Tải bản đầy đủ (.pdf) (10 trang)

Tổ chức cho học sinh tương tác trong quá trình đọc văn bản

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (499.4 KB, 10 trang )

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN

Số 11 (36) - Tháng 1/2016

Tổ chức cho học sinh tương tác
trong q trình đọc văn bản
Organizing interactive learning in reading process
TS. Dương Thị Hồng Hiếu
Trường Đại học Sư phạm TP.HCM
Ph.D. Duong Thi Hong Hieu
Ho Chi Minh City University of Education
Tóm tắt
Để học đọc văn bản một cách hiệu quả, việc học sinh nghe giáo viên giảng, trả lời các câu hỏi của giáo
viên, thảo luận với bạn để giải quyết các bài tập giáo viên đưa ra là chưa đủ. Các em cần được thực sự
trải nghiệm việc “đọc” gần với cách mà hoạt động này diễn ra trong thực tế. Bài viết giới thiệu “nhóm
văn chương”, một hình thức tổ chức cho học sinh tương tác trong q trình đọc văn bản đã được nhiều
GV ở nhiều nơi trên thế giới ứng dụng và đánh giá cao. Đồng thời, bài viết cũng bước đầu phân tích tính
khả thi của hình thức tổ chức dạy học này ở Việt Nam.
Từ khóa: nhóm văn chương, đọc, học tương tác, dạy đọc, văn chương, văn bản…
Abstract
To learn reading effectively, listening to the teacher, answering her questions, discussing with
classmates to solve the exercises she gives, is not enough. The students need to experience the “reading”
as it happens in real life. This article introduces “literature cicles”, one way of organizing interactive
learning in reading process, used and highly valued by many teachers around the world. This article also
considers the feasibility of this method in Vietnam.
Keywords: literature cicles, reading, interactive learning, teaching reading, literature, text…

Nhà trường Việt Nam chúng ta, đặc biệt
trong giai đoạn gần đây, cũng đã ít nhiều
quan tâm đến việc này. Phương pháp đọcchép bị phê phán và các phương pháp hỏiđáp và tổ chức cho HS thảo luận được
khuyến khích. Tuy nhiên, làm thế nào để tổ


chức cho HS thảo luận và để hoạt động
thảo luận ấy thực sự giúp ích cho việc học
đọc văn bản thì vẫn còn là nỗi băn khoăn
của nhiều giáo viên. Hơn nữa, nếu chỉ
dừng lại ở việc hỏi đáp hay thảo luận thơi
thì vẫn chưa đủ vì HS cần được trải nghiệm

1. Đặt vấn đề
Khi học sinh (HS) học bơi, HS khơng
thể biết bơi nếu chỉ học lý thuyết về việc
bơi. Để có thể biết bơi giỏi, HS cần xuống
nước bơi. So sánh có vẻ hơi khập khiễng
nhưng quả thực là điều này cũng đúng với
việc học đọc văn bản. HS sẽ khơng thể biết
cách đọc văn bản hiệu quả khi chỉ nghe
giáo viên (GV) thuyết giảng về cách đọc.
Để biết đọc văn bản, các em cũng cần thực
sự trải nghiệm việc “đọc”. Nghĩa là học
đọc văn bản qua hành động, qua thực hành.
20


việc đọc thực sự và cần GV hướng dẫn các
kĩ năng, chiến thuật đọc mà một người biết
cách đọc hiệu quả thường dùng. Và quan
trọng hơn cả là các em được tạo điều kiện
để vận dụng các kĩ năng, chiến thuật đó
vào việc đọc của mình.
Những băn khoăn trên cũng đã được
nhiều nhà nghiên cứu, nhiều GV trên thế

giới quan tâm, tìm lời giải đáp. Và nhiều
câu trả lời đã được đưa ra. Nhiều thử
nghiệm đã được tiến hành. Trong khuôn
khổ bài báo này, chúng tôi xin giới thiệu
một hình thức đã được nhiều GV ở nhiều
nơi trên thế giới tiến hành và được đánh
giá cao.
2. “Nhóm văn chương” (literature
circles) - Một hình thức tổ chức cho HS
tương tác trong quá trình đọc văn bản
2.1. Khái niệm, đặc điểm
Theo cách hiểu phổ biến nhất thì
“Nhóm văn chương” là tên gọi của một hình
thức tổ chức hoạt động tương tác cho HS
trong quá trình dạy đọc. Nói một cách
chung chung thì “Nhóm văn chương” là
những hoạt động trong đó HS tham gia vào
những nhóm nhỏ mà trong đó chính các em
sẽ là người quyết định việc đọc và thảo luận
(small, peer-led reading discussion group).
Một cách cụ thể hơn Harvey Daniels định
nghĩa rằng:
“Nhóm văn chương” là những nhóm
thảo luận nhỏ giữa những HS cùng chọn
đọc một câu chuyện, bài thơ, bài báo, hay
cuốn sách. Trong khi đọc phần văn bản mà
mỗi nhóm được phân công (trong hay
ngoài lớp học), các thành viên ghi chú để
giúp mình trong việc đóng góp cho cuộc
thảo luận sắp tới, và mỗi người khi đến với

nhóm đều mang theo những ý tưởng cần
được chia sẻ. Mỗi nhóm sẽ theo một lịch
trình đọc và gặp gỡ với những cuộc thảo
luận định kì trong khi đọc một cuốn sách.

Khi đọc xong một cuốn sách, các thành
viên của nhóm này có thể chia sẻ những
vấn đề quan trọng mà họ đã đọc với cộng
đồng rộng lớn hơn. Họ trao đổi thành viên
với những nhóm khác cũng đã đọc xong,
chọn thêm văn bản để đọc và hình thành
những “Nhóm văn chương” mới [6, tr.2]
Harvey Daniels cũng đưa ra 11 đặc
điểm quan trọng về “Nhóm văn chương”
như sau:
1. HS tự chọn tài liệu để đọc.
2. Những nhóm nhỏ, tạm thời được
thành lập, dựa trên những cuốn sách mà
các em chọn.
3. Các nhóm khác nhau đọc những
cuốn sách khác nhau.
4. Các nhóm gặp theo lịch trình đều
đặn, có thể dự đoán để thảo luận về việc
đọc của mình.
5. Các em sử dụng các ghi chú (viết
hay vẽ) để chỉ dẫn/định hướng việc đọc và
việc thảo luận.
6. Các chủ đề thảo luận do HS đề xuất.
7. Nhóm gặp là để có những cuộc trao
đổi mở, tự nhiên về các cuốn sách, vì vậy,

chấp nhận các câu hỏi mở, quan hệ cá
nhân, và cả những ý kiến lạc đề.
8. Giáo viên có vai trò là người cố vấn
chứ không phải là thành viên của nhóm hay
người dạy.
9. Việc đánh giá được thực hiện thông
qua sự quan sát của GV và sự tự đánh giá
của HS.
10. Tinh thần khôi hài vui vẻ tràn ngập
phòng học.
11. Khi các cuốn sách được đọc xong,
người đọc chia sẻ với bạn cùng lớp, và
những nhóm mới được hình thành dựa trên
những lựa chọn đọc mới.[6, tr.18]
Tuy nhiên, Daniels cũng lưu ý rằng
một số điểm trên đây có thể được chủ động
bỏ qua khi HS mới học bằng “Nhóm văn
21


chương” hoặc khi ứng dụng cách học này
vào một chương trình cố định.
Như vậy, điểm quan trọng của “Nhóm
văn chương” là sự đề cao hoạt động giao
tiếp, trao đổi giữa các HS về những cuốn
sách mà các em đang đọc. Sự giao tiếp,
trao đổi này có thể coi như là yếu tố cơ
bản, chính yếu để giúp phát triển năng lực
đọc và thúc đẩy tình yêu đọc trong các em.
Ngoài ra, trong quá trình tổ chức hoạt động

tương tác, việc tạo cơ hội cho HS trải
nghiệm việc đọc những văn bản do chính
các em lựa chọn cũng rất quan trọng.
2.2. Quy trình tổ chức “Nhóm văn chương”
Một “Nhóm văn chương” thường có 3
phần: HS chọn sách để đọc; HS đọc sách
đã chọn; HS chia sẻ về cuốn sách đã đọc.
Xen vào 3 phần này là những bài hướng
dẫn ngắn của GV. Như vậy, để bắt đầu một
“Nhóm văn chương”, trước hết, GV cần tổ
chức cho HS chọn sách để đọc. Việc được
đọc cuốn sách do chính mình chọn, mình
cảm thấy thích được coi là tiền đề quan
trọng để hoạt động đọc, và sau đó là hoạt
động chia sẻ, diễn ra thuận lợi. Để HS có
thể chọn được cuốn sách các em thích (và
đúng trình độ đọc của các em) thì, một
cách lý tưởng nhất, thư viện của trường và
thư viện của lớp phải có nhiều đầu sách.
Mỗi đầu sách lại cần ít nhất vài bản để các
HS có thể cùng đọc. Các cuốn sách lại cần
được phân loại khó dễ để các em có thể
chọn được cuốn đúng với trình độ đọc của
mình. GV cũng cần hướng dẫn để các em
chọn đọc những cuốn sách phù hợp với khả
năng và trình độ của các em, đồng thời phù
hợp với yêu cầu của chương trình giảng
dạy. Tuy nhiên, cần lưu ý là GV chỉ hướng
dẫn, tư vấn chứ không bắt buộc và HS phải
là người được tự chọn sách mà các em

muốn đọc.
Sau khi dưới sự hướng dẫn của GV, HS

đã chọn được cuốn sách mình muốn đọc thì
các em hình thành các nhóm đọc dựa trên sự
tương đồng về sách được chọn đọc. Nhóm
sẽ thảo luận để quyết định lịch trình đọc và
thảo luận. HS có thể quyết định đọc ở nhà
nhưng thường thì hoạt động đọc sẽ diễn ra
ngay trên lớp. Các em sẽ đọc độc lập hay
đọc chung với bạn. Trong quá trình các em
đọc, tùy theo tình hình mà GV sẽ có những
bài hướng dẫn, làm mẫu ngắn để hướng dẫn
các kĩ năng đọc cần thiết giúp cho các HS
có thể thực hiện việc đọc tốt nhất. GV cũng
bố trí thời gian để mỗi buổi đọc các em sẽ
có cơ hội chia sẻ, thảo luận về những vấn đề
mình mới đọc với bạn cùng đọc. Ngoài ra,
cuối mỗi phần đọc lớn hay cuối một “Nhóm
văn chương” các em còn có cơ hội chia sẻ
trong nhóm lớn hay toàn lớp để có thể
tương tác với nhiều người đọc hơn và từ đó
học được nhiều hơn.
2.3. Giúp HS làm quen với “Nhóm
văn chương”
Các hình thức tổ chức dạy đọc theo
kiểu “Nhóm văn chương”,… là những hình
thức khác với cách dạy đọc thông thường
trong nhà trường truyền thống. Vì thế, để
đạt kết quả mong muốn thì khâu giúp cho

HS làm quen với cách học mới này rất
quan trọng. Nếu ngay từ những buổi đầu
GV không làm cho HS hào hứng, thích
cách học này cũng như hiểu được hiệu quả
và cách thực hiện nó thì việc thất bại có thể
nhìn thấy trước mắt. Vậy làm sao để giúp
HS tiếp cận với cách học mới? Nhiều nhà
nghiên cứu đã đề xuất những mô hình khác
nhau. Và trong quá trình dạy đọc, mỗi GV
khi ứng dụng vào thực tế của lớp, trường
mình dạy thì lại có những sáng tạo, cải biên
khác nhau. Vì vậy, có thể nói có khá nhiều
mô hình, cách thức để giúp HS làm quen
với cách học tương tác và mỗi mô hình,
cách thức ấy lại có những ưu, nhược điểm
22


riêng. Do đó, trong quá trình vận dụng,
điều quan trọng là các GV cần biết linh
hoạt, sáng tạo để có thể chọn lựa và xây
dựng một mô hình, cách thức phù hợp
nhất, hiệu quả nhất cho HS của mình.
Harvey Daniels là một nhà nghiên cứu
hàng đầu trên thế giới về “Nhóm văn
chương” và việc ứng dụng nó trong dạy
đọc. Qua các nghiên cứu của mình và tổng
kết kinh nghiệm từ những GV đã sử dụng
“Nhóm văn chương” vào dạy đọc, Harvey
Daniels đã đưa ra một số mô hình giúp HS

làm quen cách học theo “Nhóm văn
chương” hiệu quả. Trong bài viết này,
chúng tôi xin lược thuật và giới thiệu hai
mô hình mà chúng tôi nghĩ có giá trị tham
khảo cao với GV Việt Nam.
2.3.1. Mô hình hướng dẫn dành cho
những người đọc chưa có kinh nghiệm làm
việc hợp tác
Đối với các HS vốn chỉ quen thuộc với
các hoạt động dạy học toàn lớp dưới sự
hướng dẫn cụ thể của GV và chưa quen
tham gia các hoạt động học tập qua nhóm
nhỏ vốn yêu cầu tinh thần trách nhiệm cao
thì đây là mô hình phù hợp để hướng dẫn
các em làm quen với “Nhóm văn chương”.
Điểm khác biệt lớn của mô hình hướng dẫn
này so với các mô hình khác là ở việc sử
dụng các bản phân vai. Theo Harvey
Daniels [6], dù bản phân vai có nhiều
nhược điểm và ông không ủng hộ việc quá
lạm dụng loại “công cụ” này, nhưng đối
với những HS chưa có nhiều kinh nghiệm
hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ thì
những trợ giúp tạm thời như những bản
phân vai này là cần thiết. Vì “Nhóm văn
chương” về bản chất cũng là việc tổ chức
cho HS học tập thông qua việc tham gia
các hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ nên
để đạt được hiệu quả thì GV cần hướng
dẫn để HS biết nên hợp tác thế nào, phát


huy tính độc lập ra sao, … Có thể coi
những bản phân vai này là đại diện cho sự
có mặt của GV, giúp HS biết cách thực
hiện các nhiệm vụ khi đọc cũng như khi
tham gia thảo luận với bạn cùng nhóm.
Các nhà nghiên cứu đề nghị một số vai
và trong quá trình vận dụng vào dạy học thì
các GV cũng đề xuất thêm một số vai có
thể giao cho HS trong quá trình thực hiện
“Nhóm văn chương”. Cách hiểu và tên gọi
của từng vai cũng thay đổi tùy theo người
dùng [7; 9]. Tuy nhiên, theo Harvey
Daniels [6] thì về cơ bản có 4 vai sau:
1. Vai “người kết nối, liên hệ”: HS
thực hiện những kĩ năng mà một người đọc
thường sử dụng như tìm mối liên hệ giữa
điều mà các em đang đọc với thực tế cuộc
sống, với cảm giác, với kinh nghiệm của
các em, với những vấn đề nổi bật của thế
giới, với những văn bản khác, với những
tác giả khác, …
2. Vai “người hỏi”: Trong quá trình
đọc, HS viết ra những câu hỏi về văn bản
mà các em đang đọc. Có thể là câu hỏi về
nội dung, sự kiện, nhân vật. Có thể là câu
hỏi về từ ngữ, cách diễn đạt hay về dụng ý
của tác giả. Cũng có thể là câu hỏi về ý
nghĩa của phần văn bản đang đọc, về
những gì có thể diễn ra trong phần sắp đọc,

về việc tại sao lại cần đọc văn bản này, …
3. Vai “người tìm những điểm, phần
quan trọng của văn bản” (Literary
luminary): Ở vai này, HS cần chỉ ra một số
phần, đoạn, câu, từ mà các em cho là quan
trọng hay thú vị, thậm chí có thể là khó
hiểu để đề nghị mọi người trong nhóm
quay lại và đọc, nghĩ kĩ hơn về phần cụ thể
đó. Để làm tốt nhiệm vụ này, HS được giao
vai này cần ghi chú lý do tại sao em chọn
đoạn, câu, từ ấy và cách mà em muốn mọi
người trong nhóm chia sẻ.
4. Vai “người vẽ tranh minh họa”: Một
23


người biết cách đọc tốt thường hình thành
những bức tranh trong tâm trí của họ khi
đọc. Ở vai này, HS sẽ suy nghĩ, tưởng
tượng khi đọc và vẽ ra những gì liên quan
đến phần mà các em vừa đọc. Có thể là
những gì diễn ra trong đoạn văn bản vừa
đọc, có thể là điều gì đó mà đoạn văn bản
nhắc em nhớ đến, hoặc là những gì mà
đoạn văn bản đó gợi lên trong em,… HS có
thể vẽ những bức tranh, những phác họa
thô sơ, hay là những biểu đồ, sơ đồ,… bất
cứ gì em nghĩ ra khi em đọc.
Quy trình thực hiện dạy học theo mô
hình này như sau:

Ngày 1
- HS đọc một truyện ngắn hay và thảo
luận về nó; giới thiệu ý tưởng về “Nhóm
văn chương”.
Ngày 2-5
- HS học một vai mỗi ngày, sử dụng
các truyện ngắn.
- Hàng ngày các nhóm 4 HS cùng vai
gặp để thảo luận.
- Toàn lớp sẽ gặp để thảo luận sâu và
làm sáng rõ vai trọng tâm của ngày hôm ấy.
Ngày 6-10
- HS phân chia và sử dụng tất cả các
vai trong khi đọc một tiểu thuyết ngắn.
- Các nhóm gồm 4 HS với những vai
khác nhau gặp để thảo luận, chuyển vai
mỗi ngày.
- Toàn lớp gặp mỗi ngày để thảo luận
sâu và chia sẻ. [6, tr. 71, 72]
Harvey Daniels lưu ý rằng các GV
không nên lạm dụng các bản phân vai mà
chỉ nên dùng trong giai đoạn đầu khi HS
chưa quen. Khi HS đã quen thì GV nên
thay thế các bản phân vai này bằng các bản
ghi phản hồi mở. Vì các bản ghi phản hồi
mở này cũng thực hiện được các nhiệm vụ
xã hội và nhận thức như bản phân vai
nhưng lại không giới hạn suy nghĩ của HS

vào một kiểu phản hồi. Ngoài ra, sử dụng

bản ghi phản hồi sẽ giúp HS có nhiều ý
tưởng hơn cho cuộc thảo luận nhóm mà
các em sẽ tham gia. Có nhiều cách để ghi
phản hồi như ghi vào vở, ghi vào mẩu giấy
ghi nhỏ mà các em có thể dán ngay bên
cạnh phần đọc có liên quan,…
2.3.2. Mô hình hướng dẫn nhanh dành
cho những người đọc có kinh nghiệm và đã
quen với cách làm việc hợp tác
Với đối tượng HS là những em đã
quen với cách học hợp tác và học văn trên
cơ sở phản hồi của người đọc thì Harvey
Daniels [6] cho rằng chỉ cần khoảng một
giờ để giúp các em làm quen với “Nhóm
văn chương”. Thậm chí GV có thể chỉ cần
ít hơn một giờ nếu cho các em đọc một bài
thơ, một truyện ngắn hay một bài báo ngắn
thay vì đọc một phần trong một cuốn sách
dày. Trình tự thực hiện giờ học này gồm
các bước sau:
1. Cung cấp nhiều văn bản/ sách hay
cho HS lựa chọn và mời các em tự hình
thành nhóm (khoảng 4 hoặc 5 người cùng
muốn đọc một văn bản). Các em sẽ mất
khoảng vài phút để thương lượng và hình
thành nhóm.
2. GV ôn lại cách dùng và ý nghĩa của
bản ghi phản hồi mở (open-ended response
logs), nơi người đọc có thể ghi lại các cảm
xúc, các mối liên hệ, các từ ngữ, các nét vẽ,

các câu hỏi, các lời bình luận hay bất cứ
“chú ý”nào khác về những gì các em đọc.
3. Cho các HS một khoảng thời gian
để các em đọc và viết phản hồi (khoảng 20
đến 30 phút là nhiều). Bảo các nhóm nhìn
vào sách và tự quyết định chọn một phần
mà các em có thể đọc xong một cách thoải
mái 5 phút trước khi hết thời gian quy
định. 5 phút này sẽ được dùng để các em
ghi các điểm chú ý vào bản ghi phản hồi,
trong hoặc sau khi đọc.
24


4. Khi tất cả đã đọc và ghi các “chú ý”
xong, mời cách thành viên trong nhóm gặp
chung trong khoảng 10 đến 15 phút. Giải
thích một cách đơn giản rằng mục đích của
cuộc gặp này là để các em có một cuộc trò
chuyện tự nhiên về cuốn sách đã đọc (ví dụ
như chỉ cần nói chuyện một cách thân
thiện, không cần giơ tay, không ai là GV ở
đây cả). Khuyến khích các em nói chen vào
một cách thoải mái, có thể dựa trên những
ghi chú của mình hoặc dựa trên tình huống
mà cuộc nói chuyện gợi ra.
5. Trong quá trình cuộc trò chuyện
trong nhóm diễn ra, GV quan sát từng nhóm
một cách kín đáo trong khoảng vài phút.
Lưu ý là chỉ quan sát thôi và không được

điều khiển cuộc thảo luận. GV ghi lại những
ví dụ và lời bình luận cụ thể mà có thể cần
sử dụng trong quá trình trao đổi sau đó.
6. Gọi cả lớp tập hợp để cùng chia sẻ
và thảo luận. Bước đầu - một quy tắc quan
trọng cho tất cả các kiểu hướng dẫn “Nhóm
văn chương” – là nói về cuốn sách đã đọc.
Yêu cầu mỗi nhóm cho một ví dụ hay cảm
nhận về cuộc nói chuyện của các em. Sau
đó chuyển sang phản ánh về quá trình gặp
gỡ. Yêu cầu các em chú ý những hành vi
cụ thể (như giao tiếp bằng mắt, khuyến
khích, …) đã giúp cho nhóm của các em
làm việc tốt và các hành vi đã gây cản trở
các em (lạc đề, làm gián đoạn). Lập danh
sách các kĩ năng xã hội tốt và không tốt.
7. Yêu cầu các nhóm tự chỉ định một
đoạn đọc khác trong sách cho buổi gặp thứ
hai (sẽ tổ chức một hay hai ngày sau đó).
Nhắc các em ghi chú vào bản ghi phản hồi
của mình trong hoặc sau khi đọc. Chuyển
danh sách các kĩ năng sang một tờ áp phích
và trong buổi gặp tiếp theo có thể thêm vào
danh sách này những điểm cần thiết. [6; tr.
56, 57]
Như vậy, thay vì dạy cho HS các kĩ

năng, hướng dẫn cho các em hiểu thế nào
là đọc hiệu quả, thế nào là một “Nhóm văn
chương”, một “câu lạc bộ sách” rồi sau đó

mới tổ chức cho các em gia nhập Nhóm
văn chương” thì Harvey Daniels đề xuất
chúng ta cứ tổ chức “Nhóm văn chương”
và dạy các kĩ năng đọc, kĩ năng thảo luận
ngay trong khi HS tham gia hoạt động này.
Như đã phân tích ở các phần trên, việc
dạy đọc thông qua việc tổ chức các hoạt
động tương tác cho HS như kiểu “Nhóm
văn chương” đòi hỏi HS tính tự lực rất cao.
Tuy nhiên, để HS có thể tự lực thực hiện
việc đọc và thảo luận, chia sẻ hiệu quả thì
GV phải tư vấn, hướng dẫn các kĩ năng,
chiến thuật dạy đọc cho các em. Đây cũng
là điểm làm cho hoạt động tương tác trong
lớp học không đơn thuần chỉ là sự mô
phỏng hoạt động đọc và chia sẻ mà con
người thường thực hiện trong cuộc sống.
Chúng ta tạo điều kiện để các em trải
nghiệm việc đọc nhưng vẫn là chúng ta
đang “dạy học” và không hề thoát ly mục
đích giáo dục của chương trình. GV cần
phải chọn lọc và dạy cho HS các kĩ thuật,
chiến thuật mà một người đọc hiệu quả
thường dùng khi đọc. Các kĩ thuật, chiến
thuật này có thể là mục tiêu dạy học mà
GV đề ra ngay từ đầu, cũng có thể là các
vấn đề nảy sinh trong quá trình HS đọc và
chia sẻ mà GV cảm thấy quan trọng và cần
hướng dẫn, lưu ý cả lớp. Phần hướng dẫn
này thường không dài. Thông thường chỉ

chiếm khoảng 5 đến 10 phút trong một
buổi học. Tuy nhiên, việc quyết định cần
hướng dẫn HS những kĩ năng gì, vào thời
điểm nào là hoàn toàn do GV quyết định
dựa trên hoàn cảnh cụ thể của lớp học.
Nhiều nhà nghiên cứu đã đề xuất các
quy trình tiến hành các bài học ngắn hay
hướng dẫn nhanh để giúp GV dễ thực hiện.
Quy trình sau đây của Duke và Pearson [8]
25


là một quy trình tiêu biểu. Theo đó, quy
trình hướng dẫn cho HS một kĩ năng, chiến
thuật đọc nên gồm những bước sau:
- Nêu tên và mô tả chiến thuật: tại sao,
khi nào và làm thế nào để sử dụng.
- Làm mẫu việc sử dụng chiến thuật
này (bằng hành động cụ thể).
- Sử dụng chiến thuật một cách hợp tác.
- Hướng dẫn HS luyện tập sử dụng
chiến thuật và dần để các em tự thực hiện.
- Cung cấp cơ hội để HS sử dụng chiến
thuật một cách độc lập.
Như vậy, để có thể biết đọc một cách
hiệu quả, HS cần biết sử dụng những kĩ
năng và chiến thuật đọc và GV cần biết
cách hướng dẫn để các em hiểu và quan
trọng không kém là GV cần tạo cơ hội để
các em luyện tập vận dụng các kĩ năng và

chiến thuật ấy vào việc đọc của mình.
3. Tại sao nên dùng “Nhóm văn chương”?
Thông qua việc tổ chức cho HS tham
gia các hoạt động trong “Nhóm văn
chương”, GV đã tạo được môi trường
thuận lợi để các em học qua tương tác.
Điều này mang lại nhiều giá trị. Trước hết
là các em được tham gia các hoạt động đọc
khá tự nhiên, tương tự như trong thực tế.
Việc này giúp các em cảm thấy hứng thú
và yêu thích việc đọc hơn. Trong khi nhiều
người đang than thở về tình trạng HS chán
học văn, đọc văn thì điều này thực sự mang
lại ý nghĩa quan trọng. Ngoài ra, HS được
tạo cơ hội để tương tác thực sự. Các em
được đọc. Trong quá trình đọc các em viết
ra những gì các em thấy quan trọng hoặc
ghi lại cảm xúc của mình. Rồi các em được
tham gia những cuộc thảo luận nhóm, trong
đó các em được nói, được trình bày suy
nghĩ, cảm xúc tự nhiên, chân thành của
mình. Các em cũng được nghe các bạn bày
tỏ suy nghĩ và cảm xúc. Quá trình chia sẻ,
thảo luận diễn ra rất tự nhiên, không gò ép,

không theo khuôn phép, theo sự áp đặt của
GV. Vì vậy mà các em có thể chia sẻ
những cảm xúc chân thành, những suy nghĩ
thật của mình mà không sợ bị trừ điểm, bị
cười chê. Thông qua hoạt động tương tác,

các em cũng được tập luyện các kĩ năng
hợp tác, làm việc nhóm, các kĩ năng xã hội.
Điều này không chỉ mang lại ích lợi cho
việc đọc văn bản mà còn mang lại lợi ích
lâu dài, giúp các em sau này sống và làm
việc tốt hơn.
Dạy đọc thông qua việc tổ chức cho
HS tương tác như trên rất phù hợp với bản
chất của hoạt động đọc [4; 5]. Thông qua
những “nhóm văn chương”, HS không chỉ
biết đọc để giải mã, để hiểu văn bản mà
còn tương tác với văn bản, phản hồi và bày
tỏ sự quan tâm đến những vấn đề khác
nhau do văn bản gợi ra, vận dụng kiến thức
nền của mình và những hiểu biết về văn
bản để liên hệ, lý giải những điều trong
cuộc sống của chính mình và của cộng
đồng, thế giới xung quanh. Hơn nữa, các
em còn có cơ hội chia sẻ, tương tác với các
bạn cùng đọc. Khi một mình đọc văn bản,
một HS, với kiến thức nền của mình, đã có
những suy nghĩ ban đầu về văn bản đó.
Tuy nhiên, khi trao đổi, thảo luận với các
bạn (những người có thể có những hình
dung, tưởng tượng, cách hiểu về văn bản
khác em) thì sự tương tác này làm cho HS
ấy phải nghĩ kĩ hơn về văn bản và những
điều nó gợi ra, từ đó tự kiểm nghiệm lại
cách hiểu và nhận thức của mình và có
những điều chỉnh cần thiết. Ngoài ra, nếu

hứng thú đọc cũng là một tác nhân quan
trọng ảnh hưởng đến hiệu quả đọc thì trong
một “nhóm văn chương” HS cũng được tạo
điều kiện tối đa để phát triển hứng thú đọc.
Các em được tự chọn cuốn sách, văn bản
mà mình muốn đọc, tự trao đổi với các bạn
để lên lịch trình đọc và thảo luận. Cuối
26


cùng, nếu lý thuyết về bản chất của hoạt
động đọc chú ý nhiều đến tác động của bối
cảnh đọc đến việc đọc của người đọc thì
trong hình thức tổ chức tương tác này, bối
cảnh đọc của HS cũng rất được quan tâm.
Các em là những “người liên hệ, kết nối”
để phát hiện ra những mối liên quan giữa
văn bản với cuộc sống của chính mình, với
nhà trường, gia đình, cộng đồng xã hội
xung quanh các em. Chính nhờ vậy mà các
em không thấy những điều được trình bày
trong văn bản là xa lạ và hiểu được vì sao
mình cần đọc văn bản ấy.
Tóm lại, có thể kết luận rằng việc tổ
chức cho HS tương tác trong dạy đọc văn
bản như trên vừa giúp cho việc đọc trong
nhà trường gần với việc đọc trong thực tế
cuộc sống, vừa phù hợp với bản chất của
hoạt động đọc. Do đó, các hình thức tổ
chức tương tác như “Nhóm văn chương” là

rất ý nghĩa và nên được thực hiện.
4. Vận dụng “Nhóm văn chương”
trong dạy đọc văn bản ở Việt Nam –
có khả thi?
Có lẽ điểm vướng mắc lớn nhất cho
những GV muốn áp dụng hình thức tổ chức
cho HS tương tác theo kiểu “Nhóm văn
chương” nói trên vào việc dạy đọc ở Việt
Nam là do định hướng giảng dạy của
chương trình phổ thông. Hiện nay, chương
trình giáo dục phổ thông ở Việt Nam vẫn là
chương trình định hướng nội dung nên việc
thi cử cũng chú trọng vào kiểm tra nội
dung [2]. Từ đó dẫn đến việc trong môn
Ngữ văn, đặc biệt là ở phần đọc hiểu, vẫn
học bài nào thi bài ấy. GV chú trọng làm
sao cho HS của mình có thể nhớ được chi
tiết nội dung bài dạy để khi đi thi các em
có thể làm được. Do vậy mà từ bao năm
nay dù Bộ Giáo dục và những người tâm
huyết với sự nghiệp trồng người hô hào,
kêu gọi đổi mới phương pháp dạy học

nhưng rốt cuộc vẫn là “bình mới, rượu cũ”.
Những thay đổi trong phương pháp giảng
dạy chỉ là những thay đổi bề ngoài.
Như trên, quả thực nếu chương trình
giáo dục phổ thông của chúng ta vẫn theo
định hướng nội dung thì những kêu gọi đổi
mới về phương pháp dạy học khó lòng

được thực hiện. Và một cách học như kiểu
“Nhóm văn chương” tuy hiệu quả nhưng
tốn nhiều thời gian, lại chú trọng nhiều vào
kĩ năng, năng lực hơn là “chốt lại” những
nội dung cơ bản của văn bản sẽ càng không
thể thực hiện được.
Tuy nhiên, Nghị quyết 29 của Ban
chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới
căn bản, toàn diện giáo dục đã khẳng định
việc đổi mới chương trình theo định hướng
phát triển năng lực và phẩm chất của người
học [1]. Và hiện Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã xác định hướng đổi mới cho chương
trình giáo dục phổ thông sau năm 2015 là
chuyển từ chương trình định hướng nội
dung sang chương trình định hướng phát
triển năng lực và phẩm chất cho HS. Sự
thay đổi về cách tiếp cận như trên đã làm
thay đổi mục tiêu giáo dục. Mục tiêu căn
bản của chương trình mới sẽ là giúp cho
HS có thể làm được gì sau khi học chứ
không phải là tập trung vào việc xác định
HS cần học những gì để có được kiến thức
toàn diện về các lĩnh vực chuyên môn như
trong chương trình cũ.
Theo định hướng của chương trình
mới, môn Ngữ văn sẽ có nhiệm vụ giúp HS
phát triển một số năng lực và phẩm chất
chung, cốt lõi và một số năng lực, phẩm
chất đặc thù. Trong đó, năng lực giải quyết

vấn đề và sáng tạo, năng lực tự học, năng
lực thẩm mỹ, năng lực giao tiếp, năng lực
hợp tác là những năng lực chung nhưng có
liên quan mật thiết đến môn Ngữ văn [3].
Định hướng mục tiêu của môn Ngữ văn nói
27


chung, phần đọc văn bản nói riêng là giúp
HS phát triển năng lực giao tiếp ngôn ngữ
ở tất cả các hình thức: đọc, viết, nói và
nghe. Thông qua việc tạo điều kiện cho HS
đọc những văn bản đọc tốt, chương trình sẽ
giúp HS phát triển năng lực thẩm mỹ, giúp
HS biết đọc và có hứng thú đọc, biết viết,
thảo luận và có hứng thú viết, thảo luận về
những gì các em đã đọc. Từ đó các em phát
triển năng lực nhận thức, biết tự khám phá
bản thân và cộng đồng, thế giới xung
quanh. Việc này không chỉ giúp cho các
em mở rộng kiến thức mà còn giúp các em
thấu hiểu con người, từ đó có đời sống tâm
hồn phong phú, có quan niệm sống và ứng
xử nhân văn hơn. Hơn nữa, việc đọc các
loại văn bản đa dạng và trao đổi, thảo luận
về các văn bản ấy còn giúp HS phát triển
năng lực suy luận, phân tích, đánh giá, khi
tiếp nhận thông tin thì biết phân tích và
đánh giá tính hợp lí và ý nghĩa của những
thông tin ấy. Điều này cũng giúp cho HS

phát triển năng lực tưởng tượng và sáng
tạo, năng lực tạo nghĩa cho văn bản. Và
hơn tất cả, các em được rèn luyện thói quen
đọc để từ đó có niềm vui đọc sách. Từ tất
cả những điều trên, HS dần dần có được sự
tự tin, khả năng tự lập trong việc đọc và
việc học, từ đó các em hình thành và phát
triển phương pháp học tập, nhất là phương
pháp tự học để có thể tự học suốt đời và
biết ứng dụng những kiến thức và kĩ năng
học được vào cuộc sống.
Định hướng mới như trên quả là một
sự thay đổi lớn, một cuộc cách mạng trong
dạy đọc văn bản ở Việt Nam. Nó tạo ra cơ
hội để GV có thể dạy đọc một cách thực
chất, đúng với bản chất của hoạt động đọc.
Và nó cũng tạo ra cơ hội để GV Việt Nam
có thể vận dụng các hình thức tổ chức hoạt
động tương tác tiên tiến trên thế giới vào
quá trình dạy đọc của mình. Nếu một hình

thức như “Nhóm văn chương” không thực
phù hợp với một chương trình chú trọng
nội dung như hiện hành thì lại rất phù hợp
với chương trình định hướng phát triển
năng lực HS. Sẽ không còn tình trạng GV
“độc chiếm lớp học” và “độc quyền chân
lí” như trong nhiều giờ học Ngữ văn hiện
nay. GV cũng không còn đọc, viết trên
bảng hay trình chiếu trên màn hình chi tiết

các nội dung của bài học để HS chép lại
vào vở và học thuộc. Các cuộc thảo luận
mang tính hình thức cũng không còn. Bởi
vì học đọc theo kiểu “Nhóm văn chương”,
HS sẽ có cơ hội được tự đọc tác phẩm, từ
đó trở nên yêu thích và hình thành thói
quen đọc sách. Trong quá trình tham gia
“nhóm văn chương”, HS không chỉ được
đọc mà còn được viết, nói và nghe, nhờ đó
mà đạt đến các mục tiêu của môn học.
Trong môi trường tự do, thân thiện, HS
được tôn trọng và tự tin, tự do trình bày
quan điểm, suy nghĩ, tình cảm, cảm xúc.
HS có nhiều cơ hội làm việc theo từng cặp
hay theo nhóm nên ngoài việc phát biểu,
trao đổi với thầy cô các em còn trao đổi,
tranh luận với nhau. Các em cũng tự ghi
chép bài học theo cách của mình và không
còn quá phụ thuộc vào bài giảng của GV.
Có thể nói, sự chuyển đổi từ chương
trình định hướng nội dung sang chương
trình định hướng hình thành và phát triển
năng lực, phẩm chất cho HS sẽ mở ra nhiều
cơ hội để GV đổi mới phương pháp dạy
học theo hướng thực sự phát huy tính tích
cực, chủ động và sáng tạo của HS. Trong
dạy đọc văn bản, cùng với nhiều phương
pháp khác, việc tổ chức cho HS tương tác
theo kiểu “Nhóm văn chương” là một
phương pháp dạy tích cực, đã được áp

dụng và gặt hái nhiều thành công ở nhiều
nơi trên thế giới. Với sự thay đổi định
hướng của chương trình như trên, GV Việt
28


4. Dương Thị Hồng Hiếu (2014), “Bản chất của
hoạt động đọc văn và việc dạy đọc văn bản văn
học trong nhà trường”, Tạp chí Khoa học Đại
học Sư phạm TpHCM, (56), 48-56.

Nam có thể vận dụng phương pháp này để
nâng cao chất lượng dạy đọc. Dĩ nhiên, khi
áp dụng thì cần phải tìm hiểu kĩ và có
những thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp
tình hình thực tế nơi mình dạy. Trong
khuôn khổ bài báo này chúng tôi chưa có
điều kiện trình bày về những điều chỉnh mà
giáo viên Việt Nam nên làm khi muốn vận
dụng “Nhóm văn chương” vào dạy đọc văn
bản. Điều này chúng tôi xin được tiếp tục
bàn trong những bài viết sau.

5. Nguyễn Thị Hồng Nam, Dương Thị Hồng
Hiếu (2015), “Văn bản văn chương và hoạt
động đọc văn bản văn chương”, Tạp chí Văn
học, (2),19-29.
B. Tài liệu tham khảo tiếng Anh
6. Daniels, H. (2002), Literature Circles: Voi and
choice in book clubs and reading groups,

Stenhouse Publishers, Portland, Maine.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

7. Day, C (2003), Reading and responding in
literature circles, PEN 140, PETAA, Sydney.

A. Tài liệu tham khảo tiếng Việt

8. Duke, N. K. & Pearson, P. D. (2002), “Effective
Practices
for
Developing
Reading
Comprehension”, In What Research Has to Say
About Reading Instruction, Third Edition (Alan
E. Farstrup &S. Jay Samuels), International
Reading Association, USA, 205-242.

1. Ban chấp hành TW8 (khóa XI), Nghị quyết số
29 về đổi mới giáo dục căn bản, toàn diện.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Chương trình
giáo dục phổ thông môn Ngữ văn, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015), Chương trình
giáo dục phổ thông tổng thể (trong chương
trình giáo dục phổ thông mới), bản dự thảo
tháng 8-2015.

Ngày nhận bài: 11/09/2015


9. Pearson, C (2010), “Acting up or acting out?
Unlocking children’s talk in literature circles”,
Literacy, 44(1) 3–11.

Biên tập xong: 15/01/2016

29

Duyệt đăng: 20/01/2016



×