TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN
Số 12 (37) - Tháng 2/2016
Thực hành văn hóa đương đại: Sự linh hoạt của
cộng đồng Kinh tộc ở Kinh đảo, Quảng Tây, Trung Quốc
Contemporary cultural practices: The flexibility of the Kinh migrants in Jingdao, Guangxi, China
PGS.TS. NguyễnThị Phương Châm,
Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Assoc.Prof.,Ph.D. Nguyen Thi Phuong Cham,
Viet Nam Academy os Social Sciences
Tóm tắt
Bài viết đề cập đến sự linh hoạt trong các thực hành văn hóa đương đại của cộng đồng người Việt ở
Kinh Đảo, Quảng Tây, Trung Quốc. Định cư nơi đất mới, thuộc về một quốc gia khác người Việt nơi
đây đã chủ động và rất mềm dẻo để vừa thích nghi hội nhập được với văn hóa các tộc cộng cư lại vừa
duy trì được nét văn hóa Việt. Những thực hành văn hóa của họ mang tính bối cảnh rất rõ nét, tùy từng
thời điểm mà người dân biết cách đề cao văn hóa truyền thống của cộng đồng mình, khẳng định nét đặc
trưng của văn hóa Kinh tộc hoặc biết cách ẩn những đặc trưng văn hóa ấy đi và tích cực, chủ động hội
nhập với văn hóa các tộc cộng cư,…Tất cả nằm trong chiến lược từng bước tạo dựng bản sắc cũng như
vị thế của cộng đồng người Việt trên đất mới. Điều này khiến cho các nhà nghiên cứu có thêm những
nhìn nhận đa chiều hơn về văn hóa truyền thống, về bản sắc văn hóa, về q trình gìn giữ, duy trì và
sáng tạo văn hóa ở một cộng đồng di cư.
Từ khóa: người Việt ở Trung Quốc, cộng đồng Kinh tộc, thực hành văn hóa đương đại, hội nhập văn
hóa, thích nghi văn hóa…
Abstract
This paper focuses on the flexibility in the today cultural practices of a Vietnamese migrant community
in Jingdao, Guangxi, China. Since the Vietnamese came and settled in the area, they have been very
proactive and flexible in term of integrating into the local culture while trying to maintain their original
Vietnamese culture. Their today cultural practices are very “contextual”, depending on each
circumstance, people will choose to uphold the traditional culture of their community, confirm the
cultural traits of the Kinh ethnic or hide them and actively integrate with the cultures of other ethnic
groups who are currently in the same settlement,…All of the above strategies gradually contribute to
create identity as well as improve the social status for the Vietnamese migrants in the new land.
Findings in this paper allow researchers to have multiple perspectives on traditional culture, cultural
identity, and the process of preserving and creating culture in a migrant community.
Keywords: the Vietnamese migrants in China, Kinh migrant community, contemporary cultural practices,
cultural integration, cultural adaptation…
Gắn bó với cộng đồng Kinh tộc ở
Kinh Đảo đã nhiều năm song mỗi lần trở
lại tơi vẫn ln bất ngờ và ngạc nhiên với
nhiều sự thay đổi của văn hóa nơi đây, lần
đến với Kinh Đảo gần đây nhất là vào dịp
cuối tháng 4, đầu tháng 5 năm 2015, tơi đã
rất thích thú với hiện tượng thực hành văn
hóa hiện tại của dân chúng ở đây, với cách
3
mà người dân giới thiệu với chúng tôi và
với những vị khách khác đến làng về văn
hóa truyền thống của người Kinh nơi đây.
Nhìn lại sự thể hiện văn hóa của cộng đồng
này trong khoảng hơn hai thập kỷ gần đây,
tôi nhận thấy người dân nơi đây đã luôn thể
hiện tính linh hoạt của mình trong các thực
hành văn hóa để vừa khẳng định, đề cao
được văn hóa truyền thống của mình và
vừa phát huy được tối đa vốn văn hóa đó
để làm giàu cho đời sống văn hóa đương
đại. Sự linh hoạt đó của cộng đồng Kinh
tộc ở Kinh Đảo có thể trở thành ví dụ sinh
động để chúng ta nhìn nhận lại về văn hóa
truyền thống và sức sống của nó trong các
thực hành văn hóa đương đại.
1. Cộng đồng Kinh tộc ở Kinh Đảo
Kinh Đảo là tên gọi chung cho ba hòn
đảo và cũng là ba làng biển nơi dân tộc
Kinh tập trung sinh sống: Vạn Vĩ, Sơn
Tâm và Vu Đầu. Theo địa giới hành chính
hiện tại, ba làng này nay thuộc trấn Giang
Bình, huyện Đông H¬ưng, thành phố cảng
Phòng Thành, Khu tự trị dân tộc Choang
tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Trên biển thì
vùng biển Kinh Đảo nằm trong Vịnh Bắc
Bộ (Tonkin Guft) thuộc vùng biển phía
nam Trung Quốc, tiếp giáp với vùng biển
phía bắc Việt Nam, đây là vùng biển được
coi là trọng yếu bởi nó có nhiều thế mạnh,
đặc biệt là thế mạnh về cảng biển và thông
thương. Kinh Đảo chỉ cách Đông Hưng
25km đường bộ, cách Nam Ninh (thủ phủ
của Quảng Tây) 180km, cách Hạ Long của
Việt Nam 180 km và cách thủ đô Hà Nội
318km. Kinh Đảo hiện nay gồm 3 làng
người Kinh là: Vạn Vĩ là (lớn nhất với diện
tích 16km2, 1132 hộ, 4987 khẩu), Vu Đầu
(diện tích 6km2, 2000 khẩu), Sơn Tâm
(diên tích 7km2, 1800 khẩu). Riêng Vạn Vĩ
có được bờ biển dài khoảng 15km, rộng
khoảng 7000ha, nơi đây đã hình thành nên
bãi biển du lịch nổi tiếng trong vùng, bãi
biển Kim Than (Bãi Vàng)(1).
Dân tộc Kinh ở Trung Quốc (được gọi
là Kinh tộc) tính đến năm 2012 có khoảng
23.000 ngư¬ời, tập trung sinh sống chủ yếu
ở Kinh Đảo và khu vực Giang Bình, Đông
Hưng. Hiện nay trong 3 làng chỉ có Sơn
Tâm vẫn gần như 100% là người Kinh sinh
sống, còn Vạn Vĩ đã có khá nhiều người
Hán, Choang và Nguồn (chỉ chung các tộc
người từ miền núi xuống) sống đan xen,
Vu Đầu cũng có 3 đội mới đến sinh sống ở
đầu làng là người Hán. Ngoài ra do thương
mại phát triển ngày càng nhanh ở Kinh
Đảo nên khu vực này cũng thường có
nhiều lao động di cư theo mùa (nhất là vào
mùa khai thác và chế biến sứa biển), những
người đến làm ăn buôn bán (nhất là làm
các loại dịch vụ ăn uống, nghỉ ngơi,…), và
những người phụ nữ từ Việt Nam sang lấy
chồng và sinh sống ở các làng.
Người Kinh ở Kinh Đảo là những
người Kinh từ Việt Nam di cư đến từ thế
kỷ thứ XVI, điều này hầu như ai quan tâm
đến khu vực này cũng đều biết vì đã được
ghi trong tất cả các sách viết về người Kinh
ở đây. Tuy nhiên người Kinh ở đây không
đến Kinh Đảo vào cùng một thời gian mà
có sự cách nhau khá xa, có dòng họ đã đến
đư¬ợc mư¬ời đời, có dòng họ chín đời, có
họ bảy đến tám đời và có họ chỉ mới ba
đến bốn đời, nơi xuất cư của họ chủ yếu là
Thanh Hoá, Đồ Sơn, Móng Cái.
Định cư ở ngay vùng biển đảo biên
giới, cộng đồng Kinh tộc ở Kinh Đảo đã
trải qua nhiều thăng trầm bởi các cuộc giao
tranh và sự thay đổi chính sách. Năm 1989,
hai nước Việt Nam và Trung Quốc khôi
phục lại mậu dịch biên giới, thành phố
Đông Hưng của Trung Quốc và Móng Cái
của Việt Nam đều được xác định là các khu
kinh tế cửa khẩu trọng tâm, đầu mối trao
đổi hàng hoá và dịch vụ giữa Trung Quốc,
4
Việt Nam và các nước Asean. Từ đây Kinh
Đảo trở thành đầu mối liên kết về thương
mại giữa hai quốc gia và phát triển mạnh
về kinh tế. Người Kinh ở Kinh Đảo hiện
nay chủ yếu dựa vào nguồn sinh kế từ khai
thác biển, nuôi hải sản, buôn bán hải sản,
dịch vụ du lịch và các hình thức thương
mại qua biên giới. Nhìn chung với một cơ
cấu kinh tế mở và năng động, đời sống của
người Kinh nơi đây phát triển nhanh chóng
trong hơn hai mươi năm qua và ổn định ở
mức cao so với các dân tộc thiểu số khác ở
Quảng Tây. Đây là nền tảng quan trọng
cho sự củng cố và gia tăng đầu tư cho các
hoạt động văn hóa của người dân Kinh Đảo
trong một vài thập kỷ gần đây.
Về văn hóa, cộng đồng Kinh tộc ở
Kinh Đảo còn giữ được nhiều nét văn hóa
truyền thống của người Kinh thể hiện trong
cơ cấu gia đình, dòng họ, làng xóm (tôn
trọng vai trò của người cao tuổi, của các
ông mo, ông đám,…), trong ngôn ngữ
(tiếng Kinh vẫn duy trì trong gia đình và
trong làng), trong các phong tục tập quán
(ưa dùng nước mắm, mặc yếm thêu, đội
nón lá, dùng bè mảng đi biển, dùng lời hát
đối đáp trong hôn lễ, dùng đàn bầu, giỏi ca
hát,…), trong tri thức dân gian (giỏi sáng
tạo nhiều ngư cụ, hiểu về thuyền, bè, lưới,
cách đánh bắt hải sản, sáng tác nhiều loại
hình thơ ca,…), đặc biệt là trong đời sống
tâm linh (chú trọng các sinh hoạt tín
ngưỡng ở đình, chùa, miếu, tôn sùng các vị
thần núi, thần biển, thần thành hoàng, các
vị tiền hiền, tôn thờ Cha là Trần Hưng Đạo
và mẹ là Mẫu Liễu Hạnh là mang theo từ
quê hương,…). Màu sắc văn hóa truyền
thống đó hiện nay cũng đang được thực
hành theo hướng “sáng tạo truyền thống”,
có nghĩa là trong bối cảnh xã hội đổi mới,
những yếu tố văn hóa truyền thống đã
không còn được thực hành y như truyền
thống nữa mà đã có nhiều những sự sáng
tạo, ví như xuất hiện những bức tượng mới
mang dáng dấp Trung Quốc ngự trên ngai
thờ uy nghiêm nhất trong ngôi đình thờ các
vị thần Việt và nổi tiếng là thể hiện rõ đặc
trưng văn hoá Việt, cách trang trí các ban
thờ trong đình với rất nhiều sắc đỏ, cách
sắp xếp ban thờ rồi lễ vật dâng cúng tế
cũng có nhiều thay đổi, những câu ca, bài
hát mới được sáng tác theo âm điệu của hát
nhà tơ vốn chỉ được hát trong các buổi tế lễ
chính trong đình, trưng bày các phiến đá
lớn có khắc các biểu tượng văn hóa của
người Kinh,… Cho đến nay kết quả của
quá trình sáng tạo ấy cũng đã trở thành
“truyền thống” khi những nét văn hóa mà
người dân đang thực hành luôn được dân
làng xem là thuần Việt và có sự kết nối
giữa những người dân Kinh Đảo với đất
mẹ. Do sự qua lại với Việt Nam ngày càng
nhiều, những người trong Ủy ban đình vụ
(chuyên lo việc duy trì nghi lễ ở đình) luôn
có ý thức đi thăm các ngôi đình ở Việt
Nam, tham khảo các lễ hội đình ở Việt
Nam, mua các đồ phục vụ cúng lễ và trình
diễn từ Việt Nam, tìm kiếm các cuốn sách
nói về phong tục nghi lễ truyền thống, các
truyện Nôm, các cuốn sách sưu tầm thơ ca
dân gian,…để bổ sung vào kho tàng văn
hóa của họ ở Kinh Đảo
Bên cạnh đó, do cộng cư với người
Hán, Choang và một số dân tộc khác trong
một thời gian dài nên văn hóa ở đây cũng
đã có sự giao lưu, biến đổi và ngày càng đa
sắc, đa dạng hơn, màu sắc văn hóa Hán,
Choang thể hiện ở nhiều khía cạnh trong
đời sống, những nét văn hóa mới được hội
nhập vào trong vốn văn hóa của cộng đồng
Kinh tộc ở đây: từ cách ăn, mặc (sử dụng
nhiều dầu, mỡ trong món ăn, mặc trang
phục Hán,…) đến ngôn ngữ (sử dụng tiếng
Hán song song với tiếng Kinh, dùng tiếng
Kinh có pha âm Hán và Choang,…), từ
phong tục tập quán (đi thăm mộ vào ngày
5
thanh minh, dùng nhiều màu đỏ, dán câu
đối trước cửa nhà, ưa đồ ngọt và dùng đồ
ngọt làm lễ vật trong hôn nhân, cúng lễ,…)
cho đến đời sống tâm linh (các di tích được
trùng tu lại theo phong cách Hán, trong hội
đình có đoàn phụ nữ Hán diễn tấu trống
trong đám rước, lá quốc kỳ Trung Quốc
trong đám rước, âm nhạc Hán được sử
dụng cho các điệu múa hát chúc thần, rước
thần ra sân khấu làm lễ chào mừng, gõ sạp
trên đường dẫn quan chức tới dự hội, nhiều
đoàn nghệ thuật của các dân tộc Hán,
Choang, Gi, Dao, Việt từ Việt Nam,…góp
vui trong lễ hội,…).
Có thể nói văn hóa của cộng đồng
Kinh tộc ở Kinh Đảo hiện nay là một bức
tranh đa sắc, ở đó có màu sắc văn hóa
truyền thống của người Kinh, có màu sắc
văn hóa của sự giao lưu tiếp biến, có cả
những màu sắc văn hóa mới du nhập,…Có
được sự đa sắc ấy là do người Kinh nơi đây
đã rất nỗ lực gìn giữ văn hóa truyền thống
và mở rộng giao lưu, hội nhập, họ đã rất
linh hoạt và mềm dẻo trong các thực hành
văn hóa, đó cũng là cách mà cộng đồng
Kinh tộc nơi đây từng bước thích nghi, hội
nhập và xác lập vị thế của mình trên đất
Trung Quốc.
2. Sự linh hoạt trong các thực hành
văn hóa của cộng đồng Kinh tộc ở
Kinh đảo hiện nay
Có thể nói quá trình giao lưu, hội nhập
và sáng tạo truyền thống đã song hành với
văn hóa của cộng đồng người Kinh ở Kinh
Đảo từ trong lịch sử định cư ở vùng đất
mới cho tới nay. Tuy nhiên trong bối cảnh
xã hội đương đại, quá trình này được đẩy
mạnh hơn và bị chi phối bởi nhiều động
thái mới xuất hiện từ phía nhà nước, cộng
đồng làng và cả các cá nhân. Nếu như vị trí
địa lý đặc biệt nơi cửa ngõ biên giới đã tạo
ra cho người Kinh ở Kinh Đảo sự năng
động trong phát triển kinh tế và hội nhập
văn hóa thì quá trình sáng tạo truyền thống
lại tạo cho họ sự khôn khéo, linh hoạt,
thích ứng tốt trong phát triển và làm giàu
văn hóa.
Nhìn vào quá trình sáng tạo truyền
thống và tạo dựng bản sắc văn hóa Việt của
cộng đồng Kinh tộc ở Kinh Đảo chúng ta
có thể thấy được sự linh hoạt và mềm dẻo
của văn hóa nơi đây để vừa thích nghi hội
nhập được với văn hóa các tộc cộng cư lại
vừa duy trì được nét văn hóa Việt. Họ
không quá quan trọng việc phải duy trì hay
phục hồi cho được các yếu tố văn hóa
truyền thống đúng như chúng đã có trước
kia mà với họ điều quan trọng là họ thấy
“đẹp đẽ”, thấy “hợp lòng” và “cả làng vui
vẻ” như lời nhiều người già ở Kinh Đảo
chia sẻ khi hội làng được phục hồi lại.
Trong các thực hành văn hóa được họ xem
là truyền thống không thiết phải là các yếu
tố văn hóa Việt mang từ Việt Nam trong
hành trang di cư mà có thể là các yếu tố
văn hóa mới hình thành trên cơ sở của sự
giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, cũng có
thể là các yếu tố văn hóa truyền thống đã
được sáng tạo cho phù hợp, ví như: Đám
rước đi nghinh thần thay vì từ đình ra thẳng
bãi biển thì đi ra sân khấu lớn để làm lễ
chào mừng trước khi ra biển; Người đi đầu
trong đám rước không phải là một cụ
thượng như trước kia mà là một vị lãnh đạo
Đảng ở địa phương cầm quốc kỳ Trung
Quốc; Đi trong đám rước có thêm đội diễn
tấu trống con của người Hán; Hát đối đáp
trước cửa đình bên cạnh hát tiếng Kinh còn
hát cả tiếng Hán; Âm nhạc Hán được sử
dụng làm nền cho các điệu múa truyền
thống của người Kinh; Lễ ngồi mâm vốn
chỉ dành cho đàn ông trong làng từ 19 tuổi
trở lên thì nay được sắp xếp cho cả quan
chức và phụ nữ,…Ngôi đình vốn được
người Kinh ở Kinh Đảo xem là “thuần
Việt”, “đúng truyền thống Kinh tộc ta” như
6
lời chia sẻ của họ song trong đó đã có
nhiều sắc thái văn hóa Hán như tượng thờ
theo phong cách Hán, màu sắc sử dụng
trong lễ hội (trong không gian thờ, trong
đám rước với rất nhiều sắc đỏ), các điệu
múa theo các bản nhạc của Trung Quốc,
nhiều trang phục của đội rước cờ, đội rước
kiệu, âm nhạc, rồi các món ăn, cách thức
trình diễn văn nghệ,…cũng mang màu sắc
Hán khá rõ.
Trong bối cảnh cộng cư và giao lưu
văn hóa ngày càng mở rộng ở Kinh Đảo,
người dân chấp nhận và chủ động với
nhiều thực hành văn hóa khác nhau. Trong
Tết nguyên đán, các gia đình gói bánh
chưng truyền thống như ở Việt Nam nhưng
cũng gói bánh tày, làm bánh bạc đầu như
người Hán, ăn các món ăn truyền thống của
Việt Nam như nem, chả, măng,…nhưng
cũng ăn các món khau nhục, xá xíu, bánh
bao,…của người Hán, trang trí bàn thờ và
treo khăn thờ như người Hán nhưng khẩn
cầu các vị thần người Việt và cúng ở đình
chiều 30 Tết,…Người Kinh ở Kinh Đảo
vừa thực hành tục chạp mộ truyền thống
vào trước Tết của người Kinh nhưng cũng
vẫn thăm mộ và cúng mộ dịp thanh minh
tháng Ba như người Hán. Trong sinh hoạt
văn nghệ dân gian hiện nay, người Kinh ở
Kinh Đảo vừa hát tiếng Việt, vừa hát tiếng
Hán, thậm chí chuyển các lời bài hát tiếng
Việt sang tiếng Hán để hát, tương tự như
vậy các điệu múa trong sinh hoạt thường
ngày và trong các dịp lễ cũng thường vừa
múa các điệu múa truyền thống của người
Kinh như múa bông, múa đội đèn, múa
nón,…vừa múa các điệu giống người Hán
như múa trống, múa lụa và thường xuyên
sử dụng âm nhạc Hán cho các điệu múa
truyền thống Việt. Các truyện Nôm cũng
như các lời hát truyền thống của người Việt
hiện nay đều được ghi lại bằng ba thứ chữ:
Nôm, Việt, Hán,…Trong các ngôi đình,
chùa hình thức thờ tự ở nơi linh thiêng nhất
cũng khá dễ dàng thay đổi, đó là việc đưa
các tượng thờ mang hình thức Hán vào thờ,
ở chùa vừa có tượng Phật vừa có tượng
Mẫu, vừa thờ Phật vừa thờ Mẫu, cúng chay
hay mặn đều được,…Còn rất nhiều biểu
hiện văn hóa khác chỉ ra sự đa dạng trong
các thực hành văn hóa của người Kinh ở
Kinh Đảo hiện nay, tất cả cho thấy một sự
linh hoạt, mềm dẻo, chủ động của người
dân nơi đây trong việc hội nhập, thay đổi
và tạo dựng cho mình một bức tranh văn
hóa đa sắc màu nơi đất khách.
Ngoài ra, trong từng thực hành văn
hóa cụ thể, nhất là những thực hành văn
hóa ở những không gian thiêng, người dân
Kinh Đảo hiện nay không quá coi trọng sự
nghiêm ngặt, cứ phải theo đúng truyền
thống mà có những sự thoải mái, tiện lợi
nhất định. Dễ nhận thấy điều này nhất là
trong các nghi lễ ở đình, chùa. Ở đình Vạn
Vĩ, Vu Đầu thờ 5 vị thần, trong ngày hội
chỉ đi rước được 2 vị là thần núi và thần
biển, hội Sơn Tâm thờ 3 vị, ngày hội chỉ đi
rước vị thần chủ, còn các vị khác “không
biết ở đâu mà rước về” hoặc “không cần
rước, khấn mời về là được” như lời một số
người làng chia sẻ. Việc chọn người vào
các vị trí ông mo, ông đám hay những
người ban tổ chức phụng sự thần thánh
cũng không còn kiêng kỵ nghiêm ngặt như
trước, chẳng hạn có vị thôn trưởng con trai
mất chưa được 100 ngày nhưng vẫn tham
gia các công việc trong lễ hội, hay việc sắp
xếp thứ tự trong đám rước thần cũng không
thực sự theo đúng trật tự: trống con (chấp
hiệu tiền quân) thì phải đi đầu thì lại đi sau
trống cái (chấp hiệu trung quân), ông mo
được coi là con của thần phải đi đầu đoàn
rước để đón thần về thì lại đi sau một số vị
quan chức,...
Trang phục của những người trực tiếp
tham gia hành lễ thì không thống nhất và
7
cẩu thả, các ông đám người thì áo dài,
người thì áo ngắn, người áo xanh, người áo
đỏ, đa số họ chỉ mặc áo dài lễ với quần và
giầy tây bình thường, có người mặc với
quần jean, một số quan viên bận để con trai
đi thay nên các thanh niên trẻ này mặc
quần lửng với áo dài lễ, nhiều người mặc
áo dài lễ đi trong đám rước thần nhưng vẫn
hút thuốc lá và nói chuyện với nhau rôm rả
mà không trang nghiêm như thường
thấy,… Trong không gian chính của đình,
khi nghe các cô đào hát chúc thần trước
ban thờ thì những người phụng sự người
thì nói chuyện, người thì làm việc riêng,
chấp hiệu trống và chiêng thỉnh thoảng lại
quên không đánh phụ hoạ. Trong khi tế
được coi là nghi lễ linh thiêng nhất thì các
ông đám thực hiện có phần lộn xộn, lúc
ông thông xướng hô quỳ thì đứng mà lúc
hô bình thân thì lại quỳ, khi ông chúc đọc
văn thì các ông đám và quan viên người
đứng, người ngồi, người nghe điện thoại,
hút thuốc,...khiến cho ván tế thiếu sự long
trọng cần thiết. Một số cụ già trong làng
khi xem tế đã thất vọng và nói với tôi: “Trẻ
bây giờ đã không biết lại chẳng chịu học gì
cả, không biết mình đang làm việc thiêng
thì phải như thế nào, cứ làm thế kia thì thần
nào chứng cho được”. Lễ hội bên làng Sơn
Tâm hiện nay còn không có thày cúng
chuyên nghiệp cho các năm như bên hội
Vạn Vĩ mà từng năm lại phân công từng
người khác nhau nên việc các vị này không
thông thạo các nguyên tắc đi đứng trong khi
cúng tế cũng là điều dễ hiểu, vì vậy có khi
đám tế diễn ra trong sự thiếu cẩn trọng và
nghiêm ngặt cần thiết của một đám tế thần.
Vấn đề sắp xếp vị trí ngồi mâm cũng
gây khá nhiều lời qua tiếng lại trong dân
làng, họ nói với nhau mà tôi vô tình nghe
được: “Nó đóng mấy nghìn thế là mời nó
lên cỗ nhất cỗ nhị, thật là chẳng phép tắc
gì”. Qua quan sát tham dự và nói chuyện
với nhiều người làng, tôi thấy việc sắp xếp
vị trí ngồi mâm trong lễ hội có sự thoải mái
và dễ dãi so với việc qui chiểu theo hương
ẩm bạ ngày xưa, khách đến dự hội thường
được mời ngồi ở những mâm cỗ cao, phụ
nữ là khách cũng được ngồi mâm, chẳng
hạn như tôi được mời ngồi ở mâm cỗ hàng
trên, hội làng Sơn Tâm ai đóng tiền vào
ngồi mâm cũng được, không cần phải qui
chiếu theo danh sách trai đinh trong làng
nữa. Giải thích điều đó, một vị nam trung
niên làng Sơn Tâm nói: “thoải mái, vui vẻ
thôi, ngày hội ăn uống ca hát ở đình mà,
không quan trọng đâu, mang của ra đình ăn
cho vui, thanh niên tham gia được là vui
chứ nếu có mỗi cánh già thì cũng không
vui đâu”.
Không chỉ vậy, sự thoải mái còn thể
hiện ở việc các ngôi đình, chùa ở các làng
chấp nhận sự ra vào thoải mái của tất cả
mọi người, trong đó có khách du lịch, họ
vào đình thắp hương với các kiểu trang
phục thường thấy trên bãi biển, họ đứng
ngồi thoải mái bất cứ chỗ nào và cả ăn
uống bên trong khám thờ chính, tự do chụp
ảnh bên cạnh phù giá, hương án và cả long
ngai thờ thần,...thậm chí, trong lễ hội khi
các cụ đang làm lễ tế cũng vẫn chấp nhận
cho dân làng và khách thập phương vào
đình thắp hương, vì vậy có nhiều người
mặc váy ngắn, quần soóc, áo không tay,
đội mũ,…vào thắp hương, cúi lạy ở ban
thờ chính cao nhất của đình trong khi các
cụ đang làm lễ tế đằng sau.
Trong chùa Sơn Tâm sự thoải mái
trong cúng lễ cũng được thể hiện rõ ở việc
người dân và khách du lịch không quan
trọng phải trang phục kín đáo vào chùa,
cũng không cứ phải lễ chay ở chùa, việc
sắp xếp các ban thờ trong chùa cũng thoải
mái khi bày hết cả tượng mẫu, tượng Phật,
tượng các quan trong cùng một ban
thờ,…Trong các nghi lễ khác như đám tang
8
hay đám chay, nhiều khi các thày cúng
không mặc áo lễ hoặc có khi trong lúc lễ đã
bỏ qua một số bước để rút ngắn thời gian,
các gia chủ tổ chức đám cũng nhiều khi tự
rút đi một số bước khi thấy mệt mỏi hoặc
để tiết kiệm thời gian,…
Sự thoải mái trong thực hành văn hóa
của người Kinh ở Kinh Đảo hiện nay
không chỉ thể hiện rõ ở các không gian
thiêng như vậy mà trong các thực hành văn
hóa hàng ngày họ cũng theo xu hướng đơn
giản, thoải mái, không câu nệ, không bắt
buộc phải theo các thực hành văn hóa
truyền thống. Trong sinh hoạt ca hát chẳng
hạn, họ nhớ được gì thì hát đó, hát tiếng
Việt cũng được, tiếng Hán hay tiếng Pạcvà cũng được, hát không có nhạc đệm cũng
được mà hát tiếng Việt theo nhạc đệm của
người Hán cũng được, các bài hát đã thuộc
chỉ một phần còn lại họ thường ứng tác
một cách khá ngẫu hứng trong hoặc sau khi
hát đối đáp,…Trong nếp sống thường ngày
họ không câu nệ việc cả gia đình phải họp
mặt nhau và ăn cùng nhau, các bữa ăn
trong ngày, ai tiện thì ăn trước, thậm chí
cùng ăn một lúc thì cũng không nhất thiết
phải ngồi cùng nhau ở bàn ăn,…
Giải thích về sự thoải mái trong các
thực hành văn hóa của mình, người dân
Kinh Đảo cho rằng: “cứ bảo là truyền
thống nó phải thế này, phải thế kia nhưng
thực chất chúng tôi có biết rõ đâu, chỉ nghe
các cụ nói qua nói lại ít ít thôi, làm được
đến đâu thì làm chứ cũng phải theo như đời
sống bây giờ chứ, làm chay mà cứ 7 ngày 7
đêm thì ai chịu được” (nam, 67 tuổi, Sơn
Tâm), “theo truyền thống chứ, đình đám
của chúng tôi là vẫn truyền thống, có thêm
vào cái gì cũng để đẹp đẽ hơn, vui hơn,
hợp hơn thôi” (nam, 59 tuổi, Vạn
Vĩ),…Như vậy, các qui định nghiêm ngặt
trong thực hành các yếu tố văn hóa truyền
thống như thế nào không phải khi nào họ
cũng biết, chính vì vậy họ thực hành theo
những gì mà họ nghĩ là hợp lý để tạo ra sự
vui vẻ, thoải mái cho dân làng. Có thể thấy
rõ rằng, người Kinh ở Kinh Đảo đã rất linh
hoạt trong thực hành văn hóa, họ chấp
nhận nhiều cách thức thực hành, nhiều sự
thể hiện văn hóa khác nhau, họ không quá
quan trọng việc phải tuân theo chính xác
những gì được gọi là truyền thống mà luôn
có sự thay đổi, sáng tạo một cách rất mềm
dẻo để vừa giữ được cái cốt lõi của văn hóa
truyền thống theo họ nghĩ, lại vừa phù hợp,
thuận tiện trong cuộc sống đương đại.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
ở Kinh Đảo, các dòng chảy kinh tế, thương
mại, thông tin,…đã phá vỡ sự khép kín của
Kinh Đảo trước kia và nối kết Kinh Đảo
với các vùng trong nước và quốc tế, điều
đó cũng đã đưa văn hóa của cộng đồng
Kinh tộc ở đây vào dòng chảy của sự giao
lưu, hội nhập và đưa tới những sự biến đổi
đa chiều. Song những người Kinh ở đây
cũng đã chủ động trong các chiều biến đổi
đó, họ chủ động hội nhập, linh hoạt sáng
tạo các yếu tố văn hóa sao cho có được
những thực hành phù hợp mà lại vẫn khẳng
định được màu sắc văn hóa Kinh đặc trưng
của cộng đồng.
3. Tâm thức hướng về văn hóa Việt
Cộng đồng người Kinh ở Kinh Đảo
hiện nay là những người mang quốc tịch
Trung Quốc nhưng thành phần dân tộc là
tộc Kinh, họ luôn có ý thức về thành phần
dân tộc đó của mình và biết cách khẳng
định những nét văn hóa Việt trên đất Trung
Quốc. Trong suốt thời gian qua lại và tìm
hiểu về văn hóa của Kinh Đảo, gặp gỡ và
nói chuyện với nhiều người dân Kinh Đảo,
tôi luôn nhận thấy tâm thức hướng về văn
hóa Việt, hướng về Việt Nam hiển diện rõ
rệt trong mỗi người dân nơi đây, dù họ
thuộc thành phần xã hội nào, lứa tuổi nào,
kể cả những bạn trẻ không còn biết tiếng
9
Việt, không có hiểu biết nhiều về cội
nguồn đất mẹ.
Nhìn lại quá khứ thời gian đầu mới
định cư ở các hòn đảo sau này được gọi là
Kinh Đảo, có lẽ tâm thức của người Kinh
nơi đây chỉ là sự hướng về với quê hương
bản quán, nơi mà họ đã từ đó ra đi (một số
vùng biển Thanh Hóa, Hải Phòng, Quảng
Ninh) vì lúc đó họ vẫn luôn cho rằng họ
đang sống trên đất Việt. Sau này khi các
hòn đảo mà họ cư trú đã chính thức thuộc
về Trung Quốc, họ chính thức trở thành
dân tộc Kinh ở Trung Quốc thì tâm thức
của họ không chỉ hướng về nơi làng quê
gốc của mình nữa mà hướng về một Việt
Nam rất gần mà cũng rất xa với họ, gần về
địa lý nhưng xa về việc đi lại cũng như sự
hiểu biết về nơi đất mẹ. Suốt một thời gian
dài từ sau khi họ chính thức thuộc về
Trung Quốc (sau 1887), rồi thời kỳ nhiều
biến động ở khu vực vịnh Bắc Bộ (cuối thế
kỷ XIX, đầu thế kỷ XX), sau đó lại là giai
đoạn có nhiều mâu thuẫn Kinh Hán (những
năm trước và sau Giải phóng 1949), và rồi
xung đột biên giới (năm 1979) khiến cho
người Kinh ở Kinh Đảo rất ít có sự đi lại
với Việt Nam, hình ảnh quê hương bản
quán của họ nơi đất Việt dần trở nên mờ
nhạt, xa xôi, thậm chí có giai đoạn nhiều
người Kinh ở đây đã phải thay tên đổi họ,
nhận mình là người Hán để thuận tiện hơn
trong cuộc sống. Từ khoảng những năm 80
(thế kỷ XX) trở lại đây, cùng với sự phát
triển khu vực biên giới, các dòng chảy
hàng hóa, thương mại trên bộ, trên sông,
trên biển đều được khơi thông giữa hai
nước, việc đi lại qua biên giới trở nên dễ
dàng hơn, ngày càng nhiều phụ nữ từ Việt
Nam sang lấy chồng và sinh sống tại Kinh
Đảo,…đã khiến cho Kinh Đảo được kéo lại
gần hơn với Việt Nam, nhiều người Kinh ở
Kinh Đảo không còn xa lạ với Việt Nam,
họ khá thoải mái qua lại Việt Nam chơi,
tìm lại bạn bè, người thân, làm ăn buôn
bán, làm việc hoặc chỉ đơn giản là đi du
lịch. Ngay cả những người không có điều
kiện đi Việt Nam thì Việt Nam cũng không
còn xa xôi với họ khi hàng ngày có khá
nhiều người Việt Nam sang Kinh Đảo
buôn bán, hợp tác làm ăn với người ở Kinh
Đảo, họ còn xem được các chương trình
truyền hình Việt Nam, gọi điện thoại được
bằng sóng của Việt Nam, tham gia hoặc
được xem các chương trình giao lưu biểu
diễn văn nghệ của các đoàn nghệ thuật từ
Việt Nam,…Nhìn chung hiện nay người
Kinh ở Kinh Đảo đã có nhiều thông tin và
những sự hiểu biết về Việt Nam nhiều hơn
và cũng có ý thức rõ ràng hơn về vị trí của
cộng đồng mình với đất mẹ Việt Nam.
Nếu như trong quá khứ, khi họ sống
biệt lập trên các hòn đảo họ vẫn thực hành
văn hóa Việt – những yếu tố văn hóa mà họ
mang theo trong hành trang di cư thì khi họ
không còn sống biệt lập nữa mà có sự hội
nhập nhanh chóng về dân cư và văn hóa
với người Hán và các tộc khác ở Kinh Đảo
tâm thức về văn hóa Việt của họ trở nên rõ
ràng hơn. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay
khi kinh tế của các làng biển ở Kinh Đảo
đã rất phát triển, mức sống của dân làng ổn
định ở mức cao so với các tộc thiểu số
trong khu vực, quá trình giao lưu văn hóa
diễn ra đa chiều,…thì người dân nơi đây
càng ý thức rõ rệt về cội nguồn của mình,
về việc duy trì và tạo dựng bản sắc văn hóa
Việt, khẳng định vị trí của cộng đồng mình
trong khu vực biên giới, khẳng định sự gắn
kết của mình với đất mẹ bằng chiều sâu
văn hóa. Tâm thức hướng về Việt Nam
luôn thường trực trong mỗi người dân Kinh
Đảo, chúng tôi đã nhận thấy niềm tự hào
khi họ giới thiệu và khẳng định chắc chắn
với tôi cũng như với nhiều nhà nghiên cứu
khác khi tới làm việc ở đây là “tôi là người
Kinh ở Kinh Đảo, là người Việt mình đấy,
10
chúng tôi cũng vẫn giống như ở Việt Nam
thôi” (thảo luận nhóm trí thức của Kinh
Đảo ngày 9/10/2012). Chúng tôi cũng được
biết rằng hiện nay rất nhiều người Kinh ở
Kinh Đảo chọn Việt Nam là nơi triển khai
các hoạt động kinh doanh buôn bán, họ
thường xuyên đi lại Việt Nam, hợp tác với
các bạn hàng Việt Nam, một số bạn trẻ ở
Kinh Đảo sau khi học xong đại học
(thường học ở Nam Ninh, Phòng Thành)
cũng đã chọn Việt Nam để học tiếp hoặc
làm việc, những trí thức của Kinh Đảo –
những người tâm huyết với sự phát triển
văn hóa của Kinh Đảo cũng thường xuyên
qua lại Việt Nam để quan sát, tìm hiểu về
văn hóa nơi đất mẹ để bổ sung cho vốn văn
hóa của Kinh Đảo.
Với tâm thức hướng về cội nguồn văn
hóa Việt như vậy, trong quá trình giao lưu
văn hóa diễn ra đa chiều ở Kinh Đảo và cả
khu vực biên giới Đông Hưng hiện nay,
người dân Kinh Đảo đã tiếp thu khá nhiều
yếu tố văn hóa từ người Hán và các tộc
khác cộng cư song màu sắc văn hóa Việt
vẫn được người dân nơi đây gìn giữ và các
yếu tố văn hóa Việt đó trở thành phần cốt
lõi, thành nền tảng quan trọng đảm bảo cho
sự khẳng định “văn hóa của chúng tôi ở
đây về cơ bản vẫn là văn hóa Việt” như lời
ông Bí thư thôn Vạn Vĩ, đại điện duy nhất
của dân tộc Kinh là đại biểu quốc hội đã
nói(2). Có thể nhìn vào các ngôi đình làng ở
Kinh Đảo để thấy rõ hơn điều đó, như bao
ngôi làng Việt khác ở Việt Nam, các làng ở
Kinh Đảo dựng đình ngay khi họ ổn định
cuộc sống ở nơi đất mới, qua bao thăng
trầm đình đã được tu sửa rồi làm mới lại
nhiều lần, thậm chí có đình còn phải di
chuyển chỗ nhưng cho đến nay, các ngôi
đình ở đây vẫn là nơi thờ tự chính, nơi tập
trung các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của
cộng đồng làng, và thuộc quyền điều hành
của Ủy ban đình vụ hoặc của các đại diện
của cộng đồng do dân bầu ra, các nghi lễ
diễn ra ở đình vẫn là các nghi lễ truyền
thống, nhiều nghi lễ trong đó đã “một đi
không trở lại” ở các ngôi đình của người
Kinh trong nước nhưng lại vẫn tồn tại sống
động ở các ngôi đình này (như tục ca hát,
ngồi mâm, đóng cây đám mở hội,…), bản
thân ngôi đình và các nghi lễ ở đình cũng
đã mang nhiều màu sắc văn hóa Hán (từ
cách bài trí đến màu sắc, từ trang phục đến
việc hành lễ, từ tượng thờ đến các hoạt
động ca hát,…) song vẫn thấy rất đậm nét
dấu ấn của một ngôi đình Việt, thờ các vị
thần Việt, thực hành các nghi lễ cúng tế
của người Việt, được quản lý và duy trì các
hoạt động tâm linh theo kiểu tự quản với
vai trò quan trọng của người dân làng, các
cấp chính quyền, các nhà tài trợ tham gia
nhưng “họ không đổi hay cải tiến gì các lễ
của mình hết” như lời ông đình trưởng đình
Vạn Vĩ đã chia sẻ. Cũng có không ít những
thực hành văn hóa của người Kinh ở Kinh
Đảo hiện nay đã mang màu sắc Hán rất rõ
nét như trong đám cưới cô dâu dùng mạng
đỏ che mặt, trong ăn uống thì ưa ăn cháo,
ăn canh, nấu đồ ăn dùng nhiều dầu mỡ và
ngọt, dùng âm nhạc Hán trong hát đình,
màu sắc cũng như cách thức trang trí nhà
cửa, bàn thờ và các không gian tâm linh
không khác gì người Hán,…song người
dân ở Kinh Đảo lại luôn luôn nghĩ và
khẳng định rằng đó là nét văn hóa Việt,
“văn hóa của chúng tôi trước kia hay bây
giờ cũng vẫn là văn hóa Kinh tộc mình,
bây giờ có điều kiện chúng tôi còn cẩn thận
hơn, đẹp đẽ hơn ấy” (lời của vị đồng Chủ
nhiệm Trung tâm truyền thừa văn hóa chữ
Nôm dân tộc Kinh, phỏng vấn ngày
8/10/2012). Chính cội nguồn văn hóa Việt,
tâm thức luôn hướng về đất mẹ đã làm nên
suy nghĩ và niềm tin ấy của người dân.
Theo quan sát và cảm nhận của chúng
tôi thì trong bối cảnh giao lưu văn hóa
11
cũng như trao đổi thương mại đa chiều ở
khu vực biên giới giữa Trung Quốc với
Việt Nam và cả các nước ASEAN như hiện
nay, người dân Kinh Đảo dường như càng
muốn khẳng định mình là người Kinh trên
đất Trung Quốc, mình có sự gắn kết bền
chặt với đất mẹ. Sự khẳng định ấy một mặt
đáp ứng nhu cầu về tâm lý của những đứa
con xa xứ hướng về nơi cội nguồn, mặt
khác tạo ra một cơ chế bảo vệ họ trước
nguy cơ hòa tan vào các nền văn hóa khác
nơi đất mới, nhất là trong bối cảnh toàn cầu
hóa đang diễn ra mạnh mẽ ở khu vực này.
Ngoài ra, tâm thức hướng về đất mẹ Việt
Nam của họ cũng đã tạo ra cho họ nhiều
những cơ hội trong kinh doanh cũng như
trong học tập và làm việc tại Việt Nam.
Điều mà chúng tôi có thể thấy khá rõ là
chính tâm thức hướng về cội nguồn Việt
Nam ngày một mạnh mẽ của người Kinh ở
Kinh Đảo hiện nay đã chi phối và làm biến
đổi không ít những thực hành văn hóa của
họ, ví như sưu tầm ca dao dân ca, truyện
nôm của người Kinh trong nước để bổ sung
thêm vào vốn văn hóa này ở Kinh Đảo,
quan sát cách thức tế lễ truyền thống của
người Kinh để chỉnh sửa cách thức tế lễ
của mình, phụ nữ Kinh Đảo hiện nay cũng
đã mặc áo dài truyền thống trong các dịp tế
lễ, hội hè quan trọng giống người Kinh
trong nước, điều mà chỉ mới cách đây
khoảng 15 năm họ không làm như vậy…
Trong bối cảnh hiện nay, tâm thức hướng
về cội nguồn văn hóa Việt của người Kinh
ở Kinh Đảo ngày càng hiện hữu rõ rệt và
họ có cơ hội hiện thực hóa được tâm thức
ấy bằng nhiều cách, chính điều đó một mặt
đã khiến cho văn hóa của họ có không ít sự
biến đổi, mặt khác đưa văn hóa của họ đến
gần hơn với văn hóa của các tộc người
Kinh ở trong nước.
Như vậy, ngay cả khi mang tâm thức
hướng về văn hóa Việt thì cộng đồng Kinh
tộc ở Kinh Đảo cũng rất linh hoạt và mềm
dẻo để văn hóa truyền thống của họ trở
thành nền tảng vững chắc cho những sự sáng
tạo, hội nhập. Họ còn chủ động làm giàu vốn
văn hóa truyền thống của mình bằng cách
gắn bó chặt chẽ với đất mẹ, thỏa hiệp và
dung hòa với những yếu tố văn hóa mới du
nhập, tự tin khẳng định nét văn hóa Việt đặc
trưng của mình trên đất Trung Quốc.
Từ những thực hành văn hóa đương
đại rất linh hoạt của cộng đồng Kinh tộc ở
Kinh Đảo, chúng tôi nhận thấy có lẽ chúng
ta cũng cần có những cách nhìn nhận phù
hợp hơn về văn hóa truyền thống, việc bảo
tồn, sự biến đổi và những thực hành văn
hóa truyền thống trong bối cảnh đương đại.
Có lẽ văn hóa truyền thống không phải là
những gì bất biến, những gì ổn định lâu
bền mà văn hóa truyền thống bao hàm quá
trình biến đổi, hội nhập không ngừng, cho
đến hiện nay thì nền tảng văn hóa truyền
thống lại càng có nhiều những sự vận
động, thay đổi để tồn tại và thích ứng với
điều kiện xã hội đương đại. Trong trường
hợp văn hóa của cộng đồng Kinh tộc ở
Kinh Đảo thì những thực hành văn hóa
truyền thống còn mang tính bối cảnh rất rõ
nét, tùy từng thời điểm mà người dân biết
cách đề cao văn hóa truyền thống của cộng
đồng mình, khẳng định nét đặc trưng của
văn hóa Kinh tộc hoặc biết cách ẩn những
đặc trưng văn hóa ấy đi và tích cực, chủ
động hội nhập với văn hóa các tộc cộng
cư… Tất cả nằm trong chiến lược từng
bước tạo dựng bản sắc cũng như vị thế của
một cộng đồng di cư. Những thực hành văn
hóa truyền thống cũng mang tính linh hoạt
mà không phải khi nào cũng bị bó buộc
trong các khuôn thức, chuẩn mực xã hội,
nhiều người cho rằng bảo tồn văn hóa
truyền thống nghĩa là làm cái gì cũng phải
đúng y như truyền thống đã được trao
truyền từ thế hệ trước, nếu có gì thay đổi
12
thì được cho là lai căng, mất gốc,…song
trong thực tế không phải khi nào thực hành
theo đúng văn hóa truyền thống mà cha
ông để lại cũng là hợp lý, khi sự “đúng”
hay “y nguyên” truyền thống ấy cũng rất
linh hoạt về tiêu chí, cách nhìn và cách tiếp
cận nguồn tư liệu. Văn hóa truyền thống
cũng còn được xem như một yếu tố cần
thiết để hình thành tâm thức cộng đồng.
Người Kinh ở Kinh Đảo luôn mang tâm
thức hướng về cội nguồn đất Việt, họ thực
hành văn hóa đương đại với rất nhiều màu
sắc của sự giao lưu, hội nhập song với họ
đó là những yếu tố truyền thống, hay ít
nhất là mang cốt lõi truyền thống mà
những cái cốt lõi truyền thống đó giúp họ
định hình được bản sắc Kinh tộc của mình
và kết nối được cả cộng đồng. Có thể thấy
văn hóa truyền thống có mặt trong các thực
hành văn hóa đương đại của cộng đồng
Kinh tộc ở Kinh Đảo với những màu sắc
rất đa dạng, linh hoạt, người dân nơi đây đã
rất chủ động, sáng tạo để văn hóa truyền
thống của họ mang tính bối cảnh, tính
chiến lược, tính bản sắc rõ nét hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Chú thích
1) Các số liệu này do lãnh đạo các làng cung
cấp, cập nhật đến tháng 10/2012.
6. Phan Huy Lê và Vũ Minh Giang chủ biên
(1996), Các giá trị truyền thống và con người
Việt Nam hiện nay, tập II, đề tài KX 07-02.
2) Tư liệu phỏng vấn ông Tô Minh Phương ngày
8/10/2012.
7. Phan Ngọc (1994), Văn hoá Việt Nam và cách
tiếp cận mới, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội.
Ngày nhận bài: 24/12/2015
1. Nguyễn Duy Bính (2005), “Nhóm Việt tộc
(Kinh) ở Trung Quốc”, Tạp chí Dân tộc và
Thời đại, Số 80 (2).
2. Cheung Siu-woo. 2011, “The Shift of
Symbolic Boundaries around Intangible
Cultural Heritage: The Case of the Jing
Minority’s Hat Festival on the SinoVietnamese Border in Quangxi, China”, In
Intangible Cultural Heritage and Local
Communities in East Asia, edited by Liu Tiksang, South China Research Center, Hong
Kong University of Science and Technology;
Hong Kong Heritage Museum.
3. Nguyễn Thị Hiền (2012), “Thay đổi nhưng
không tan biến, bổ sung và làm giàu”, Nghiên
cứu xuyên quốc gia và đa địa điểm về thực
hành tín ngưỡng và lễ hội của cộng đồng
người Kinh ở hải ngoại.”, Tạp chí Văn hóa
học, số 4, 2012, tr. 65-94.
4. Nguyễn Vũ Hoàng (2011), “Nhân học xuyên
quốc gia: Những tiếp cận lý thuyết về nhân
học người Kinh tại Hoa Kỳ.”, Tạp chí Dân tộc
học, số 4 (172), tr. 60-72.
5. Hobsbawn, Eric and Ranger, Terence eds
(2000), Invention Traditions, Cambridge
University Press.
Biên tập xong: 15/02/2016
13
Duyệt đăng: 20/02/2016