Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019
Nghiên cứu Y học
THỰC TRẠNG TRỨNG GÀ TỒN DƯ KHÁNG SINH VÀ KIẾN THỨC
CỦA NGƯỜI KINH DOANH TRỨNG TẠI CÁC CHỢ
Ở QUẬN 8 -THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Xuân Diễm*, Trần Ngọc Minh Tuấn*, Huỳnh Ngọc Thanh**, Phan Bích Hà*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Theo nghiên cứu của Tổ chức JICA (Nhật Bản) năm 2016 tại Việt Nam về tồn dư kháng sinh
trong trứng gà ở các siêu thị tại TP. Hồ Chí Minh, kết quả cho thấy 16 mẫu trứng có tồn dư nhiều loại kháng
sinh khác nhau. Đối với con người, tiếp xúc thường xuyên với kháng sinh liều thấp dẫn đến sự thay đổi của vi
sinh vật làm tăng khả năng kháng thuốc, dẫn đến không hiệu quả khi điều trị kháng sinh trong lâm sàng. Do đó,
việc tồn dư kháng sinh trong trứng gà sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng và là một vấn đề của
sức khỏe cộng đồng.
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ tồn dư kháng sinh trong trứng gà được bán tại các chợ trên địa bàn Quận 8 - TP.
Hồ Chí Minh và tỉ lệ kiến thức đúng của tiểu thương kinh doanh trứng gà về tồn dư kháng sinh.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thực hiện từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2017. 136
mẫu trứng gà (bao gồm gà ta và gà công nghiệp, có nhãn hiệu và không nhãn hiệu) từ 67 địa điểm kinh doanh
trứng gà tại 14 chợ trên địa bàn quận 8 – TP. Hồ Chí Minh được kiểm nghiệm hàm lượng kháng sinh trong
trứng gà bằng phương pháp sắc ký lỏng ghép khối phổ hai lần (LC-MS/MS). Sử dụng bộ câu hỏi soạn sẵn phỏng
vấn trực tiếp 67 tiểu thương về kiến thức tồn dư kháng sinh trong trứng gà.
Kết quả: 45/136 mẫu trứng gà có tồn dư kháng sinh chiếm 33,1%. Tỉ lệ tồn dư kháng sinh ở trứng gà ta và
trứng gà công nghiệp lần lượt là 54,6% và 22,8%. 59,7% tiểu thương có kiến thức chung chưa đúng về kháng
sinh trong trứng gà. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa trứng gà tồn dư kháng sinh và loại trứng gà
(p<0,001; PR=2,39; KTC (95%): 1,51 – 3,89); giữa kiến thức kháng sinh trong trứng gà với trình độ học vấn
(p=0,011; PR=2,1; KTC (95%): 1,18-3,73); giữa kiến thức kháng sinh trong trứng gà với tập huấn kiến thức an
toàn thực phẩm (p <0,001; PR=3,56; KTC (95%): 1,54-8,29); giữa kiến thức kháng sinh trong trứng gà với thông
tin nghe về kháng sinh trong trứng gà (p=0,002; PR=2,62; KTC (95%): 1,39-4,96).
Kết luận: Kết quả nghiên cứu đánh giá thực trạng tồn dư kháng sinh trong trứng gà tại quận 8 - TP. Hồ
Chí Minh, đồng thời cảnh báo nguy cơ về an toàn thực phẩm. Việc sử dụng trứng gà còn tồn dư kháng sinh sẽ
ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng.
Từ khóa: kháng sinh, trứng gà
ABSTRACT
SITUATION ABOUT ANTIBIOTIC RESIDUES IN CHICKEN EGGS AND KNOWLEDGE
OF THE TRADERS IN THE MARKETS IN DISTRICT 8 IN HO CHI MINH CITY
Nguyen Thi Xuan Diem, Tran Ngoc Minh Tuan, Huynh Ngoc Thanh, Phan Bich Ha
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol. 23 – No. 5 - 2019: 453 – 461
Background: According to the study of JICA (Japan) in 2016 in Vietnam on antibiotic residues in chicken
eggs in supermarkets in Ho Chi Minh City, the results showed that 16 samples of eggs had many different
antibiotic residues. For humans, regular exposure to low-dose antibiotics leads to changes in microorganisms that
increase resistance, leading to ineffective treatment. Therefore, antibiotic residues in chicken eggs will directly
*Viện Y tế Công cộng TP Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: CN.Nguyễn Thị Xuân Diễm
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
ĐT: 0985682895
Email:
**
453
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2018
affect consumer health and is a problem of public health.
Objectives: Determining the rate of antibiotic residues in chicken eggs sold at markets in District 8 in Ho
Chi Minh City and the right knowledge rate of shopkeeper trading chicken eggs about antibiotic residues.
Methods: A cross-sectional descriptive study was carried out from March to July 2017. A total of 136
samples of chicken eggs (including free-range and industrial egg, branded and non-branded) from 67 locations of
chicken eggs trading in 14 markets in District 8 in Ho Chi Minh City were tested for antibiotic content by Liquid
chromatography-tandem mass spectrometry method (LC-MS/MS). Pre-written questionnaires were used to
directly interview 67 traders on antibiotic residues knowledge in chicken eggs.
Results: Samples of chicken eggs with antibiotic residues accounted for 33.1% (45/136 samples). The rate of
antibiotic residues in chicken eggs and industrial eggs is 54.6% and 22.8%, respectively. There were 59.7% of
shopkeepers who had incorrect general knowledge about antibiotics in chicken eggs. There was a statistically
significant relationship between chicken eggs with antibiotic residues and chicken eggs (p<0.001; PR=2.39; CI
(95%): 1.51 - 3.89); between antibiotic knowledge in chicken eggs and education level (p=0.011; PR=2.1; CI
(95%): 1.18-3.73); between antibiotic knowledge in chicken eggs and training on food safety knowledge (p<0.001;
PR=3.56; CI (95%): 1.54-8.29); between antibiotic knowledge in chicken eggs and information about antibiotics
in chicken eggs (p=0.002; PR=2.62; CI(95%): 1.39-4.96).
Conclusions: The results of the study evaluated the status of antibiotic residues in chicken eggs in District 8
in Ho Chi Minh City, and warned of the risk of food insecurity. This is a potential danger to public health. The
government needs to strengthen management and supervision of antibiotics used in animal husbandry.
Keywords: antibiotics, chicken eggs
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trứng gà là thức ăn bổ dưỡng có thể sử
dụng cho cả trẻ em và người lớn(6). Bên cạnh đó,
trứng cũng tồn tại nguy cơ về an toàn thực
phẩm. Theo nghiên cứu của Tổ chức JICA (Nhật
Bản) năm 2016 tại Việt Nam về tồn dư kháng
sinh trong trứng gà ở các siêu thị tại TP. Hồ Chí
Minh, kết quả cho thấy 16 mẫu trứng có tồn dư
nhiều loại kháng sinh khác nhau(10). Sau khi xử lý
nhiệt, lượng kháng sinh tồn dư trong sữa và
trứng giảm không có ý nghĩa(3). Đối với con
người, thuốc kháng sinh tồn dư trong thực
phẩm tạo ra mối đe dọa tiềm tàng với độc tính
trực tiếp như gây ung thư, phản ứng dị ứng, tiếp
xúc thường xuyên với kháng sinh liều thấp dẫn
đến sự thay đổi của vi sinh vật làm tăng khả
năng kháng thuốc(5,9,1) dẫn đến không hiệu quả
khi điều trị kháng sinh trong lâm sàng(3). Do đó,
việc tồn dư kháng sinh trong trứng gà sẽ ảnh
hưởng trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng
và là một vấn đề của sức khỏe cộng đồng.
TP. Hồ Chí Minh là thị trường tiêu thụ lớn
nhất cả nước về sản lượng trứng gia cầm, bình
454
quân tiêu thụ 3,4 - 4 triệu quả trứng các loại
(trứng gà, vịt) mỗi ngày. Là vị trí khu vực cửa
ngõ của thành phố, Quận 8 tiếp nhận nguồn
cung cấp trứng gia cầm chính từ các tỉnh Đồng
bằng sông Cửu Long. Trong khi đó, mức sử
dụng kháng sinh ở các trang trại gà tại Đồng
bằng sông Cửu Long là khá cao, khoảng 06 lần
so với một số nước châu Âu, phần lớn được
dùng với mục đích dự phòng hơn là điều trị(2).
Cho tới nay, các nghiên cứu về vấn đề trứng tồn
dư kháng sinh tại TP. Hồ Chí Minh rất hạn chế,
trong khi tình trạng sử dụng kháng sinh cấm và
lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi thì chưa
được kiểm soát chặt chẽ.
Với mong muốn xác định tỉ lệ tồn dư kháng
sinh trong trứng gà khi trứng tới bàn ăn để cảnh
báo cho người dân tuân thủ nghiêm ngặt việc sử
dụng kháng sinh từ trang trại. Vì vậy, để làm rõ
vấn đề này, nhất là tại Quận 8 - TP. Hồ Chí
Minh, chúng tôi thực hiện khảo sát tình hình tồn
dư kháng sinh trong trứng gà được bán tại các
chợ (nhà bán lẻ) trên địa bàn Quận 8 - TP. Hồ
Chí Minh.
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định tỉ lệ tồn dư kháng sinh trong trứng
gà được bán tại các chợ trên địa bàn Quận 8 - TP.
Hồ Chí Minh và các yếu tố liên quan đến tỉ lệ tồn
dư kháng sinh.
Xác định tỉ lệ kiến thức đúng của tiểu
thương kinh doanh trứng gà tại các chợ trên
địa bàn Quận 8 - TP. Hồ Chí Minh về tồn dư
kháng sinh.
ĐỐITƯỢNG- PHƯƠNG PHÁPNGHIÊNCỨU
Đối tượng nghiên cứu
Các mẫu trứng gà có nguồn gốc (thương
hiệu) hoặc không có nguồn gốc (không có
thương hiệu) được bán tại các điểm kinh doanh
trứng gia cầm và người trực tiếp quản lý việc
kinh doanh trứng (gọi tắt là tiểu thương) tại các
chợ trên địa bàn Quận 8 - TP. Hồ Chí Minh.
Tiêu chuẩn nhận vào
Người trực tiếp quản lý việc buôn bán trứng
gà và mẫu trứng gà còn nguyên vẹn, vỏ trứng
không móp, không bể.
Tiêu chuẩn loại ra
Từ lần vắng mặt đầu tiên, tiểu thương vắng
mặt lần thứ 02 tại thời điểm nghiên cứu sẽ
không lấy mẫu trứng tại điểm kinh doanh này.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả.
Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2017.
Địa điểm nghiên cứu:
Các quầy bán trứng gà tại 14 chợ trên địa
bàn Quận 8 – TP. Hồ Chí Minh.
Cỡ mẫu
Sử dụng công thức ước lượng một tỉ lệ:
n 2 (1 / 2 )
p (1 p )
d2
Với n là cỡ mẫu tối thiểu, đơn vị mẫu trứng
gà (một mẫu trứng gà tương ứng 06 -10 quả có
cùng chủng loại);
α là xác xuất sai lầm loại I (α = 0,05);
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
Nghiên cứu Y học
Z(1-α/2) là hệ số tin cậy, với độ tin cậy là 95%
thì Z(1-α/2) = 1,96;
p là tỉ lệ trứng tồn dư kháng sinh trong trứng
gà ước tính, theo một nghiên cứu của Tổ chức
JICA (Nhật Bản) năm 2016 tại TP. Hồ Chí
Minh(10), lấy p = 0,144;
d là sai số của ước lượng được lấy ở mức 0,05.
Tính được n = 98 mẫu.
Dự
trù
mất
mẫu
tỉ
lệ
2%
thì
N=
Trong đó N là cỡ mẫu sau khi dự trừ mất
mẫu, n là cỡ mẫu tính từ công thức (n = 98); vậy
N = 122,5. Do đó, cỡ mẫu sau khi dự trù mất
mẫu là 123 mẫu trứng.
Dựa vào thực tế, từ 67 địa điểm kinh doanh
trứng gà tại 14 chợ trên địa bàn Quận 8 – TP. Hồ
Chí Minh, chúng tôi lấy 136 mẫu trứng gà và
phỏng vấn 67 tiểu thương.
Phương pháp chọn mẫu
Lấy mẫu toàn bộ.
Tại mỗi điểm kinh doanh, lấy hết toàn bộ
những mẫu có nhãn hiệu gồm trứng gà công
nghiệp và trứng gà ta; đối với mẫu không nhãn
hiệu lấy một mẫu trứng gà ta và một mẫu trứng
gà công nghiệp (nếu có đầy đủ). Đồng thời tiến
hành phỏng vấn tiểu thương tại điểm kinh
doanh trứng thông qua bộ câu hỏi soạn sẵn.
Một số khái niệm trong nghiên cứu
Trứng gà
Có vỏ màu vàng cứng, bề ngoài của trứng
thường có hình bầu dục, hai đầu không cân
bằng, một đầu to một đầu nhỏ. Trứng có bao bì
hoặc không có bao bì. Trứng gà công nghiệp có
kích cỡ quả trứng lớn, vỏ màu nâu. Trứng gà
công nghiệp là sản phẩm của gà công nghiệp.
Trứng gà ta có kích cỡ quả trứng nhỏ, vỏ trứng
màu hồng phấn, gà đẻ trứng được nuôi theo
hình thức thả vườn hoặc làm chuồng thoáng
rộng rãi có ổ lót cho gà đẻ trứng. Trứng gà có
nguồn gốc là trứng có bao bì nhãn hiệu, chứa
trong vỉ nhựa, có nhãn sản phẩm, xác định được
nhà cung cấp. Trứng gà không rõ nguồn gốc là
455
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2018
trứng gà để lẫn lộn trong cùng một khay hoặc
giỏ, không có bao bì chứa đựng, không nhãn
hiệu, không có nhãn sản phẩm.
Tiểu thương
Là người trực tiếp quản lý việc kinh doanh
trứng tại cửa hàng kinh doanh trứng trong chợ
không quan tâm đến có đứng tên trên giấy phép
kinh doanh hay không.
Tồn dư kháng sinh
Là hiện tượng kháng sinh chưa đào thải hết
trong cơ thể vật nuôi gây tích lũy tại các mô, các
phủ tạng. Việc tồn dư kháng sinh trong trứng là
do cơ sở chăn nuôi không tuân thủ theo quy
định về thời gian ngưng thuốc, cũng như liều
lượng kháng sinh vì sự chuyển hóa kháng sinh
trong mỗi cơ thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố
như: giống, loài, tuổi, tình trạng sức khỏe.
Trứng có tồn dư kháng sinh khi kết quả xét
nghiệm phát hiện ít nhất một loại kháng sinh.
Hàm lượng kháng sinh có trong trứng gà được
xác định bằng kiểm nghiệm và biểu thị bằng đơn
vị tính là µg/kg.
Thu thập dữ liệu
Lấy mẫu trứng gà tuân thủ theo đúng tiêu
chuẩn Việt Nam TCVN 9600-2013. Mẫu sau khi
lấy xong cho vào vỉ nhựa, mã hóa bằng ký hiệu
và số thứ tự, để vào thùng giấy ở nhiệt độ
thường, vận chuyển bằng xe máy về Trung tâm
Kiểm nghiệm ATTP Khu vực Phía Nam – Viện Y
tế công cộng TP. Hồ Chí Minh trong ngày để xét
nghiệm. Mẫu chưa xét nghiệm được bảo quản
tại phòng thí nghiệm ở nhiệt độ từ 4 – 8 độ C.
Kết quả trả theo ký hiệu mẫu, không thể hiện tên
cơ sở.
Dựa vào nghiên cứu của Tổ chức JICA (Nhật
Bản) năm 2016 tại Việt Nam về tồn dư kháng
sinh trong trứng gà ở các siêu thị tại TP. Hồ Chí
Minh(10) và Thông tư số 24/2013/TT-BYT “Quy
định mức giới hạn tối đa dư lượng thuốc thú y
trong thực phẩm”, chúng tôi chọn các kháng
sinh xét nghiệm trong nghiên cứu đề tài này bao
gồm nhóm Sulfonamides (Sulfachlorpyridazin,
Sulfaclozin, Sulfadimethoxine, Sulfamerazine,
456
Sulfadimidine, Sulfadoxine, Sulfamethoxazole,
Sulfamethoxypyridazine, Sulfamonomethoxine,
Sulfapyridine),
nhóm
Quinolones
(Ciprofloxacin,
Danofloxacin,
Difloxacin,
Enrofloxacin,
Marbofloxacin,
Norfloxacin,
Ofloxacin, Orbifloxacin, Sarafloxacin), nhóm βlactams (Ampicilin, Aspoxicillin, Oxacillin,
Penicillin G, Penicillin V), nhóm Macrolides
(Tilmicosin, Spiramycin, Tylosin), nhóm
Tetracycline (Tetracycline, Oxytetracycline,
Doxycycline,
Chlotetracycline),
nhóm
Diaminopyrimidine (Trimethoprim), nhóm
Aminoglycoside (Neomycin, Spectinomycin).
Kiểm nghiệm hàm lượng kháng sinh bằng
phương pháp sắc ký lỏng ghép khối phổ 2 lần
(LC-MS/MS). Phương pháp phân tích được
Trung tâm Kiểm nghiệm ATTP Khu vực phía
Nam nghiên cứu và xác nhận giá trị sử dụng, có
độ chính xác, độ nhạy cao, đáp ứng cho công tác
thanh kiểm tra, quản lý của các cơ quan chức
năng trong việc kiểm soát kháng sinh trong thịt,
trứng gia cầm.
Nhập và xử lý số liệu
Dữ liệu được nhập bằng phần mềm EpiData
3.1 và xử lý số liệu bằng phần mềm Stata 13.0.
KẾT QUẢ
Đặc tính của mẫu nghiên cứu
Bảng 1: Đặc điểm của tiểu thương (n=67)
Đặc tính
Tuổi
Dưới 35 tuổi
Trên 35 tuổi
Giới
Nam
Nữ
Học vấn
Dưới tiểu học
Tiểu học
THCS
THPT
Trung cấp/Cao đẳng/Đại học
Tuổi nghề
Dưới 1 năm
Từ 1-5 năm
Từ 6 -10 năm
Trên 10 năm
Tần số
Tỉ lệ (%)
9
58
13,4
86,6
11
56
16,4
83,6
2
15
25
22
3
3,0
22,4
37,3
32,8
4,5
6
9
17
35
8,9
13,4
25,4
52,3
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019
Đặc tính
Tập huấn kiến thức VSATTP
Có
Không
Tần số
Tỉ lệ (%)
37
30
55,2
44,8
Đa số tiểu thương là nữ giới (83,6%), nam
giới chiếm tỉ lệ 16,4%. Các tiểu thương có độ tuổi
từ trên 35 tuổi chiếm tỉ lệ 86,6%, các tiểu thương
có độ tuổi từ 35 tuổi trở xuống chiếm tỉ lệ 13,4%.
Trình độ học vấn của tiểu thương chủ yếu là
THCS chiếm tỉ lệ 37,3%, tiếp đến là THPT chiếm
tỉ lệ 32,8%, tiểu học chiếm 22,4%, có 4,5% tiểu
thương có trình độ trên cấp trung học phổ thông
và 3,0% tiểu thương có trình độ dưới tiểu học.
Đa số tiểu thương có tuổi nghề trên 10 năm
(52,3%), dưới 01 năm chiếm tỉ lệ 8,9%. Tiểu
thương có tham gia lớp tập huấn kiến thức
VSATTP chiếm tỉ lệ 55,2% và tiểu thương không
có tham gia lớp tập huấn kiến thức VSATTP
chiếm tỉ lệ 44,8% (Bảng 1).
Tồn dư kháng sinh trong trứng gà
Bảng 2: Tần suất và tỉ lệ % trứng gà tồn dư kháng
sinh (n=136)
Đặc tính
Nguồn gốc (n=136)
Có
Không
Tồn dư kháng sinh (n=136)
Không
Có
Tần số
Tỉ lệ (%)
41
95
30,1
69,9
91
45
66,9
33,1
Kết quả nghiên cứu 136 mẫu trứng gà, phân
theo nguồn gốc, tỉ lệ trứng gà không có nguồn
gốc chiếm tỉ lệ cao (69,9%), trứng gà có nguồn
gốc chiếm tỉ lệ thấp (30,1%). Tỉ lệ tồn dư kháng
sinh chung trên tổng số 136 mẫu trứng gà chiếm
33,1% (Bảng 2).
Nghiên cứu Y học
chiếm tỉ lệ 39,1%. Tỉ lệ tồn dư kháng sinh ở trứng
gà ta chiếm 54,6%, trứng gà công nghiệp tồn dư
kháng sinh chiếm tỉ lệ 22,8% (Bảng 3).
Bảng 3: Phân loại tồn dư KS và nguồn gốc theo phân
loại trứng gà (n=136)
Trứng gà ta (N = 44) Trứng gà CN (N = 92)
Có (%) Không (%) Có (%) Không (%)
Nhãn hiệu 5 (11,4%) 39 (88,6%) 36 (39,1%) 56 (60,9%)
Tồn dư KS 24 (54,6%) 20 (45,5%) 21 (22,8%) 71 (77,2%)
Đặc tính
Tỉ lệ tiểu thương có kiến thức đúng về tồn dư
kháng sinh
Bảng 4: Kiến thức chung đúng về kháng sinh trong
trứng gà (n=67)
Đặc tính
Tần số Tỉ lệ (%)
Kiến thức chung đúng về KS trong trứng gà
Đúng
27
40,3
Chưa đúng
40
59,7
Nghe thông tin về KS trong trứng gà
Có
29
43,3
Không
38
56,7
Kết quả cho thấy tiểu thương có kiến thức
chung chưa đúng về tồn dư kháng sinh trong
trứng gà chiếm tỉ lệ cao hơn (59,7%) so với tiểu
thương có kiến thức chung đúng về tồn dư
kháng sinh trong trứng gà (40,3%). Tiểu thương
chưa từng nghe nói về tồn dư kháng sinh trong
trứng gà chiếm tỉ lệ cao 56,7%, tiểu thương có
nghe nói về tồn dư kháng sinh trong trứng gà
chiếm tỉ lệ 43,3% (Bảng 4).
Mối liên quan giữa tỉ lệ tồn dư kháng sinh
trong trứng gà với nguồn gốc trứng, loại trứng
gà
Không có mối liên quan giữa trứng gà tồn
dư kháng sinh với nguồn gốc trứng (p >0,05). Có
mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa trứng gà
tồn dư kháng sinh và loại trứng gà (p< 0,001;
PR=2,39; KTC (95%): 1,51 – 3,89). Trong đó, trứng
gà ta có tồn dư kháng sinh cao gấp 2,39 lần so
với trứng gà công nghiệp (Bảng 5).
Trứng gà không nhãn hiệu chiếm tỉ lệ cao,
88,6% đối với trứng gà ta và 60,9% đối với gà
công nghiệp. Trứng gà có nhãn hiệu chiếm tỉ lệ
thấp, trong đó trứng gà ta có nhãn hiệu chiếm tỉ
lệ 11,4% và trứng gà công nghiệp có nhãn hiệu
Bảng 5: Mối liên quan giữa trứng tồn dư kháng sinh với nguồn gốc và loại trứng gà
Biến số
Có nguồn gốc
Không nguồn gốc
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
Trứng tồn dư KS
Có (%)
Không (%)
Nguồn gốc
11 (26,8)
30 (73,2)
34 (35,8)
61 (64,2)
PR (KTC 95%)
p
0,74 (0,41-1,33)
0,308
457
Nghiên cứu Y học
Biến số
Trứng gà ta
Trứng gà CN
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2018
Trứng tồn dư KS
Có (%)
Không (%)
Loại trứng gà
24 (54,5)
20 (45,5)
21 (22,8)
71 (77,2)
Mối liên quan giữa kiến thức về kháng sinh
trong trứng gà và biến số nền
PR (KTC 95%)
p
2,39 (1,51-3,89)
<0,001
thức kháng sinh trong trứng gà với tập huấn
kiến thức VSATTP (p <0,001; PR=3,56; KTC
(95%): 1,54-8,29). Trong đó, những người được
tập huấn kiến thức VSATTP có kiến thức đúng
cao gấp 3,56 lần so với những người không
được tập huấn. Có mối liên quan có ý nghĩa
thống kê giữa kiến thức kháng sinh trong
trứng gà với thông tin nghe về kháng sinh
trong trứng gà (p=0,002; PR=2,62; KTC (95%):
1,39-4,96). Trong đó, những người có nghe
thông tin về kháng sinh trong trứng gà có kiến
thức đúng cao gấp 2,62 lần so với những người
không nghe thông tin về kháng sinh (Bảng 6).
Không có mối liên quan giữa kiến thức
kháng sinh trong trứng gà với tuổi, giới
(p>0,05). Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê
giữa kiến thức kháng sinh trong trứng gà với
trình độ học vấn (p=0,011; PR=2,1; KTC: 1,183,73). Trong đó, người có trình độ trên trung
học cơ sở có kiến thức đúng gấp 2,1 lần so với
người có trình độ từ trung học cơ sở trở xuống.
Không có mối liên quan giữa kiến thức kháng
sinh trong trứng gà với tuổi nghề (p >0,05). Có
mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến
Bảng 6: Mối liên quan giữa kiến thức về kháng sinh trong trứng gà và biến số
Biến số
Tuổi
Dưới 35 tuổi
Từ 35 tuổi trở lên
Giới
Nam
Nữ
Trình độ học vấn
THCS trở xuống
Trên THCS
Tuổi nghề
Dưới 1 năm
Từ 1-5 năm
Từ 6-10 năm
Trên 10 năm
Tập huấn VSATTP
Có
Không
Thông tin về KS
Có
Không
Kiến thức về KS trong trứng gà
Có (%)
Không (%)
p
5 (55,6)
22 (37,9)
4(44,4)
36 (62,1)
0,68 (0,35-1,34)
0,316
5 (45,5)
22 (39,3)
6 (54,5)
34 (60,7)
0,86 (0,42-1,78)
0,703
12 (28,6)
15(60,0)
30 (71,4)
10 (40,0)
2,1 (1,18-3,73)
0,011
3 (50,0)
2 (22,2)
6 (35,3)
16 (45,7)
3 (50,0)
7 (77,8)
11 (64,7)
19 (54,3)
1
0,44 (0,10-1,93)
0,71 (0,25-1,99)
0,91 (0,38-2,31)
0,560
22(59,5)
5(16,7)
15(40,5)
25(83,3)
3,56(1,54-8,29)
<0,001
18(62,1)
9(23,7)
11(37,9)
29(76,3)
2,62(1,39-4,96)
0,002
BÀN LUẬN
Tỉ lệ tồn dư kháng sinh chung trên tổng số
136 mẫu trứng gà là 33,1%, kết quả này cao hơn
2,3 lần so với nghiên cứu năm 2016 của Tổ chức
JICA (14,4%) về tồn dư kháng sinh trong trứng
gà ở TP. Hồ Chí Minh(10). Do đề tài chúng tôi thu
thập mẫu tại các chợ còn Tổ chức JICA thu thập
458
PR
(KTC 95%)
mẫu tại các siêu thị, có thể lý giải được tại các
siêu thị có hệ thống quản lý chất lượng giám sát
chặt chẽ nguồn thực phẩm từ nhà cung cấp
trước khi nhập hàng vào siêu thị và bán lại cho
người tiêu dùng nên trứng tồn dư kháng sinh từ
các mẫu lấy tại siêu thị có chiếm tỉ lệ thấp. Trong
khi đó, trứng được bán tại các chợ dân sinh, do
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019
người kinh doanh tự nhập hàng thông qua thỏa
thuận hợp lý với nhà cung cấp, không có hệ
thống quản lý chất lượng giám sát, kiểm nghiệm
nên khả năng tồn dư kháng sinh trong mẫu
trứng bán tại các chợ cao. Việc tồn dư kháng
sinh trong trứng tại các chợ dân sinh cao hơn tại
siêu thị cũng đã được ghi nhận trong nghiên cứu
tại Đài Loan vào năm 2014, tỉ lệ trứng tồn dư
kháng sinh tại các chợ cao hơn gấp 3 lần tại các
siêu thị (12% so với 4%; p = 0,006) với tỉ lệ tồn dư
kháng sinh chung trong trứng gà là 8%(11). Tình
trạng tồn dư kháng sinh trong trứng được phát
hiện ở nhiều nước trên thế giới, tại Cộng hòa
Dominica (năm 2014) chiếm tỉ lệ 51%(7) và
Nigeria (năm 2014) chiếm tỉ lệ 75,2%(8). Phát hiện
này cao hơn so với kết quả nghiên cứu của
chúng tôi (33,1%) lần lượt gấp 1,5 lần và 2,3 lần.
Cộng hòa Dominica và Nigeria là hai nước thuộc
Châu Mỹ Latinh và Châu Phi, kinh tế kém phát
triển, thiếu hụt lương thực, vấn đề an toàn thực
phẩm, y tế chưa được chú trọng, bên cạnh đó
kháng sinh được sử dụng rộng rãi thiếu kiểm
soát là nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ tồn dư kháng
sinh trong trứng cao. Nghiên cứu cho thấy, các
mẫu trứng qua phân tích có tồn dư kháng sinh
hầu hết là các kháng sinh cấm dùng trong thú y
tại Việt Nam theo Thông tư số 08/VBHNBNN&PTNT và kháng sinh cấm dùng cho gà đẻ
trứng theo quy định của Châu Âu. Kết quả
nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả
nghiên cứu năm 2014 - 2015 của Tổ chức JICA(10)
về các kháng sinh cấm tồn dư trong trứng gà.
Hiện nay, ở Việt Nam số lượng trang trại nuôi gà
với quy mô nhỏ lại thiếu thông tin về kháng sinh
và dễ dàng mua được các loại thuốc kháng sinh
từ các cửa hàng nông dược(4), người chăn nuôi có
thể tự mua kháng sinh dùng cho người để điều
trị cho gà với mục đích nhanh khỏi bệnh mà
không biết được tác hại thật sự của việc sử dụng
không đúng đối tượng và liều lượng.
Chúng tôi đã tìm thấy mối liên quan có ý
nghĩa thống kê giữa trứng gà tồn dư kháng sinh
và loại trứng gà (p <0,001; PR=2,39; KTC (95%):
1,51 – 3,89). Trứng gà ta có tồn dư kháng sinh
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
Nghiên cứu Y học
cao gấp 2,39 lần so với trứng gà công nghiệp.
Trứng gà ta thường được nuôi tại các hộ gia
đình hoặc trang trại nhỏ, lẻ. Do việc chọn lựa gà
mái đẻ trứng phần lớn dựa vào kinh nghiệm,
thiếu chọn lọc nên gà mái đẻ có nguy cơ mắc
bệnh trong thời gian đẻ trứng. Mặt khác, việc lựa
chọn loại kháng sinh, quyết định liều lượng, thời
gian ngừng thuốc và phối hợp kháng sinh chủ
yếu dựa vào kinh nghiệm của người chăn nuôi
hoặc từ chỉ dẫn của bạn bè, người thân. Điều này
dẫn đến việc sử dụng kháng sinh không hợp lý
trong phòng-trị bệnh cho gà đẻ trứng. Đối với gà
công nghiệp, thường được nuôi tại các trại chăn
nuôi quy mô vừa và lớn, được chọn lọc chỉ toàn
gà mái để nuôi lấy trứng, sức khỏe gà mái ổn
định. Ngoài ra, người chăn nuôi được cán bộ thú
y địa phương giám sát, tuyên truyền và tập huấn
kiến thức dùng kháng sinh hợp lý. Do đó, nguy
cơ tồn dư kháng sinh trong trứng công nghiệp ít
hơn 2,39 lần so với trứng gà ta.
Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa
kiến thức kháng sinh trong trứng gà với trình độ
học vấn (p=0,011; PR=2,1; KTC (95%): 1,18-3,73).
Trong đó, người có trình độ trên THCS có kiến
thức đúng gấp 2,1 lần so với người có trình độ từ
THCS trở xuống. Có mối liên quan có ý nghĩa
thống kê giữa kiến thức kháng sinh trong trứng
gà với tập huấn kiến thức VSATTP (p <0,001;
PR=3,56; KTC (95%): 1,54-8,29). Trong đó, những
người được tập huấn kiến thức VSATTP có kiến
thức đúng cao gấp 3,56 lần so với những người
không được tập huấn. Có mối liên quan có ý
nghĩa thống kê giữa kiến thức kháng sinh trong
trứng gà với thông tin nghe về kháng sinh trong
trứng gà (p=0,002; PR=2,62; KTC (95%): 1,394,96). Trong đó, những người được có nghe
thông tin về kháng sinh trong trứng gà có kiến
thức đúng cao gấp 2,62 lần so với những người
không nghe thông tin về kháng sinh trong trứng
gà. Như vậy, tiểu thương có trình độ càng cao,
được tập huấn kiến thức VSATTP, có nghe
thông tin về kháng sinh thì có nhiều điều kiện
tiếp nhận thông tin về tồn dư kháng sinh trong
trứng gà cũng như trong thực phẩm, đồng thời
459
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2018
các tiểu thương này có quan tâm đến vấn đề an
toàn thực phẩm. Do các tiểu thương được học và
tiếp nhận thông tin từ truyền thông, từ nhân
viên y tế. Kiến thức đúng về tồn dư kháng sinh
trong trứng gà và trong thực phẩm là kiến thức
khoa học. Vì vậy, tiểu thương trình độ học vấn
thấp, không tham gia tập huấn kiến thức
VSATTP, chưa từng nghe thông tin về kháng
sinh trong trứng gà hoặc thực phẩm thì họ có ít
hiểu biết về vấn đề này.
với những người không được tập huấn. Có
mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến
thức về tồn dư kháng sinh trong trứng gà và
thông tin có nghe về kháng sinh (p=0,002;
PR=2,62; KTC (95%): 1,39–4,96). Trong đó,
người có từng nghe về kháng sinh trong trứng
gà có kiến thức đúng cao gấp 2,62 lần so với
người không nghe thông tin về kháng sinh.
KẾT LUẬN
Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức
cho người dân nói chung và người kinh doanh
trứng gia cầm về việc tác hại của tồn dư kháng
sinh trong thực phẩm và khả năng lây truyền các
vi sinh vật kháng thuốc vào người thông qua
chuỗi thực phẩm. Mở rộng thêm các nghiên cứu
sâu hơn về tồn dư kháng sinh trong trứng gà tại
trang trại.
Trong 136 mẫu trứng gà được thu thập tại
14 chợ trên địa bàn Quận 8 – TP. Hồ Chí Minh
đem phân tích 33 loại kháng sinh thuộc các
nhóm Sulfamide, Quinolone, β-Lactams,
Macrolides, Tetracylin, Aminoglycoside và
Diaminopyrimidine, kết quả cho thấy tỉ lệ tồn
dư kháng sinh chung chiếm 33,1%. Trong đó,
trứng gà ta tồn dư kháng sinh chiếm tỉ lệ
54,6%, trứng gà công nghiệp chiếm tỉ lệ 22,8%.
Chúng tôi tìm thấy mối liên quan quan có ý
nghĩa thống kê giữa trứng gà tồn dư kháng
sinh và loại trứng gà (p <0,001; PR=2,39; KTC
(95%): 1,51-3,89). Trong đó, trứng gà ta có tồn
dư kháng sinh cao gấp 2,39 lần so với trứng gà
công nghiệp. Không có mối liên quan giữa
giữa trứng gà tồn dư kháng sinh với nguồn
gốc trứng. Kiến thức chung đúng của tiểu
thương về kháng sinh trong trứng gà đạt
40,3%. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê
giữa kiến thức kháng sinh trong trứng gà với
trình độ học vấn (p=0,011; PR=2,1; KTC (95%):
1,18-3,73). Trong đó, người có trình độ trên
trung học cơ sở có kiến thức đúng gấp 2,1 lần
so với người có trình độ từ trung học cơ sở trở
xuống. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê
giữa kiến thức kháng sinh trong trứng gà với
tập huấn kiến thức VSATTP (p <0,001;
PR=3,56; KTC (95%): 1,54-8,29). Ngoài ra,
những người được tập huấn kiến thức
VSATTP có kiến thức đúng cao gấp 3,56 lần so
460
KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
Ahaduzzaman M, Hassan M, Alam M, et al (2014).
Antimicrobial Resistance Pattern against Staphylococcus aureus
in Environmental Effluents. Research Journal for Veterinary
Practitioners, 2(1):13-16.
Carrique-Mas JJ, Campbell JI., Wagenaar JA, et al (2015).
Antimicrobial usage in chicken production in the Mekong Delta
of Vietnam. Zoonoses Public Health, 62(S1):70-78.
Chowdhury S, Hassan MM, Alam M, et al (2015). Antibiotic
residues in milk and eggs of commercial and local farms at
Chittagong, Bangladesh. Vet World, 8(4):467-71.
Do TT Nga, Horby P, Wertheim HF, et al (2014). Antibiotic sales
in rural and urban pharmacies in northern Vietnam: an
observational study. BMC Pharmacol Toxicol, pp.15-6.
Hassan MM, Amin KB, Ahaduzzaman M, Alam M, Faruk MSA
and Uddin I (2014). Antimicrobial resis tance pattern against E.
coli and salmonella in layer poultry. Research Journal for
Veterinary Practitioners, 2(2):30-35.
Kassis N, Drake SR, Beamer SK, et al (2010). Development of
nutraceutical egg products with omega-3-rich oils. LWT - Food
Science and Technology, 43(5):777-783.
Moscoso S, de los Santos FS, Andino AG, et al (2015). Detection
of quinolones in commercial eggs obtained from farms in the
Espaillat Province in the Dominican Republic. Journal of Food
Protection, 78(1):214-217.
Olatoye O, Kayode ST (2012). Oxytetracycline residues in retail
chicken eggs in Ibadan, Nigeria. Food Addit Contam Part B
Surveill, 5(4):255-9.
Paige JC, Tollefson L, Miller M (1997). Public health impact on
drug residues in animal tissues. Vet Hum Toxicol, 39(3):162-9.
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019
10. Yamaguchi T, Okihashi M, Harada K, et al (2017). Detection of
antibiotics in chicken eggs obtained from supermarkets in Ho
Chi Minh City, Vietnam. Journal of Environmental Science and
Health Part B, pp.1-4.
11. Yang SC, Yu MC, Lee YH and Wang JL (2016). Antibiotic
Residues in Meat and Eggs in Taiwan: A Local Surveillance.
British Journal of Medicine & Medical Research, 12(11):1-6.
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
Nghiên cứu Y học
Ngày nhận bài báo:
15/08/2019
Ngày phản biện nhận xét bài báo:
31/08/2019
Ngày bài báo được đăng:
15/10/2019
461