Tải bản đầy đủ (.pdf) (237 trang)

Khảo sát hiện tượng Việt - Hán việt địa danh làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.75 MB, 237 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

TRƢƠNG NHẬT VINH

KHẢO SÁT HIỆN TƢỢNG VIỆT - HÁN VIỆT
ĐỊA DANH LÀNG XÃ Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - 2020


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

TRƢƠNG NHẬT VINH

KHẢO SÁT HIỆN TƢỢNG VIỆT - HÁN VIỆT
ĐỊA DANH LÀNG XÃ Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

Chuyên ngành: Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam
Mã số: 62 22 01 09

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
1. GS.TS NGUYỄN VĂN KHANG
2. PGS.TS TRẦN THỊ HỒNG HẠNH

Hà Nội - 2020




LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Trƣơng Nhật Vinh


LỜI CẢM ƠN
Luận án này đƣợc thực hiện dƣới sự hƣớng dẫn tận tình của GS.TS Nguyễn
Văn Khang và PGS.TS Trần Thị Hồng Hạnh. Em xin gửi tới các thầy cô lời cảm ơn
sâu sắc.
Trong quá trình thực hiện luận án, em/tôi cũng đã nhận đƣợc những sự chia sẻ,
hỗ trợ, cộng tác, động viên và khích lệ từ GS.TS Trần Trí Dõi, PGS.TS Nguyễn
Hồng Cổn, PGS.TS Nguyễn Văn Chính, PGS.TS Trịnh Cẩm Lan, TS. Nguyễn
Ngọc Bình và các thầy cô giáo trong khoa Ngôn ngữ học, ngƣời thân, bạn bè, nhân
dân và cán bộ ở một số địa phƣơng trên địa bàn khảo sát. Em/tôi xin chân thành
cảm ơn.
Hà Nội, ngày 15 tháng 08 năm 2020
Nghiên cứu sinh

Trƣơng Nhật Vinh


QUY ƢỚC VIẾT TẮT


Bắc Ninh

BN

Bắc Giang

BG

Hà Nam

HNa

Hà Nội

HN

Hải Dƣơng

HD

Hƣng Yên

HY

Nam Định



Ninh Bình


NB

Phú Thọ

PT

Thái Bình

TB

Vĩnh Phúc

VP

Địa danh và tài liệu lƣu trữ về làng xã Bắc Kỳ
Đồng Khánh địa dƣ chí
Tên làng xã và địa dƣ các tỉnh Bắc Kỳ
Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX thuộc các tỉnh từ

ĐDLXBK
ĐKĐDC
LXBK
TTXDBL

Nghệ Tĩnh trở ra (Các tổng trấn xã danh bị lãm)
Đại Việt sử ký toàn thƣ

ĐVSKTT


Ngôn ngữ dân tộc thiểu số

NNDTTS


BẢNG PHÂN LOẠI CHỮ NÔM
(Dẫn theo Tự điển Chữ Nôm – tài liệu tham khảo số 57)
A1: Loại chữ giả tá mƣợn chữ Hán một cách đầy đủ nhất: cả hình chữ, nghĩa chữ và
âm chữ (đọc theo âm Hán Việt).
A2: Loại chữ giả tá mƣợn cả hình chữ và nghĩa chữ Hán, song không đọc theo âm
Hán Việt, mà đọc theo âm đã chuyển theo quy luật biến âm của tiếng Việt hoặc
bảo lƣu âm Hán thƣợng cổ.
B: Loại chữ giả tá mƣợn hình chữ và nghĩa chữ Hán nhƣng đọc trực tiếp bằng âm
Nôm của ngữ tố thuần Việt.
C1: Loại chữ giả tá chỉ mƣợn hình chữ và âm đọc (theo âm Hán Việt) của chữ Hán
để ghi một ngữ tố Việt, với nghĩa khác.
C2: Loại chữ giả tá cũng nhƣ C1 nhƣng không đọc theo âm Hán Việt mà đọc trại để
ghi ngữ tố Việt.
D: Loại chữ giả tá cũng nhƣ A1 và A2, C1 và C2, nhƣng kèm theo chữ Hán có ghi
thêm dấu phụ (dấu nháy) để lƣu ý rằng chữ Hán đó đã đƣợc “Nôm hóa”.
E1: Loại chữ tạm gọi là hội âm: viết ghép hai chữ Hán để ghi âm đọc cho một ngữ
tố Việt.
E2: Loại chữ hội ý: viết ghép hai chữ Hán thành một chữ Nôm để biểu đạt ý nghĩa
của một ngữ tố Việt.
F1: Loại chữ hình thanh dùng bộ thủ (biểu ý) ghép với một chữ Hán (biểu âm)
thành một chữ Nôm để ghi một ngữ tố Việt.
F2: Loại chữ hình thanh ghép hai chữ Hán với nhau (một biểu âm, một biểu ý)
thành một chữ Nôm để ghi một ngữ tố tiếng Việt.



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................6
1. Lý do chọn đề tài .....................................................................................................6
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ..........................................................................7
2.1. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................7
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ...........................................................................................7
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và nguồn tƣ liệu ...................................................8
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu...........................................................................................8
3.2. Phạm vi nghiên cứu ..............................................................................................8
3.3. Tƣ liệu nghiên cứu ...............................................................................................8
4. Phƣơng pháp nghiên cứu .......................................................................................11
5. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn ...................................................................................12
5.1. Ý nghĩa lí luận ....................................................................................................12
5.2. Ý nghĩa thực tiễn ................................................................................................13
6. Cái mới của luận án ...............................................................................................13
7. Bố cục của luận án ................................................................................................13
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ L
THUYẾT ..................................................................................................................15
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ........................................................................15
1.1.1. Tình hình nghiên cứu địa danh làng xã Việt Nam trên thế giới ......................15
1.1.2. Tình hình nghiên cứu địa danh làng xã Việt Nam tại Việt Nam ....................21
1.1.3. Giá trị của NNDTTS đối với việc nghiên cứu địa danh làng xã ĐBBB .........26
1.2. Lý thuyết về địa danh .........................................................................................31
1.2.1. Khái niệm về địa danh.....................................................................................31
1.2.2. Phân loại địa danh ...........................................................................................33
1.3. Vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ Hán - Việt ................................................................37
1.3.1. Quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Hán - Việt ..........................................................38
1.3.2. Các sản phẩm của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Hán - Việt ............................38
1.4. Tiểu kết chƣơng 1 ..............................................................................................47
CHƢƠNG 2: PHƢƠNG PHÁP THU THẬP VÀ XỬ L TƢ LIỆU .................48

2.1. Khái quát về vùng ĐBBB ..................................................................................48

1


2.1.1. Những n t chính về đặc điểm tự nhiên ...........................................................48
2.1.2. Những n t chính về đặc điểm xã hội - nhân văn .............................................49
2.1.3. Những n t chính về phƣơng ngữ Bắc Bộ ........................................................55
2.2. Khái niệm làng xã và một số thuật ngữ có liên quan .........................................57
2.2.1. Khái niệm làng ................................................................................................57
2.2.2. Khái niệm xã ...................................................................................................58
2.2.3. Một số khái niệm có liên quan đến làng và xã ................................................59
2.2.4. Tƣơng quan giữa các khái niệm làng, xã, thôn trong thực tế ..........................62
2.3. Những khó khăn trong việc thu thập và xử lý tƣ liệu địa danh làng xã ĐBBB .64
2.3.1. Vấn đề nguồn tƣ liệu .......................................................................................64
2.3.2. Sự biến động của địa danh ..............................................................................66
2.4. Khái niệm tên Việt và tên Hán Việt của làng xã ĐBBB ....................................70
2.4.1. Những vấn đề cần thảo luận ............................................................................70
2.4.2. Quan niệm của luận án về khái niệm tên Việt và tên Hán Việt của làng xã
ĐBBB ........................................................................................................................74
2.5. Nguyên tắc thu thập và xử lý tƣ liệu ..................................................................76
2.6. Kết quả thu thập địa danh làng xã ĐBBB ..........................................................77
2.7. Tiểu kết chƣơng 2 ..............................................................................................81
CHƢƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA TÊN VIỆT VÀ HÁN VIỆT ĐỊA
DANH LÀNG XÃ ĐBBB ........................................................................................82
3.1. Văn tự của địa danh làng xã ĐBBB ................................................................... 82
3.1.1. Văn tự của tên Việt ......................................................................................... 82
3.1.2. Văn tự của tên Hán Việt .................................................................................. 87
3.2. Cấu trúc của địa danh làng xã ĐBBB ................................................................ 91
3.2.1. Thành tố chung trong tên Việt ........................................................................ 92

3.2.2. Thành tố chung trong tên Hán Việt ................................................................. 95
3.2.3. Thành tố riêng trong tên Việt .......................................................................... 97
3.2.4. Thành tố riêng trong tên Hán Việt ................................................................ 100
3.3. Ý nghĩa của địa danh làng xã ĐBBB ............................................................... 103
3.3.1. Ý nghĩa của tên Việt...................................................................................... 104
3.3.2. Ý nghĩa của tên Hán Việt ..............................................................................109

2


3.4. Dấu ấn NNDTTS ở một số địa danh làng xã ĐBBB .......................................114
3.4.1. Một số địa danh làng xã phản ánh tiếp xúc với các ngôn ngữ Nam Đảo .....115
3.4.2 Một số địa danh làng xã phản ánh tiếp xúc với các ngôn ngữ Thái - Kađai ..126
3.4.3. Một số địa danh làng xã phản ánh tiếp xúc với ngôn ngữ Nam Á................136
3.5. Tiểu kết chƣơng 3 ............................................................................................ 140
CHƢƠNG 4: QUAN HỆ GIỮA TÊN VIỆT VÀ TÊN HÁN VIỆT LÀNG XÃ
ĐBBB TỪ GÓC NHÌN NGỮ ÂM LỊCH SỬ ......................................................142
4.1. Số lƣợng các làng xã sở hữu tên Việt và tên Hán Việt tƣơng ứng có quan hệ về
ngôn ngữ ..................................................................................................................142
4.2. Vị trí của âm tiết trong tên Hán Việt có quan hệ ngôn ngữ với tên Việt .........144
4.3. Các kiểu quan hệ ngôn ngữ giữa tên Việt và tên Hán Việt tƣơng ứng của làng
xã ĐBBB .................................................................................................................146
4.3.1. Các tên Việt và tên Hán Việt tƣơng ứng có quan hệ về ngữ âm...................147
4.3.2. Các tên Việt và tên Hán Việt tƣơng ứng có quan hệ về ngữ nghĩa...............170
4.4. Tiểu kết chƣơng 4 ............................................................................................ 181
KẾT LUẬN ............................................................................................................183
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN ...............................................................................................................187
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................. 188
PHỤ LỤC ...............................................................................................................198


3


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Địa danh học là một phân ngành nhỏ của từ vựng học. Nghiên cứu về địa danh
không chỉ cung cấp những tri thức về nguồn gốc, ý nghĩa, cách thức cấu tạo địa
danh mà còn làm sáng tỏ rất nhiều vấn đề khác của ngôn ngữ học cũng nhƣ các
ngành khoa học nhân văn có liên quan. Qua việc nghiên cứu địa danh, về mặt ngôn
ngữ học, chúng ta có thể hiểu đƣợc quy luật biến đổi, phát triển của hệ thống ngữ
âm, từ vựng, ngữ pháp, sự phân chia các phƣơng ngữ của một ngôn ngữ… Trong
nhiều trƣờng hợp, những kết quả nghiên cứu địa danh c n mang đến những chứng
cứ quan trọng để tìm hiểu về văn hóa của địa phƣơng sở hữu các địa danh đó.
Đồng ằng Bắc Bộ (ĐBBB) là một khu vực rộng lớn nằm ở miền Bắc Việt
Nam với sông Hồng là trục trung tâm. Đây là khu vực địa lý gồm 10 tỉnh và thành
phố trong đó có thủ đô Hà Nội. X t về lịch sử, ĐBBB đƣợc coi là cái nôi của văn
minh dân tộc Việt. Do đó việc tìm hiểu văn hóa ở địa àn này có giá trị rất lớn đối
với việc nghiên cứu văn hóa dân tộc Việt nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung.
Hiện nay, phần lớn các làng xã cổ truyền ở ĐBBB thƣờng có hai loại tên gọi:
tên Việt (tên Nôm, tên dân gian, tên tục…) và tên Hán Việt (tên chữ). Việc tồn tại
đồng thời cả hai loại tên gọi cho làng xã - đơn vị cƣ trú cơ ản của ngƣời Việt là
một bằng chứng cho thấy sự phong phú, đa dạng về ngôn ngữ và văn hóa của dân
tộc Việt Nam. Quá trình chuyển đổi từ tên gọi Việt (dùng trong giao tiếp hàng ngày)
sang tên gọi Hán Việt (dùng trong văn ản hành chính, cúng tế…) của các địa danh
làng xã chắc chắn chứa đựng những vấn đề mà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu.
Tuy nhiên, ở trƣờng hợp này, ngôn ngữ không chỉ là đối tƣợng mà c n là công cụ
để tìm hiểu, khám phá những giá trị văn hóa ởi địa danh cũng đƣợc coi là “những
tấm ia hóa thạch” phản ánh những khúc đoạn trong đời sống kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội của chủ thể định danh. Vì vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa tên gọi

Việt và Hán Việt của làng xã sẽ cung cấp những hiểu biết về mối quan hệ giữa ngôn
ngữ với văn hóa, giữa ngôn ngữ với tƣ duy của ngƣời bản ngữ.

6


Trong những nghiên cứu có liên quan đến địa danh làng xã ĐBBB, các tác giả
trƣớc đây đã tiếp cận bằng nhiều phƣơng pháp nghiên cứu khác nhau nhƣ: sử học,
địa lý học, dân tộc học, ngôn ngữ học miêu tả… và đã thu đƣợc những kết quả rất
có giá trị. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề bỏ ngỏ chƣa đƣợc giải quyết, nhất là
những vấn đề liên quan đến nguồn gốc của các địa danh. Xuất phát từ thực tiễn trên,
chúng tôi lựa chọn cách tiếp cận theo phƣơng pháp ngôn ngữ học so sánh - lịch sử
mà cụ thể là so sánh ngữ âm lịch sử dựa trên tƣ liệu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số
(NNDTTS) để thực hiện luận án với đề tài
nh

ng xã

ng

ng

hảo s t hiện tượng Việt -

n Việt



2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1.


n

n

u

Mục đích chính yếu của luận án này là chứng minh mối quan hệ ngôn ngữ
giữa tên Việt và Hán Việt của làng xã ĐBBB dựa trên việc sử dụng tƣ liệu
NNDTTS để từ đó ƣớc đầu lý giải xu thế Hán Việt hóa địa danh nói riêng và Hán
Việt hóa trong tiếng Việt nói chung. Và nhƣ vậy, kết quả nghiên cứu của luận án sẽ
góp phần làm sáng tỏ về một kiểu loại địa danh cụ thể trong tiếng Việt.
2.2. N ệm v n

n

u

Để đạt đƣợc mục đích trên, luận án cần thực hiện các nhiệm vụ cụ thể nhƣ sau:
1) Tổng quan tình hình nghiên cứu để xác định đƣợc những khoảng trống trong
nghiên cứu địa danh làng xã. Từ đó, luận án xác định phƣơng pháp nghiên cứu và
những nền tảng lý thuyết phù hợp để giải quyết vấn đề.
2) Xác định những đặc thù của đối tƣợng nghiên cứu để tìm kiếm, lựa chọn những
nguồn tƣ liệu đáng tin cậy phục vụ cho việc thống kê, lập danh sách các làng xã sở
hữu cặp tên Việt và Hán Việt.
3) Mô tả đặc điểm tên Việt và Hán Việt của làng xã cũng nhƣ mối quan hệ về ngôn
ngữ giữa hai loại tên gọi này và chỉ ra sự tƣơng đồng, dị biệt, kế thừa giữa chúng.
4) Chỉ ra nguyên tắc hoặc quy luật (nếu có) chi phối đến việc thể hiện quan hệ ngôn
ngữ giữa hai loại tên gọi này


7


3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và nguồn tƣ liệu
3.1. Đố tượn n

n

u

Đối tƣợng nghiên cứu của luận án là những địa danh làng xã có tên Việt và tên
Hán Việt tƣơng ứng (xuất hiện theo từng cặp Việt - Hán Việt).
3.2.

mv n

n

u

Với đối tƣợng nghiên cứu là những địa danh làng xã có tên Việt và Hán Việt
tƣơng ứng, luận án tiến hành khảo sát trên địa àn ĐBBB vì đây là khu vực cƣ trú
từ rất sớm của ngƣời Việt. Về tự nhiên, ĐBBB c n đƣợc gọi là đồng ằng châu thổ
sông Hồng ao gồm 10 tỉnh, thành phố: Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nam, Hà Nội,
Hải Dƣơng, Hƣng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Vĩnh Phúc.
Ngoài ra, luận án cũng mở rộng phạm vi sang địa bàn tỉnh Phú Thọ vì một vài
lý do sau. Thứ nhất, về tự nhiên, Phú Thọ nằm ngay phía trên của vùng ĐBBB, nơi
có ngã a Bạch Hạc - điểm có thể coi là nơi phân chia thƣợng lƣu/ hạ lƣu của sông
Hồng - d ng sông chính tạo nên ĐBBB. Thứ hai, về lịch sử, Phú Thọ là vùng đất tụ
cƣ từ rất sớm của ngƣời Việt, là kinh đô đầu tiên của nƣớc Văn Lang. Thứ a, về

văn hóa, khi phân chia các tiểu vùng văn hóa, nhiều nhà nghiên cứu (Trần Quốc
Vƣợng, Ngô Đức Thịnh…) vẫn luôn xếp Phú Thọ thuộc về vùng văn hóa ĐBBB.
3.3. Tư l ệu n

n

u

Nhằm thống kê tƣơng đối đầy đủ, có căn cứ minh xác và có hệ thống các địa
danh làng xã ĐBBB, chúng tôi đã lựa chọn các nguồn tƣ liệu sau làm căn cứ chủ
yếu trong quá trình thu thập và xử lý tƣ liệu.
Trƣớc hết, luận án ƣu tiên sử dụng các sách về địa danh hành chính chuyên
khảo (hoặc bao gồm) về khu vực ĐBBB. Bốn cuốn sách đƣợc sử dụng chủ yếu cho
quá trình thống kê tƣ liệu gồm: Đ ng

h nh

ư hí (2003) - Ngô Đức Thọ,

Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin - nxb Thế giới; Tên

ng xã v

ư

tỉnh

B c Kỳ (1999) - Ngô Vi Liễn - nx Văn hóa thông tin; Tên làng xã Việt Nam ầu
thế kỷ XIX (thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnh tr ra) (1981) - Dƣơng Thị The, Phạm Thị
Thoa - nxb Khoa học xã hội và Đ a danh và tài liệu ưu trữ về làng xã B c Kỳ

(1999) - Vũ Thị Minh Hƣơng, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin - nxb Hà Nội.

8


Đ ng h nh

ư hí (Đ ĐDC) 同慶地輿誌 là thƣ tịch địa lý cuối cùng do

nhà nƣớc phong kiến biên soạn c n đƣợc lƣu giữ đến nay. Tài liệu này đƣợc hoàn
thành vào khoảng năm 1886 - 1887 dƣới thời vua Đồng Khánh, ghi lại đầy đủ và hệ
thống địa danh từ cấp xã, thôn, phƣờng, giáp, trại đến cấp huyện của 25 tỉnh, thành
(Bắc Kỳ và Trung Kỳ). Tuy nhiên, ấn bản năm 2003 mới công bố thông tin về 19
tỉnh từ Thừa Thiên Huế trở ra. Tập 1 và 2 là các văn ản, tập 3 là hệ thống bản đồ
của các tỉnh. Hệ thống địa danh thuộc phạm vi của luận án có thể tìm thấy ở tập 1
và 3 của bộ sách này. Tính chính thống của nguồn thông tin và tính đầy đủ của hệ
thống địa danh là hai giá trị nổi bật của Đ ĐDC so với các tài liệu khác nên chúng
tôi đã sử dụng bộ sách này nhƣ nguồn tƣ liệu chính yếu trong luận án.
Tên ng xã v

ư

tỉnh B c Kỳ (LXBK) do Ngô Vi Liễn biên soạn và đƣợc

xuất bản lần đầu năm 1928. Đây có thể coi là công trình chuyên khảo đầu tiên về địa
danh ở Việt Nam. Cuốn sách gồm 2 phần: phần danh mục tên các làng xã Bắc Kỳ phân
theo cấp hành chính từ tổng, phủ, huyện (có kèm chữ Hán) và phần mô tả cụ thể các
làng xã. Trong cuốn sách, một số địa danh làng xã, bên cạnh tên Hán Việt, tác giả còn
ghi chú thêm tên Việt. Tuy nhiên, điều đáng tiếc là các tên Việt chỉ đƣợc ghi chép bằng
chữ quốc ngữ và hoàn toàn không có chữ Nôm đi kèm.

Tên làng xã Việt Nam ầu thế kỷ XIX (thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnh tr ra) là
công trình do Vũ Thị The và Nguyễn Thị Thoa dịch và biên soạn, xuất bản năm
1981. Cuốn sách đƣợc thực hiện dựa trên một tƣ liệu Hán Nôm chép tay không ghi
tên tác giả và thời gian biên soạn. Cuốn sách thƣờng biết tới với tên gọi là Các trấn
tổng xã danh b lãm (TTXDBL). Tuy nhiên trong phần mở đầu, tập thể biên dịch đã
nhấn mạnh tên gọi này không phải là tên vốn có và đồng thời cũng không phản ánh
chính xác nội dung của tài liệu. Về thời gian biên soạn, căn cứ vào địa danh trong
sách, các dịch giả “tạm khẳng định” sách viết dƣới thời vua Gia Long (khoảng 1810
- 1819). Cuốn sách gồm 2 phần. Phần thứ nhất từ trang 23 đến trang 121 là phần
“thống kê các tên gọi từng địa phƣơng”. Phần này liệt kê tên gọi các thôn, xã, xóm,
phƣờng, giáp, trại thuộc từng tổng, huyện, phủ của 15 trấn, xứ, đạo trên cả nƣớc.
Toàn bộ đƣợc viết bằng chữ Quốc ngữ. Một số làng xã ngoài tên Hán Việt c n đƣợc

9


phụ chú thêm các tên Việt. Phần thứ hai từ trang 123 đến trang 643 là phần “tra cứu
tên gọi các địa phƣơng”. Đây là phần cung cấp nhiều tƣ liệu quý giá cho luận án vì
các địa danh làng xã đƣợc sắp xếp theo thứ tự abc rất thuận lợi cho việc tra cứu.
Bên cạnh đó, các địa danh làng xã đều có chữ Hán đi kèm cùng với phần chú dẫn về
vị trí địa lý nên có thể dễ dàng dựa vào đó để xác định trên bản đồ.
Đ a danh và tài liệu ưu trữ về làng xã B c Kỳ (ĐDLX L) do nhóm tác giả Vũ
Thị Minh Hƣơng, Philippe Papin, Nguyễn Văn Nguyên iên soạn và xuất bản năm
1999 dựa trên các báo cáo về địa danh làng xã của Tòa công sứ các tỉnh gửi Thống
sứ Bắc Kỳ năm 1926. Cuốn sách gồm 4 phần trong đó 2 phần có liên quan đến đối
tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án là: hệ thống bản đồ các tỉnh Hà Nam, Hà
Nội (Hà Đông), Hƣng Hóa, Nam Định và hệ thống danh mục các làng xã bằng tiếng
Việt (kèm chữ Hán). Ngoài ra, so với ba nguồn tài liệu ở trên, ĐDLX

không chỉ


thống kê địa danh ở cấp độ xã mà còn chi tiết đến các đơn vị trực thuộc xã nhƣ
thôn, xóm, trại, bản. Với các tên Việt, tài liệu này còn chú dẫn cả chữ Nôm đi kèm
(đa số trƣờng hợp). Có thể nói, các tên Việt (kèm chữ Nôm) của cuốn sách là nguồn
tƣ liệu rất đặc biệt giúp luận án nghiên cứu về loại tên gọi này.
Với những trình ày trên, chúng tôi đã khái quát nguồn gốc và những nội dung
cốt lõi của bốn tài liệu đƣợc sử dụng làm nguồn cung cấp tƣ liệu chính yếu cho luận
án. Chắc chắn, rất khó có thể khẳng định các nguồn tƣ liệu này đã cung cấp đầy đủ
nguồn thông tin về địa danh làng xã Bắc Bộ. Tuy nhiên, xuất phát từ thực tiễn của
công tác lƣu trữ tại Việt Nam cùng với việc địa danh làng xã đã có lịch sử hình
thành và biến đổi lâu dài nên chúng tôi thấy rằng những nguồn tƣ liệu hiện có là
tƣơng đối khả quan và đảm bảo độ tin cậy để tiến hành nghiên cứu.
Bản đồ của các tỉnh thành nằm trên địa bàn ĐBBB cũng là một căn cứ để luận
án thu thập tƣ liệu. Các bản đồ đƣợc sử dụng không chỉ là bản đồ hiện đại nhƣng
còn là những bản đồ cũ đƣợc công bố từ thời kỳ phong kiến mà hiện nay c n lƣu
giữ đƣợc. Những bản đồ này là căn cứ để xác minh vị trí địa lý cụ thể cũng nhƣ quá
trình chuyển đổi đơn vị hành chính (nếu có) của các làng xã.

10


Ngoài các cuốn sách, các bản đồ đƣợc sử dụng để cung cấp tƣ liệu, luận án
còn sử dụng thêm nhiều nguồn tƣ liệu khác nhƣ: sách địa chí, địa bạ, hƣơng ƣớc,
báo, tạp chí, luận án… để bổ sung cho quá trình thu thập và xử lý tƣ liệu.
Bên cạnh đó, trong một số trƣờng hợp cụ thể, luận án tiến hành điều tra điền
dã tại địa àn để thu thập thêm các thông tin từ địa phƣơng. Nguồn tƣ liệu điền dã
nhìn chung không nhiều bởi luận án chọn phƣơng pháp thống kê trên tƣ liệu thành
văn là chủ yếu nhƣng những thông tin điền dã cho phép luận án có những cách hiểu
khác để bổ sung, hoàn chỉnh những thông tin nguồn tƣ liệu thành văn đã cung cấp.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu

Địa danh là đối tƣợng nghiên cứu rất đặc thù của ngôn ngữ học. Tính đặc thù
này xuất phát từ việc địa danh không chỉ chịu sự tác động của các quy luật ngôn
ngữ mà xuyên suốt quá trình hình thành, biến đổi thậm chí là mất đi, nó c n chịu sự
chi phối rất lớn của các nhân tố địa lý, lịch sử, chính trị, xã hội… Do đó, nếu chỉ
thuần túy dựa trên phƣơng diện ngôn ngữ trong rất nhiều trƣờng hợp, ngƣời nghiên
cứu sẽ không thể lý giải đƣợc sự hình thành và biến đổi của các địa danh. Do đó,
việc áp dụng tổng hợp các tri thức về địa lý - bản đồ, sử học, dân tộc học, văn hóa
học… trong nghiên cứu địa danh là đặc biệt cần thiết. Nói cách khác, trong luận án
này, chúng tôi áp dụng cách tiếp cận liên ngành để nghiên cứu về địa danh làng xã
ĐBBB. Trong đó, luận án sử dụng một số phƣơng pháp chính yếu nhƣ sau:
Phương ph p miêu tả
Luận án sử dụng phƣơng pháp miêu tả (ngôn ngữ học) để làm rõ những đặc
điểm cơ ản về mặt cấu trúc của tên Việt và tên Hán Việt của các địa danh làng xã.
Cụ thể, luận án sử dụng một số thủ pháp nhƣ thủ pháp phân tích thành tố cú pháp,
thủ pháp trƣờng nghĩa, thủ pháp phân bố… để thực hiện đƣợc mục tiêu nghiên cứu.
Trong quá trình thu thập và xử lý tƣ liệu, luận án đã sử dụng các thủ pháp thống kê,
phân loại của phƣơng pháp miêu tả để tiến hành thao tác làm việc. Đồng thời, luận
án cũng kết hợp các kết quả nghiên cứu định lƣợng và kết quả nghiên cứu định tính
để có thể đƣa ra những kết luận an đầu về mối quan hệ giữa tên Việt và Hán Việt
của làng xã ĐBBB.

11


Phương ph p ng n ngữ h

so s nh - l ch sử:

Ngôn ngữ học so sánh - lịch sử là phƣơng pháp đƣợc sử dụng với mục đích
quan trọng nhất là xác định nguồn gốc và mối quan hệ họ hàng giữa các ngôn ngữ.

Bên cạnh đó, phƣơng pháp này c n đƣợc sử dụng cho một số mục đích khác, chẳng
hạn nghiên cứu từ nguyên học (etymology). Nghiên cứu địa danh, về đại thể cũng
có thể đƣợc hiểu là nghiên cứu từ nguyên. Bởi nghiên cứu địa danh mà không vƣợt
qua đƣợc những dấu hiệu ên ngoài, chỉ sử dụng những giả thiết mang tính “dân
gian” thì không thể giải thích đƣợc nguồn gốc cũng nhƣ ý nghĩa đích thực của địa
danh. Chính vì thế, trong luận án này, chúng tôi sẽ sử dụng phƣơng pháp ngôn ngữ
học so sánh - lịch sử trong đó quan trọng nhất là thao tác so sánh ngữ âm lịch sử để
tiến hành nghiên cứu. Với phƣơng pháp này, luận án sẽ sử dụng tƣ liệu NNDTTS để
chứng minh mối quan hệ ngôn ngữ giữa các tên Việt và Hán Việt của làng xã
ĐBBB.
Phương ph p nghiên ứu iền dã
Nghiên cứu điền dã là phƣơng pháp không thể thiếu trong nghiên cứu địa
danh. Phƣơng pháp này đem lại cho luận án những hiểu biết thực tế về các làng xã
thuộc đối tƣợng nghiên cứu. Những kết quả thu đƣợc từ phƣơng pháp này không chỉ
mang tính chất bổ sung, hỗ trợ cho các nguồn tƣ liệu thành văn trong các sách
chuyên khảo, các bản đồ nhƣng trong nhiều trƣờng hợp còn cung cấp những thông
tin mới, chứng minh những sai sót trong quá trình biên soạn các tƣ liệu địa dƣ, địa
chí, hỗ trợ cho các giả thiết về nguồn gốc và ý nghĩa của địa danh.
5.

nghĩa lí luận và thực tiễn

5.1. Ý n

ĩa l luận

Về mặt lý luận, luận án góp phần làm phong phú hơn lý thuyết về nghiên cứu
địa danh cũng nhƣ cách thức nghiên cứu địa danh hiện nay ở Việt Nam, cụ thể là
cách nghiên cứu địa danh bằng phƣơng pháp ngôn ngữ học so sánh - lịch sử.
Phƣơng pháp này rất có giá trị trong việc xác định nguồn gốc và ý nghĩa địa danh

thông qua thao tác so sánh ngữ âm lịch sử dựa trên tƣ liệu NNDTTS. Đồng thời,
kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ những vấn đề có liên quan đến xu thế Hán
Việt hóa trong tiếng Việt mà cụ thể là Hán Việt hóa địa danh.

12


Ngoài ra, cách thức và kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có những đóng góp
nhất định đối với việc nghiên cứu liên ngành: ngôn ngữ học văn hóa, ngôn ngữ học
dân tộc, ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học nhân học…
5.2. Ý n

ĩa t ự t ễn

Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận án có giá trị cung cấp tƣ liệu
cho việc giảng dạy và nghiên cứu địa danh nói chung và địa danh làng xã nói riêng.
Đồng thời, luận án giúp mở rộng tri thức về địa danh làng xã cũng nhƣ về đặc trƣng
văn hóa - xã hội - tộc ngƣời đƣợc lƣu giữ trong các địa danh này.
6. Cái mới của luận án
Phƣơng pháp ngôn ngữ học so sánh - lịch sử là một phƣơng pháp nghiên cứu
ngôn ngữ ra đời sớm và đã thu đƣợc nhiều kết quả tích cực. Ở Việt Nam đã có một
số công trình áp dụng phƣơng pháp này trong những nghiên cứu trƣờng hợp địa
danh cụ thể. Tuy nhiên, áp dụng phƣơng pháp ngôn ngữ học so sánh - lịch sử để
nghiên cứu địa danh làng xã Việt Nam lại là một hƣớng đi mới còn nhiều bỏ ngỏ.
Để áp dụng phƣơng pháp so sánh - lịch sử trong nghiên cứu địa danh không thể
không nhắc đến vai tr đặc biệt quan trọng của NNDTTS. Chính tƣ liệu NNDTTS
sẽ giúp cho nhà nghiên cứu có những bằng chứng ngôn ngữ đáng tin cậy để xác
định nguồn gốc và ý nghĩa của các địa danh. Nói cách khác, luận án này không tập
trung miêu tả NNDTTS nhƣng sử dụng nó nhƣ một công cụ hữu hiệu cho việc
nghiên cứu địa danh. Hy vọng đây sẽ là một hƣớng đi mới góp phần vào việc

nghiên cứu địa danh làng xã nói riêng và địa danh Việt Nam nói chung.
7. Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án gồm 04
chƣơng nội dung.
C ươn 1. Tổng quan tình hình nghiên c u và cơ sở lý thuyết
Trong phần tổng quan, luận án điểm qua các tác giả trong và ngoài nƣớc cũng
nhƣ các công trình nghiên cứu tiêu biểu về địa danh làng xã Việt Nam nói chung và
địa danh làng xã ĐBBB nói riêng. Phần cơ sở lý thuyết sẽ trình bày tóm lƣợc những
vấn đề lý thuyết đƣợc sử dụng trong luận án nhƣ: lý thuyết địa danh, lý thuyết tiếp
xúc Hán - Việt, các sản phẩm của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Hán - Việt …
13


C ươn 2.

ươn p áp t u t ập và xử lý tư l ệu

Trong chƣơng này, luận án tập trung trình ày những khó khăn trong quá trình
thu thập và xử lý tƣ liệu nhƣ: nội hàm khái niệm làng xã, sự iến động của địa danh
làng xã, khái niệm tên Việt và tên Hán Việt… Từ việc hiểu rõ những khó khăn và
vận dụng các lý thuyết có liên quan, luận án đƣa ra quan điểm về khái niệm tên Việt
và Hán Việt của làng xã ĐBBB cũng nhƣ nguyên tắc và tiêu chí để tiến hành thu
thập tƣ liệu.
C ươn 3. Đặ

ểm chung của tên Việt và Hán Việt ịa dan làn xã ĐBBB

Với danh sách các làng xã có tên Việt và tên Hán Việt đƣợc thu thập theo
phƣơng pháp đƣợc trình bày ở chƣơng 2, luận án tiến hành mô tả, đối chiếu 2 loại
tên gọi này từ 3 phƣơng diện: cấu trúc, ngữ nghĩa và văn tự. Bên cạnh đó, luận án

chứng minh nguồn gốc dân tộc thiểu số của một số địa danh làng xã để thấy đƣợc
sự đa dạng và phong phú của chủ thể định danh từng cƣ trú trên địa àn ĐBBB.
C ươn 4. Quan hệ giữa tên Việt và tên Hán Việt làn xã ĐBBB từ góc nhìn ngữ
âm lịch sử
Từ kết quả mô tả, đối chiếu ở chƣơng 3, luận án sẽ phân tích và giải thích sự
tƣơng ứng giữa các cặp tên Việt và tên Hán Việt của làng xã từ bình diện ngữ âm
lịch sử. Bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu của NNDTTS làm cơ sở đối
chiếu, luận án chứng minh sự tƣơng ứng ngữ âm giữa tên Việt và tên Hán Việt của
làng xã không mang tính chất ngẫu nhiên nhƣng tuân theo những quy tắc nhất định.

14


CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ L THUYẾT
Chƣơng này sẽ trình ày khái quát những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi
trƣớc về địa danh làng xã Việt Nam cũng nhƣ những vấn đề lý thuyết có liên quan
đến luận án. Những nội dung này là tri thức nền, mang tính cơ sở cho việc thực hiện
các thao tác nghiên cứu ở những chƣơng tiếp theo.
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Địa danh là một đối tƣợng nghiên cứu rất quen thuộc trên thế giới. Tuy nhiên
nghiên cứu địa danh hành chính mà cụ thể là địa danh làng xã ở Việt Nam lại chƣa
đƣợc nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc quan tâm. Điều này có lẽ xuất phát từ một
vài nguyên nhân sau. Thứ nhất, nghiên cứu địa danh, cụ thể là địa danh làng xã về
ản chất là nghiên cứu từ nguyên. Đây là một phân ngành nghiên cứu chuyên sâu,
trong nhiều trƣờng hợp đ i hỏi cách tiếp cận liên ngành mới có thể đƣa ra đƣợc
những giả thuyết có giá trị. Thứ hai, trong nghiên cứu địa danh, cần có sự kết hợp
giữa phƣơng pháp điền dã và phƣơng pháp phân tích tài liệu. Tuy nhiên, hệ thống
thƣ tịch lƣu trữ về địa danh hành chính nói chung và địa danh làng xã nói riêng tại
Việt Nam về cơ ản không c n nhiều. Những khó khăn trên có ảnh hƣởng không

nhỏ tới các nhà nghiên cứu nên số lƣợng các công trình nghiên cứu về địa danh làng
xã ở Việt Nam c n khá khiêm tốn. Cho đến nay, trong giới hạn cho ph p, chúng tôi
mới thu thập đƣợc một số ít nghiên cứu về địa danh làng xã Việt Nam của các tác
giả Pháp và Trung Quốc ên cạnh những nghiên cứu của các tác giả trong nƣớc
1.1.1. Tìn

ìn n

1.1.1.1 Nghiên ứu

n

u ịa dan làng xã V ệt Nam tr n t ế
nh

ng xã Việt N m ủ

h



giả Ph p

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các học giả Pháp đã dành nhiều công trình
nghiên cứu về đặc trƣng văn hóa - xã hội của nông thôn Việt Nam nhƣng không có
công trình nào nghiên cứu chuyên iệt về địa danh. Mặc dù vậy, trong một số công
trình nghiên cứu tiêu iểu về làng xã Bắc Bộ nhƣ: La Commune Annamite au
Tonkin (1894) - P.Ory, L’Ann m ’ utrefois: Ess i sur

15


onstitution e ’Ann m


v nt ’intevention fr n ise (1907) - P.Pasquier, Essai sur les Tonkinois (1907) –
G. Dumoutier, Les paysans du delta Tonkinois (1936) - P.Gourou…, các tác giả
không những chỉ mô tả về đặc điểm lịch sử, hành chính, kinh tế, văn hóa… mà c n
có những luận giải ƣớc đầu về vấn đề địa danh làng xã. Những luận giải của các
tác giả trên tuy không nhiều nhƣng theo chúng tôi lại là những nhận định hết sức
hữu ích đối với các nhà nghiên cứu đi sau.
Trong La Commune Annamite au Tonkin, P.Ory đã có những giải thích về ý
nghĩa từ nguyên của xã - 社 dựa trên cách thức cấu tạo chữ Hán của từ này. Đồng
thời, tác giả đƣa ra và giải thích một vài ví dụ về các cặp Annamite désignant (tên
Việt) và Chinois désignant (tên Hán) của xã nhƣ kẻ Đầm - í h Trì ( N ), Đ ng
Chuối - Tiêu Thượng ( N ) [148, tr.9-10]. Theo P.Ory, trong các địa danh trên,
những yếu tố nhƣ Trì, Tiêu trong tên Hán có ý nghĩa tƣơng đồng với các tên Việt:
Đầm, Chuối. Đồng thời các tên Việt là những tên thông tục, đƣợc ngƣời dân sử
dụng hàng ngày trong khi các tên Hán là những tên chính thức đƣợc chính quyền
công nhận và đƣợc

ăng kí trên

t i iệu

ng ộng [148, tr.10]. Đây có thể

coi là công trình đầu tiên của các học giả Pháp chú ý tới địa danh làng xã Việt Nam.
Sang đầu thế kỷ XX, P.Pasquier trong công trình L’Ann m ’ utrefois: Essai
sur


onstitution e ’Ann m v nt ’intevention fr n ise đã có những trình bày

khá cụ thể về tổ chức hành chính ở nông thôn Việt Nam. Theo tác giả, xã là đơn vị
hành chính của ngƣời An Nam. Trong ngôn ngữ bản địa, các xã thƣờng đƣợc gọi là
làng. Xã thƣờng gồm một ngôi làng chính và một vài đơn vị nhỏ hơn đƣợc gọi là
thôn hoặc ấp. Các thôn thƣờng đƣợc đặt tên riêng theo vị trí của nó trong tƣơng
quan với làng trung tâm. Các tên riêng đƣợc đặt sau danh từ chung “làng” [149,
tr.45]. Những nhận xét trên cho thấy tác giả hiểu rất rõ về cách tổ chức làng xã cổ
truyền của ngƣời Việt bởi nhiều học giả Việt Nam xuất sắc (Nguyễn Văn Huyên,
Từ Chi…) sau này cũng đều có những luận giải tƣơng tự về cách thức tổ chức làng
xã truyền thống. Ngoài ra, trong cuốn sách này, Pasquier cũng đã có những giải
thích sơ khởi về một số địa danh nhƣ Hà Nội, Thái Nguyên, Nam Định, Thái Bình

16


[149, tr.94]. Tuy nhiên, đây không phải là những địa danh làng xã mà là những địa
danh tỉnh, thành phố.
Theo chúng tôi, những ý tƣởng của P.Gourou trong Les paysans du delta
Tonkinois sau đây thực sự rất có giá trị đối với những nhà nghiên cứu quan tâm đến
vấn đề địa danh làng xã Bắc Bộ. Nhiều làng còn có tên tục bên cạnh những tên
chính thứ , thường thì tên tục chỉ có một từ, trong khi tên chính thứ thường có tới
hai hay ba từ. Nhiều tên tục phát âm giống tên chính thức: chúng phát sinh từ sự
biến dạng của tên chính thứ , h y ngược lại tên chính thức là sự phiên âm thành từ
Hán - Việt của tên tục với ý nghĩ tốt lành. Có những tên tụ kh

ó ùng ý nghĩ

với tên chính thức biểu hiện sự phát âm theo âm Hán - Việt ể nói ên ý nghĩ
tên tụ


ủa

Nhưng lại có những tên tục hầu như kh ng ó qu n hệ gì với tên chính

thức; phải hăng ó

t n ư ủa một

a danh cổ, biểu hiện của ngôn ngữ cổ xư -

vì một số tên tục ấy

i khi ó một dạng lạ kỳ [43, tr.138]. Nhận xét này cho thấy

so với các học giả Pháp đi trƣớc, P.Gourou không chỉ dừng lại ở việc xác định
phạm vi sử dụng của hai khái niệm tên tục và tên chính thức của làng mà còn chú ý
tới đặc điểm cấu trúc và nhất là mối tƣơng quan về phƣơng diện ngữ âm cũng nhƣ ý
nghĩa của hai loại tên gọi này. Đặc biệt, tác giả đƣa ra một câu hỏi hết sức thận
trọng nhƣng lại mang tính gợi mở cho các nhà nghiên cứu đi sau khi giả định những
tên tục không có quan hệ với tên chính thức có thể là “tàn dƣ” của một địa danh cổ.
Quả thực, một số nghiên cứu sau này của Hoàng Thị Châu, Trần Trí Dõi đã chứng
minh đây là một nhận xét hết sức tinh tế của P.Gourou. Bên cạnh đó, học giả ngƣời
Pháp cũng gợi ý một nguyên tắc để giải quyết những vấn đề liên quan đến tên tục và
tên chính thức của làng xã Bắc Bộ đó là Để trả lời ược những câu hỏi này cần
phải có một kiến thức vững vàng về tiếng Việt, tiếng Tày và tiếng Trung Hoa [43,
tr.138]. Nhƣ thế, từ rất sớm, P.Gourou đã ý thức đƣợc việc nghiên cứu địa danh
làng xã Bắc Bộ không thể chỉ dừng lại ở việc sử dụng tri thức tiếng Việt và tiếng
Hán là những ngôn ngữ xuất hiện trên “ ề mặt” có thể dễ dàng tiếp cận mà cần vận
dụng tới NNDTTS (ví dụ cụ thể đƣợc tác giả đƣa ra là tiếng Tày). Rất có thể, trong

công trình khảo cứu khá toàn diện về địa lý - nhân văn của ĐBBB này, P.Gorou đã

17


nhận thấy sự giao thoa giữa các lớp dân cƣ tại vùng ĐBBB đã có sự ảnh hƣởng nhất
định tới việc định danh làng xã để từ đó đƣa ra nhận định rất có giá trị trên. Và ý
tƣởng trên của P.Gorou cũng là sự gợi mở cho chúng tôi khi thực hiện luận án này.
Tuy chỉ chiếm một dung lƣợng hạn chế trong các công trình nghiên cứu tổng
quát về làng xã ĐBBB nhƣng có thể khẳng định những nhận định ƣớc đầu của các
học giả Pháp về cấu trúc tổ chức làng xã; về phạm vi sử dụng của tên tục và tên
chính thức, về đặc điểm cấu trúc, đặc điểm ý nghĩa của địa danh làng xã; về tri thức
cần có để giải quyết vấn đề nguồn gốc địa danh làng xã là những kết quả rất có giá
trị và mang tính định hƣớng rất cao. Nhiều công trình sau này của các học giả Việt
Nam đã chứng minh những nhận định của các học giả Pháp là hoàn toàn có cơ sở.
Điều đáng tiếc nhất là trong những công trình này, ở phần thảo luận về tên gọi làng
xã, các học giả Pháp không cung cấp danh sách các làng xã có cặp tên tục - tên
chính thức trong khi ở những phần liên quan đến dân cƣ, kinh tế lại thƣờng có danh
sách làng xã kèm theo.
1.1.1.2 Nghiên ứu

nh

ng xã Việt N m ủ

h

giả Trung Quố

Công trình đầu tiên của các học giả Trung Quốc có nhắc tới địa danh ở Việt

Nam có lẽ là Thủy inh Chú (hoàn thành vào khoảng thế kỷ thứ VI) - một ộ sách
viết về sông ng i thời cổ đại của Trung Quốc. Một số quyển (quyển XXXVI và
XXXVII) trong ộ sách trên có nhắc tới một vài địa danh ở Việt Nam. Chẳng hạn
Mi Linh/Mê Linh, Liên Lâu, Bắc Đới, Long Biên… Đáng chú ý, địa danh Long
Biên đƣợc giải thích nhƣ sau
n m,

ú mới ập hâu, thu ng u ng uộn khú

, vì vậy ổi tên Long Uyên, g i

h i ờ

Long iên [81, tr.429]. Tuy nhiên, có

thể thấy, các địa danh xuất hiện ở công trình này x t về hành chính là những địa
danh cấp huyện, không phải là địa danh làng xã. Điều này xuất phát từ việc cuốn
sách không nhắm tới việc nghiên cứu, mô tả các địa danh hành chính mà tập trung
vào việc mô tả hệ thống sông ng i do đó các địa danh hành chính nếu có xuất hiện
chỉ nhằm để giúp ngƣời đọc dễ hình dung về cƣơng vực của các con sông.
Sang thời hiện đại, một số học giả Trung Quốc cũng đã chú ý nghiên cứu một
số địa danh có liên quan đến ngôn ngữ - văn hóa Bách Việt. Những tác giả và công

18


trình tiêu iểu có thể kể đến nhƣ: 周振鹤, 游汝杰 - 古越语地名初探 (1984) - Chu
Chấn Hạc, Dƣ Nhữ Kiệt - Tìm hiểu

a danh Việt cổ; 李锦芳 -


百越地名及其文化蕴意 (1995) và 古代东、西部百越地名异同论 (1995) - Lý Cẩm

Phƣơng - Đ a danh Bách Việt v h m ý văn hó
củ

a danh Bách Việt miền Đ ng v

ủa nó, Sự tương

miền Tây thời cổ

ng và d biệt
ại; 郑张尚芳 -

古越语地名人名解义 (1996) - Trịnh Trƣơng Thƣợng Phƣơng - Giải thí h

a danh,

nhân danh tiếng Bách Việt cổ; 罗玉兰 - 古越语“句”“姑”探微 (2006) - La Ngọc Lan
- Thử tìm hiểu

v

ú trong tiếng Bách Việt; 范宏贵 - 同根生的民族 (2007) -

Phạm Hồng Quý - Các dân tộc cùng gốc… Trong các công trình này, dựa trên các
phƣơng pháp ngôn ngữ học kết hợp với khảo cổ học, địa lý học, dân tộc học… các
tác giả đã lý giải một số thành tố chung hoặc một số địa danh/ yếu tố trong địa danh
của ngƣời Bách Việt cổ nhƣ: Đàm, Cổ, Long, Phù, Nam, Bắc… xuất hiện trên một

số khu vực của Trung Quốc nhƣ: Phúc Kiến, Giang Tô, Quảng Đông, Quảng Tây.
Tuy đây không phải là những nghiên cứu trực tiếp đến các địa danh làng xã Việt
Nam nhƣng những kết quả nghiên cứu của các tác giả trên mang lại nhiều giá trị
tham khảo cho giới nghiên cứu địa danh ở Việt Nam. Sở dĩ nhƣ vậy là bởi khái
niệm Bách Việt xét về địa lý là một vùng cƣ trú của tộc ngƣời Việt kéo dài từ Nam
sông Dƣơng Tử xuống đến Bắc Bộ Việt Nam ngày nay nên ít nhiều những kết quả
thu đƣợc từ các nghiên cứu này có thể phục vụ cho các nghiên cứu về địa danh Việt
Nam, cụ thể là địa danh làng xã.
Khi nhắc tới những học giả Trung Quốc quan tâm trực tiếp tới địa danh làng
xã Việt Nam chắc chắn không thể không nhắc tới 徐松石 - Từ Tùng Thạch và
陳荊和 - Trần Kinh H a với những nghiên cứu trực tiếp về địa danh làng xã Việt

Nam. Trong các công trình của mình, các tác giả đã chú ý tới yếu tố “kẻ” trong cấu
trúc tên gọi làng xã ĐBBB Việt Nam. Trong 泰族僮(壮)族粤族考 (1946) - Nghiên
cứu về ba dân tộc: Việt, Đ ng (Choang), Thái, tác giả Từ Tùng Thạch cho rằng yếu
tố kẻ trong các tên Nôm đã đƣợc chuyển hóa thành cổ - gu 古 khi địa danh đƣợc
viết dƣới dạng Hán Việt. Và những từ nhƣ Cổ, Nà (Na), Đa… trong các địa danh

19


Hán Việt đều có mối quan hệ nhất định đối với tiếng Choang (Tày - Nùng). Nối tiếp
Từ Tùng Thạch, Trần Kinh Hòa trong bài 越南東京地方之特稱

ẻ (1950) cũng

nghiên cứu về yếu tố “kẻ” trong các địa danh làng xã ĐBBB. Khác với Từ Tùng
Thạch khi cho rằng “cổ” chỉ đơn thuần là cách chuyển dịch sang tiếng Hán của
“kẻ”, Trần Kinh Hòa cho rằng từ “kẻ” có chung gốc với từ “khon” trong các ngôn
ngữ Thái với nghĩa chỉ con ngƣời. Một số tác giả sau này nhƣ Đào Duy Anh (1964)

hay L.Kelly (2013) cũng chấp nhận những cách giải thích này. Tuy nhiên, những
cách lý giải trên mới chỉ là các giả thiết và vẫn chƣa đƣợc nhận đƣợc sự đồng thuận
của đông đảo giới nghiên cứu.
Nếu nhƣ Từ Tùng Thạch và Trần Kinh Hòa nghiên cứu về địa danh làng xã
Việt Nam thông qua việc so sánh đối chiếu với các NNDTTS xuất hiện ở cả Việt
Nam và Trung Quốc thì mới đây, Trần Kế Hoa 陈継华 - một tác giả Trung Quốc
khác cũng có những nghiên cứu về làng xã Việt Nam theo một hƣớng tiếp cận khác.
Dựa trên những thao tác của văn ản học kết hợp với lịch sử - địa lý học, tác giả đã
chỉ ra sự vận động biến đổi của địa danh làng xã ĐBBB dƣới tác động của chính
sách quản lý hành chính của nhà nƣớc. Những kết quả nghiên cứu của Trần Kế Hoa
đƣợc trình bày trong các bài viết: Khảo sát hệ thống kiêng húy qua tên làng xã Kinh
B c triều Nguyễn (2018) và Về vấn ề ổi tên làng xã trùng nhau

B c Ninh triều

Nguyễn (2019).
Nhƣ vậy có thể thấy, vấn đề địa danh làng xã Việt Nam đã xuất hiện trong
những nghiên cứu của các học giả Trung Quốc theo hai xu hƣớng. Xu hƣớng thứ
nhất (chiếm ƣu thế) là những nghiên cứu về địa danh, nhân danh tại Trung Quốc
nhƣng có liên quan gián tiếp tới địa danh làng xã Việt Nam. Đây là những nghiên
cứu về danh học tại những khu vực có liên quan tới địa bàn phân bố của cƣ dân
Bách Việt cổ nên ít nhiều có quan hệ với địa danh ở Việt Nam. Xu hƣớng thứ hai là
những nghiên cứu có liên quan trực tiếp tới địa danh làng xã Việt Nam. Theo chúng
tôi, những nghiên cứu có liên quan đến địa danh làng xã Việt Nam của các tác giả
Trung Quốc mới thu đƣợc những kết quả khá khiêm tốn. Tuy nhiên, đóng góp quan

20


trọng nhất của những nghiên cứu này là cung cấp nguồn tƣ liệu cũng nhƣ thao tác

nghiên cứu bởi Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia không chỉ gần gũi về địa lý
mà còn có sự giao thoa về ngôn ngữ, văn hóa, tộc ngƣời… Chính vì thế nhiều thao
tác nghiên cứu, nhiều điểm cần lƣu ý trong nghiên cứu địa danh tại Trung Quốc
hoàn toàn rất phù hợp để có thể áp dụng trong nghiên cứu địa danh Việt Nam.
1.1.2. Tìn

ìn n

n

u ịa dan làn xã V ệt Nam t

V ệt Nam

Căn cứ vào cách tiếp cận của các tác giả trong nƣớc khi nghiên cứu về địa
danh hành chính nói chung, địa danh làng xã nói riêng, có thể tạm chia các nghiên
cứu này thành 2 hƣớng chính: hƣớng tiếp cận địa chí học và hƣớng tiếp cận ngôn
ngữ học.
1.1.2.1. Nghiên ứu

nh

ng xã Việt N m từ hướng tiếp ận

hí h

Hƣớng tiếp cận địa chí học là hƣớng nghiên cứu địa danh từ góc độ địa lý, lịch
sử và văn hóa. Theo hƣớng này, mỗi địa danh sẽ đƣợc mô tả về vị trí địa lý, đặc
điểm hình thể, lịch sử hình thành, quá trình thay đổi tên gọi, các sản phẩm gắn liền
với địa danh, các huyền tích liên quan… Hƣớng tiếp cận này ra đời từ thế kỷ XV và

tiếp tục phát triển mạnh cho đến thế kỷ XX. Hiện nay vẫn c n nhiều nghiên cứu
tiếp cận theo hƣớng này, đặc iệt là các nghiên cứu địa danh ở địa phƣơng.
Trong các công trình nghiên cứu địa danh làng xã theo cách tiếp cận địa chí
học, căn cứ vào phạm vi nghiên cứu của các tác giả có thể chia thành những công
trình nghiên cứu quốc chí và những công trình nghiên cứu địa phƣơng chí. Những
công trình quốc chí có đề cập đến các địa danh làng xã tiêu iểu nhƣ: Dư
Nguyễn Trãi - (thế kỷ XV),
(thế kỷ XV), Đ ng h nh ư

ng Đứ

ản

hí –

- tập thể tác giả thời Lê Thánh Tông

hí (thế kỷ XIX)… Trong số này, Dư

hí đƣợc

coi là công trình cổ nhất về địa chí Việt Nam c n lƣu giữ đƣợc. Trong công trình
này, tác giả tập trung giới thiệu vị trí địa lý, thổ nhƣỡng, đặc sản, nghề thủ công của
các đạo. Các địa danh làng xã chỉ đƣợc đề cập trong những giới thiệu cụ thể.
Đứ

ản

ng


đƣợc coi là ản đồ đầu tiên của nhà nƣớc phong kiến Việt Nam. Đây là

ộ ản đồ thể hiện toàn ộ lãnh thổ Đại Việt khi đó. Ngoài ản đồ lãnh thổ quốc gia
c n có ản đồ các thừa tuyên, phủ, huyện, hƣơng, châu, xã… Đ ng h nh ư

21


×