Tải bản đầy đủ (.pdf) (13 trang)

VẤN ĐỀ CHỐNG THẤT THOÁT, LÃNG PHÍ VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (366.03 KB, 13 trang )

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
BỘ MÔN KINH TẾ ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH
-------------------------

TIỂU LUẬN
MÔN HỌC:
KINH TẾ CÁC NGÀNH SẢN XUẤT KINH DOANH
ĐỀ TÀI:
VẤN ĐỀ CHỐNG THẤT THOÁT, LÃNG PHÍ VÀ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Họ và tên
Lớp niên chế

: Trần Thanh Trang
: CQ 56/61.02

Lớp tín chỉ

: CQ 56/61.01LT2

Số thứ tự

: 34

ĐIỂM TIỂU LUẬN
ĐIỂM

Cán bộ chấm thi thứ nhất
(Ký và ghi rõ họ tên)

Bằng số:..................


Cán bộ chấm thi thứ hai
Bằng chữ:
................................

(Ký và ghi rõ họ tên)


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ..................................................................................................................................................... 1
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂY DỰNG CƠ BẢN VÀ VẤN ĐỀ THẤT
THOÁT, LÃNG PHÍ VÀ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG........................... 2
1.1. Tổng quan về ngành xây dựng cơ bản tại Việt Nam. ......................................... 2
1.1.1. Khái niệm .................................................................................................. 2
1.1.2. Đặc điểm ................................................................................................... 2
1.1.3. Vai trò ........................................................................................................ 2
1.2. Thất thoát, lãng phí và chất lượng công trình trong XDCB. .............................. 2
1.2.1. Mối quan hệ giữa thất thoát, lãng phí tới chất lượng công trình ................ 3
1.2.2. Tác động của thất thoát, lãng phí, chất lượng công trình không đảm bảo tới
nền kinh tế và hoạt động chống ........................................................................... 3
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ CHỐNG THẤT THOÁT, LÃNG PHÍ VÀ NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY .................. 4
2.1. Những nổi bật của XDCB tại Việt Nam và hoạt động đầu tư xây dựng trong
những năm qua. ....................................................................................................... 4
2.2. Thực trạng vấn đề thất thoát, lãng phí vốn đầu tư và chất lượng của các công
trình xây dựng ......................................................................................................... 4
2.3. Nguyên nhân cơ bản của thất thoát, lãng phí vốn đầu tư và chất lượng của các
công trình xây dựng ................................................................................................. 6
2.4. Hoạt động chống thất thoát, lãng phí và nâng cao chất lượng các công trình xây
dựng hiện nay ở nước ta........................................................................................... 7

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ............................................................................................................... 8
TÀI LIỆU THAM KHẢO


34 - 56.61.01LT2 - Trần Thanh Trang
MỞ ĐẦU
Bất kỳ một quốc gia nào muốn tăng trưởng và phát triển đều cần đến một điều kiện
không thể thiếu là vốn. Và Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó. Nhưng hiện
nay, chúng ta lại đang đứng trước hai mâu thuẫn: Nhu cầu vốn đầu tư thì lớn, nhưng khả
năng đáp ứng chưa tương xứng do tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế còn thấp. Đáng chú ý,
trong khi nguồn vốn đầu tư là hữu hạn, phải huy động từ nhiều nguồn thì hoạt động quản
lý và sử dụng những đồng vốn đó lại chưa thể phát huy được hiệu quả, dẫn đến tình
trạng thất thoát, lãng phí của cải vô ích do vừa không thỏa mãn được “cơn khát” vốn,
lại vừa tiêu tốn nguồn lực xã hội khiến nhu cầu vốn cứ vậy tăng thêm.
Đặc biệt là ngành xây dựng cơ bản. Khi đây là tiền đề, giữ vai trò chủ đạo trong
việc tạo ra cơ sở vật chất kĩ thuật cho tất cả các ngành, các lĩnh vực và mang tính quyết
định đến phát triển của nền kinh tế quốc dân. Song, đây cũng là lĩnh vực phải sử dụng
một khối lượng lớn vốn của xã hội, trong đó vốn của Nhà nước luôn chiếm một tỷ trọng
lớn. Và đây cũng chính một trong những nguyên nhân khiến xây dựng cơ bản trở thành
ngành dễ xảy ra đến tình trạng thất thoát, lãng phí nguồn lực xã hội cùng với đó là chất
lượng công trình không đảm bảo diễn ra phổ biến hiện nay. Xuất phát từ những vấn đề
hết sức nóng bỏng của ngành thì đề tài: “Vấn đề chống thất thoát, lãng phí và nâng
cao chất lượng công trình xây dựng ở nước ta hiện nay” là cần thiết có ý nghĩa quan
trọng cả về kinh tế và xã hội nhằm hướng đến việc loại bỏ tình trạng tiêu cực này.

1


34 - 56.61.01LT2 - Trần Thanh Trang
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂY DỰNG CƠ BẢN VÀ VẤN ĐỀ

THẤT THOÁT, LÃNG PHÍ VÀ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
1.1. Tổng quan về ngành xây dựng cơ bản tại Việt Nam.
1.1.1. Khái niệm
Xây dựng cơ bản (XDCB), là ngành sản xuất vật chất quan trọng, có chức năng tạo
ra tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân, bằng các hình thức xây dựng mới, mở rộng,
cải tạo và khôi phục các công trình.
XDCB bao gồm các hoạt động, như: Xây dựng; thiết bị; giải phóng mặt bằng, di
dân, tái định cư; tư vấn đầu tư xây dựng; quản lý dự án; các công tác khác,...
1.1.2. Đặc điểm
- Sản phẩm XDCB có tính chất cố định, thời gian sử dụng lâu dài, quy mô lớn, kết
cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc theo đơn đặt hàng;
- Thời gian xây dựng công trình thường lâu và hoạt động xây dựng chủ yếu ở ngoài
trời phải chịu ảnh hưởng rất lớn của các yếu tố tự nhiên, điều kiện làm việc nặng nhọc.
1.1.3. Vai trò
XDCB đóng vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế; góp phần đẩy nhanh
việc đưa tiến bộ khoa học - công nghệ vào các ngành, các lĩnh vực, thực hiện quá trình công
nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước; làm tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước (NSNN);
giúp cải thiện đời sống nhân dân, tạo cơ hội phát triển sản xuất kinh doanh và làm tăng tiềm
lực quốc phòng, an ninh đất nước.
1.2. Thất thoát, lãng phí và chất lượng công trình trong XDCB.
a) Thất thoát: Là một phần vốn đầu tư dự kiến đầu tư cho công trình bị rút ra và
sử dụng sai mục đích.
Thất thoát có thể dưới dạng hiện vật khi đầu tư, máy móc thiết bị bị đánh cắp hoặc
đánh tráo với chất lượng thấp hơn trong quá trình vận chuyển, bảo quản và thi công hoặc
thất thoát dưới dạng tiền tệ khi người ta thực hiện các khoản chi sai mục đích hoặc vượt
mức quá mức cần thiết. Ví dụ, thanh toán cho những khối lượng, chất lượng khống.
b) Lãng phí: là việc sử dụng vốn đầu tư vượt quá mức cần thiết, không hợp lý,
không đúng mục tiêu hoặc không hiệu quả, hiệu quả thấp.
Lãng phí rất đa dạng, có thể do xác định chủ trương đầu tư sai, lựa chọn công suất
không hợp lý nên hiệu suất sử dụng công suất thấp; có thể do thiết kế chất lượng quá


2


34 - 56.61.01LT2 - Trần Thanh Trang
cao, không phù hợp với mục đích sử dụng hoặc do thi công không đảm bảo yêu cầu mà
cần phải phá đi, làm lại,...
c) Chất lượng công trình xây dựng: luôn là chỉ tiêu số một đánh giá chất lượng sản
xuất, kinh doanh của các đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan đến công trình. Tuy nhiên,
ở Việt Nam hiện nay, tình trạng chất lượng các công trình xây dựng thấp đã ở mức báo
động, ảnh hưởng tiêu cực rất lớn đến niềm tin của người sử dụng.
1.2.1. Mối quan hệ giữa thất thoát, lãng phí tới chất lượng công trình
Thất thoát và lãng phí, mặc dù có sự khác nhau nhưng đều phản ánh một hiện
tượng giống nhau, đó là sự mất mát nguồn lực của xã hội, mất đi cơ hội để tạo thêm cơ
sở vật chất, tăng thêm năng lực sản xuất và phục vụ cho xã họi và thường gắn với tham
nhũng và tiêu cực.
Chất lượng công trình xây dựng và thất thoát, lãng phí vốn đầu tư là những khía
cạnh khác nhau nhưng lại có liên quan mật thiết với nhau. Thất thoát, lãng phí thường
dẫn đến chất lượng công trình không đảm bảo, vì một phần vốn bị mất đi và không tạo
nên giá trị công trình. Ngược lại, xác định chủ trương đầu tư sai, yêu cầu chất lượng chất
lượng không phù hợp hoặc xây dựng công trình không đảm bảo chất lượng lại là nguyên
nhân quan trọng của sự lãng phí, thất thoát. Đặc biệt là khi thất thoát, lãng phí và chất
lượng công trình thấp ở Việt Nam hiện nay vẫn đang là vấn đề nhức nhối, liên quan trực
tiếp đến tham nhũng trong đầu tư “có nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ”
1.2.2. Ảnh hưởng của thất thoát, lãng phí và chất lượng công trình không đảm
bảo tới nền kinh tế và xã hội
- Đe dọa tới phát triển kinh tế xã hội: XDCB được xem như nền móng, hạ tầng
cơ sở cho tất cả các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế. Khi chất lượng công trình
không đảm bảo chắc chắn sẽ để lại hậu quả nghiêm trọng tới hoạt động sản xuất, kinh
doanh và trở thành gánh nặng cho xã hội kìm hãm sự phát triển của đất nước.

- Gây thất thoát, lãng phí cho NSNN: Vốn dành cho đầu tư XDCB luôn chiếm một
tỷ trọng lớn là từ nguồn NSNN. Cho nên, chỉ cần một chiến lược sai lầm hoặc làm sai mục
đích trong đầu tư xây dựng cũng sẽ khiến cho công trình xây dựng không đạt yêu cầu, làm
phát sinh chi phí và tốn kém nguồn lực. Thậm chí, khi dự án đi vào hoạt động cũng không
có khả năng thu hồi vốn, làm thất thoát, lãng phí nghiêm trọng đến NSNN.
- Làm suy giảm niềm tin của nhân dân: Đặc biệt nói đến các dự án có vốn đầu tư
trực tiếp bởi NSNN có tình trạng: vốn bỏ ra thì lớn, song, xây dựng dở dang, “đắp chiếu”,
bỏ không và khi đi vào hoạt động thì không tỏ ra hiệu quả khiến dư luận hết sức xôn xao.

3


34 - 56.61.01LT2 - Trần Thanh Trang
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ CHỐNG THẤT THOÁT, LÃNG PHÍ
VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1. Những nổi bật của XDCB tại Việt Nam và hoạt động đầu tư xây dựng
trong những năm qua.
Sau hơn 30 năm đổi mới, mở cửa và hội nhập của nền kinh tế, ngành Xây dựng đã có
những bước tiến đáng kể theo hướng hiện đại, cả trong lĩnh vực xây dựng công trình, vật
liệu xây dựng (VLXD), kiến trúc và quy hoạch xây dựng, phát triển đô thị và nhà ở; năng
lực xây dựng công trình cũng có nhiều tiến bộ, đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu xã hội.
Ví dụ: Trong lĩnh vực Công nghiệp VLXD, đã nhiều sản phẩm có thương hiệu và
chỗ đứng vững chắc trên thị trường trong và ngoài nước như: Viglacera, Fico,Vicem,...
Theo Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2019 của Bộ Xây dựng đưa
ra, hoạt động xây dựng tăng trưởng đạt khoảng 9 - 9,2% so với cùng kỳ năm 2018. Tỷ lệ đô
thị hóa cả nước đạt khoảng 39,2%, tăng 0,8% so với năm 2018. Cụ thể, tổng giá trị sản xuất
toàn ngành Xây dựng đạt 358,684 tỷ đồng, đóng góp 5,94% cơ cấu GDP cả nước.
Để có kết quả như vậy, không thể phủ nhận hoạt động đầu tư XDCB chính là cốt lõi đem
đến những thành công hiện tại. Trong đó, vốn đầu tư XDCB được cấu thành bởi 3 bộ phận:

Nguồn vốn Nhà nước chiếm 38%; nguồn vốn ngoài nhà nước ( khu vực tư nhân và nguồn vốn
đóng góp tự nguyện của dân cư) chiếm 38,74 % và nguồn vốn đầu tư nước ngoài chiếm
23,26%. (Tổng cục thống kê về nguồn vốn trong đầu tư XDCB năm 2015)
Thực tế cho thấy các hoạt động dựa nguồn vốn ngoài nhà nước và nguồn vốn đầu
tư nước ngoài đều đã mang lại hiệu quả đối với nền kinh tế. Thì ở một thái cực khác,
nguồn vốn nhà nước tuy chiếm tỷ trọng lớn nhưng việc quản lý và sử dụng chưa đúng
mức hoặc sai mục đích đã khiến kết quả đem lại không tương xứng với những gì đã bỏ
ra. Điển hình đó là tình trạng thất thoát, lãng phí và sự mọc lên của các công trình xây
dựng chưa đảm bảo đã và đang trở thành gánh nặng cho nền kinh tế.
2.2. Thực trạng vấn đề thất thoát, lãng phí vốn đầu tư và chất lượng của các
công trình xây dựng.
Tình trạng thất thoát, lãng phí đã xảy ra trong nhiều năm. Đơn cử như năm 2017,
có hơn 51.000 dự án thực hiện đầu tư từ ngân sách (trong đó có 29.000 dự án khởi công
mới), trong số đó có 1.609 dự án chậm tiến độ vì các nguyên nhân như công tác giải

4


34 - 56.61.01LT2 - Trần Thanh Trang
phóng mặt bằng chậm, bố trí vốn không kịp thời, năng lực yếu kém của chủ đầu tư.
Ngoài số dự án chậm tiến độ, sau khi kiểm tra hơn 12.800 dự án và đánh giá 18.000 dự
án, cơ quan thanh tra, kiểm toán phát hiện gần 850 dự án có dấu hiệu thất thoát lãng phí,
225 dự án vi phạm quy định về thủ tục đầu tư, 22 dự án vi phạm về quản lý chất lượng,
284 dự án phải ngừng thực hiện; trong đó 2.605 dự án thực hiện đầu tư phải điều chỉnh,
chủ yếu là điều chỉnh vốn đầu tư (979 dự án) và điều chỉnh tiến độ đầu tư (936 dự án).
Cũng trong năm 2017, tại phiên giải trình về tình hình triển khai thực hiện Luật Đầu tư
công và kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020, đại diện Bộ Kế hoạch
và Đầu tư công bố 72 dự án với tổng số vốn đầu tư 42.000 tỷ đồng có dấu hiệu không
hiệu quả. Tình trạng thất thoát lãng phí trong đầu tư công cũng xảy ra ở hầu hết các Bộ,
ngành mà nhiều nhất là Bộ Công thương và Bộ Giao thông Vận tải. Bộ Công thương

với 12 đại dự án thua lỗ hàng nghìn tỷ đồng đã được báo chí nhắc đến nhiều. Bộ Giao
thông Vận tải với những dự án sau: Dự án đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi hơn
34.000 tỷ đồng vừa nghiệm thu thông xe chỉ sau vài trận mưa đã hỏng; Dự án tuyến
đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông tổng mức đầu tư ban đầu là 8.769,97 tỷ đồng đã
điều chỉnh tăng thêm 18.001,59 tỷ đồng, tăng 205,27%. Dự kiến hoàn thành đưa vào sử
dụng năm 2013 nay quá 6 năm chưa kết thúc;... Điều đáng lo ngại là nếu xét trên khía
cạnh kinh tế thì sự thay đổi của hàng loạt yếu tố đầu vào so với phương án ban đầu, như
có nhiều tuyến đường cao tốc song hành, cảng nước sâu được đưa vào khai thác trong
giai đoạn dự án nằm đắp chiếu... đã khiến công trình này rất khó hoàn vốn. Điều này có
nghĩa là ngay cả khi dang dở hay chấp nhận bổ sung hàng nghìn tỷ đồng để hoàn thành
dứt điểm thì công trình này vẫn trở thành một gánh nặng cho xã hội.
Các ngành khác cũng có nhiều dự án thất thoát lãng phí. Chẳng hạn như Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn có công trình thủy lợi kế hoạch dự tính tưới tiêu 1.000
hec ta nhưng làm xong chỉ tưới được có 500 hec ta. Sau đó lại nói do thiết kế không
đúng, rồi đổ cho biến đổi khí hậu. Nhiều dự án đầu tư công khi lập dự án, đấu thầu thì
giá chỉ 100 tỷ đồng nhưng khi triển khai bị đội giá, ngân sách phải thanh toán lên vài
trăm tỷ đồng không phải là hiếm.
Bộ Công thương với các dự án nhiên liệu sinh học của PVN tại Phú Thọ, Quảng
Ngãi, Bình Phước được đầu tư hơn 5.400 tỷ đồng, nhưng đến nay 1 dự án dừng thi công,
2 dự án không vận hành thương mại vì thua lỗ.

5


34 - 56.61.01LT2 - Trần Thanh Trang
Bộ Văn hóa - Du lịch - Thể thao với các dự án như nhà thi đấu Hà Nam được đầu
tư 1.000 tỷ đồng - do Trung ương và tỉnh Hà Nam đóng góp. Một công trình đồ sộ nằm
giữa đồng không mông quạnh và sử dụng kém hiệu quả.
Tại các địa phương, nhiều dự án chưa có tính cấp thiết hay có giá trị sử dụng không
cao như tượng đài hay quảng trường... vẫn đang được xây dựng bằng vốn ngân sách nhà

nước. Tình trạng xây dựng các trụ sở nhiều hơn việc thực hiện các chính sách dân sinh
vẫn còn tiếp diễn ở một số địa phương. Để ngăn chặn tình trạng thất thoát lãng phí trong
hoạt động đầu tư công, chúng ta phải làm rõ các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này.
2.3. Nguyên nhân cơ bản của thất thoát, lãng phí vốn đầu tư và chất lượng
của các công trình xây dựng
a) Nguyên nhân chủ quan:
Hạn chế của người lao động về: Trình độ, đạo đức nghề nghiệp. Người lao động,
từ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật đến công nhân xây dựng... do trình độ nghề nghiệp
thấp hoặc do đạo đức nghề nghiệp kém đã vô tình hoặc cố ý góp phần quan trọng vào
việc thất thoát, lãng phí vốn đầu tư cũng như giảm chất lượng công trình xây dựng.
Hệ thống Luật pháp thiếu đồng bộ và còn nhiều kẽ hở, việc thực thi pháp luật chưa
nghiêm cộng thêm tình trạng tham nhũng, tiêu cực tràn lan đã làm cho các chủ thể tham gia
hoạt động xây dựng có thể gây thất thoát, lãng phí lớn hoặc chất lượng công trình không đảm
bảo nhưng không phải chịu trách nhiệm tương xứng, gây ra những bức xúc trong xã hội.
b) Nguyên nhân khách quan:
Xuất phát từ đặc điểm của XDCB làm cho tình trạng thất thoát, lãng phí cũng như
chất lượng sản phẩm thấp dễ xảy ra. Tất cả các đặc điểm của quá trình sản xuất cũng
như các công trình xây dựng đều góp phần làm cho công tác quản lý gặp khó khăn hơn
so với các lĩnh vực khác, đặc biệt là công tác quản lý chất lượng và chi phí.
Khu vực kinh tế nhà nước quá lớn, đồng thời tồn tại cơ chế “xin-cho”, đã dẫn đến
tình trạng không thể kiểm soát chặt chẽ khu vực này và tình trạng không cần quan tâm
đến hiệu quả. Hậu quả vốn đầu tư bị thất thoát, lãng phí, chất lượng công trình sẽ thấp
do không đủ vốn.
Chất lượng công trình quy hoạch xây dựng thấp, mang tính nhiệm kỳ, thiếu sự phối hợp
giữa các ngành, các cấp đã dẫn đến không ít dự án chọn địa điểm sai, khi xây dựng xong đưa
vào khai thác, sử dụng không hết công suất hoặc thậm chí không sử dụng được vì thiếu nguồn
nguyên liệu hoặc gây ô nhiễm môi trường ... gây ra những lãng phí, thất thoát lớn.

6



34 - 56.61.01LT2 - Trần Thanh Trang
Xác định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư không chính xác. Bắt nguồn từ quy
hoạch sai hoặc không có quy hoạch, từ khâu biên soạn báo cáo khả thi,... Thậm chí là
sự cố ý làm trái và thiếu trách nhiệm trong thẩm định, phê duyệt dự án, lựa chọn nhà
thầu. Hậu quả, nhiều công trình xây dựng dở dang hoặc xây dựng xong hiệu quả sử
dụng thấp, không hiệu quả, gây thất thoát, lãng phí lớn.
Bố trí vốn đầu tư vốn phân tán, dàn trải. Khởi nguyên từ việc xác định các mục tiêu,
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội còn dàn trải, chưa thực sự ưu tiên cho những mục tiêu
trọng điểm, làm nhiều dự án cùng dở dang, chậm đưa vào khai thác, sử dụng, gây thất thoát,
lãng phí lớn vốn đầu tư, đồng thời gây áp lực tăng vốn đầu tư cho các dự án lên NSNN.
Tính cạnh tranh trên thị trường xây dựng chưa cao. Trong hoat động XDCB thuộc
khu vực nhà nước, hoạt động mua, bán được thực hiện thông đấu thầu nhằm đảm bảo
tính cạnh tranh, tối thiểu hóa chi phí và nâng cao chất lượng công trình. Tuy nhiên tình
trạng cạnh tranh “giả vờ”, hoặc thông đồng với các bên xảy ra khá phổ biến, làm giảm
đi động lực phải tiết kiệm, chống thất thoát, lãng phí của các bên có liên quan.
2.4. Hoạt động chống thất thoát, lãng phí và nâng cao chất lượng các công
trình xây dựng hiện nay ở nước ta.
Đứng trước tình trạng thất thoát, lãng phí và các công trình chưa đảm bảo khiến
dư luận hết sức bức xúc, Đảng và Nhà nước đã nhanh chóng tổ chức, lãnh đạo các cấp,
ban, ngành, địa phương kiểm tra, rà soát để tìm ra nguyên nhân và truy suất những cá
nhân, tổ chức gây ra vấn đề nhức nhối này.
Trong đó, việc Nâng cao công tác kiểm toán nhà nước (KTNN) được xem như là
biện pháp quan trọng hàng đầu. Bởi trong Luật Kiểm toán Nhà nước đã được Quốc hội
thông qua có hiệu lực thi hành từ 1/1/2006, theo đó, tại Điều 3 của Luật này quy định:
“Hoạt động kiểm toán nhà nước phục vụ việc kiểm tra, giám sát của Nhà nước trong
quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước; góp phần thực hành tiết kiệm,
chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp
luật; nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước.”
Nhờ vậy, trong 17 năm (1994-2010) hoạt động kiểm toán đã phát hiện và kiến

nghị xử lý tài chính với tổng số tiền là 88.275 tỷ đồng, trong đó thu hồi nộp NSNN các
khoản tăng thu về thuế và thu khác là 24.298 tỷ đồng, giảm chi NSNN là 16.171 tỷ
đồng, ghi thu - ghi chi để quản lý qua NSNN là 14.866 tỷ đồng và xử lý tài chính khác
32.940 tỷ đồng. Bên cạnh đó, KTNN còn kiến nghị với các đơn vị có liên quan bổ sung

7


34 - 56.61.01LT2 - Trần Thanh Trang
hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chế độ quản lý đầu tư không
còn phù hợp với thực tế; góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước. Chỉ
tính riêng từ năm 2006-2010, KTNN đã kiến nghị cấp bộ, ngành, địa phương hủy bỏ
30 văn bản, sửa đổi, bổ sung 152 văn bản.
Cụ thể, với trên tinh thần phản biện xã hội cùng với tiếp thu các nhận xét đánh giá,
Nhà nước đã cho bổ sung, sửa đổi ban hành một số văn bản pháp luật nhằm tăng tính chặt
chẽ và nghiêm minh. Ví dụ: Nghị định 63/2019/NĐ-CP về “Xử phạt vi phạm hành chính
trong quản lý, sử dụng tài sản công”; Thông tư số 29/2020/TT-BTC “Hướng dẫn thực
hiện việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công”,...
Tại một số địa phương đã triển khai Hoạt động giám sát của cộng đồng tại nơi
diễn ra đầu tư XDCB. Như tại xã Mão Điền (huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh), thực
hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, với sự tham gia của Ban TTND nhiều nội dung như việc
thực hiện các chế độ chính sách, thực hiện hương ước, quy ước của thôn, các khoản
đóng góp của nhân dân đã được công khai thực hiện. Cùng với đó các công trình xây
dựng trên địa bàn của xã từ vốn đầu tư của Nhà nước và các công trình phúc lợi do nhân
dân đóng góp cũng được giám sát thông qua hoạt động của Ban GSĐT của cộng đồng.
Trong 5 năm, Ban GSĐT của cộng đồng xã Mão Điền đã thực hiện giám sát 12 công
trình xây dựng trên địa bàn bằng nguồn vốn nhà nước đầu tư cùng nhiều công trình có
nguồn vốn do nhân dân tự nguyện đóng góp. Với sự vào cuộc tích cực, hiệu quả của ban
GSĐT của cộng đồng những sai phạm đã được kịp thời phát hiện, qua đó kịp thời kiến
nghị chủ đầu tư, nhà thầu điều chỉnh, đảm bảo chất lượng các công trình trên địa bàn.

Có thể khẳng định, việc phát huy vai trò giám sát của người dân tại cộng đồng với
phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã mang lại những hiệu quả thiết
thực, hạn chế được các sai phạm trong quá trình triển khai các công trình, dự án.
Và còn rất nhiều các thức mới đang được toàn xã hội thực hiện như: Nâng cao đạo
đức, nghiệp vụ của các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng cơ bản; thu hút đầu tư nhưng
phải đảm bảo chống thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước; Tiến hành đánh giá và kiểm
định chất lượng công trình toàn diện; Xử lý nghiêm minh những người vi phạm,...
Phải nói trong những năm qua, Đảng, Nhà nước cùng toàn xã hội đã luôn đấu tranh
bằng nhiều biện pháp nhau để sớm loại bỏ các tình trạng thất thoát, lãng phí và nâng cao
công trình xây dựng. Từ đó, giúp tiết kiệm và đảm bảo hiệu quả của hoạt động đầu tư.

8


34 - 56.61.01LT2 - Trần Thanh Trang
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Vấn đề thất thoát, lãng phí và chất lượng công trình chưa đảm bảo diễn ra còn vô
cùng phức tạp. Mặc dù hoạt động đầu tư phát triển của khu vực kinh tế nhà nước đã góp
phần quan trọng trong thúc đẩy và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nhưng trên
thực tế nguồn vốn này vẫn chưa phát huy hiệu quả cao. Cơ chế phân bổ và thực hiện
vốn vẫn tập trung quá nhiều vào lĩnh vực hạ tầng cơ sở, chưa đầu tư thoả đáng cho các
dự án có khả năng thu hồi vốn, trực tiếp tạo ra sản phẩm hàng hoá làm tăng GDP. Đứng
trước tình hình đó, đất nước ta cũng đã có những hành động quyết liệt để chống lại tình
trạng này, qua đó cho thấy muốn giải quyết được gốc rễ vấn đề vẫn nằm ở con người.
Vì vậy, công cuộc chống thất thoát, lãng phí và nâng cao chất lượng công trình xây dựng
là một cuộc chiến dài hạn, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều cơ quan, địa
phương khác nhau và được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm.
Kiến nghị một số giải pháp chống thất thoát, lãng phí và nâng cao chất lượng
các công trình xây dựng:
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế kinh tế trong đầu tư xây dựng

- Đa dang hóa các hình thức sở hữu, thu hẹp một cách đáng kể khu vực nhà nước
để có thể nâng cao hiệu quả hoạt động, khắc phục tình trạng “vô chủ, xin cho” trong khu
vực này. Đây là giải pháp có tính dài hạn và được thực hiện cùng với quá trình đổi mới
cơ chế quản lý đối với các doanh nghiệp nhà nước.
- Bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm xóa bỏ những kẽ hở cho các hiện
tượng tiêu cực trong quản lý đầu tư và XDCB. Nâng cao tính nghiêm minh của pháp
luật, tăng khung hình phạt, đặc biệt là phạt về kinh tế đối với các trường hợp vi phạm
pháp luật liên quan đến quản lý kinh tế.
Thứ hai, hoàn thiện và tạo lập thêm các tiêu chuẩn, định mức làm phương tiện tính
toán và đánh giá thực hiện trong hoạt động ĐTXD
- Thông qua việc tìm hiểu kinh nghiệm từ các nước trên thế giới để vận dụng một
bộ các tiêu chuẩn định mức mới phù hợp với tình hình phát triển của Việt Nam nói
chung, và ngành XDCB nói riêng.
- Cần tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát, đặc biệt, là vai trò của Thanh tra,
Kiểm toán nhà nước giúp kịp thời đánh giá và kiểm soát mọi nhiệm vụ thu chi một cách
rõ ràng, minh bạch.

9


34 - 56.61.01LT2 - Trần Thanh Trang
Thứ ba, nâng cao năng lực quản lý, năng lực chuyên môn của những chủ thể tham
gia hoạt động đầu tư xây dựng
- Nâng cao trách nhiệm cá nhân trong xác định chủ trương đầu tư và quyết định
đầu tư. Chủ trương đầu tư đúng sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao, chủ trương đầu tư sai
sẽ gây ra những thất thoát, lãng phí lớn, hậu quả kéo dài. Quyết định đầu tư sai, thiếu cơ
sở khoa học cũng gây ra những thất thoát, lãng phí không nhỏ. Để nâng cao hiệu quả
đầu tư, khi xác định chủ trương đầu tư nên mời tư vấn phản biện, tốt nhất là các hội,
hiệp hội,.. và phải dựa vào ý kiến của các chuyên gia tư vấn phản biện, đồng thời dự án
phải được thẩm định một cách kĩ lưỡng để tránh sai lầm trong xác định chủ trương đầu

tư, gây ra những lãng phí lớn. Việc phê duyệt của cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư
chủ yếu phải dựa vào kết quả của công tác thẩm định dự án , người phê duyệt phải chịu
trách nhiệm vật chất về những thiệt hại do quyết định đầu tư sai gây ra.
- Nâng cao trình độ, đạo đức nghề nghiệp cho người lao động. Để thực hiện có
hiệu quả các giải pháp trên thì đây là giải pháp quan trọng nhất và mang tính dài hạn, vì
có liên quan đến con người, từ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật đến người lao động ...
Trình độ, đạo đức nghề nghiệp của những con người này là nhân tố có tính chất quyết
định đến chất lượng, hiệu quả công việc của chính họ và quyết định đến việc chống thất
thoát, lãng phí vốn đầu tư và đảm bảo chất lượng công trình.
- Làm tốt công tác quy hoạch, kế hoạch phân bổ vốn đầu tư. Công tác quy hoạch
phát triển của các ngành, địa phương phải thực sự khoa học, phải đi trước một bước,
làm cơ sở vững chắc cho kế hoạch phân bổ vốn đầu tư, tránh dàn trải, thiếu tập trung,
kiên quyết không bố trí vốn cho những dự án chưa đủ các điều kiện cần thiết.
Ngoài những giải pháp chủ yếu chống thất thoát, lãng phí và nâng cao chất lượng
các công trình xây dựng trên đây, còn có các giải pháp khác có liên quan, như: Công tác
quy hoạch, thiết kế xây dựng, quản lý giá, công tác đấu thầu ...

10


34 - 56.61.01LT2 - Trần Thanh Trang
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Anh Vũ (2020), Giám sát để hạn chế thất thoát, nâng cao chất lượng công trình
/>2. PGS.TS Đinh Văn Hải, TS. Lương Thị Thủy (2017). Giáo trình Kinh tế các ngành
sản xuất kinh doanh, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội.
3. Hoàng Văn Lương (2012), Hoạt động kiểm toán đối với việc chống thất thoát, lãng
phí và tiêu cực trong đầu tư xây dựng cơ bản, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện
Tài chính
4. Th.S Hoàng Thị Khánh Vân, TS. Nguyễn Liên Hương và Th.S Nguyễn Quốc Toản,
Một số vấn đề về thất thoát lãng phí trong quản lý chi phí đầu tư xây dựng công

trình hiện nay, Tạp chí Kinh tế Xây dựng, 1, 28-35.
5. TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Một số giải pháp hạn chế thất thoát, lãng phí trong đầu tư
công tại Việt Nam, Khoa Đầu tư, Đại học Kinh tế quốc dân.



×