Tải bản đầy đủ (.pdf) (28 trang)

Nhân tố tác động tới chính sách tín dụng thƣơng mại của doanh nghiệp: Nghiên cứu thực nghiệm tại các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (494.28 KB, 28 trang )

NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG THƢƠNG MẠI
CỦA DOANH NGHIỆP: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT VIỆT NAM
Trần Thị Diệu Hường
Đại học Quy Nhơn
Trần Thị Thanh Tú
Đại học Kinh tế Đại học Quốc gia Hà Nội
Đỗ Hồng Nhung
Đại học Kinh tế Quốc dân
Email:
Tóm tắt
Bài viết này tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa các nhân tố nội tại của
doanh nghiệp ảnh hưởng như thế nào đến chính sách tín dụng thương mại của các
doanh nghiệp Việt Nam. Mẫu nghiên cứu bao gồm 326 công ty phi tài chính niêm yết
trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2013-2017. Nghiên cứu sử dụng
mô hình hồi quy tuyến tính đa biến và dữ liệu bảng cho các doanh nghiệp Việt Nam với
sự hỗ trợ của phần mềm Stata 14.0. Nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng Fixed
Effect (FE) và phương pháp Feasible Generalized Least Squares (FGLS) để xác định
các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng thương mại của các doanh nghiệp Việt Nam. Đồng
thời nghiên cứu kết hợp sử dụng phương pháp ước lượng GMM (Two-Step Generalized
Method Of Moments) đối với dữ liệu bảng để tăng tính vững chắc cho mô hình. Kết quả
nghiên cứu cho thấy dự phòng phải thu khó đòi, tài chính ngắn hạn và khả năng thanh
khoản tác động cùng chiều với chính sách tín dụng thương mại; trong đó biến mới dự
phòng phải thu khó đòi tác động tích cực và tương đối lớn đến chính sách tín dụng
thương mại. Ngược lại, tăng trưởng doanh thu tác động ngược chiều với chính sách tín
dụng thương mại.
Từ khóa: Chính sách tín dụng thƣơng mại, Tín dụng thƣơng mại ròng, Phải thu,
Phải trả.

1. Giới thiệu
Quản lý tín dụng thƣơng mại luôn là mối quan tâm lớn của các doanh


nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và giá trị doanh nghiệp thông qua việc
kiểm soát tốt các khoản phải thu và khoản phải trả. Doanh nghiệp cung cấp tín
dụng thƣơng mại cho khách hàng sẽ có thể đẩy nhanh đƣợc lƣợng hàng bán ra,
làm giảm lƣợng hàng tồn kho và tăng doanh thu. Đồng thời ngƣời mua đƣợc cấp
135


tín dụng thƣơng mại sẽ có nguồn hàng phục vụ sản xuất kinh doanh mà không
phải thanh toán ngay. Tuy nhiên, không phải công ty duy trì khoản phải thu nhiều
là tốt, do khi thực hiện chính sách bán chịu thì công ty sẽ phải đối mặt với rủi ro
tín dụng, cụ thể là nguy cơ bị mất vốn khi khách hàng không thanh toán tiền hàng
khi đến hạn. Trong khi đó, tín dụng thƣơng mại thƣờng đƣợc tài trợ bởi nguồn
vốn vay ngắn hạn ngân hàng, đồng thời sử dụng từ các nguồn phải trả mà doanh
nghiệp chiếm dụng vốn từ các nhà cung cấp nên sẽ gia tăng chi phí nếu chính
sách tín dụng thƣơng mại của doanh nghiệp kém hiệu quả. Bên cạnh đó, nếu
ngƣời mua chiếm dụng vốn của ngƣời bán quá nhiều có thể ảnh hƣởng không tốt
đến xếp hạng tín dụng và uy tín của doanh nghiệp. Mà sự tăng giảm các khoản
phải thu và khoản phải trả chịu ảnh hƣởng của nhiều nhân tố. Điều này cũng đã
đƣợc các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm nhƣ Petersen và Rajan (1997),
Danielson và Scott (2004), Niskanen và Niskanen (2006), Garcia-Teruel và
Martinez-Solano (2010a)… Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu còn gây nhiều tranh
cãi bởi vì các nhân tố ảnh hƣởng đến tín dụng thƣơng mại có sự thay đổi đáng kể
giữa các quốc gia và các ngành khác nhau.
Trong khi đó, tại Việt Nam khi nền kinh tế đang ngày càng mở cửa và
phát triển, đặc biệt là sau khi gia nhập vào Tổ chức thƣơng mại thế giới WTO thì
quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp trở nên đa dạng và phức tạp. Bởi vì một
trong những biện pháp để doanh nghiệp có thể tăng doanh thu, cạnh tranh các
doanh nghiệp khác đó là thực hiện chính sách tín dụng thƣơng mại. Tuy nhiên
điều này đi kèm với rủi ro tín dụng cao khi mà khách hàng không thể trả đƣợc
nợ. Nhƣ vậy rủi ro về nợ khó đòi cần phải đƣợc kiểm soát chặt chẽ vì nhiều

trƣờng hợp tổn thất của nợ tồn đọng ảnh hƣởng đến năng lực kinh doanh và tiềm
lực tài chính của doanh nghiệp dẫn đến nguy cơ phá sản. Do đó, doanh nghiệp
cần phải cân nhắc giữa lợi ích và rủi ro khi thực hiện chính sách tín dụng thƣơng
mại. Để làm đƣợc điều này thì doanh nghiệp phải xác định đƣợc các nhân tố ảnh
hƣởng đến việc cấp tín dụng cho khách hàng. Bên cạnh đó, để có thể tận dụng
đƣợc nguồn vốn từ nhà cung cấp và đảm bảo uy tín cho doanh nghiệp nhằm thúc
đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp cần phải xác định đƣợc các
nhân tố ảnh hƣởng đến các khoản phải trả. Vì vậy, quản lý tín dụng thƣơng mại
đòi hỏi các doanh nghiệp phải xác định đƣợc các nhân tố ảnh hƣởng đến khoản
phải thu, khoản phải trả và tín dụng thƣơng mại ròng. Vấn đề này ở Việt Nam
còn ít đƣợc các nhà nghiên cứu quan tâm, có thể kể đến hai nghiên cứu, đó là
136


nghiên cứu của Phan Đình Nguyên và Trƣơng Thị Hồng Nhung (2014) phân tích
các nhân tố ảnh hƣởng đến tín dụng thƣơng mại của các doanh nghiệp niêm yết
tại Việt Nam và nghiên cứu của Trần Ái Kết (2017) tìm hiểu các nhân tố ảnh
hƣởng đến tín dụng thƣơng mại của các doanh nghiệp ngành giao thông vận tải.
Tuy nhiên kết quả nghiên cứu còn có nhiều bất đồng, tổng hợp các nhân tố chƣa
đầy đủ. Hơn nữa, có một nhân tố cũng có khả năng ảnh hƣởng đến tín dụng
thƣơng mại của doanh nghiệp nhƣng chƣa đƣợc bất cứ nghiên cứu nào kiểm định
đó là dự phòng phải thu khó đòi. Đây chính là khoảng trống cho nghiên cứu.
Vì vậy, bài viết này tập trung vào việc xác định các nhân tố ảnh hƣởng
đến tín dụng thƣơng mại của các doanh nghiệp Việt Nam.
Bài viết đƣợc cấu trúc gồm 5 phần: sau phần giới thiệu, phần tổng quan sẽ
xem xét các nghiên cứu trƣớc đây về chính sách tín dụng thƣơng mại, lí thuyết về
quản lí tín dụng thƣơng mại và các nhân tố ảnh hƣởng đến chính sách tín dụng
thƣơng mại của doanh nghiệp. Phần thứ 3 trình bày về phƣơng pháp nghiên cứu
và cách thức thu thập xử lí dữ liệu. Nhóm tác giả đƣa ra các phân tích và kết quả
thảo luận ở phần thứ 4. Và phần cuối cùng đề xuất một số khuyến nghị và kết

luận nhằm giúp các doanh nghiệp Việt Nam quản lí chính sách tín dụng thƣơng
mại hiệu quả.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1. Tín dụng thương mại
Lý thuyết về tín dụng thƣơng mại đƣợc khởi xƣớng lần đầu tiên bởi Le
Goff (1957). Ông cho rằng hình thức tín dụng thƣơng mại đƣợc sử dụng từ thời
Trung Cổ, nó đƣợc hình thành khi ngƣời bán không đòi hỏi ngƣời mua phải
thanh toán ngay khi nhận sản phẩm (trích dẫn trong Alphonse và cộng sự, 2006,
tr. 6). Kể từ đó đến nay, các chủ đề liên quan đến tín dụng thƣơng mại luôn đƣợc
sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới nhƣ: Nadiri (1969), Schwartz
(1974), Emery (1984), Smith (1987), Brennan và cộng sự (1988), Long và cộng
sự (1993), Rajan và Zingales (1995), Guariglia và Mateut (2006), García-Teruel
và Martínez-Solano (2010a) (2010b), Fabbri và Klapper (2016),…
García-Teruel và Martínez-Solano (2010a) cho rằng tín dụng thƣơng mại
là một hình thức tín dụng đƣợc hình thành khi ngƣời bán đồng ý cho ngƣời mua
thanh toán chậm giá trị hàng hóa đã mua trong một khoảng thời gian nhất định.
137


Đối với ngƣời bán, đây là khoản đầu tƣ vào các khoản phải thu, trong khi đối với
ngƣời mua nó là một nguồn tài chính đƣợc phân loại theo các khoản nợ ngắn hạn
trên bảng cân đối kế toán, hay còn gọi là các khoản phải trả. Cũng cùng quan điểm
trên thì Fabbri và Klapper (2016) nhận thấy có nhiều doanh nghiệp thông qua việc
sử dụng tín dụng thƣơng mại để có đƣợc hàng hóa đầu vào, hình thành nên các
khoản phải trả; trong khi đó các doanh nghiệp cung cấp tài chính cho khách hàng
thông qua chính sách tín dụng thƣơng mại thì tạo ra các khoản phải thu.
Đây là một nguồn tài chính quan trọng cho tất cả các doanh nghiệp trên
thế giới (Petersen và Rajan, 1997; Demirguc-Kunt và Maksimovic, 2001). Vào
năm 1986, các công ty sản xuất ở Mỹ có khoản phải thu chiếm 21% trong tổng
tài sản (Mian và Smith, 1992). Theo nhƣ Elliehausen và Wolken (1993) báo cáo

thì vào năm 1987, tín dụng thƣơng mại chiếm khoảng 20% trong tổng số nợ và
35% trong tổng tài sản của các doanh nghiệp phi nông nghiệp và phi tài chính ở
Mỹ. Rajan và Zingales (1995) đã cho biết vào năm 1991 tín dụng thƣơng mại
chiếm 17,8% tổng tài sản cho tất cả các công ty Mỹ và ở các nƣớc châu Âu nhƣ
Đức, Pháp và Ý thì tín dụng thƣơng mại đại diện cho hơn một phần tƣ tổng tài
sản của công ty. Năm 1995, các công ty phi tài chính ở Bỉ có tỷ lệ khoản phải thu
trên tổng tài sản là 16% (Deloof và Jegers, 1999). Hơn nữa, tín dụng thƣơng mại
cũng rất quan trọng ở các nền kinh tế mới nổi, nhƣ Trung Quốc, nơi các doanh
nghiệp nhận đƣợc sự hỗ trợ hạn chế từ hệ thống ngân hàng (Ge và Qiu, 2007).
Nhƣ vậy, tín dụng thƣơng mại giúp cho các công ty cấp tín dụng bán đƣợc
hàng có khả năng sinh lời cao, cũng nhƣ có thể đảm bảo đƣợc dòng thu nhập
trong tƣơng lai. Do vậy, dòng tiền phát sinh từ quyết định gia hạn thời gian thu
tiền đƣợc coi là tài sản có giá trị của công ty. Bên cạnh đó, tiền có giá trị theo
thời gian nên ngƣời đƣợc cấp tín dụng sẽ đƣợc hƣởng lợi vì không phải thanh
toán ngay lập tức, nên giúp cho họ có nguồn yếu tố đầu vào để phục vụ cho hoạt
động kinh doanh của công ty. Trong khi đó, ngƣời bán có thể tiêu thụ đƣợc nhiều
hàng hơn nên khuyến khích ngƣời bán cấp tín dụng thƣơng mại cho khách hàng
của họ nhiều hơn. Thêm vào đó, Schwartz (1974) cho biết có nhiều công ty có
khả năng tiếp cận thị trƣờng vốn rẻ hơn so với khách hàng của họ nên khuyến
khích các công ty cấp tín dụng nhiều hơn cho khách hàng để đƣợc hƣởng lợi.
Tuy nhiên, chính sách tín dụng thƣơng mại cũng có thể đem đến rủi ro cho ngƣời
bán nếu nhƣ không thể thu hồi đƣợc tiền hàng của ngƣời mua.

138


Mục đích của việc hình thành tín dụng thương mại: Sự xuất hiện của tín
dụng thương mại là do ba động cơ: động cơ tài chính, động cơ quản lý dòng tiền
và động cơ bán hàng (García-Teruel và Martínez-Solano, 2010a).
Động cơ tài chính

Nhiều nghiên cứu đã cho thấy các công ty (ngƣời bán) có lợi thế hơn các
tổ chức tài chính khi thu thập thông tin và theo dõi ngƣời mắc nợ. Điều này cho
phép các công ty phi tài chính có mức độ tín nhiệm cao để dành nguồn tài chính
nhằm giúp các công ty khác gặp khó khăn trong việc tiếp cận các thị trƣờng vốn
do xếp hạng tín dụng thấp (Emery, 1984, Mian and Smith, 1992; Petersen and
Rajan, 1997; Schwartz, 1974; Smith, 1987). Cụ thể, các nhà cung cấp có khả
năng thu thập thông tin tốt hơn do liên tục tiếp xúc với khách hàng. Dựa vào khối
lƣợng và tần suất của đơn hàng mà nhà cung cấp có thể có thông tin về tình hình
tài chính hiện tại của khách hàng. Hơn nữa, họ có quyền kiểm soát khách hàng
thông qua việc ngƣời bán có thể cắt đứt nguồn hàng thƣờng xuyên đƣợc cung
cấp. Điều này đặc biệt quan trọng khi có ít nhà cung cấp trên thị trƣờng và khách
hàng có sự phụ thuộc đáng kể vào nhà cung cấp của họ. Cuối cùng, ngƣời bán có
lợi thế trong việc thanh lý các sản phẩm đã bán trong trƣờng hợp ngƣời mua
không thanh toán. Bởi vì so với các tổ chức tài chính thì những hàng hóa này
đƣợc coi nhƣ là tài sản thế chấp giá trị của nhà cung cấp. Trong trƣờng hợp
không thanh toán, nó có thể đƣợc thu hồi lại và bán cho khách hàng khác. Do đó,
mức tín dụng thƣơng mại sẽ phụ thuộc vào mức tín nhiệm của công ty và chi phí
cho việc sử dụng nguồn vốn vay từ các ngân hàng. Hay nói cách khác, các doanh
nghiệp dễ tiếp cận thị trƣờng vốn với chi phí vốn thấp hơn sẽ cấp tín dụng
thƣơng mại nhiều hơn, trong khi những khách hàng có ít lựa chọn về tài chính sẽ
sử dụng tín dụng thƣơng mại nhiều hơn từ các nhà cung cấp (García-Teruel và
Martínez-Solano, 2010a).
Động cơ quản lý dòng tiền
Nếu không có tín dụng thƣơng mại, các công ty (ngƣời mua) sẽ phải thanh
toán tiền mua hàng ngay khi giao hàng và trong trƣờng hợp tần suất mua hàng
không ổn định hoặc thay đổi theo thời gian, các công ty cần phải giữ mức tiền
mặt dự phòng để thanh toán các khoản này. Tín dụng thƣơng mại tạo ra hiệu quả
hoạt động và cải thiện chi phí thông qua việc tách bạch giữa trao đổi hàng hoá và
thanh toán. Điều này giúp cho ngƣời mua có kế hoạch dự trữ lƣợng tiền mặt cần
139



thiết để thanh toán các khoản mua hàng (Ferris, 1981) và đem đến sự linh hoạt
hơn trong việc điều hành hoạt động kinh doanh, từ đó tăng khả năng đối phó với
những biến động khác (Emery, 1984, 1987). Nhƣ Emery (1987) đã chỉ ra, việc
mở rộng chính sách tín dụng thƣơng mại sẽ làm tăng tính linh hoạt trong quá
trình điều hành hoạt động kinh doanh. Emery (1987) gợi ý rằng khi doanh số bán
hàng của doanh nghiệp có tính chu kỳ hoặc biến động, họ có thể sử dụng tín dụng
thƣơng mại để khuyến khích khách hàng mua hàng trong giai đoạn nhu cầu thấp.
Bằng cách nới lỏng các điều khoản tín dụng, ngƣời bán có thể giảm chi phí lƣu
kho của hàng tồn kho nếu họ giữ sản xuất không đổi. Do đó cũng cho phép các
công ty tránh đƣợc chi phí thay đổi mức sản xuất. Đồng quan điểm với Emery
(1987), Long và cộng sự (1993) nhận thấy các công ty có nhu cầu thay đổi đã cấp
thời gian tín dụng thƣơng mại lâu hơn so với các công ty có nhu cầu ổn định.
Theo đó, tín dụng thƣơng mại có thể đƣợc sử dụng nhằm kích thích tăng doanh
thu và do đó các công ty có thể sử dụng tín dụng thƣơng mại nhiều hơn khi
doanh thu của họ tăng trƣởng thấp.
Động cơ bán hàng
Tín dụng thƣơng mại có thể đƣợc sử dụng nhƣ là một hình thức phân biệt
giá giữa các công ty, tùy theo sự chậm trễ trong thanh toán mà ngƣời bán có thể
ra quyết định cho ngƣời mua đƣợc hƣởng chính sách tín dụng thƣơng mại hợp lý
(Brennan và cộng sự, 1988; Mian and Smith, 1992). Việc kéo dài thời hạn tín
dụng hoặc tăng chiết khấu cho việc thanh toán nhanh chóng có hiệu quả tƣơng
đƣơng với việc giảm giá. Bằng cách này, cùng một sản phẩm có thể đƣợc bán với
mức giá khác nhau cho các khách hàng khác nhau. Petersen và Rajan (1997) tìm
thấy thấy bằng chứng ủng hộ cho lý thuyết phân biệt giá trong một nghiên cứu đó
là các công ty có lợi nhuận cao thì quan tâm nhiều hơn đến việc tăng doanh thu.
Điều này là do thực tế thu nhập biên của họ cao nên cho phép họ phải chịu thêm
chi phí để tạo ra doanh thu mới. Lợi nhuận của loại hình công ty này đến từ hoạt
động kinh doanh và tài chính của họ, do đó họ có thể dễ dàng chấp nhận lợi

nhuận thấp hơn. Đồng quan điểm với Petersen và Rajan (1997), García-Teruel
và Martínez-Solano (2010a) qua nghiên cứu đã chứng minh các công ty có tỷ
suất lợi nhuận cao hơn sẽ tăng mức tín dụng thƣơng mại. Hơn nữa, tín dụng
thƣơng mại cũng có thể đƣợc coi là một cách để các nhà cung cấp đƣa ra những
đảm bảo ngầm về chất lƣợng sản phẩm. Tín dụng thƣơng mại cũng cho phép

140


ngƣời bán bảo đảm chất lƣợng sản phẩm cho ngƣời mua và để ngƣời mua có thời
gian đánh giá chất lƣợng sản phẩm trƣớc khi thanh toán (Lee và Stowe, 1993;
Long và cộng sự, 1993; Smith, 1987). Về mặt này, Smith (1987) chỉ ra rằng các
nhà cung cấp có thể truyền tải thông tin về chất lƣợng sản phẩm của mình bằng
cách đồng ý các điều khoản tín dụng cho phép khách hàng có một thời gian sử
dụng để đánh giá sản phẩm. Tƣơng tự, thời hạn thanh toán có thể kéo dài hơn khi
chất lƣợng sản phẩm khó đánh giá hoặc cần thời gian để nghiên cứu. Lee và
Stowe (1993) lập luận rằng tín dụng thƣơng mại là cách tốt nhất để đảm bảo sản
phẩm. Các công ty sử dụng tín dụng thƣơng mại để báo hiệu chất lƣợng sản
phẩm của họ. Hơn nữa, Pike và cộng sự (2005) đã chứng minh rằng, ở Mỹ, Anh
và Úc, tín dụng thƣơng mại có thể đƣợc sử dụng để giảm thông tin bất cân xứng
giữa ngƣời mua và ngƣời bán. Tuy nhiên, trái với lập luận của Lee và Stowe
(1993), García-Teruel và Martínez-Solano (2010a) không tìm thấy bằng chứng
của việc sử dụng tín dụng thƣơng mại nhƣ một cách truyền tải thông tin về chất
lƣợng sản phẩm của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Châu Âu.
2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng thương mại
Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học thì tín dụng thƣơng mại chịu ảnh
hƣởng của nhiều nhân tố, đó là những nhân tố mang tính vĩ mô và cũng có những
nhân tố vi mô xét đến nội tại trong doanh nghiệp (Petersen và Rajan, 1997;
Demirguc-Kunt và Maksimovic, 2001; Nilsen, 2002; Niskanen và Niskanen, 2006;
Huyghebaert, 2006; Garcia-Teruel và Martinez-Solano, 2010a, 2010b; …).

Các nhân tố kinh tế vĩ mô: Đứng ở góc độ vĩ mô, tín dụng thƣơng mại chịu
ảnh hƣởng của chính sách tiền tệ, sự phát triển hệ thống tài chính và cơ sở hạ tầng
pháp lý của một quốc gia. Nilsen (2002) cho biết khi nhà nƣớc thực hiện chính sách
tiền tệ thắt chặt thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi vay
vốn từ các tổ chức tín dụng, cho nên họ đã sử dụng tín dụng thƣơng mại nhiều hơn.
Bên cạnh đó, Niskanen và Niskanen (2006) đã đƣa ra một giả thuyết rằng có một
mối quan hệ đồng biến giữa lãi suất thị trƣờng và các khoản phải thu. Bởi vì khi lãi
suất thị trƣờng cao thì nhiều doanh nghiệp xem việc sử dụng chính sách tín dụng
thƣơng mại nhƣ là một giải pháp thay thế để mua các yếu tố đầu vào. Tuy nhiên thì
kết quả nghiên cứu của họ không ủng hộ giả thuyết này.
Trong khi đó, Demirguc-Kunt và Maksimovic (2001) cho rằng ở một quốc
gia có thị trƣờng tài chính phát triển tốt, các trung gian tài chính có thể giám sát
141


ngƣời vay một cách dễ dàng thì các doanh nghiệp có thể thuận lợi tiếp cận các
nguồn tài trợ từ các tổ chức trung gian tài chính. Trong khi đó, ở một nƣớc mà có
hệ thống tài chính không hoàn hảo thì các doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong
việc tiếp cận nguồn lực tài chính. Do đó, nguồn vốn đƣợc chuyển sang các nhà
cung cấp không phải là các tổ chức tài chính. Hơn nữa, Demirguc-Kunt và
Maksimovic (2001) khẳng định ở một nƣớc có cơ sở hạ tầng pháp lý phát triển
tốt sẽ có nhiều biện pháp hơn để bảo vệ hợp pháp cho các chủ nợ trong trƣờng
hợp ngƣời đi vay bị phá sản. Nhƣ vậy, nếu hệ thống pháp luật quốc gia hoạt động
có hiệu quả thì việc sử dụng tín dụng thƣơng mại của ngƣời mua sẽ giảm.
Thêm vào đó, Huyghebaert (2006) chứng minh rằng khi tốc độ tăng
trƣởng kinh tế vĩ mô giảm thì các công ty sẽ gia tăng các khoản phải trả do nguồn
tín dụng ngân hàng bị hạn chế và dòng tiền thuần giảm. Kết quả nghiên cứu của
Garcia-Teruel và Martinez-Solano (2010b) cũng ủng hộ Huyghebaert (2006).
Tuy nhiên trái ngƣợc với lý thuyết này, Niskanen & Niskanen (2006) tuyên bố
các khoản phải trả vẫn tăng trong thời kỳ phát triển kinh tế. Giải thích cho điều

này, đó là trong thời kỳ nền kinh tế phát triển, các công ty có nhiều cơ hội sẽ có
nhiều cơ hội đầu tƣ hơn nên đã sử dụng tín dụng thƣơng mại nhiều hơn để hỗ trợ
hoạt động sản xuất kinh doanh của họ.
Ngoài ra, Fisman và Love (2003) và Nguyễn và cộng sự (1999) khẳng
định việc sử dụng tín dụng thƣơng mại là khác nhau giữa các ngành công nghiệp.
Bởi vì một số ngành công nghiệp không có hàng tồn kho hữu hình nên không cần
tín dụng thƣơng mại nhƣ các công ty dịch vụ công nghệ và nhà hàng, nó hoàn
toàn khác với các ngành công nghiệp có hàng tồn kho hữu hình (Niskanen và
Niskanen, 2006).
Bên cạnh đó, Smith (1987) cho biết trong cùng một ngành, các điều khoản
về tín dụng thƣơng mại không đổi vì cả nhà cung cấp và khách hàng đều phải đối
mặt với cùng điều kiện thị trƣờng. Đối với những ngƣời mua trong cùng ngành
thì sự cung cấp tín dụng thƣơng mại là nhƣ nhau. Trong nhiều nghiên cứu thì
biến ngành công nghiệp thƣờng đƣợc chọn làm biến giả để xác định vai trò của
nó trong việc ảnh hƣởng đến mức tín dụng thƣơng mại (Delannay và Weill,
2004; Huyghebaert, 2006).

142


Các nhân tố thuộc về nội tại doanh nghiệp:
Sự chênh lệch giữa khoản phải thu và khoản phải trả đƣợc gọi là tín dụng
thƣơng mại ròng (Vaidya, 2011). Nó đƣợc xác định bằng (khoản phải thu trừ
khoản phải trả) chia cho doanh thu. Khi nghiên cứu về tín dụng thƣơng mại của
một công ty thì cần phải xem xét biến này để biết đƣợc công ty đang nghiêng về
cung hay nhận tín dụng thƣơng mại hơn và nhân tố nào ảnh hƣởng đến tín dụng
thƣơng mại ròng.
Thứ nhất là số năm hoạt động của công ty. Theo Trần Ái Kết (2017) số
năm hoạt động có tác động tích cực đến tín dụng thƣơng mại ròng, vì nó cũng là
yếu tố tác động tích cực tới khoản phải thu theo nhiều nghiên cứu (Petersen và

Rajan, 1997; Niskanen và Niskanen, 2006; Bougheas và cộng sự, 2009; Khan và
cộng sự, 2012; Shi và cộng sự, 2016 và Trần Ái Kết, 2017). Điều đó có nghĩa là
khi công ty hoạt động càng lâu thì cung cấp tín dụng cho khách hàng nhiều hơn
là đi chiếm dụng vốn của nhà cung cấp.
Thứ hai là quy mô của công ty. Nadiri (1969) cho rằng mối quan hệ giữa
quy mô công ty và tín dụng thƣơng mại ròng là đồng biến. Tức là doanh nghiệp
có quy mô càng lớn thì càng cho khách hàng chiếm dụng vốn nhiều hơn là công
ty chiếm dụng vốn của nhà cung cấp. Trái với quan điểm đó, kết quả nghiên cứu
của Phan Đình Nguyên và Trƣơng Thị Hồng Nhung (2014) và Trần Ái Kết
(2017) chỉ ra rằng quy mô công ty và tín dụng thƣơng mại ròng có tƣơng quan
âm. Tức là quy mô càng nhỏ thì tỷ lệ tín dụng thƣơng mại ròng càng cao và
ngƣợc lại. Bởi vì khi quy mô nhỏ, doanh nghiệp sẽ đƣa ra nhiều biện pháp để thu
hút khách hàng bằng cách gia tăng tín dụng và kéo dài thời hạn thanh toán. Còn
đối với nhƣng doanh nghiệp có quy mô lớn, thông thƣờng lƣợng khách hàng đã
ổn định, việc bán hàng đã đi vào nề nếp, chính sách quản lý công nợ đƣợc duy trì
chặt chẽ, doanh nghiệp đã có vị thế riêng trên thị trƣờng hơn so với các doanh
nghiệp nhỏ, nên không cần tăng tín dụng thƣơng mại cho khách hàng. Trong khi
đó Vaidya (2011) lại không tìm thấy mối quan hệ giữa quy mô và tín dụng
thƣơng mại ròng.
Thứ ba là dòng tiền thuần. Theo kết quả nghiên cứu của Phan Đình
Nguyên và Trƣơng Thị Hồng Nhung (2014) thì mối quan hệ giữa dòng tiền thuần
và tín dụng thƣơng mại ròng là không có ý nghĩa thống kê.

143


Thứ tư là tài chính ngắn hạn.Theo Vaidya (2011) thì tài chính ngắn hạn
có quan hệ nghịch biến với tín dụng thƣơng mại ròng. Bởi vì nếu công ty sử dụng
càng nhiều nợ ngắn hạn thì cũng chịu nhiều áp lực phải trả nợ trong ngắn hạn, vì
thế công ty có nhiều nợ ngắn hạn thì sẽ giảm tỷ lệ tín dụng thƣơng mại cho khách

hàng để thu đƣợc lƣợng tiền mặt nhanh, góp phần thanh toán các khoản nợ ngắn
hạn. Trái lại, Phan Đình Nguyên và Trƣơng Thị Hồng Nhung (2014) và Trần Ái
Kết (2017) cho rằng giữa tài chính ngắn hạn và tín dụng thƣơng mại ròng có
tƣơng quan dƣơng. Họ lý giải là do khi tài chính ngắn hạn nhiều, tức tỷ lệ nợ
ngắn hạn ngân hàng tăng cao có thể phản ánh các nhà cung cấp đang gặp sự thiếu
hụt về tài chính, do đó nhà cung cấp thƣờng đẩy mạnh việc bán hàng, nâng cao tỷ
lệ tín dụng và đƣa ra chính sách tín dụng mở rộng cho khách hàng để bán đƣợc
nhiều hàng hóa nhằm gia tăng doanh thu, góp phần chi trả các khoản nợ ngắn hạn
ngân hàng.
Thứ năm là chi phí tài chính. Nadiri (1969) cho rằng mối quan hệ giữa chi
phí tài chính và tín dụng thƣơng mại ròng là nghịch biến. Bởi vì khi lãi suất ngân
hàng tăng cao thì công ty sẽ có xu hƣớng giảm số tiền vay nợ từ các tổ chức tín
dụng, đồng thời tăng cƣờng chiếm dụng vốn của nhà cung cấp và giảm cấp tín
dụng cho khách hàng. Do đó các khoản phải trả sẽ tăng và các khoản phải thu sẽ
giảm, làm giảm tín dụng thƣơng mại ròng.
Thứ sáu là tăng trưởng doanh thu. Kết quả nghiên cứu của Trần Ái Kết
(2017) cho thấy công ty có tăng trƣởng doanh thu cao thì tín dụng thƣơng mại
ròng sẽ lớn. Bởi vì khi các công ty theo đuổi chiến lƣợc tăng trƣởng doanh thu thì
sẽ cấp tín dụng thƣơng mại nhiều nhằm thu hút khách hàng hơn là sử dụng vốn
của nhà cung cấp, dẫn đến khoản phải thu nhiều hơn khoản phải trả, do đó tín
dụng thƣơng mại ròng sẽ mang dấu dƣơng. Nghĩa là mối quan hệ giữa tăng
trƣởng doanh thu và tín dụng thƣơng mại ròng là đồng biến. Trái lại, Phan Đình
Nguyên và Trƣơng Thị Hồng Nhung (2014) khẳng định giữa tăng trƣởng doanh
thu và tín dụng thƣơng mại ròng có mối tƣơng quan nghịch. Điều này đƣợc giải
thích là do khi tỷ lệ tăng trƣởng doanh thu giảm thì công ty sẽ có xu hƣớng kích
thích tăng trƣởng doanh thu bằng cách tăng tỷ lệ tín dụng thƣơng mại, kéo dài kỳ
hạn thanh toán cho khách hàng nhằm thu hút khách hàng, dẫn đến khoản phải thu
tăng. Trong trƣờng hợp ngƣợc lại khi tăng trƣởng doanh thu tăng thì công ty
không cần tăng mức tín dụng để kích thích tăng doanh thu thêm nữa. Vì nếu tăng


144


trƣởng doanh thu đã đạt mức kỳ vọng thì việc cấp thêm tín dụng thƣơng mại có
thể gây ra rủi ro và làm giảm lợi nhuận cho công ty.
Thứ bảy là khả năng thanh khoản. Kết quả nghiên cứu của Nadiri(1969),
Phan Đình Nguyên và Trƣơng Thị Hồng Nhung (2014) và Trần Ái Kết (2017)
đều chứng minh mối quan hệ giữa khả năng thanh khoản và tín dụng thƣơng mại
ròng là nghịch biến. Tuy nhiên, theo Vaidya (2011) thì khả năng thanh khoản và
tín dụng thƣơng mại ròng có quan hệ đồng biến, tức là khi doanh nghiệp có tính
thanh khoản cao thì doanh nghiệp sẽ cấp thêm tín dụng thƣơng mại cho khách
hàng nhiều hơn là nhận tín dụng thƣơng mại từ nhà cung cấp.
Thứ tám là doanh lợi doanh thu. Mối quan hệ giữa doanh lợi doanh thu và
tín dụng thƣơng mại ròng là nghịch biến (Vaidya, 2011). Điều này đƣợc giải
thích là khi doanh nghiệp có tỷ suất doanh lợi doanh thu cao, tức lợi nhuận cao
thì sẽ không có nhu cầu gia tăng doanh thu thêm nữa, do đó hạn chế cấp tín dụng
thƣơng mại cho khách hàng nên khoản phải thu sẽ giảm và tín dụng thƣơng mại
ròng sẽ giảm.
Thứ chín là tỷ lệ hàng tồn kho. Nghiên cứu của Vaidya (2011), Phan Đình
Nguyên và Trƣơng Thị Hồng Nhung (2014) đều kết luận rằng mối quan hệ giữa
tỷ lệ hàng tồn kho và tín dụng thƣơng mại ròng là nghịch biến. Bởi vì, khi
lƣợng hàng tồn kho tăng, để giải phóng đƣợc lƣợng hàng tồn kho thì doanh
nghiệp sẽ có những ƣu đãi cho khách hàng nhƣ sử dụng chính sách tín dụng
thƣơng mại để kích thích khách hàng mua hàng nhằm giảm lƣợng hàng tồn kho,
đồng thời khoản phải thu tăng lên. Cùng với đó, khi hàng tồn kho còn nhiều thì
doanh nghiệp trì hoãn trả nợ nhà cung cấp hơn làm khoản phải trả tăng lên. Do
tốc độ tăng của khoản phải thu thấp hơn khoản phải trả nên tín dụng thƣơng mại
ròng giảm. Trong khi đó, kết quả nghiên cứu của Trần Ái Kết (2017) thì mối
quan hệ giữa tỷ lệ hàng tồn kho và tín dụng thƣơng mại ròng là không có ý nghĩa
thống kê.

Từ những phân tích tổng quan, các nhân tố ảnh hƣởng tới tín dụng thƣơng
mại ròng của các nghiên cứu trƣớc đây đƣợc tổng hợp tại Bảng 1, nhƣ sau:

145


Bảng 1. Tổng hợp các nhân tố ảnh hƣởng đến tín dụng thƣơng mại ròng
Các nhân tố ảnh hƣởng

Kết quả thực nghiệm

của doanh nghiệp
Số năm hoạt động

(+) Trần Ái Kết (2017)
(+) Nadiri(1969)
(Không có ý nghĩa) Vaidya (2011)

Quy mô

(-) Phan Đình Nguyên và Trƣơng Thị Hồng Nhung (2014)
(-) Trần Ái Kết (2017)

Dòng tiền thuần

(Không có ý nghĩa) Phan Đình Nguyên và Trƣơng Thị
Hồng Nhung (2014)
(-) Vaidya (2011)

Tài chính ngắn hạn


(+) Phan Đình Nguyên và Trƣơng Thị Hồng Nhung (2014)
(+) Trần Ái Kết (2017)

Chi phí tài chính
Tăng trƣởng doanh thu

(-) Nadiri (1969)
(-) Phan Đình Nguyên và Trƣơng Thị Hồng Nhung (2014)
(+) Trần Ái Kết (2017)
(-) Nadiri (1969)

Khả năng thanh khoản

(+) Vaidya (2011)
(-) Phan Đình Nguyên và Trƣơng Thị Hồng Nhung (2014)
(-) Trần Ái Kết (2017)

Doanh lợi doanh thu

(-) Vaidya (2011)
(-) Vaidya (2011)

Tỷ lệ hàng tồn kho

(-) Phan Đình Nguyên và Trƣơng Thị Hồng Nhung (2014)
(Không có ý nghĩa) Trần Ái Kết (2017)

Nguồn: Tổng hợp của các tác giả
Nhƣ vậy, tín dụng thƣơng mại từ lâu đã thu hút đƣợc sự quan tâm rộng rãi

của các nhà nghiên cứu thực tiễn trên thế giới về các nhân tố tố ảnh hƣởng đến
nó. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, đối với ngƣời mua thì tín dụng thƣơng mại
không chỉ là nguồn vốn bổ sung phổ biến, mà còn là một bộ phận nguồn vốn
146


quan trọng của doanh nghiệp ở mọi qui mô và trong nhiều lĩnh vực ở các quốc
gia khác nhau. Đối với ngƣời bán thì tín dụng thƣơng mại là một trong những
công cụ để đẩy nhanh lƣợng hàng bán ra nhằm tăng doanh thu. Tuy nhiên, các
kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sự không thống nhất về các nhân tố ảnh hƣởng
đến tín dụng thƣơng mại, nguyên nhân là do đặc điểm kinh tế thị trƣờng ở các
nƣớc khác nhau và mỗi nhóm ngành khác nhau sẽ có mức độ sử dụng chính sách
tín dụng thƣơng mại khác nhau. Ở Việt Nam hiện nay thì chỉ có nghiên cứu của
Phan Đình Nguyên và Trƣơng Thị Hồng Nhung (2014) cho các công ty niêm yết,
còn Trần Ái Kết (2016, 2017) chỉ tập trung một ngành, hay một phần của tín
dụng thƣơng mại (các khoản phải trả). Nhƣng kết quả còn có nhiều tranh cãi và
các nhân tố ảnh hƣởng chƣa thật sự toàn diện. Hơn nữa, có một nhân tố cũng có
khả năng ảnh hƣởng đến tín dụng thƣơng mại ròng mà chƣa đƣợc bất cứ nghiên
cứu nào kiểm định đó là dự phòng phải thu khó đòi. Chính vì vậy, bài viết này
tập trung nghiên cứu và kiểm chứng mối quan hệ giữa các nhân tố nội tại của
doanh nghiệp ảnh nhƣ thế nào đến chính sách tín dụng thƣơng mại của các doanh
nghiệp Việt Nam. Mẫu nghiên cứu bao gồm 326 công ty niêm yết trên thị trƣờng
chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2013-2017. Kết quả nghiên cứu dự kiến
sẽ góp phần kiểm chứng mối quan hệ giữa các biến tài chính đến tín dụng thƣơng
mại ròng của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam.
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
3.1. Dữ liệu
Dữ liệu nghiên cứu bao gồm các báo cáo tài chính đã đƣợc kiểm toán
đƣợc lấy từ Tổng cục Thống kê Việt Nam của các công ty phi tài chính đƣợc
niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hà Nội (HNX) và Sở giao

dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) trong giai đoạn từ năm 2013
đến năm 2017. Nghiên cứu sử dụng theo chuẩn phân loại ngành phổ biến nhất
hiện nay là ICB (Industry Classification Benchmark). ICB phân chia các ngành
trong nền kinh tế thành 10 nhóm ngành bao gồm: dầu khí, vật liệu cơ bản, cộng
nghiệp, hàng tiêu dùng, y tế, dịch vụ tiêu dùng, viễn thông, các dịch vụ hạ tầng,
tài chính và công nghệ.
Mẫu đƣợc chọn theo phƣơng pháp chọn mẫu ngẫu nhiên. Sau khi thu thập
dữ liệu, tác giả loại ra những công ty có đặc thù không phù hợp với mục tiêu
nghiên cứu theo những tiêu chí sau:
- Các công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính nhƣ các ngân hàng, các

147


công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán và các quỹ đầu tƣ có tính đặc thù riêng
nên khó xác định chính sách tín dụng thƣơng mại.
- Các công ty hoạt động trong lĩnh vực dầu khí cũng bị loại bỏ bởi số
lƣợng công ty có đầy đủ dữ liệu trong 5 năm liên tục quá ít (3 công ty) nên không
khách quan cho việc phân tích nhóm ngành.
- Các công ty không có đầy đủ dữ liệu hoặc dữ liệu có sự bất thƣờng cũng
bị loại bỏ.
- Các công ty không có đủ dữ liệu ít nhất trong 5 năm liên tiếp từ 2013 –
2017 sẽ bị loại bỏ do không đủ số năm cần thiết để kiểm định hiện tƣợng tƣơng
quan chuỗi nhằm đƣa ra kết quả và có thể dự báo xu hƣớng chính xác hơn.
Cuối cùng tác giả thu đƣợc bảng dữ liệu của 326 công ty cổ phần phi tài
chính niêm yết trên sở giao dịch HNX và HOSE đƣợc cung cấp bởi Tổng cục thống
kê Việt Nam trong khoảng thời gian từ 2013-2017 với khoảng 1630 quan sát.
Bảng 2: Tổng hợp phân loại ngành
Tiêu chí


Ngành kinh doanh

Phân loại
Các dịch vụ hạ tầng
Công nghệ
Công nghiệp
Dịch vụ tiêu dùng
Hàng tiêu dùng
Vật liệu cơ bản
Y tế

Tổng
Nguồn: Tổng hợp số liệu khảo sát của cáctác giả

Tuyệt đối Tƣơng đối
27
19
113
39
56
58
14
326

8.28%
5.83%
34.66%
11.96%
17.18%
17.79%

4.29%
100%

3.2. Mô hình nghiên cứu
Mô hình kiểm định các nhân tố ảnh hƣởng đến tín dụng thƣơng mại ròng
của doanh nghiệp:
NTCit = β0 + β1PROVIit+ β2GROWTHit + β3SIZEit + β4LAGEit + β5STLEVit
+ β6FCOSTit + β7CFLOWit + β8GPROFit + β9INVENit + β10LIQit + εit
Trong đó:
- Biến phụ thuộc:
NTCit – Tín dụng thƣơng mại ròng: Biến phụ thuộc đƣợc xây dựng theo

148


(Vaidya, 2011). NTC đƣợc xác định bằng chênh lệch giữa khoản phải thu và
khoản phải trả chia cho doanh thu. Tỷ số này cho biết công ty đang chiếm dụng
vốn của nhà cung cấp (NTC < 0), hay công ty đang bị khách hàng chiếm dụng
vốn (NTC > 0).
Phải thu khách hàng bình quân – Phải trả ngƣời bán bình quân
NTCit =

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

- Biến độc lập:
PROVI - Tỷ lệ dự phòng phải thu khó đòi (Provision for bad debts). Chỉ
tiêu này cho biết mức dự phòng phải thu khó đòi trong tổng tài sản. Đây là một
nhân tố cũng góp phần không nhỏ ảnh hƣởng đến tín dụng thƣơng mại ròng của
doanh nghiệp mà chƣa đƣợc nghiên cứu nào đề cập tới nên cần đƣợc kiểm chứng
bằng thực nghiệm. Healy (1985) cho rằng các nhà quản lý cần có kế hoạch bảo

đảm khi có rủi ro xảy ra nhƣ chi phí tăng hoặc doanh thu giảm nhằm giảm mức
thiệt hại nhiều nhất có thể. Đồng quan điểm với Healy (1985), McNichols và
Wilson (1988) và DeAngelo (1988) cũng cho biết khi doanh nghiệp có các khoản
thu nhập không ổn định (cao hoặc thấp) thì cần phải sử dụng các khoản dự phòng.
Bởi vì nếu không có trích lập trƣớc thì khi có rủi ro xảy ra, không thu hồi đƣợc nợ
phải thu sẽ gây ảnh hƣởng lớn tới tình hình tài chính của doanh nghiệp, do đó việc
trích lập sẽ làm đảm bảo hơn cho các tài sản này trƣớc những biến động trên thị
trƣờng. Bên cạnh đó, dự phòng phải thu khó đòi cũng chính là chi phí của doanh
nghiệp và phản ánh mức rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải. Nếu dự phòng
phải thu khó đòi gia tăng thì làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp giảm.
Tại Việt Nam, việc trích lập dự phòng phải thu khó đòi đƣợc thực hiện
theo Thông tƣ 228/2009/TT-BTC ngày 07/12/2009 của Bộ Tài chính hƣớng dẫn
chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, tổn thất
các khoản đầu tƣ tài chính, nợ phải thu khó đòi và bảo hành sản phẩm, hàng hóa,
công trình xây lắp tại doanh nghiệp. Tại Khoản 2 Điều 3 định nghĩa “Dự phòng
nợ phải thu khó đòi là dự phòng phần giá trị bị tổn thất của các khoản nợ phải thu
quá hạn thanh toán, nợ phải thu chƣa quá hạn nhƣng có thể không đòi đƣợc do
khách nợ không có khả năng thanh toán”. Thông tƣ 228/2009/TT-BTC cũng có
quy định về điều kiện và phƣơng pháp trích lập dự phòng tại Điều 6. Tuy nhiên,
khi vấn đề minh bạch tài chính ở nƣớc ta còn chƣa đƣợc đảm bảo thì việc trích
lập dự phòng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Các khoản trích lập dự phòng
149


đƣợc xem nhƣ là chi phí của doanh nghiệp, do đó doanh nghiệp sẽ đƣợc giảm
một phần số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Tuy nhiên, đối với nhiều công
ty cổ phần niêm yết, việc trích lập dự phòng sẽ làm giảm lợi nhuận của doanh
nghiệp, ảnh hƣởng đến giá trị thị trƣờng của cổ phiếu. Do đó, họ có thể sẽ giảm
trích lập dự phòng, chấp nhận đóng thuế cao để che giấu đi các khoản lỗ hoặc
tiềm tàng lỗ để không ảnh hƣởng đến giá trị thị trƣờng của cổ phiếu.

Vì vậy, nếu dự phòng phải thu khó đòi tăng cho biết rủi ro doanh nghiệp
có khả năng tăng, nên doanh nghiệp sẽ hạn chế cấp thêm tín dụng thƣơng mại
cho khách hàng, đồng thời tăng cƣờng chiếm dụng vốn từ nhà cung cấp. Tuy
nhiên, dự phòng phải thu khó đòi tăng thì cũng có thể làm khoản phải thu tăng.
Bởi vì khi dự phòng phải thu khó đòi tăng làm giảm lợi nhuận của doanh
nghiệp nên công ty tăng cƣờng thực hiện chính sách tín dụng thƣơng mại dẫn
đến khoản phải thu tăng lên, kích thích tăng doanh thu và lợi nhuận. Do đó,
nghiên cứu không có một dự báo rõ ràng nào cho mối quan hệ giữa dự phòng
phải thu khó đòi và tín dụng thƣơng mại ròng. Điều này sẽ đƣợc kiểm chứng
bằng thực nghiệm.
H1: Tác động của tỷ lệ dự phòng phải thu khó đòi đến tín dụng thƣơng
mại ròng có thể cùng chiều hoặc ngƣợc chiều.
GROWTHit – T ng trƣởng doanh thu. Nó đƣợc tính bằng (doanh thu
năm hiện tại trừ đi năm trƣớc) và chia cho doanh thu năm trƣớc (Garcia-Teruel
và Martinez-Solano, 2010a). Biến này cho biết tốc độ tăng trƣởng doanh thu bán
hàng trong một năm. Theo Trần Ái Kết (2017) thì tăng trƣởng doanh thu và tín
dụng thƣơng mại ròng có mối quan hệ đồng biến vì khi công ty theo chiến lƣợc
tăng trƣởng doanh thu thì sẽ cấp tín dụng thƣơng mại cho khách hàng nhiều hơn
để thu hút khách hàng. Tuy nhiên, Phan Đình Nguyên và Trƣơng Thị Hồng
Nhung (2014) khẳng định tăng trƣởng doanh thu có tƣơng quan âm với tín dụng
thƣơng mại ròng. Lý do là vì khi tăng trƣởng doanh thu tăng thì công ty không cần
tăng doanh thu thông qua việc tăng cƣờng chính sách tín dụng nữa nên khoản phải
thu sẽ giảm. Đồng thời công ty sẽ ít có nhu cầu sử dụng vốn từ nhà cung cấp làm
giảm khoản phải trả. Mà tốc độ giảm của khoản phải thu nhanh hơn tốc độ giảm của
khoản phải trả nên tín dụng thƣơng mại ròng sẽ giảm. Vì vậy, nghiên cứu không có
một dự báo rõ ràng nào cho mối quan hệ giữa tăng trƣởng doanh thu và tín dụng
thƣơng mại ròng. Điều này sẽ đƣợc kiểm chứng bằng thực nghiệm.

150



H2: Tác động của tăng trƣởng doanh thu đến tín dụng thƣơng mại ròng có
thể cùng chiều hoặc ngƣợc chiều.
SIZEit – Quy mô của công ty. SIZE đƣợc xác định bằng logarit của tổng
doanh thu (Martínez-Sola và cộng sự, 2012). Quy mô công ty có mối tƣơng quan
dƣơng với tín dụng thƣơng mại ròng vì công ty có quy mô càng lớn thì càng ít
chiếm dụng vốn của nhà cung cấp, đồng thời cung cấp tín dụng thƣơng mại cho
khách hàng nhiều hơn, do đó tín dụng thƣơng mại ròng tăng (Nadiri, 1969). Tuy
nhiên, Phan Đình Nguyên và Trƣơng Thị Hồng Nhung (2014) và Trần Ái Kết
(2017) đều cho là mối quan hệ giữa quy mô công ty và tín dụng thƣơng mại ròng
là nghịch biến. Trong khi đó, Vaidya (2011) lại không tìm thấy mối quan hệ giữa
quy mô và tín dụng thƣơng mại ròng. Do vậy, nghiên cứu không có một dự báo
rõ ràng nào cho mối quan hệ giữa quy mô công ty và tín dụng thƣơng mại ròng.
Điều này sẽ đƣợc kiểm chứng bằng thực nghiệm.
H3: Tác động của quy mô công ty đến tín dụng thƣơng mại ròng có thể
cùng chiều hoặc ngƣợc chiều.
LAGEit – Số n m hoạt động. LAGE đƣợc định nghĩa là logarit của (1 +
số năm hoạt động của doanh nghiệp), hay nói cách khác là số năm kể từ khi công
ty đƣợc thành lập (Garcia-Teruel và Martinez-Solano, 2010a). Số năm hoạt động
của công ty có tƣơng quan dƣơng với tín dụng thƣơng mại ròng, tức là công ty
hoạt động càng lâu thì cung cấp tín dụng cho khách hàng nhiều hơn là đi chiếm
dụng vốn của nhà cung cấp (Trần Ái Kết, 2017). Vì vậy, nghiên cứu cũng kỳ
vọng sẽ có quan hệ đồng biến giữa số năm hoạt động và tín dụng thƣơng mại
ròng của công ty.
H4: Tác động của số năm hoạt động đến tín dụng thƣơng mại ròng là
cùng chiều.
STLEVit – Tài chính ngắn hạn. Nó đo lƣờng khả năng tiếp cận nguồn tài
chính bên ngoài của một công ty và đƣợc tính bằng tỷ số giữa nợ ngắn hạn và
doanh thu (Garcia-Teruel và Martinez-Solano, 2010a). Chỉ tiêu này phản ánh để
tạo ra một đồng doanh thu thì cần bao nhiêu đồng nợ ngắn hạn. Nếu nợ ngắn hạn

gia tăng thì công ty sẽ chịu nhiều áp lực phải trả nợ trong ngắn hạn, vì thế công
ty có nhiều nợ ngắn hạn thì sẽ giảm tỷ lệ tín dụng thƣơng mại cho khách hàng,
nghĩa là khoản phải thu giảm để thu đƣợc lƣợng tiền mặt nhanh, góp phần thanh
toán các khoản nợ ngắn hạn. Đồng thời công ty sẽ tăng cƣờng chiếm dụng vốn
151


của nhà cũng cấp, dẫn đến tín dụng thƣơng mại ròng giảm (Vaidya, 2011). Nhƣ
vậy tài chính ngắn hạn có tƣơng quan âm với tín dụng thƣơng mại ròng. Ngƣợc
lại, Phan Đình Nguyên và Trƣơng Thị Hồng Nhung (2014) và Trần Ái Kết
(2017) cho rằng mối quan hệ giữa tài chính ngắn hạn và tín dụng thƣơng mại
ròng là đồng biến. Do đó, nghiên cứu không có một dự báo rõ ràng nào cho mối
quan hệ giữa tài chính ngắn hạn và tín dụng thƣơng mại ròng. Điều này sẽ đƣợc
kiểm chứng bằng thực nghiệm.
H5: Tác động của tài chính ngắn hạn đến tín dụng thƣơng mại ròng có thể
cùng chiều hoặc ngƣợc chiều.
FCOSTit – Chi phí tài chính. Nó đƣợc xác định bằng chi phí tài chính
chia cho (tổng nợ trừ các khoản phải trả) (Garcia-Teruel và Martinez-Solano,
2010a). Chỉ tiêu này cho biết chi phí tài chính cho việc sử dụng nguồn tài trợ
từ bên ngoài mà không bao gồm khoản chiếm dụng vốn của ngƣời bán. Mối
quan hệ giữa chi phí tài chính và tín dụng thƣơng mại ròng là nghịch biến
(Nadiri, 1969). Khi chi phí tài chính gia tăng thì các công ty giảm vay nợ từ
các ngân hàng, mà tìm nguồn vốn từ các nhà cung cấp thông qua tín dụng
thƣơng mại, đồng thời hạn chế cấp tín dụng thƣơng mại, dẫn đến cho tín dụng
thƣơng mại ròng giảm. Vì thế, nghiên cứu kỳ vọng biến này có tƣơng quan âm
với tín dụng thƣơng mại ròng.
H6: Tác động của chi phí tài chính đến tín dụng thƣơng mại ròng là
ngƣợc chiều.
CFLOWit – Dòng tiền thuần. Nó đƣợc định nghĩa là lợi nhuận mà một
công ty có thể tự tạo ra trong một khoảng thời gian và đƣợc xác định bằng (lợi

nhuận ròng cộng khấu hao) chia tổng doanh thu (Garcia-Teruel và MartinezSolano, 2010a). Chỉ tiêu này thể hiện trong một đồng doanh thu bán hàng thì có
bao nhiêu đồng dòng tiền thuần. Dòng tiền thuần có mối quan hệ đồng biến với
tín dụng thƣơng mại ròng. Bởi vì khi doanh nghiệp có dòng tiền thuần lớn thì có
thể cung cấp tài chính cho khách hàng của họ thông qua tín dụng thƣơng mại hơn
là nhận tín dụng thƣơng mại từ nhà cung cấp. Do vậy, nghiên cứu kỳ vọng biến
này có tƣơng quan dƣơng với tín dụng thƣơng mại ròng.
H7: Tác động của dòng tiền thuần đến tín dụng thƣơng mại ròng là cùng chiều.
GPROFit – Doanh lợi doanh thu. Nó đƣợc tính bằng lợi nhuận gộp chia
doanh thu (Garcia-Teruel và Martinez-Solano, 2010a). Chỉ tiêu này thể hiện một
152


đồng doanh thu tạo ra đƣợc bao nhiêu đồng lợi nhuận gộp. Khi doanh lợi doanh
thu tăng thì doanh nghiệp sẽ hạn chế cấp tín dụng thƣơng mại cho khách hàng
bởi vì doanh nghiệp không có động lực kích thích tăng doanh thu hơn nữa, nên
khoản phải thu giảm, dẫn đến tín dụng thƣơng mại ròng giảm. Nhƣ vậy, mối
quan hệ giữa doanh lợi doanh thu và tín dụng thƣơng mại ròng là nghịch biến
(Vaidya, 2011). Vì thế, nghiên cứu kỳ vọng biến này có tƣơng quan âm với tín
dụng thƣơng mại ròng.
H8: Tác động của doanh lợi doanh thu đến tín dụng thƣơng mại
rònglàngƣợc chiều.
INVENit – Tỷ lệ hàng tồn kho. Nó đƣợc xác định bằng hàng tồn kho chia
cho doanh thu bán hàng. Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng hàng tồn kho so với
doanh thu bán hàng (Vaidya, 2011). Mối quan hệ giữa tỷ lệ hàng tồn kho và tín
dụng thƣơng mại ròng là nghịch biến (Vaidya, 2011; Phan Đình Nguyên và
Trƣơng Thị Hồng Nhung, 2014). Bởi vì để giải phóng đƣợc lƣợng hàng tồn kho
tăng lên thì doanh nghiệp sẽ mở rộng tín dụng thƣơng mại nhằm thu hút ngƣời
mua làm khoản phải thu tăng lên. Thêm vào đó, doanh nghiệp do chƣa giảm
đƣợc lƣợng hàng tồn kho nên sẽ trì hoãn thanh toán cho ngƣời bán làm khoản
phải trả tăng. Nhƣng do tốc độ tăng khoản phải thu thấp hơn khoản phải trả nên

tín dụng thƣơng mại ròng giảm. Vì vậy, nghiên cứu kỳ vọng tỷ lệ hàng tồn kho
có tƣơng quan âm với tín dụng thƣơng mại ròng.
H9: Tác động của tỷ lệ hàng tồn kho đến tín dụng thƣơng mại ròng là
ngƣợc chiều.
LIQit – Khả n ng thanh khoản. Nó đƣợc xác định bằng tiền và đầu tƣ tài
chính ngắn hạn chia cho nợ ngắn hạn (Nadiri , 1969). Chỉ tiêu này cho biết một
đồng nợ ngắn hạn đƣợc bảo đảm bởi bao nhiêu đồng tiền và chứng khoán ngắn
hạn, vì vậy đây là chỉ tiêu phản ánh cao nhất khả năng chuyển đổi tài sản thành
tiền để thanh toán nợ ngắn hạn cho doanh nghiệp. Khi công ty có tính thanh
khoản tốt thì công ty sẽ sẵn sàng cho khách hàng trả chậm tiền hàng, dẫn đến tín dụng
thƣơng mại ròng tăng (Vaidya, 2011). Tuy nhiên, Nadiri (1969), Phan Đình Nguyên
và Trƣơng Thị Hồng Nhung (2014), Trần Ái Kết (2017) lại cho rằng khi công ty có
tính thanh khoản tốt thì sẽ giảm tín dụng thƣơng mại ròng. Do vậy, nghiên cứu không
có một dự báo rõ ràng nào cho mối quan hệ giữa khả năng thanh khoản và tín dụng
thƣơng mại ròng. Điều này sẽ đƣợc kiểm chứng bằng thực nghiệm.

153


H10: Tác động của khả năng thanh khoản đến tín dụng thƣơng mại ròng
có thể cùng chiều hoặc ngƣợc chiều.
εit: là sai số
Bảng 3: Kỳ vọng nghiên cứu các nhân tố tác động đến tín dụng thƣơng mại ròng
Biến độc lập
Tỷ lệ dự phòng
phải thu
khó đòi
Tăng trƣởng
doanh thu


Đo lƣờng

Ký hiệu
PROVI

GROWTH

│Dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi BQ│
Doanh thu BH và CCDV
Doanh thu BH và
Doanh thu BH và
CCDV năm t
CCDV năm t-1

Kỳ vọng
về dấu
+/-

+/-

Doanh thu BH và CCDV năm t-1

Quy mô

SIZE

SIZE = Ln (Tổng doanh thu)

+/-


Số năm
hoạt động

LAGE

LAGE = Ln (1 + Số năm hoạt động)

+

Tài chính
ngắn hạn

STLEV

Chi phí
tài chính

FCOST

Dòng tiền thuần

CFLOW

Doanh lợi
doanh thu

GPROF

Tỷ lệ
hàng tồn kho


INVEN

Nợ ngắn hạn bình quân
Doanh thu BH và CCDV
Chi phí tài chính
Nợ phải trả BQ - Phải trả ngƣời bán BQ

Khả năng thanh
LIQ
khoản

Lợi nhuận sau thuế + Chi phí khấu hao
Doanh thu BH và CCDV
Lợi nhuận gộp về BH và CCDV
Doanh thu BH và CCDV
Hàng tồn kho bình quân
Doanh thu BH và CCDV
Tiền và đầu tƣ tài chính ngắn hạn
Nợ ngắn hạn

+/+
+/-

Nguồn: Tổng hợp của cáctác giả
3.3. Phương pháp kiểm định
Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến và dữ liệu bảng
cho các doanh nghiệp Việt Nam với sự hỗ trợ của phần mềm Stata 14.0. Để phân
tích các nhân tố ảnh hƣởng đến tín dụng thƣơng mại ròng, nghiên cứu sử dụng
mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model - REM), mô hình tác động

cố định (Fixed Effects Model - FEM). Tác giả sử dụng kiểm định F để lựa chọn
154


giữa hai mô hình FEM và OLS, kiểm định Breusch-Pagan để lựa chọn giữa hai mô
hình REM và OLS, kiểm định Hausman để lựa chọn giữa hai mô hình FEM và REM.
Đồng thời, với hai mô hình FEM và REM, để kiểm tra hiện tƣợng phƣơng sai sai số
thay đổi tác giả sử dụng kiểm định Wald (đối với mô hình FEM), kiểm định BreuschPagan (đối với mô hình REM) và sử dụng kiểm định Wooldridge để phát hiện hiện
tƣợng tự tƣơng quan. Bên cạnh đó, tác giả dùng mô hình FGLS - Feasible Generalized
Least Squares để khắc phục hiện tƣợng phƣơng sai sai số thay đổi và hiện tƣợng
tƣơng quan của hai mô hình FEM và REM. Hơn nữa, để kiểm định tính vững chắc
của mô hình, tác giả sử dụng mô hình GMM - Generalized Method of Moments đƣợc
nghiên cứu bởi Arellano và Bond (1991). Mô hình GMM không những giúp khắc
phục các khuyết tật trong mô hình nhƣ phƣơng sai sai số thay đổi, tự tƣơng quan mà
nó còn khắc phục đƣợc hiện tƣợng nội sinh trong mô hình. Chúng tôi áp dụng kiểm
định Hansen để kiểm định tính hiệu lực của mô hình và kiểm định Arellano-Bond
nhằm kiểm định về tự tƣơng quan trong mô hình.
4. Kết quả kiểm định
4.1. Thống kê mô tả các biến
Bảng 4: Giá trị trung bình của các biến
Ngành
Biến

Các dịch
vụ hạ
tầng

Công
nghệ


Công
nghiệp

Dịch
vụ tiêu
dùng

Hàng
tiêu
dùng

Vật liệu
cơ bản

Y tế

Toàn
ngành

NTC

0.0277

0.2404

0.1237

0.0195 0.0538

0.0808


0.1816 0.0929

PROVI

0.0051

0.0271

0.0283

0.0315 0.0126

0.0147

0.0749 0.0236

GROWTH

0.1425

0.2325

0.1454

0.0979 0.1440

0.1489

0.0966 0.1429


SALE

4139.13

2475.15 904.89

955.97 2021.58 2625.48 986.84 1771.85

AGE

10.59

12.74

12.35

11.41

STLEV

0.4011

0.6280

0.6765

FCOST

0.0473


0.0523

CFLOW

0.2607

GPROF

10.40

13.14

0.2755 0.4481

0.3999

0.3048 0.4985

0.0477

0.0770 0.0523

0.0600

0.0922 0.0563

0.0584

0.1084


0.0556 0.0865

0.0953

0.0742 0.1042

0.3032

0.1810

0.1592

0.1863 0.1997

0.1587

0.3296 0.1898

INVEN

0.0557

0.1967

0.3641

0.1354 0.2605

0.2183


0.2085 0.2510

LIQ

2.3860

2.1663

1.7547

2.6337 1.7291

1.9097

2.2676 1.9813

Số quan sát 135

95

565

195

280

290

70


1630

Số CTCP

19

113

39

56

58

14

326

27

Nguồn: Kết quả kiểm định của các tác giả
155

11.82

11.71


Trong đó: NTC là tín dụng thƣơng mại ròng, PROVI là tỷ lệ dự phòng

phải thu khó đòi, GROWTH là tốc độ tăng trƣởng doanh thu, SALE là doanh thu
(tỷ đồng), AGE là số năm hoạt động (kể từ sau cổ phần hóa), STLEV là tài chính
ngắn hạn, FCOST là chi phí tài chính, CFLOW là dòng tiền thuần, GPROF là
doanh lợi doanh thu, INVEN là tỷ lệ hàng tồn kho, LIQ là khả năng thanh khoản.
Nhìn chung ở Việt Nam, tín dụng thƣơng mại ròng trong toàn ngành cũng
nhƣ trong từng ngành đều dƣơng, chứng tỏ hầu hết các doanh nghiệp đều cấp tín
dụng thƣơng mại cho khách hàng nhiều hơn là chiếm dụng vốn của ngƣời bán.
Trong đó, ngành có mức chênh lệch giữa khoản phải thu và khoản phải trả nhiều
nhất thuộc về ngành công nghệ (24,04%), tiếp theo là ngành y tế (18,16%) và ít
nhất là ngành dịch vụ tiêu dùng (1,95%).
Mỗi ngành có mức tỷ lệ dự phòng phải thu khó đòi khác nhau, thấp nhất là
ngành vật liệu cơ bản (0,69%), cao nhất là ngành y tế (4,56%) và mức trung bình
toàn ngành là 1,49%. Ngành có tốc độ tăng trƣởng doanh thu cao nhất là ngành
công nghệ đạt 23,25%, trong khi toàn ngành chỉ có 14,29%. Về quy mô đƣợc xác
định theo doanh thu thì cũng có sự chênh lệch đáng kể giữa các ngành, cao nhất
là ngành các dịch vụ hạ tầng với mức doanh thu trung bình đạt khoảng 4139 tỷ
đồng và thấp nhất là ngành công nghiệp với doanh thu trung bình chỉ khoảng 905
tỷ đồng.Ngành công nghệ và công nghiệp sử dụng nguồn lực tài chính ngắn hạn
(nợ ngắn hạn) là nhiều nhất, tƣơng ứng lần lƣợt là 62,8% và 67,65%, do đó chi
phí tài chính trên tổng nợ (không bao gồm các khoản phải trả) của hai ngành này
gần nhƣ là thấp nhất, với khoảng 0,0523 và 0,0477.Trong toàn ngành thì ngành
các dịch vụ hạ tầng có dòng tiền thuần cao nhất (0,2607); trái lại, ngành dịch vụ
tiêu dùng có dòng tiền thuần thấp nhất (0,0556). Ngành y tế có mức tỷ lệ doanh
lợi doanh thu lớn nhất 32,96%, trong khi toàn ngành chỉ có 18,98%. Bên cạnh
đó, ngành công nghiệp có mức tồn kho cao nhất (36,41%) do đó khả năng thanh
khoản cũng thấp nhất (0,4236), còn ngành các dịch vụ hạ tầng có mức tồn kho
thấp nhất (5,57%) nên khả năng thanh khoản cũng cao nhất (1,4318).

156



4.2. Kết quả kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng thương mại
ròng của doanh nghiệp Việt Nam
Bảng 5: Kết quả hồi quycác nhân tố ảnh hƣởng đến tín dụng thƣơng mại
ròng theo các mô hình khác nhau
Biến phụ thuộc
NTC
Phƣơng pháp ƣớc lƣợng
FEM
REM
FGLS
GMM
PROVI
0.3601*** 0.4452*** 0.5724*** 0.1345*
GROWTH
-0.0385*** -0.0512*** -0.0209*** -0.0690***
SIZE
-0.1013*** -0.0167*** -0.0157*** -0.0086
LAGE
0.0458
0.0008
0.0119
-0.0090
STLEV
0.0241
0.0557*** 0.0755*** 0.1286*
FCOST
0.1667**
0.1460**
-0.0064

-0.0009
CFLOW
-0.3008*** -0.3181*** -0.0570**
-0.2018
GPROF
0.1662**
0.1266**
0.0347
0.1220
INVEN
0.0013
-0.0094
-0.0597*** -0.0796
LIQ
0.0911*** 0.0606*** 0.0402*** 0.0251*
Số quan sát
1630
1630
1630
1304
0.2987
0.2719
R2
F-test
0.0000
Breusch-Pagan test
0.0000
Hausman test
0.0000
Wald test

0.0000
Wooldridge test
0.0000
AR (2)
0.211
Hansen test
0.143
(*), (**) và (***) tương ứng với mức ý nghĩa 10 , 5 và 1
(Nguồn: Kết quả kiểm định của các tác giả)
Kết quả kiểm định lựa chọn mô hình phù hợp với mẫu nghiên cứu thông
qua kiểm định F-test, kiểm định Breusch-Pagan và kiểm định Hausman (các giá
trị p-value đều nhỏ hơn 0,05) cho thấy mô hình FEM là phù hợp nhất. Hệ số R
bình phƣơng bằng 0.2987, chứng tỏ 29,87% sự biến thiên của biến phụ thuộc tín
dụng thƣơng mại ròng đƣợc giải thích bởi các biến độc lập trong mô hình. Tiếp
theo, các tác giả thực hiện kiểm định các khuyết tật của mô hình nghiên cứu. Kết
quả kiểm định Wooldridge và kiểm định Wald (p-value <0,05) cho thấy có hiện
tƣợng tự tƣơng quan và phƣơng sai sai số thay đổi đối với FEM. Để khắc phục
điều này, chúng tôi sử dụng mô hình FGLS. Nhìn chung, kết quả thu đƣợc qua 3
phƣơng pháp ƣớc lƣợng không có sự khác biệt nhiều. Nhƣng để tăng tính vững
cho mô hình các nhân tố ảnh hƣởng đến khoản phải thu, tác giả sử dụng thêm
157


phƣơng pháp ƣớc lƣợng bằng mô hình GMM. Thông qua mô hình GMM và có
một số nhận xét nhƣ sau.
Thứ nhất, nhân tố mới đƣợc đƣa vào mô hình là tỷ lệ dự phòng phải thu khó
đòi (PROVI) có tác động cùng chiều và mạnh nhất đến tín dụng thƣơng mại ròng.
Kết quả này đồng nhất ở cả 4 phƣơng pháp ƣớc lƣợng. Nhƣ vậy, khi tỷ lệ
dự phòng phải thu khó đòi tăng lên thì dẫn đến tín dụng thƣơng mại ròng tăng.
Điều này có nghĩa là khi tăng tỷ lệ dự phòng thì làm cho chi phí của doanh nghiệp

tăng, lợi nhuận giảm. Do đó, để không bị giảm lợi nhuận thì các doanh nghiệp có
xu hƣớng cấp thêm tín dụng thƣơng mại cho khách hàng nhằm kích thích tăng
doanh thu và lợi nhuận nên làm cho tín dụng thƣơng mại ròng tăng lên.
Thứ hai, tăng trƣởng doanh thu (GROWTH) có tác động ngƣợc chiều đến
tín dụng thƣơng mại ròng ở cả 4 phƣơng pháp ƣớc lƣợng và đều có ý nghĩa ở
mức 1%. Nghĩa là khi doanh nghiệp có doanh thu tăng trƣởng cao thì tín dụng
thƣơng mại ròng sẽ giảm. Kết quả này phù hợp với quan điểm của Phan Đình
Nguyên và Trƣơng Thị Hồng Nhung (2014). Nguyên nhân đƣợc lý giải là khi
doanh nghiệp có doanh thu tăng trƣởng cao thì doanh nghiệp sẽ không có nhu
cầu phải tăng doanh thu thông qua việc tăng cƣờng chính sách tín dụng
thƣơng mại nữa nên khoản phải thu giảm, đồng thời doanh nghiệp sẽ giảm cả
mức chiếm dụng vốn của ngƣời bán nên khoản phải trả giảm. Thêm vào đó,
tốc độ giảm của khoản phải thu nhanh hơn khoản phải trả nên tín dụng thƣơng
mại ròng sẽ giảm. Tuy nhiên, điều này không đồng nhất với kết quả nghiên
cứu của Trần Ái Kết (2017).
Thứ ba, tài chính ngắn hạn (STLEV) có mối quan hệ đồng biến với tín
dụng thƣơng mại ròng. Kết quả này đối lập với chứng minh của Vaidya (2011),
nhƣng lại thống nhất với nghiên cứu của Phan Đình Nguyên và Trƣơng Thị Hồng
Nhung (2014) và Trần Ái Kết (2017) khi cùng nghiên cứu ở thị trƣờng Việt Nam.
Điều này cho thấy, tại Việt Nam khi các doanh nghiệp có đƣợc nhiều nguồn nợ
ngắn hạn thì sẽ sẵn sàng cung ứng tín dụng thƣơng mại cho khách hàng để mở
rộng thị trƣờng, tăng doanh thu và lợi nhuận. Từ đó dẫn đến tín dụng thƣơng mại
ròng tăng. Việc làm này cũng phù hợp với sự tài trợ giữa nguồn vốn và tài sản
trong doanh nghiệp.
Thứ tư, khả năng thanh khoản (LIQ) có quan hệ đồng biến với tín dụng
thƣơng mại ròng. Kết quả này ủng hộ kết quả nghiên cứu của Vaidya (2011).
Điều này đƣợc giải thích là khi doanh nghiệp có khả năng thanh khoản cao sẽ sẵn
sàng cung ứng tín dụng thƣơng mại cho khách hàng, nới lỏng chính sách tín
dụng, làm khoản phải thu tăng; đồng thời doanh nghiệp cũng sẽ hạn chế sử dụng
158



tín dụng từ nhà cung cấp làm cho khoản phải trả giảm; từ đó dẫn đến tín dụng
thƣơng mại ròng tăng. Tuy nhiên, kết quả này lại trái ngƣợc với kết quả của
Nadiri (1969), Phan Đình Nguyên và Trƣơng Thị Hồng Nhung (2014), Trần Ái
Kết (2017) khi cho rằng khả năng thanh khoản có quan hệ nghịch biến với tín
dụng thƣơng mại ròng.
Các nhân tố còn lại trong mô hình theo phƣơng pháp ƣớc lƣợng GMM
nhƣ quy mô, số năm hoạt động, chi phí tài chính, dòng tiền thuần, doanh lợi
doanh thu và tỷ lệ hàng tồn kho không có ý nghĩa thống kê.
5. Kết luận
Đối với mỗi doanh nghiệp thì việc sử dụng chính sách tín dụng thƣơng
mại hợp lý là rất quan trọng. Bởi vì thông qua chính sách tín dụng thƣơng mại sẽ
giúp các doanh nghiệp mở rộng thị trƣờng, tăng doanh thu và lợi nhuận. Do đó,
việc xác định đƣợc các nhân tố ảnh hƣởng đến tín dụng thƣơng mại ròng là cần
thiết để doanh nghiệp điều chỉnh chính sách tín dụng thƣơng mại phù hợp.
Thông qua kết quả kiểm định, chúng tôi nhận thấy chính sách tín dụng
thƣơng mại của các doanh nghiệp Việt Nam chịu ảnh hƣởng khá nhiều từ một
nhân tố mới là dự phòng phải thu khó đòi. Khi tỷ lệ dự phòng phải thu khó đòi
tăng, đồng nghĩa với chi phí của doanh nghiệp tăng, nên để không làm giảm lợi
nhuận, ảnh hƣởng đến giá trị cổ phiếu thì các doanh nghiệp Việt Nam có xu
hƣớng mở rộng chính sách tín dụng thƣơng mại nhằm khuyến khích khách hàng
mua hàng nhiều để tăng doanh thu và lợi nhuận. Bên cạnh đó, tăng trƣởng doanh
thu cũng góp phần không nhỏ ảnh hƣởng đến chính sách tín dụng thƣơng mại của
các doanh nghiệp Việt Nam. Khi doanh thu tăng trƣởng nhanh thì các doanh
nghiệp không có nhu cầu mở rộng chính sách tín dụng thƣơng mại để đẩy mạnh
tăng doanh thu nữa. Kết quả này ủng hộ kết quả nghiên cứu của Phan Đình
Nguyên và Trƣơng Thị Hồng Nhung (2014), nhƣng bất đồng quan điểm với
nghiên cứu của Trần Ái Kết (2017). Ngoài ra, việc tăng cƣờng nợ ngắn hạn cũng
góp phần mở rộng chính sách tín dụng thƣơng mại, điều này hoàn toàn phù hợp

với sự tài trợ tƣơng ứng giữa nguồn vốn và tài sản; đồng thời nhất trí với các kết
quả nghiên cứu tại Việt Nam (Phan Đình Nguyên và Trƣơng Thị Hồng Nhung,
2014; Trần Ái Kết, 2017). Thêm vào đó, khi doanh nghiệp có khả năng thanh
khoản cao thì sẽ thuận lợi cho việc mở rộng chính sách tín dụng thƣơng mại,
cung ứng và hỗ trợ cho ngƣời mua sử dụng vốn trong một khoản thời gian ngắn
hạn, điều đó khuyến khích khách hàng mua nhiều hàng hóa dịch vụ hơn, dẫn đến
tăng doanh thu và lợi nhuận.

159


×