Cách tốt nhất để củng cố, phát triển sự đồn kết
và thống nhất của Đảng theo “Di chúc” Bác Hồ
ThS. NGUYỄN VĂN HIỀN
Trường CĐSP Gia Lai
1. Tự phê bình và phê
bình với cá nhân lẫn tổ chức
Đảng
Ở Hồ Chí Minh, tự phê
bình và phê bình đã trở thành
một ngun tắc khơng thể
thiếu trong phong cách lãnh
đạo của mình. Trên cương vị
lãnh đạo cao nhất, Bác ln
thực hành tự phê bình và phê
bình một cách nghiêm túc, nêu
tấm gương sáng về đức tính
trung thực, thẳng thắn, về thái
độ và phương pháp phê bình
cho cán bộ, đảng viên noi theo.
Bởi lẽ, Người hiểu rất rõ rằng,
người đời khơng phải thánh
thần, mỗi con người với đời
sống riêng đều có mặt mạnh,
điểm yếu, có cả điều thiện
lẫn điều ác, cho nên, nếu biết
làm cho những điều thiện nảy
mầm, điều ác thui chột dần
đi, thì mỗi con người sẽ tốt
hơn lên, xã hội vì thế mà phát
triển. Cán bộ, đảng viên cũng
vậy, trong cơng tác hay cuộc
sống thường ngày cũng khơng
tránh khỏi khuyết điểm cần
phải khắc phục. Vì thế, “muốn
thành cán bộ tốt, phải có tinh
thần tự chỉ trích”, nghĩa là phải
thường xun tự phê bình và
phê bình, vì “khơng chịu tự phê
bình, tự chỉ trích thì khơng bao
Đã tròn một nửa thế kỉ trơi qua (1969-2019)
nhưng những lời dặn dò trong “Di chúc” của Chủ
tịch Hồ Chí Minh về củng cố, phát triển sự đồn kết
và thống nhất của Đảng khơng chỉ còn ngun giá
trị về mặt lý luận mà cả thực tiễn to lớn trong cơng
tác xây dựng Đảng hiện nay, nhất là khi cuộc đấu
tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thối về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, theo tinh
thần Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đang diễn
ra phức tạp. Tự phê bình và phê bình được Bác Hồ
coi là cách tốt nhất, là ngun tắc sinh hoạt Đảng,
là quy luật phát triển của Đảng.
giờ tấn tới được”1. Bác còn chỉ
ra rằng: “Tổ chức đảng cũng
vậy, Đảng khơng phải trên trời
rơi xuống, “Đảng là người, nên
có sai lầm”, tức là cũng có lúc
khoẻ mạnh, lúc ốm đau, bệnh
tật. Đó là lẽ thường tình, khơng
vì thấy ốm đau mà phát sinh
tư tưởng lo sợ, bi quan, tuyệt
vọng, giấu giếm bệnh tật trong
mình”. Người khẳng định: “Một
Đảng mà giấu giếm khuyết
điểm của mình là một Đảng
hỏng. Một Đảng có gan thừa
nhận khuyết điểm của mình,
vạch rõ những cái đó, vì đâu
mà có khuyết điểm đó, xét rõ
hồn cảnh sinh ra khuyết điểm
đó, rồi tìm kiếm mọi cách để
Hồ Chí Minh: Tồn tập, Nxb.
Chính trị quốc gia - Sự Thật, xuất bản
lần thứ 3, H, 2011, t.4, tr.28.
sửa chữa khuyết điểm đó. Như
thế là một Đảng tiến bộ, mạnh
dạn, chắc chắn, chân chính”2.
Đạo lý ứng xử của cổ nhân
có câu: “Tiên trách kỉ hậu trách
nhân” - nghĩa là khi phán xét
việc gì đó, thì phải nhìn nhận
lại bản thân mình trước hết,
xem mình thế nào, rồi sau
đó hãy nói đến người khác,
cũng như trước khi phê bình
người khác phải thành tâm
tự phê bình bản thân đã. Mức
độ trưởng thành của mỗi cá
nhân thường được thể hiện
ra ở sự dũng cảm gánh nhận
trách nhiệm của bản thân khi
kết quả thi đua của tập thể yếu
kém, ngược lại khi cá nhân có
1.
2.
Hồ Chí Minh: Tồn tập, Sđd,
t.5, tr.301.
1
SỐ 02 NĂM 2019
KHOA HỌC XÃ HỘI - NHÂN VĂN
TẠP CHÍ KHOA HỌC CƠNG NGHỆ VÀ MƠI TRƯỜNG
2
KHOA HỌC XÃ HỘI - NHÂN VĂN
được thành quả tốt lại được
khiêm tốn quan niệm là cơng
sức trước tiên và phần nhiều
là ở tập thể, tổ chức. Trong sự
nghiệp cách mạng của mình,
Hồ Chí Minh khơng bao giờ tự
cho mình đứng ngồi những
sai lầm, khuyết điểm của Đảng
và Chính phủ mà thường nhận
lỗi về mình. Người ln thật
lòng đề nghị và khuyến khích
người khác phê bình mình. Tại
buổi lễ bế mạc lớp bổ túc trung
cấp (tháng 10-1947), Hồ Chí
Minh đã nói: “Tơi làm điều xấu,
các đồng chí trơng thấy, phải
phê bình cho tơi sửa chữa ngay.
Nếu tơi có vết nhọ trên trán, các
đồng chí trơng thấy, lại lấy cớ
“nể Cụ” khơng nói, là tơi mang
nhọ mãi. Nhọ ở trên trán thì
khơng quan trọng, nhưng nếu
có vết nhọ ở trong óc, ở tinh
thần, mà khơng nói cho người
ta sửa tức là hại người”.
Vạn vật trong vũ trụ ln
chuyển hóa và biến đổi khơn
lường, cá nhân con người và tổ
chức Đảng cũng vậy. Chủ tịch
Hồ Chí Minh từng cảnh báo:
“Một dân tộc, một Đảng và
mỗi con người, ngày hơm qua
là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn,
khơng nhất định hơm nay và
ngày mai vẫn được mọi người
u mến và ca ngợi, nếu lòng
dạ khơng trong sáng nữa, nếu
sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Do
vậy, để Đảng tiếp tục làm tròn
sứ mệnh tiên phong của mình,
nhất định thường xun, hằng
ngày, mỗi cán bộ, đảng viên
phải thực hiện tốt tự phê bình
và phê bình, trên cơ sở đó mà
sửa chữa, uốn nắn để hồn
thiện hơn.
2. Tự phê bình gắn với
phê bình
Tự phê bình là gì? Tại sao
phải gắn kết với phê bình?
Năm 1951, Hồ Chí Minh đã viết
bài “Tự phê bình” (đăng báo
Nhân dân, 20/5/1951), trong
đó có đoạn: “Tự phê bình là
gì? Là thật thà nhận, cơng khai
nhận trước mặt mọi người
những khuyết điểm của mình
để tìm cách sửa chữa”, bởi “Ai
cũng cần tắm rửa cho mình
mẩy sạch sẽ. Thì ai cũng cần
tự phê bình cho tư tưởng và
hành động đúng đắn”. Người
nhấn mạnh tự phê bình là cách
tự đánh giá để mỗi người vừa
thấy được “cái hay”, “cái dở”
của mình, vừa tạo điều kiện
để những người xung quanh
đóng góp ý kiến, giúp bản
thân sửa chữa khuyết điểm,
phát huy ưu điểm. Còn phê
bình là “Nêu ưu điểm, vạch
ra khuyết điểm của đồng chí
mình”; là tham gia góp ý kiến
và nêu cách thức để sửa chữa
khuyết điểm. Từ đó, vừa cổ vũ
đồng chí mình phát huy những
ưu điểm, những cách làm hay,
những việc làm tốt, vừa nhằm
tìm ra biện pháp khắc phục
khuyết điểm, hạn chế, sai lầm
để cùng nhau ngày càng tiến
bộ. Tập thể, tổ chức tồn tại
được trên cơ sở quan hệ mật
thiết giữa mình với đồng chí
có sự đồn kết và thống nhất
về tư tưởng cho nên “tự phê
bình và phê bình phải đi đơi
với nhau”. Đi đơi được với nhau
còn là vì tự phê bình và phê
bình đều có cùng bản chất và
mục đích. Bản chất của tự phê
bình và phê bình là xây dựng,
nhân đạo và tiến bộ. Mục đích
của chúng nhằm làm cho con
người tốt hơn, việc tốt hơn và
tổ chức mạnh lên, cụ thể là
phát huy ưu điểm, khắc phục
khuyết điểm, củng cố và tăng
cường đồn kết nội bộ, đều
như là “thang thuốc đặc trị”
cho mỗi cá nhân đảng viên
và tổ chức Đảng. Nếu tách rời
nhau, khơng đi đơi với nhau,
nếu chỉ phê bình người khác
mà khơng tự phê bình thì
chẳng khác nào “Thầy thuốc
chỉ đi chữa bệnh người khác
mà bệnh nặng trong mình thì
qn chữa”. Đi đơi với nhau
nhưng Hồ Chí Minh thường
đặt tự phê bình lên trước, vì
nếu tự phê bình tốt thì mới
phê bình người khác tốt được.
3. Tự phê bình và phê
bình là nhu cầu tất yếu và là
văn hóa đạo đức của Đảng
Hồ Chí Minh chỉ rõ: Khuyết
điểm cũng như chứng bệnh.
Phê bình thì giống như uống
thuốc. Nếu sợ phê bình thì
cũng khác nào là có bệnh mà
giấu bệnh, khơng dám uống
thuốc. Như vậy thì bệnh tình
lại càng nặng thêm, khơng
chết “cũng la lết quả dưa”. Do
vậy, đối với đảng viên, cán bộ
mà “nể nang khơng phê bình,
để cho đồng chí mình cứ sa
vào lầm lỗi, đến nỗi hỏng việc.
Thế thì khác nào thấy đồng chí
mình ốm, mà khơng chữa cho
họ. Nể nang mình, khơng dám
tự phê bình, để cho khuyết
điểm của mình chứa chất lại.
Thế thì khác nào mình tự bỏ
thuốc độc cho mình!”.
Tuy nhiên, thuốc uống dù
là “thần dược” cũng phải phù
hợp với mỗi cá thể bệnh. Sai
lầm và khuyết điểm của mỗi
con người khác nhau thì hình
thức phê bình, xử lý cũng phải
khác nhau, mới đảm bảo được
tính nghiêm túc, nếu khơng
sẽ sinh ra thói “thậm thà thậm
thụt” mà “trong Đảng im tiếng,
ngồi Đảng to mồm”. Vì vậy,
để tự phê bình và phê bình
đúng và hiệu quả, ngun tắc
này phải được tiến hành trên
cơ sở dân chủ, cơng khai, tình
thương u, khoan dung của
mỗi người. Mỗi người khi tự
phê bình mình cũng như phê
bình người phải chân thành,
nhân hậu và tn thủ ngun
tắc “Phê bình việc làm chứ
khơng phê bình người”3. Theo
Người, tự phê bình và phê bình
chỉ có ý nghĩa, phát huy được
tác dụng khi được thực hiện
nghiêm túc, với tinh thần “Phê
bình mình cũng như phê bình
người khác phải ráo riết, triệt
để, thật thà, khơng nể nang,
khơng thêm bớt. Phải vạch rõ
cả ưu điểm lẫn khuyết điểm.
Đồng thời chớ dùng những lời
mỉa mai, chua cay, đâm thọc”4.
Chủ tịch Hồ Chí Minh ln
nhắc nhở, tự phê bình và phê
bình phải xuất phát từ động cơ
trong sáng là giúp đỡ lẫn nhau,
vì sự tiến bộ của mỗi người và
sự phát triển vững mạnh của
tổ chức. Vì vậy, trong tự phê
bình và phê bình phải chống
tư tưởng hẹp hòi, ích kỉ, lợi
dụng phê bình để hạ uy tín, đả
kích lẫn nhau gây chia rẽ mất
đồn kết, làm tổn hại, suy yếu
3.
Hồ Chí Minh: Tồn tập, Sđd,
t.5, tr.232.
4.
Hồ Chí Minh: Tồn tập, Sđd,
t.5, tr.232.
tổ chức Đảng. Để thực hiện
đúng mục đích trong sáng
của phê bình, trong “Di chúc”
Người căn dặn: “Phải có tình
đồng chí thương u lẫn nhau”.
Theo đó, Hồ Chí Minh cho rằng
thực hành tự phê bình và phê
bình còn là một trong những
nội dung cơ bản của văn hóa
đạo đức - văn hóa Đảng.
Phê bình cũng như chữa
bệnh cứu người, để giúp họ
vui lòng nhận ra lỗi lầm mà
sửa chữa, để khỏe mạnh trở lại
trong cả suy nghĩ và hành động
thì trước hết phải thương u,
phải kịp thời, đúng lúc và đúng
chỗ, cơng khai và thẳng thắn.
Nếu làm trái những điều đó,
tính giáo dục của thang thuốc
tự phê bình và phê bình sẽ
khơng còn tác dụng. Còn người
bị phê bình phải thật thà nhận,
cơng khai nhận và “vui lòng
nhận xét để sửa đổi, khơng
nên vì bị phê bình mà nản chí,
hoặc ốn ghét”. Tự phê bình và
phê bình chỉ thực sự phát huy
tác dụng, góp phần củng cố
và tăng cường khối đồn kết
thống nhất trong mỗi tổ chức,
cơ quan, địa phương, đơn vị khi
“Người có ưu điểm thì phải cố
gắng thêm, và người khác phải
cố gắng bắt chước. Mọi người
phải tích cực sửa chữa khuyết
điểm của mình và giúp anh
em sửa chữa khuyết điểm của
họ”5. Theo đó, khi đã “tìm thấy
cái nguồn gốc của những sai
lầm khuyết điểm đó, và chắc
chắn tìm được cách sửa chữa”
thì “khéo dùng cách phê bình
và tự phê bình để giúp đồng
chí khác sửa đổi những sai lầm
5.
Hồ Chí Minh: Tồn tập, Sđd,
t.5, tr.272.
và khuyết điểm, giúp họ tiến
bộ”. Thơng qua việc phát hiện
“nơi nào sai lầm, ai sai lầm, thì
lập tức sửa chữa. Kiên quyết
chống thói nể nang và che
giấu" chống thói “trước mặt thì
nể, kể lể sau lưng”. Phê bình thì
phải rõ ràng, thiết thực, ngay
thẳng, thành thật - mục đích là
cốt sửa chữa, chứ khơng phải
để cơng kích, cốt giúp nhau
tiến bộ, chứ khơng phải làm
cho đồng chí khó chịu, nản
lòng”6, để thiết thực xây dựng
và chỉnh đốn Đảng. Chủ tịch
Hồ Chí Minh u cầu: Phê bình
phải được tiến hành một cách
thường xun liên tục. Làm
được như vậy, theo Người: Các
sai lầm khuyết điểm sẽ được
rửa sạch ngay khi nó mới phơi
thai. Đây cũng chính là quan
điểm chữa trị tận gốc, đồng
thời đề cao việc phòng bệnh
hơn chữa bệnh.
Tự phê bình và phê bình
muốn đạt kết quả cao thì
phải được tiến hành trong
bầu khơng khí thật dân chủ,
bình đẳng. Chỉ có dân chủ
rộng rãi thì mọi cán bộ, đảng
viên, nhân dân mới tích cực,
chủ động, nói thẳng, nói thật.
Song mở rộng dân chủ trong
tự phê bình và phê bình khơng
có nghĩa là muốn nói gì thì
nói, muốn phê thì phê. Theo
Chủ tịch Hồ Chí Minh thì một
cuộc tự phê bình và phê bình
nghiêm túc là: “Trong lúc thảo
luận, mọi người được tự do
hồn tồn phát biểu ý kiến, dù
đúng hoặc khơng đúng cũng
vậy. Song khơng được nói gàn,
nói vòng quanh”...
6.
Hồ Chí Minh: Tồn tập, Sđd,
t.5, tr.308.
3
SỐ 02 NĂM 2019
KHOA HỌC XÃ HỘI - NHÂN VĂN
TẠP CHÍ KHOA HỌC CƠNG NGHỆ VÀ MƠI TRƯỜNG
4
KHOA HỌC XÃ HỘI - NHÂN VĂN
Ở đời “nhân vơ thập tồn”
nên khơng ai tránh khỏi sai
lầm, khuyết điểm, ngay cả là
đảng viên hay lãnh đạo quản
lý, cho nên chúng ta khơng
sợ khuyết điểm, chỉ sợ có lỗi
mà khơng sửa, có lỗi mà giấu
giếm, lừa cấp trên, chèn ép
cấp dưới dẫn đến tự phê bình
và phê bình hình thức, chung
chung, vì sợ “mất uy tín”, “mất
thể diện”. Tự phê bình và phê
bình đúng sẽ “chẳng những
khơng làm giảm thể diện và
uy tín của cán bộ, của Đảng.
Trái lại, điều đó còn làm cho sự
lãnh đạo mạnh mẽ hơn, thiết
thực hơn, do đó mà uy tín và
thể diện càng tăng thêm”, càng
nâng cao hơn nữa năng lực và
sức chiến đấu của Đảng... Do
vậy, để thực hiện lời căn dặn
của Hồ Chí Minh, “mỗi cán bộ,
mỗi đảng viên hằng ngày phải
tự kiểm điểm, tự phê bình, tự
sửa chữa như mỗi ngày phải
rửa mặt. Được như thế thì
trong Đảng sẽ khơng có bệnh
mà Đảng sẽ mạnh khỏe vơ
cùng”7. Và đương nhiên, Đảng
có mạnh mới đủ sức chèo lái
con thuyền cách mạng vượt
qua những thác ghềnh hiểm
nguy để hồn thành sứ mệnh
cao cả của mình.
4. Thay lời kết
Thực hiện Chỉ thị 05-CT/
TW của Bộ Chính trị khóa XII
về “Đẩy mạnh học tập và làm
theo tư tưởng, đạo đức, phong
cách Hồ Chí Minh” trên cơ sở “có
tình đồng chí thương u lẫn
nhau” đã mang lại những kết
quả tích cực: “Q trình tự phê
7.
Hồ Chí Minh: Tồn tập, Sđd,
t.5, tr.279.
bình và phê bình đã góp phần
đấu tranh với những suy nghĩ
và hành vi sai trái nhằm cảnh
tỉnh, cảnh báo, răn đe, từng
bước ngăn chặn, đẩy lùi tham
nhũng, tiêu cực. Nhiều vụ án
tham nhũng nghiêm trọng,
phức tạp đã được phát hiện và
tập trung chỉ đạo điều tra, truy
tố, xét xử nghiêm minh, được
nhân dân đồng tình, ủng hộ”...
Tuy nhiên, ở một số cấp ủy, vẫn
còn hiện tượng đồng chí bí
thư, thường trực cấp ủy chưa
coi trọng và thiếu kiên quyết
trong chỉ đạo thực hiện tự phê
bình và phê bình; chưa gương
mẫu nhìn nhận đúng mức
khuyết điểm và trách nhiệm
của mình trước những hạn chế,
khuyết điểm của tập thể. Bên
cạnh đó, trong tự phê bình và
phê bình vẫn còn có những
“vùng cấm”, “vùng tránh” hoặc
lợi dụng đấu tranh phê bình
để “hạ bệ”, “thanh trừng” lẫn
nhau gây chia rẽ, bè phái, mất
đồn kết nội bộ,... Việc thực
hiện ngun tắc tự phê bình
và phê bình “chưa đáp ứng
u cầu, vẫn là khâu yếu trong
sinh hoạt đảng; chưa trở thành
nhiệm vụ thường xun của
các cấp ủy, tổ chức đảng và
đảng viên”. Ngun tắc tự phê
bình và phê bình ở một số nơi
bị bng lỏng, chưa được quy
định cụ thể để làm cơ sở cho
cơng tác kiểm tra, giám sát.
Thực tế trong q trình
lãnh đạo cách mạng, cùng
với những thành cơng và ưu
điểm, Đảng cũng còn bộc bạch
những khuyết điểm, yếu kém,
những biểu hiện chưa ngang
tầm với đòi hỏi của nhiệm vụ
cách mạng. Bên cạnh những
cán bộ, đảng viên thực sự là
đầy tớ trung thành, cúc cung
tận tụy, phát huy vai trò gương
mẫu tự phê bình và phê bình
thì vẫn còn có “một bộ phận
khơng nhỏ cán bộ, đảng viên”
sa vào suy thối. Nghị quyết
Trung ương 4 khóa XII đã
nêu lên 09 (chín) biểu hiện
suy thối về tư tưởng chính
trị. Trong chín biểu hiện suy
thối đó có biểu hiện suy thối
liên quan đến vấn đề tự phê
bình và phê bình. Nghị quyết
chỉ rõ: “Trong tự phê bình còn
giấu giếm, khơng dám nhận
khuyết điểm; khi có khuyết
điểm thì thiếu thành khẩn,
khơng tự giác nhận kỷ luật.
Trong phê bình thì nể nang, né
tránh, ngại va chạm, thấy đúng
khơng bảo vệ, thấy sai khơng
đấu tranh; lợi dụng phê bình
để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc
vu khống, bơi nhọ, chỉ trích,
phê phán người khác với động
cơ cá nhân khơng trong sáng”.
Tự phê bình và phê bình là
thuốc chữa bệnh, là vũ khí trừ
kẻ địch bên trong để là vươn
tới cái đẹp, cái hồn thiện vì lợi
ích chung. Nếu đồn kết làm
nên sức mạnh của Đảng thì
tự phê bình và phê bình được
coi là cội nguồn sức mạnh bậc
nhất của Đảng. Đảng viên thực
hiện tốt và thường xun về
tự phê bình và phê bình theo
di nguyện của Bác để lại trong
“Di chúc” khơng chỉ là bài học
đúng đắn về “tu thân” mà cũng
chính là bày tỏ sự ngưỡng mộ
và biết ơn đối với lãnh tụ kính
u./.