực hồng)
Nơi thôn quê miền sơn cước có bóng dáng của một thiếu nữ đang xay ngô chuẩn bị cho
bữa tối, quả thực đây là một hình ảnh cảnh tượng hết sức đời thường, bình dị và dân dã.
Thế nhưng chính cái đời thường ấy lại là chất xúc tác mạnh mẽ mang đến những cảm
xúc phi thường trong tâm hồn người thi sĩ. Nơi miền sơn cước khi chiều tối vắng vẻ lại
hiện lên hình ảnh cô gái thôn nữ đang mải miết xay ngô, một hình ảnh tuyệt đẹp về con
người trong lao động. Chính vẻ trẻ trung, hăng say lao động ở cô thôn nữ đã xua tan đi cái
âm u, tĩnh mịch và hoang vắng của núi rừng khi vào đêm. Những hoạt động sinh hoạt đời
thường gợi lên trong lòng tác giả cảm giác ấm cúng hạnh phúc và no đủ, hơn thế hoạt
động của con người chính là hơi ấm của sự sống, không chỉ xua tan đi nỗi cô đơn mà còn
mang đến niềm vui trong lòng người tù trên miền đất xa lạ. Hình ảnh “lô dĩ hồng” lò
than rực hồng kết thúc bài thơ và cũng chính là nhãn tự của bài thơ, từ điểm nhìn này bức
tranh đời sống con người trở nên ấm áp hơn, màu hồng của lò than là ánh sáng của hy
vọng, của niềm tin và sức sống. Điểm nhìn này cũng quay ngược trở lại khắc họa rõ thời
khắc chuyển giao từ ngày sang tối của thời gian, không gian. Màn đêm đã bao phủ toàn bộ
cảnh vật, đến nỗi chỉ một lò than có thể rực hồng nổi bật trong đêm tối của rừng núi sơn
cước.
Bài thơ “Chiều tối” thực sự là một bức tranh tuyệt đẹp, hài hòa giữa những mảng sáng và
tối, thiên nhiên và con người. Người tù cộng sản Hồ Chí Minh đã bằng những nét tinh tế,
trong trẻo nhất của tâm hồn yêu thiên nhiên, cuộc sống để có thể vẽ nên một bức tranh
kỳ diệu trong hoàn cảnh đặc biệt trên đường đi chuyển lao tù.