Tải bản đầy đủ (.docx) (106 trang)

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI BỆNH UNG THƯ ĐANG ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TPHCM NĂM 2019

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (825.71 KB, 106 trang )

1
1

BỘ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

TRẦN VĂN HÙNG

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ CÁC YẾU TỐ
LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI BỆNH UNG THƯ
ĐANG ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG
BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TPHCM NĂM 2019

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802

Hà Nội - 2019


2
2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

TRẦN VĂN HÙNG

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ CÁC YẾU TỐ
LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI BỆNH UNG THƯ
ĐANG ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG
BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TPHCM NĂM 2019



LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS BS. Nguyễn Duy Phong
ThS. Trần Thị Thu Thủy

Hà Nội - 2019


3
MỤC LỤC


4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Bệnh viện

Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM

BS

Bác sĩ

BV

Bệnh viện


CLCS

Chất lượng cuộc sống

CSVC

Cơ sở vật chất

ĐD

Điều dưỡng

ĐHYD

Đại học Y Dược

ĐLC

Độ lệch chuẩn

KKTC

Khó khăn tài chính

KTC 95%

Khoảng tin cậy 95%

LVCN


Lĩnh vực chức năng

LVTC

Lĩnh vực triệu chứng

MLQ

Mối liên quan

NB

Người bệnh

NC

Nghiên cứu

NN

Người nhà

NNNB

Người nhà người bệnh

NVYT

Nhân viên y tế


SKTQ

Sức khỏe tổng quát

TB

Trung bình

TPHCM

Thành phố Hồ Chí Minh

K

Ung thư
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU


5
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI BỆNH UNG THƯ
ĐANG ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG
BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TPHCM NĂM 2019
Học viên: Trần Văn Hùng
Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS. BS. Nguyễn Duy Phong
ThS. Trần Thị Thu Thủy

Đặt vấn đề: Ung thư là bệnh lý nan y nguy hiểm, tạo ra gánh nặng bệnh tật trên
toàn thế giới với số lượng người bệnh (NB) ngày càng gia tăng. Năm 2018 thế giới có
khoảng 18,1 triệu người ung thư mới và 9,6 triệu người bệnh tử vong do ung thư [22].
Trong quá trình điều trị, chất lượng cuộc sống (CLCS) của NB được xem là ưu tiên hàng
đầu [66]. Đặc biệt là các NB ung thư có thể gặp nhiều vấn đề khiến CLCS bị ảnh hưởng.
Tại Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM trung bình mỗi năm có khoảng 59.979 ca nhập
viện trong đó có khoảng 15.000- 16.000 NB ung thư. Nhiều nghiên cứu cho thấy các yếu
tố về cơ sở vật chất, thái độ phục vụ của nhân viên y tế, chi phí khám chữa bệnh có liên
quan đến CLCS ở NB ung thư [38, 62]. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Chất
lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan của người bệnh ung thư đang được điều trị tại các
khoa lâm sàng, Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh năm 2019”. Kết quả
nghiên cứu sẽ cung cấp thêm những minh chứng khoa học cho việc hoạch định kế hoạch
và tổ chức các chương trình hỗ trợ NB ung thư trong tương lai tại BV.
Các nghiên cứu cho thấy ung thư ảnh hưởng đến CLCS của NB và CLCS cũng
được xem như là một mục tiêu quan trọng trong điều trị ung thư. Theo y văn, có nhiều yếu
tố ảnh hưởng đến CLCS của NB ung thư: tình trạng bệnh và điều trị, các yếu tố thuộc về


6
bệnh viện. Kết quả của nghiên cứu về CLCS ở NB ung thư sẽ sẽ cung cấp thêm những
minh chứng khoa học cho việc hoạch định kế hoạch và tổ chức các chương trình hỗ trợ NB
ung thư trong tương lai tại BV
Mục tiêu: Mô tả điểm CLCS và xác định mối liên quan giữa CLCS với các yếu tố
của NB ung thư tại các khoa lâm sàng, Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
năm 2019.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Trong thời gian từ tháng 01 đến tháng
06/2019, chúng tôi đã mời 318 NB ung thư giai đoạn 1 đến 3 đang được điều trị tại Bệnh
viện Đại học Y Dược Tp.HCM đủ khả năng trả lời các câu hỏi tham gia vào nghiên cứu.
Bộ câu hỏi khảo sát bao gồm 3 phần: (1) yếu tố nhân khẩu và tình trạng bệnh, (2) yếu tố
thuộc về bệnh viện và (3) CLCS của NB được đánh bằng EORTC QLQ-C30 đã được hiệu

chỉnh thông qua nghiên cứu pilot.
Kết quả: Điểm trung bình CLCS chung của NB ung thư 49,2 ± 6.5 điểm (nhỏ nhất
là 20 điểm cao nhất là 60,9 điểm). Lĩnh vực triệu chứng có điểm trung bình thấp nhất là
40,1 ± 24.4 điểm và lĩnh vực chức năng cao nhất với 54,8 ± 26.1 điểm. Có sự khác biệt
giữa điểm CLCS chung ở NB với yếu tố nhân viên BV đối xử tử tế và Bác sĩ tư vấn để lựa
chọn phương pháp điều trị thích hợp, tôn trọng NB (p<0,05). Có mối liên quan giữa các
yếu tố nhân khẩu, tình trạng bệnh và điều trị sau: nhóm tuổi, tôn giáo, trình độ học vấn,
tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp và tình trạng kinh tế bản thân, tình trạng kinh tế gia đình,
loại ung thư, thời gian mắc bệnh (p<0,05).
Kết luận: Điểm trung bình CLCS chung của NB ung thư ở mức thấp, với CLCS ở
lĩnh vực chức năng ghi nhận cao điểm hơn CLCS ở lĩnh vực tinh thần. Có mối liên quan
giữa thái độ giao tiếp của NVYT, sự tư vấn chọn phương pháp điều trị với CLCS của NB
ung thư. Các giải pháp liên quan đến tập huấn kỹ năng giao tiếp của NVYT với NB đã
được BV rất chú trọng và tiến hành đào tạo thường xuyên. Ngoài ra, các giải pháp khác
hướng đến xây dựng hệ thống hỗ trợ NB ung thư, đặc biệt quy trình tư vấn chuyên biệt
dành cho NB ung thư (trước khi nhận tin và trong quá trình điều trị) nên được chú trọng.
Nhằm giúp nâng cao hiệu quả điều trị và CLCS của NB ung thư đang điều trị tại BV.
Từ khóa: chất lượng cuộc sống, người bệnh ung thư, EORTC QLQ-C30, Bệnh
viện Đại học Y Dược TPHCM.


7

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư bệnh lý nan y nguy hiểm, tạo ra gánh nặng bệnh tật trên thế giới với
số lượng người mắc ngày càng nhiều. Trên thế giới, năm 2018 ước tính sẽ có
khoảng 18,1 triệu chẩn đoán ung thư mới và 9,6 triệu người bệnh tử vong do ung
thư [22] và ở Việt Nam trong năm 2014 đã có 58.200 trường hợp nam giới và
33.400 trường hợp nữ giới tử vong do ung thư [78].Theo báo cáo quốc gia về ung
thư của Hàn Quốc năm 2014, tỉ lệ sống còn sau 5 năm tại Hàn Quốc ở NB là 69,4%,

trong đó 2/3 số NB sẽ vượt qua được 5 năm [59]. Tỉ lệ sống sót toàn bộ của NB ung
thư ngày càng cải thiện do những tiến bộ y học cùng với sự ra đời của các phương
pháp điều trị tiên tiến và những phác đồ được chứng minh là có hiệu quả [59].
Chất lượng cuộc sống (CLCS) trong suốt quá trình điều trị được xem là một
trong những ưu tiên hàng đầu [80]. Do đó, CLCS được xem là một kết quả quan
trọng trong chăm sóc lâm sàng [28]. Đặc biệt là các NB ung thư, bởi họ có thể gặp
nhiều vấn đề liên quan đến thể chất và tinh thần khiến cho CLCS bị ảnh hưởng như:
mệt mỏi, mất ngủ, rối loạn nuốt, ăn không ngon [60] suy giảm khả năng tình dục
[17] rối loạn cảm xúc, đau khổ tâm chất [35], đau đớn thể lý [57] và nhiều vấn đề
khác. Một số triệu chứng của ung thư xuất hiện sau khi NB được chẩn đoán và
trong quá trình điều trị làm suy giảm CLCS, gây nên hệ quả về các suy nghĩ tiêu
cực, phần nào ảnh hưởng đến kết quả điều trị [23]. Mong muốn cải thiện CLCS
được coi như một phần quan trọng trong chiến lược điều trị ung thư [21]. Bên cạnh
đó, nhiều nghiên cứu cho thấy các yếu tố về cơ sở vật chất, thái độ phục vụ của
nhân viên y tế, chi phí khám chữa bệnh có liên quan đến CLCS ở NB ung thư [44,
76]. Đây là các yếu tố thuộc về quản lý mà bệnh viện có thể cải thiện nhằm mang
lại dịch vụ tốt nhất đến NB ung thư đang điều trị, giúp nâng cao hiệu quả điều trị
cũng như CLCS ở NB.
Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM là bệnh viện hạng I có quy mô 1.000
giường với tống số lượt thăm, khám bệnh ngoại trú và nội trú mỗi ngày khá cao.
Báo cáo hoạt động của Bệnh viện cho thấy trung bình mỗi năm có khoảng 59.979
ca nhập viện trong đó có khoảng 15.000- 16.000 NB bị ung thư. Các loại ung thư
thường gặp bao gồm: ung thư thực quản, dạ dày, gan, đại tràng, trực tràng, vú, tuyến


8

giáp. Thời gian nằm viện của NB ung thư dao động 14 – 100 ngày tại các đơn vị
[2]. Bên cạnh những hiệu quả của các phương pháp điều trị, Bệnh viện Đại học Y
Dược TPHCM đang hướng đến việc nâng cao CLCS của NB thông qua việc đánh

giá và hỗ trợ NB. Vì vậy, học viên tiến hành nghiêu cứu “Chất lượng cuộc sống và
các yếu tố liên quan của người bệnh ung thư đang được điều trị tại các khoa lâm
sàng, Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh năm 2019”. Kết quả
nghiên cứu sẽ cung cấp thêm những minh chứng khoa học cho việc hoạch định kế
hoạch và tổ chức các chương trình hỗ trợ NB ung thư trong tương lai tại Bệnh viện
Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.


9

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.

Mô tả CLCS của NB ung thư tại các khoa lâm sàng, Bệnh viện Đại học Y

Dược thành phố Hồ Chí Minh năm 2019.
2. Xác định mối liên quan giữa các yếu tố quản lý bệnh viện đến CLCS của NB
ung thư tại các khoa lâm sàng, Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí
3.

Minh năm 2019.
Xác định mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu, tình trạng bệnh và điều trị,
sự hỗ trợ của gia đình đến CLCS của NB ung thư tại các khoa lâm sàng, Bệnh
viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh năm 2019.

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Chất lượng cuộc sống
Tổ chức Y tế Thế giới (1995) định nghĩa chất lượng cuộc sống (CLCS) là
những cảm nhận chủ quan của từng cá nhân về cuộc sống của chính họ, được đặt

trong bối cảnh văn hóa và các hệ thống giá trị mà họ đang sống và liên quan đến các
mục đích, nguyện vọng, tiêu chuẩn và các mối quan tâm của các cá nhân này [9,
77]. Vì thế có thể hiểu tại sao các thang đo CLCS sức khỏe là những bảng câu hỏi
về cảm nhận của từng người chứ không dựa vào đánh giá chuyên môn của bác sĩ
hoặc kết quả xét nghiệm [13].
Về CLCS liên quan đến sức khỏe (tiếng Anh viết tắt là HRQoL), là một khái
niệm rộng bao gồm các chiều kích thước như hoạt động thể chất, sức khỏe tinh
thần, cảm xúc và xã hội. Vượt xa các biện pháp trực tiếp về sức khỏe cộng đồng,
tuổi thọ, và nguyên nhân của cái chết, và tập trung vào các tác động liên quan đến
CLCS [43]. Có nhiều chỉ số được dùng để đánh giá CLCS liên quan đến sức khỏe
như chỉ số chức năng tự nhận thức cũng như các chức năng về thể chất và cảm xúc.
Nhìn chung, các biện pháp đưa ra một đánh giá toàn diện về gánh nặng của bệnh có
thể ngăn ngừa, chấn thương, và khuyết tật [79].


10

Một nghiên cứu (NC) thực hiện tại một cở sở bệnh viện thuộc đại học ở Ấn
Độ, do tác giả Kannan thực hiện vào năm 2011, trên người bệnh (NB) ung thư được
hóa trị liệu cho các loại ung thư khác nhau. Kết quả chỉ ra rằng 80% NB trong NC
được báo cáo là có điểm CLCS ở mức TB và dưới TB, ngày càng cho thấy tầm
quan trọng của CLCS như một kết quả điều trị, ngoài các kết quả lâm sàng khác
[41].
Sức khỏe và bệnh tật đại diện cho một quá trình liên tục, liên quan đến kinh
tế, văn hóa xã hội, kinh nghiệm cá nhân và các khía cạnh lối sống. Vì vậy, nâng cao
CLCS đã trở thành một trong những mục tiêu được ưu tiên bên cạnh cải thiện bệnh
lý của chăm sóc lâm sàng và chính sách công cộng trong lĩnh vực y học dự phòng
[50].
1.1.2. Người bệnh ung thư – Thực trạng ung thư
Ung thư là vấn đề y tế chính trên toàn cầu. Hiện nay, ung thư được xếp vào

loại bệnh tật gây ra gánh nặng kinh tế và tỉ lệ tử vong cao. Kết quả thống kê từ tổ
chức GLOBOCAN (2012) cho thấy 14,1 triệu chẩn đoán ung thư mới và hơn 8,2
triệu trường hợp tử vong do ung thư trong năm 2012. Các chẩn đoán phổ biến cũng
trong thống kê GLOBOCAN (2012) bao gồm: ung thử phổi (1,82 triệu), ung thư vú
(1,67 triệu) và đại trực tràng (1,36 triệu); Các bệnh dễ gây tử vong nhất gồm: ung
thư phổi (1,6 triệu), ung thư gan (745.000) và ung thư dạ dày (723.000) [30]. Đến
năm 2018, GLOBOLCAN thống kê rằng ước tính sẽ có khoảng 18,1 triệu ca ung
thư mới và 9,6 triệu ca tử vong do ung thư. Trong cả hai giới kết hợp, ung thư phổi
được chẩn đoán phổ biến nhất (11,6% tổng số trường hợp) và là nguyên nhân thuộc
nhóm gây tử vong nhiều nhất (18,4% tổng số ca tử vong do ung thư), theo sau là
ung thư vú đặc trưng ở nữ (11,6%), ung thư tuyến tiền liệt (7,1%) và ung thư đại
trực tràng (6,1%), dạ dày (8,2%) và gan (8,2%) [22].
Tại Việt Nam, các loại ung thư hàng đầu trong nước là: Phổi, gan, dạ dày,
ruột - trực tràng và mũi họng thường gặp ở nam giới; Và vú, cổ tử cung, dạ dày,
gan, ruột kết-trực tràng và phổi thường gặp ở nữ giới [71].


11

1.2. Chất lượng cuộc sống ở người bệnh ung thư
1.2.1. Trên thế giới
Tác giả Malathi G Nayak và các cộng sự (2017) đã tiến hành một cuộc khảo
sát trên 768 NB ung thư được lựa chọn bằng kỹ thuật lấy mẫu thuận tiện. Dữ liệu
trong NC được thu thập bằng kỹ thuật phỏng vấn bộ câu hỏi. Kết quả chỉ ra NB ung
thư trong NC có 30,2% thuộc nhóm 51 đến 60 tuổi, phần lớn mắc ung thư đầu và cổ
(chiếm 40,1%) và 57,7% mắc bệnh khi vào giai đoạn III. NC tìm thấy 82,3% NB
ung thư có điểm CLCS thấp. NB ung thư trải qua nhiều triệu chứng ảnh hưởng đến
CLCS của họ. Cần phải phát triển các biện pháp giúp NB cải thiện CLCS [56].
Với nhiều loại ung thư, tác giả tìm thấy nhiều NC quan tâm đến CLCS ở
những NB ung thư vú và chủ yếu sử dụng thang đo EORTC QLQ-C30 kết hợp với

thang đo CLCS QLQ- BR23 dành riêng cho NB ung thư vú. Kết quả trong nhiều
NC cho thấy, với thang đo EORTC QLQ-C30 điểm TB CLCS chung của NB ung
thư vú dao động từ 48,33 - 65,7 điểm [20] [32] [49]. Có sự khác nhau về điểm TB
CLCS chung ở các NC với các yếu tố liên quan khác nhau. Đặc tính của mỗi quốc
gia, phương pháp thực hiện NC tạo nên những có sự khác biệt này.
Cụ thể, trong NC thực hiện bởi Ganesh S và cộng sự (2016) về CLCS của
NB ung thư vú ở Malaysia, có 223 NB ung thư vú đã được tuyển chọn với tỷ lệ đáp
ứng là 92,1%. Tuổi TB của NB là 52,4 tuổi (KTC 95% = 51,0, 53,7, SD = 10,3). Đa
số người được hỏi là người Mã Lai (60,5%), tiếp theo là người Trung Quốc
(19,3%), người Ấn Độ (18,4%) và những người khác (1,8%). Hơn 50% số người
được hỏi mắc ung thư giai đoạn III và giai đoạn IV ác tính. Đánh giá CLCS chung
TB của NB ung thư vú là 65,7 điểm (Độ lệch chuẩn (ĐLC) = 21,4 điểm). Trong lĩnh
vực chức năng (LVCN) thì điểm TB “Chức năng nhận thức” là cao nhất (84,1 điểm,
ĐLC = 18,0), trong khi tại lĩnh vực triệu chứng (LVTC) cao nhất là “Khó khăn tài
chính (KKTC)” (40,1 điểm, ĐLC = 31,6).
NC tiếp theo được thực hiện bởi tác giả Manandhar thực hiện năm 2014 về
CLCS của NB ung thư vú đang điều trị tại các trung tâm ung thư quốc gia ở Nepal.
Kết quả NC cho thấy: Điểm TB CLCS chung cao hơn mức TB một chút là 52,8
điểm, với ĐLC là 24,6 điểm. Trong thang đo QLQ-C30, LVCN cho thấy chức năng


12

có điểm thấp nhất là chức năng cảm xúc và xã hội, và chức năng có điểm TB cao
nhất là chức năng thể chất và vai trò. Gần 90% NB trong NC gặp khó khăn kinh tế
[49].
Với tác giả Saleha thực hiện một NC tại các khoa lâm sàng Bệnh viện
KEMU Mayo tại Lahore, Pakistan từ tháng 5 đến tháng 11 năm 2009. Kết quả cho
thấy: tuổi TB của NB là 46,3 ± 9,52 tuổi. Với điểm CLCS chung là 48,33 ± 27,77
điểm [20].

CLCS ở NB ung thư tại các nước đang phát triển đã và đang được chú trọng.
NC của Mohan đánh giá CLCS trên 76 NB ung thư phổi, bằng cách sử dụng bảng
câu hỏi CLCS WHOQoL-Bref phiên bản tiếng Hindi của WHO. Trong NC kể trên
nam giới chiếm 87%, tuổi TB là 55 tuổi (SD = 10). Ho, khó thở, đau ngực và xuất
huyết lần lượt có mặt ở 83%, 72%, 66% và 43% NB. TB thời gian của các triệu
chứng là 5,9 tháng (khoảng 1-13), 89% bị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ. Số
năm TB hút thuốc là 23 (khoảng 0,5-88). Hầu hết NB (chiếm 53%) có chỉ số
Karnofsky (KPS) ở mức 70% là “Mất khả năng làm việc, hoạt động bình thường
nhưng còn tự phục vụ” và 83% NB ở giai đoạn III, IV [53]. Kết quả NC cho thấy
NB bị ung thư phổi ở một nước đang phát triển như Ấn Độ có CLCS không đạt yêu
cầu [53].
Năm 2009, tác giả Ozturk A thực hiện đánh giá CLCS và chức năng phổi
của những người sống sót lâu dài của ung thư phổi không phải tế bào nhỏ được điều
trị bằng xạ trị triệt để hoặc sau phẫu thuật. Với mục đích mô tả CLCS, đánh giá
chức năng phổi và so sánh các đặc điểm nhân khẩu học và lâm sàng với CLCS ở
những người sống sót lâu dài của ung thư phổi không phải tế bào nhỏ được điều trị
bằng xạ trị triệt để hoặc sau phẫu thuật. Hai mươi tám NB đã được tuyển dụng vào
NC được theo dõi TB 46 tháng (khoảng: 25-125 tháng). Kết quả thấy là CLCS của
NB sống còn sau 2 năm xạ trị là tốt. Từ đó khuyến nghị cần có những NC sâu hơn
để hiểu rõ hơn về CLCS trước điều trị của NB ung thư [58].
Một NC tổng hợp các bài báo về CLCS của 8 quốc gia Trung Đông của tác
giả Haddou Rahou B và cộng sự, năm 2016 về CLCS ở phụ nữ Ả Rập bị ung thư


13

vú. Việc tìm kiếm được tiến hành bằng cách sử dụng các tiêu chí bao gồm và loại
trừ và phù hợp với các mục báo cáo ưu tiên cho các tổng quan hệ thống/phân tích
tổng hợp (PRISMA). Các cơ sở dữ liệu được tư vấn là PubMed, Science Direct,
Index Medicus cho Wordl Health Organisation Đông Địa Trung Hải, Tạp chí Châu

Phi trực tuyến. Kết quả NC cho thấy điểm số tốt về sức khỏe tổng quát (SKTQ)
được ghi nhận tại phụ nữ Ả Rập sống ở các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
(điểm TB = 74,6) so với các quốc gia khác [34].
CLCS ở NB ung thư đang trải qua hóa trị liệu tại một trung tâm chăm sóc Đại
học ở vùng Malwa, Bang Punjab do tác giả Harminder Singh cùng các cộng sự thực
hiện năm 2014. Tổng cộng có 131 NB ung thư được tuyển dụng với tuổi TB là
49,05 ± 14,35 tuổi. NC tìm mối liên quan của tình trạng SKTQ với 4 nhóm triệu
chứng, đó là: mất ngủ, đau, mất cảm giác ngon miệng và táo bón và nhóm KKTC.
Kết quả NC thấy rằng SKTQ cải thiện đáng kể ở nhóm ba so với nhóm một, cho
thấy sức khỏe tổng thể và CLCS chung của NB được cải thiện khi phiên hóa trị tiến
triển. Mặc dù CLCS của NB không cho thấy sự cải thiện đáng kể trong tất cả các
lĩnh vực khi trải qua hóa trị tương ứng, nhưng chẩn đoán hợp lý với phương pháp
điều trị thích hợp bao gồm hóa trị liệu có thể làm giảm nhận thức tiêu cực của NB
về ung thư như một căn bệnh gây tử vong, hướng đến cải thiện sức khỏe tinh thần
cho NB [64].
NC của Mckernan (2008) thực hiện tại Anh trên 152 NB bị ung thư dạ dày
hoặc thực quản, được phân loại bằng phân loại di căn hạch UICC (TNM) và đã
được phẫu thuật hoặc điều trị giảm nhẹ trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm
1997 đến tháng 12 năm 2002. NC cho thấy điểm số các LVCN trải dài từ 0 đến 100.
Các yếu tố được tìm thấy có liên quan đến CLCS ở NB ung thư bao gồm: tuổi, kích
thước khối u, giai đoạn TNM, cân nặng và điều trị [51].
NC của Jocham (2009) tiến hành tại miền Nam nước Đức trên 121 NB.
Trong đó bao gồm 64 NB đang nằm nội trú tại BV và 57 NB trong nhóm được
chăm sóc tại nhà. Các chẩn đoán phổ biến nhất là ung thư dạ dày - ruột (31%), ung
thư niệu sinh dục (19,3%), ung thư phổi (17,4%), ung thư vú ( 17,4%) và các chẩn
đoán ung thư khác (15,1%). Kết quả cho thấy chức năng nhận thức có TB cao nhất


14


58.6 ± 30.3 và triệu chứng nặng nề nhất là mệt mỏi (72.5 ± 21.2. TB SKTQ là 29.3
± 31.6 và KKTC là 33 ± 33.5 [37].
1.2.2. Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, do tình trạng gia tăng tỉ lệ ung thư nhanh chóng, CLCS của
NB ngày càng được quan tâm và cải thiện.
Một NC về triệu chứng đau và CLCS của NB ung thư giai đoạn tiến xa tại
Bệnh viện Ung Bướu TPHCM” thực hiện trong năm 2009 và 2010 của tác giả Vũ
Văn Vũ. Với thiết kế là NC cắt ngang trên 256 NB được thu thập dữ kiện qua 2
thang đo. Một thang đo về tình trạng đau và thang đo thứ 2 đo lường về CLCS của
EPRTC QLQ-30. Kết quả thấy rằng 73,3% NB đang có triệu chứng đau, trong đó có
63% NB đang chịu “đau ít” hoặc “không đau” (dưới 5 điểm). Trong số NB ung thư
tham gia NC, điểm SKTQ đạt mức TB 53,7 điểm. Đau làm suy giảm CLCS của NB
ở các LVCN như hoạt động thể chất (p<0,001), chức năng (p= 0,001), cảm xúc (p=
0,004), nhận thức (p=0,012). Và các LVTC như mệt mỏi, buồn nôn, v.v… TC đau
làm giảm điểm SKTQ của NB (p=0,000). Tuy nhiên, triệu chứng đau không làm
tăng thêm tổn hại về tài chính cho NB [14].
NC khác ở NB ung thư phổi không tế bào nhỏ tại Trung tâm Y học Hạt nhân
và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai có sự thay đổi tích cực CLCS sau 02 tháng điều
trị. NB thay đổi điểm số CLCS về các chức năng sau: thể chất (80,5 - 86,7); hoạt
động (72,7 - 85,3); chức năng cảm xúc (65,4 - 87,8). Trong lĩnh vực triệu chứng cho
thấy: mệt mỏi (24,8 - 13,7); khó thở (17,9 - 2,6); ho (48,7 - 2,6); ho ra máu (9,7 0,0); đau (26,3 - 10,3); rối loạn giấc ngủ (25,6 - 15,4); táo bón (14,1-0,0); tiêu chảy
(điểm số 5,1 - 20,5). Điểm số CLCS chung thay đổi là 51,9 - 59,0 và vấn đề tài
chính (33,3-61,5). Tuy nhiên, NB vẫn gặp các tác động xấu là triệu chứng tiêu chảy
và KKTC [10].
Nhóm tác giả Trần Văn Thiệp và các cộng sự tiến hành NC “CLCS và hài
lòng NB ung thư vú giai đoạn sớm sau đoạn nhũ tiết kiệm da và tái tạo vú tức thì”
nhằm đánh giá kết quả an toàn, CLCS và hài lòng của NB ung thư vú sau đoạn nhũ
tiết kiệm da và đoạn nhũ chừa núm vú với tái tạo vú tức thì. Thực hiện tại Khoa
ngoại 4, Bệnh viện Ung bướu TPHCM từ năm 2003 - 2006. Sử dụng thang đo



15

QOL-ACD-B của Nhật để đánh giá CLCS của NB. Kết quả cho thấy CLCS NB tái
tạo vú tức thì và bảo tồn vú cao hơn nhóm đoạn nhũ về cảm nhận hình dáng cơ thể
(p=0,01) và khía cạnh tình dục (p=0,03) [12].
NC của Phạm Định Hoàng (2018) trên 116 phụ nữ được chẩn đoán là ung
thư vú. trong đó, các cách phát hiện bệnh bao gồm: nghi ngờ mắc bệnh và phát hiện
khi tự đi khám là cao nhất (55,2%); khi thấy triệu chứng và đi khám (25,0%) và
phát hiện qua khám sức khỏe định kỳ (19,8%). Những NB trong NC này là những
người nhập cư, họ chủ yếu làm nghề công nhân tại quận Thủ Đức. Điểm CLCS tổng
quát TB của NB là 66,6 ± 16,2. Trong đó, điểm chức năng thể chất là 77,7 ± 20,1,
chức năng hoạt động 76,1 ± 22,8, chức năng cảm xúc 87,1 ± 17,7, chức năng nhận
thức 83,5 ± 19,2, chức năng xã hội 77,2 ± 23,6. Các yếu tố có liên quan đến CLCS
NB ung thư bao gồm: tuổi, nghề nghiệp, học vấn, tôn giáo, giai đoạn bệnh, bệnh lý
kèm theo, chia sẻ tình hình bệnh tật, quản lý căng thẳng, chỉ số hạnh phúc, chi trả
điều trị: hài lòng về tiện nghi bệnh viện, KKTC [8].
1.3. Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống ở người bệnh ung thư
1.3.1. Yếu tố liên quan đến quản lý/ dịch vụ của Bệnh viện
Từ thập niên 80, các NC trên NB ung thư đã chỉ ra tầm quan trọng trong việc
giao tiếp, hành xử của NVYT ảnh hưởng đến CLCS. Sự nhiệt tình trong hướng dẫn,
chu đáo trong tư vấn và rõ ràng trong việc truyền đạt thông tin y tế đóng góp đến
tiến trình chữa trị lâu dài của NB ung thư [72].
NC của tác giả Rowlands (2008) tại Khoa Chăm sóc giảm nhẹ, Bệnh viện
Velindre, Vương quốc Anh trên những NB ung thư thời kì cuối cho thấy thái độ,
năng lực và sự giúp đỡ của nhân viên tạo ra bầu không khí của cơ sở y tế bất kể bố
trí, nội thất, thiết bị và trang trí. Phần lớn các NB trong NC này bày tỏ sự ưa thích
mạnh mẽ đối với một phòng nhiều giường khi họ đủ khỏe để tương tác và một
buồng đơn khi họ bị bệnh hoặc cận tử [36].
Kết quả này trái ngược với các NC trước tại Hoa Kỳ về việc xây dựng bệnh

viện mới với tất cả các phòng đều là phòng đơn. Mặc dù chính sách hiện tại khuyến
nghị sử dụng phòng một giường, NC này cho thấy sự cần thiết phải kết hợp giữa các
phòng nhiều giường và phòng đơn liên quan đến tác động của môi trường đến
CLCS của NB [70]. NC trên cũng cho thấy tất cả NB đều cảm thấy môi trường


16

chăm sóc có ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của họ. Một số tiêu chí về cơ sở vật
chất mà NB cho rằng quan trọng đến CLCS của mình bao gồm: sự sạch sẽ, tầm nhìn
ra bên ngoài, ánh sáng và môi trường thoáng mát [36]. NC của tác giả Manandhar S
(2014) thấy rằng những NB được hỗ trợ xã hội tốt được tìm thấy có CLCS chung tốt
[49].
Bên cạnh đó, ung thư là một tình trạng sức khỏe mạn tính dù là sau điều trị
và để lại nhiều tác động lớn về mặt kinh tế cho NB. CancerCare –mạng lưới hỗ trợ
cho NB ung thư đã nhận thấy tỉ lệ lần lượt là 18% và 11% NB ung thư đã bỏ qua
các loại thuốc hoặc hủy một cuộc hẹn y tế trong 3 tháng qua vì vấn đề tài chính.
Một số tình trạng kinh tế mà NB phải đối mặt như: phá sản, bán nhà và vay tiền họ
hàng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe tinh thần ở NB [36]. Do đó việc thông báo
chi phí ngay từ đầu bao gồm chi phí điều trị, chi phí các dịch vụ kèm theo là cần
thiết nhằm giúp NB có hoạch định kinh tế tốt hơn.
Tại Thổ Nhĩ Kỳ, một kết quả NC thấy là: để có hiệu quả, việc điều trị cần
phải được chấp nhận, dễ hiểu và được mô tả rõ ràng phù hợp với các ưu tiên cuộc
sống của NB. Sự chấp nhận điều trị phụ thuộc vào khả năng của điều dưỡng và của
các bác sĩ lâm sàng khác trong việc kết nối với NB để có thể chuẩn bị tốt cho họ về
trải nghiệm điều trị theo ý nghĩa của cuộc sống của họ. Bên cạnh đó, việc giải thích
cụ thể, minh bạch, rõ ràng về phác đồ điều trị, cũng như duy trì mức độ CLCS của
NB trong toàn bộ quá trình điều trị [26].
Tác giả Ozturk A (2009) tiến hành NC đánh giá CLCS và chức năng phổi
của những người sống sót lâu dài của ung thư phổi không phải tế bào nhỏ được điều

trị bằng xạ trị triệt để hoặc sau phẫu thuật. Nhận thấy tình trạng bảo hiểm y tế, hút
thuốc thụ động được xác định là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến CLCS
[58].
Một NC về CLCS của NB ung thư ở Estonia, sử dụng thang đo WHOQoL
của Tổ chức Y tế Thế giới. NC cho thấy rằng khi đánh giá CLCS ở NB ung thư,
điểm sức khỏe thể chất là thấp nhất và cao nhất là chức năng giao tiếp xã hội. Niềm
tin cá nhân và các yếu tố kinh tế xã hội như giáo dục và tình trạng lao động cũng
ảnh hưởng đến phần đánh giá của NB. Rõ ràng, sự cần thiết về các hệ thống hỗ trợ


17

NB ung thư. Tư vấn chuyên nghiệp nên có sẵn cho NB và gia đình, bạn bè của họ,
lý tưởng nhất là thông qua một mạng lưới các NB ung thư cũ. Và tất cả các NB ung
thư nên được tiếp cận với vật lý trị liệu [61].
CLCS của NB ung thư vú tại một số BV Ung bướu tại Việt Nam, tác giả
Nguyễn Thu Hà và các cộng sự tìm thấy những biến số ảnh hưởng đến CLCS của
NB đó là chất lượng giao tiếp, hướng dẫn và giúp NB lựa chọn quyết định điều trị
tốt nhất cũng như cảnh báo những tác dụng phụ mà NB phải trải qua [7]. Một NC
khác của Phạm Định Hoàng (2018) trên NB ung thư vú. Qua NC nhận thấy tác động
của các yếu tố có liên quan đến chi trả điều trị: hài lòng về tiện nghi BV, KKTC của
NB đến điểm CLCS [8].
Một NC nhằm đánh giá tình trạng đau và CLCS của NB ung thư giai đoạn
tiến xa tại Bệnh viện Ung Bướu TPHCM cho thấy có sự khác nhau về cảm nhận đau
giữa NB nam và nữ, trong đó giới nữ dễ cảm thấy đau hơn giới nam. Những NB
được điều trị đầy đủ thuốc giảm đau theo bậc của WHO thì có SKTQ cao hơn (p=
0.004)[14].
1.3.2. Các yếu tố cá nhân khác
1.3.2.1.Yếu tố nhân khẩu
Một số NC chỉ ra rằng việc thực hành theo tập quán, văn hóa sẽ ảnh hưởng

đến CLCS nói chung. Ví dụ như một NC trên những NB ung thư vú cho thấy sự
khác biệt giữa nhóm dân số gốc Á Châu so với nhóm da trắng trong việc sử dụng y
học cổ truyền như chữa bệnh từ thảo dược, cây cỏ và châm cứu có ảnh hưởng đến
sự khác biệt về CLCS [25, 40]. Saleha S B và các cộng sự, 2010 cho thấy ở những
NB nữ giới, NB trẻ tuổi tìm thấy có điểm CLCS tốt hơn so với những NB lớn tuổi
(46,62 so với 42,30 điểm, p<0,05). Ngoài ra, các yếu tố nhân khẩu học: tình trạng
hôn nhân, giáo dục có mối liên quan mạnh với các khía cạnh CLCS của thang đo
EORTC QLQ-C30 [20].
NC thực hiện bởi tác giả Ganesh S và cộng sự, năm 2016 về CLCS của NB
ung thư vú ở Malaysia cho thấy yếu tố dự báo quan trọng cho tình trạng CLCS
chung là tuổi tác. CLCS của NB ung thư vú được phản ánh bởi SKTQ của NB được


18

cải thiện khi tuổi tác tăng lên [32]. Trong NC tác giả Manandhar S và cộng sự, năm
2014 cho thấy những người già được tìm thấy có CLCS chung tốt [49]. NC của
Mckernan (2008) cho thấy các yếu tố có liên quan đến CLCS ở NB ung thư bao
gồm: tuổi, cân nặng [51].
Bên cạnh đó tôn giáo, tín ngưỡng và nghi lễ văn hóa có thể tương tác với
nhau và việc phải đối mặt với các sự kiện khủng hoảng gia tăng các hành vi thực
hành tôn giáo. Hai NC được tiến hành tại Hoa Kỳ và Thụy Điển kết luận rằng thực
hành tôn giáo và tinh thần cải thiện CLCS, sức khỏe thể chất, hy vọng và sự hài
lòng nói chung và làm giảm sự lo lắng [16, 66].
NC của Sema Üstündağ (2015) cho thấy NB ung thư nữ có sức khỏe thể lý
và CLCS xã hội kém hơn nam giới (t = 3,285, p = 0,001; Z = 4,529, p=0,0001).
Người độc thân có CLCS mặt tâm lý và sức khỏe nói chung kém hơn so với NB đã
kết hôn (t = 14.294, p = 0,0001; t = 13,783, p = 0,0001). Không có mối quan hệ
giữa giáo dục và CLCS (p > 0,05). Các bà nội trợ có sức khỏe thể chất và CLCS xã
hội thấp hơn các nhóm khác được NC (p <0,05) [69].

Tại Ấn Độ, NC đánh giá CLCS trên NB được chẩn đoán ung thư phổi của tác
giả Mohan A và cộng sự năm 2006, cho thấy CLCS không tương quan với tuổi tác,
giới tính [53].
NC của tác giả Ozturk A và các cộng sự, năm 2009 đánh giá CLCS và chức
năng phổi của những người sống sót lâu dài của ung thư phổi không phải tế bào nhỏ
được điều trị bằng xạ trị triệt để hoặc sau phẫu thuật. Yếu tố tuổi, trình độ học vấn
được xác định là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến CLCS [58].
Khảo sát năm 2015 tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội tìm thấy có mối liên
quan giữa yếu tố trình độ văn hóa với CLCS, kết quả có ý nghĩa thống kê [4].
1.3.2.2. Các yếu tố liên quan đến triệu chứng bệnh và điều trị
NC của tác giả Malathi G Nayak và các cộng sự, năm 2017 cho thấy CLCS
của phần lớn NB bị ảnh hưởng bởi các triệu chứng của họ. Cần phải phát triển các
biện pháp can thiệp để quản lý hiệu quả các triệu chứng sẽ giúp NB có ý thức kiểm
soát bệnh tật và điều trị tốt hơn và cải thiện CLCS [56].


19

NB ung thư vú có điểm số xã hội thấp hơn các nhóm NB ung thư khác. NC này
cũng chỉ ra rằng ở NB có điểm CLCS thấp thường tìm đến các phương pháp dân gian
như đi “thầy lang” hoặc đeo các loại bùa [69]. NC của tác giả Saleha S B và các cộng
sự, 2010 cho thấy tình trạng mệt mỏi, mức độ đau, hình ảnh cơ thể, các triệu chứng
bệnh của vú đã được tìm thấy các yếu tố dự báo đáng kể về CLCS của NB ung thư
vú (p<0,05) [20].
Phương pháp can thiệp ung thư có ảnh hưởng đến CLCS của NB. Phẫu thuật
bảo tồn vú so với phẫu thuật cắt bỏ vú, nạo hạch nách, xạ trị và hóa trị liệu có liên
quan đến mức độ đau cao hơn ở những NB ung thư vú [19]. Kao và Shi nhận thấy
rằng sau 2 năm chẩn đoán, BN nữ đã xạ trị có sức khỏe tốt hơn so với những người
không được điều trị bằng xạ trị [42, 63]. Edib và cộng sự tìm thấy kết quả trái
ngược nhận thấy mối liên quan giữa xạ trị với tình trạng sức khỏe tinh thần kém hơn

không có sự khác biệt có ý nghĩa [27]. Đang điều trị (so với kết thúc điều trị), hóa
trị liệu liên quan đến tình trạng sức khỏe thể lý và tinh thần kém [46, 74].
NC tại Ấn Độ của tác giả Mohan A và cộng sự năm 2006, cho thấy CLCS
không tương quan với sự hiện diện hoặc thời gian của các triệu chứng, loại mô học,
giai đoạn bệnh hoặc mức độ hút thuốc. Các lĩnh vực vật lý và tâm lý của CLCS
tương quan đáng kể với điểm chỉ số KPS. NB có chỉ số KPS ở mức 80% có thể chất
tốt hơn (p<0,001), tâm lý (p<0,01) và giao tiếp xã hội (p<0,05) so với những người
có chỉ số KPS ở mức 70%[53].
NC tác giả Mehnert A và Koch U, năm 2008 cho thấy: CLCS thấp hơn
(p<0,01) và mức độ lo lắng cao hơn (p<0,001) đã được quan sát thấy ở những người
sống sót sau ung thư so với các nhóm so sánh quy chuẩn điều chỉnh theo tuổi. Thời
gian kể từ khi chẩn đoán ung thư không có tác động đáng kể đến tâm lý cũng như
CLCS [52].
Năm 2009 tác giả Ozturk A và các cộng sự thực hiện NC “Đánh giá CLCS
và chức năng phổi của những người sống sót lâu dài của ung thư phổi không phải tế
bào nhỏ được điều trị bằng xạ trị triệt để hoặc sau phẫu thuật”. Tất cả các mối tương
quan xen kẽ đều có ý nghĩa thống kê (p <0,01). Mối tương quan tích cực mạnh nhất
được tìm thấy giữa hoạt động thể chất và vai trò và chức năng nhận thức (r = 0,59, r


20

= 0,37). Mối tương quan cao nhất của EORTC QLQ-C30 và thang đo hiệu suất
Karnofsky (KPS) trong bảng câu hỏi được tìm thấy là với chức năng vật lý và táo
bón (r = 0,41, r = 0,44 có ý nghĩa thống kê với p<0,05). Giai đoạn bệnh, hóa trị liệu,
bệnh comorid và hút thuốc thụ động được xác định là những yếu tố quan trọng ảnh
hưởng đến CLCS. Các chức năng thể chất, vai trò, nhận thức và cảm xúc được tìm
thấy thấp hơn đáng kể khi có khó thở (r = 0,42, r = 0,58, r = 0,50, r = 0,63 với
p=0,02, p<0,01, p<0,01, p<0,05, tương ứng) [58].
Khảo sát CLCS trên NB ung thư và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng được thực

hiện tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2015 tìm thấy có mối tương quan giữa:
giai đoạn bệnh, thời gian mắc bệnh và phương pháp điều trị với điểm CLCS. Thời
gian mắc bệnh kéo dài, giai đoạn nặng và việc được điều trị chăm sóc giảm nhẹ có
liên quan đến thực tế rằng CLCS thấp hơn có ý nghĩa thống kê. Manandhar S và
cộng sự, năm 2014 cho thấy những NB bị ung thư vú giai đoạn I được tìm thấy có
CLCS chung tốt [49].
1.3.2.3. Sự hỗ trợ của gia đình
NC của Nayak và George tại Ấn Độ nhằm tìm hiểu về mối liên hệ giữa
CLCS và sự hỗ trợ từ gia đình. NC cho thấy các yếu tố hỗ trợ từ gia đình như: (1)
mối liên hệ với các thành viên trong gia đình, (2) sự thoải mái khi chia sẻ tình trạng
bệnh tật, (3) nhận được sự hỗ trợ các nhu cầu thiết yếu từ các thành viên trong gia
đình có ảnh hưởng tích cực đến CLCS của NB ung thư. Rào cản lớn nhất trong
trong khía cạnh hỗ trợ từ gia đình đối với NB là yếu tố kinh tế [56].
Một NC khác tại tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc trên 803 NB ung thư cho thấy
một mô hình chăm sóc tích hợp bao gồm chăm sóc phục hồi sau khi can thiệp y
khoa tại gia đình và đáp ứng tốt các nhu cầu chăm sóc sau bệnh từ gia đình và cộng
đồng sẽ giúp cải thiện CLCS của NB[73].
1.3.2.4. Yếu tố khác
Lo lắng, trầm cảm và CLCS của NB ung thư đang xạ trị được tìm hiểu thông
qua một NC cắt ngang tại bệnh viện cộng đồng ở Nam Bavaria, Đức, do tác giả
Frick E và các cộng sự, năm 2007. Mục đích của NC này là để xác định tác động
của các đặc điểm bệnh tật và bệnh lý tâm sinh lý đến CLCS của NB ung thư vô


21

tuyến ở các khía cạnh liên quan đến sức khỏe và cá nhân. Kết quả tìm thấy một mối
tương quan tích cực yếu được tìm thấy giữa tình trạng hoạt động đánh giá bằng chỉ
số Karnofsky và điểm CLCS. Lo lắng và trầm cảm có mối tương quan đáng kể với
điểm CLCS. Ở những NB báo cáo có khó khăn trong việc chấp nhận sự giúp đỡ có

điểm CLCS thấp hơn đáng kể. Bệnh lý tâm thần có ảnh hưởng đáng kể đến điểm
CLCS của NB trải qua xạ trị. Đo lường điểm CLCS riêng lẻ xuất hiện như một đánh
giá nhu cầu thích nghi và giúp nhà trị liệu tâm lý tập trung vào các vấn đề và mong
muốn của NB. Hơn nữa, điểm CLCS của NB là mục tiêu chính trong việc cung cấp
hoặc lập kế hoạch chăm sóc sức khỏe tâm thần trong các dịch vụ điều trị ung thư
[31].
Trong một NC tổng quan hệ thống của tác giả Jasper K W Gerritsen và
Arnaud J P E Vincent, năm 2016 cho thấy can thiệp tập thể dục rất khác nhau về nội
dung, tần suất, thời lượng và cường độ đã cải thiện đáng kể CLCS ở NB ung thư so
với chăm sóc thông thường (chênh lệch TB 5,55 điểm, KTC 95% (3,19 đến 7,90),
p<0,001). Các kết quả khác liên quan chặt chẽ đến CLCS, chẳng hạn như mệt mỏi
và hoạt động thể chất, cũng được cải thiện. Kết luận: tập thể dục có tác động tích
cực trực tiếp đến CLCS ở NB ung thư, trong và sau khi can thiệp y tế. Tập thể dục
là một điều trị có liên quan đến lâm sàng và nên là một liệu pháp bổ trợ cho điều trị
bệnh trong ung thư [33].
1.4. Công cụ đo lường chất lượng cuộc sống
1.4.1. Đánh giá chất lượng cuộc sống
Đánh giá CLCS đối với các tình trạng hay chẩn đoán bệnh lý khác nhau là rất
cần thiết, nó giúp phản ánh tầm ảnh hưởng của tình trạng bệnh đến các khía cạnh
chất lượng trong cuộc sống của NB. Bên cạnh đó, việc tìm hiểu CLCS giúp đánh
giá các biện pháp, giải pháp can thiệp về y mặt học hiệu quả như thế nào đến NB.
Theo WHO, CLCS liên quan đến sức khỏe nói chung được coi là cấu trúc
tích hợp nhiều chiều kích như: sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, quan hệ xã hội
và toàn trạng nói chung [77]. Theo quan điểm của Lawton, CLCS bao gồm bốn
chiều kích quan trọng: Năng lực nhận thức, thể trạng tâm trí, môi trường khách
quan, nhận thức về CLCS [45].


22


HRQoL comprises four dimensions: physical and motor skills, mental state,
social and economic conditions, and somatic perception (e.g., symptoms, especially
pain). Importantly, the concept draws attention to the need to distinguish between an
objective state of health (as determined by observed symptoms) and the subjective
experience of the patient (i.e., HRQoL) concerning that state using objective and
subjective methods of assessment. An objective assessment refers to a method of
determining a person’s actual situation, or the facts independent of the person’s
subjective opinions or feelings about their particular situation. In contrast, a
subjective assessment refers to a method of determining the situation as described
by the patient, with sufficient consideration of the emotional dimension of their
experience. This assessment should take into account the full range of psychological
states – that is, it is important to not only diagnose negative emotional states such as
depression and anxiety, but also the positive components of one’s experience, such
as satisfaction, hope, and ease of adaptability. Overall, both types of assessments
must be used to ensure a full evaluation of a patient’s quality of life.
1.4.2. Các công cụ khảo sát về chất lượng cuộc sống
Thang đo CLCS được xây dựng và có thể chia thành 2 nhóm chính: tổng
quát hoặc chuyên biệt theo bệnh lý [13]. Có nhiều bộ công cụ đánh giá CLCS đang
được sử dụng phổ biến trên thế giới, như thang đo WHOQoL-BREF và thang đo
EORTC QLQ-C30.
Về thang đo WHOQoL-BREF là một phiên bản ngắn gồm 26 câu hỏi được
phát triển từ WHOQoL-100 nhằm giảm bớt gánh nặng cho người trả lời và cần thiết
trong những cuộc điều tra dịch tễ lớn. Công cụ này là công cụ đo lường CLCS
chung được sử dụng trong một loạt các bệnh, cho mức độ khác nhau của mức độ
bệnh [62, 67].
Trong khi đó NC hướng đến sử dụng công cụ đánh giá chuyên biệt theo bệnh
lý sẽ hỗ trợ việc thực hành lâm sàng tốt hơn. Vì vậy NC lựa chọn bộ câu hỏi
EORTC QLQ-C30, đây là thang đo chung giúp đánh giá toàn diện các mặt của
CLCS dành cho hầu hết các chẩn đoán ung thư khác nhau và nó đã được chuẩn hóa
và sử dụng rộng rãi tại Việt Nam, trên nhiều đối tượng [11] [7] [14].



23

1.4.3. Độ tin cậy và tính giá trị của thang đo EORTC QLQ-C30
Thang đo CLCS EORTC QLQ-C30 được phát triển từ năm 1986. Tính thống
nhất nội bộ của chỉ số này đạt yêu cầu và đã được khẳng định qua nhiều NC trên thế
giới [38] [15] [24].
EORTC QLQ-C30 được dịch và chuẩn hoá thành 81 ngôn ngữ, được sử dụng
tại hơn 3000 NC trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, NC trên NB ung thư ở TPHCM
cho thấy hệ số Cronbach’s alpha của thang đo này là 0,93, từ đó khẳng định tính tin
cậy nội bộ của thang đo này [11].
Thang đo EORTC QLQ-C30 chứa 30 câu, dùng để đo lường trong 4 lĩnh
vực: 2 câu về SKTQ (câu 29,30), 15 câu về LVCN (câu 1-7, 20-27), 12 câu về
LVTC (câu 8-19), 1 câu về KKTC (câu 28). Câu 29,30 gồm thang điểm từ 1 đến 7,
những câu còn lại được đo lường bởi thang đo gồm 4 giá trị từ 1,2,3,4 tương ứng
với các mức 1 = không có, 2= ít, 3 = nhiều, 4 = rất nhiều. Điểm số của thang đo này
dao động từ 0 tới 100 và có ý nghĩa như sau: Vấn đề SKTQ, LVCN: điểm số càng
cao, chức năng càng tốt. Vấn đề về LVTC, KKTC: điểm số càng cao tương ứng
triệu chứng càng nặng, khó khăn về tài chính càng nhiều.
1.5. Giới thiệu Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM
Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM là bệnh viện công lập, trực thuộc
ĐHYD TPHCM. Đây là một cơ sở khám, chữa bệnh và bên cạnh đó cũng là cơ sở
đào tạo thực hành lâm sàng của trường Đại học. Bệnh viện có trụ sở làm việc tại
TPHCM, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, hạch toán độc lập và được mở tài
khoản tại Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng theo quy định của pháp luật. Bên cạnh
chức năng khám, chữa bệnh, Bệnh viện còn có chức năng nghiên cứu khoa học, ứng
dụng các công nghệ kỹ thuật cao trong chẩn đoán, điều trị, chăm sóc sức khỏe nhân
dân; tham gia đào tạo, đào tạo liên tục và là cơ sở thực hành lâm sàng đào tạo nguồn
nhân lực y tế theo các quy định của pháp luật.Vì vậy, nhằm đáp ứng nhu cầu khám,

điều trị bệnh, Bệnh viện có nguồn nhân lực rất dồi dào, với hơn 2.500 nhân viên. Là
một bệnh viện hạng 1, với quy mô 1.000 giường, với NB ngoại trú TB 7.000 lượt
NB mỗi ngày và nội trú 1.000 NB [3].


24

Theo báo cáo hoạt động của Bệnh viện cho thấy trung bình mỗi năm có
khoảng 59.979 ca nhập viện trong đó có khoảng 15.000- 16.000 NB bị ung thư. Với
các loại ung thư thường gặp bao gồm: ung thư thực quản, dạ dày, gan, đại tràng,
trực tràng, vú, tuyến giáp. Thời gian nằm viện của NB ung thư dao động 14 – 100
ngày tại các Khoa lâm sàng.
Nhằm mang lại kết quả điều trị tốt nhất đối với NB điều trị ung thư, bên cạnh
việc áp dụng các kĩ thuật, phương pháp điều trị hiện đại, tiên tiến, Bệnh viện Đại
học Y Dược TPHCM còn chú trọng vào các hoạt động chăm sóc, nâng cao tinh thần
cho NB. Với đội ngũ nhân viên Công tác xã hội dồi dào, tích cực trong các hoạt
động hỗ trợ NB ung thư, tư vấn, giới thiệu dịch vụ chuyển tiếp, hỗ trợ chăm sóc NB
có hoàn cảnh khó khăn.... Ngoài ra, còn có rất nhiều hoạt động như thăm hỏi NB
nặng, điều trị dài ngày, tặng quà ngày sinh nhật, hỗ trợ tư vấn tâm lý miễn phí cho
NB trong quá trình điều trị,. . . Tất cả các hoạt động đều hướng đến nâng cao sức
khỏe tinh thần, cải thiện CLCS của NB ung thư điều trị tại Bệnh viện. Nhằm ngày
càng nâng cao chất lượng điều trị cũng như dịch vụ của Bệnh viện.
1.6. Khung lý thuyết nghiên cứu
Các yếu tố nhân khẩu
- Giới tính
- Tuổi
- Dân tộc
- Tôn giáo
- Trình độ học vấn
- Tình trạng hôn nhân

- Nghề nghiệp
- Tình trạng kinh tế của bản thân
- Tình trạng kinh tế của gia đình
Yếu
tố quản lý
- Về CSVC: tình trạng nhà vệ sinh, tình hình an ninh,
Yếu tố
về vụ
tình
trạng
điều
trị bệnh viện.
dịch
khác,
yênbệnh
tĩnh,và
cảnh
quan
-- Loại
bệnh,
thời
gian
bệnh
Về tinh
thần
thái
độmắc
phục
vụ của NVYT: thái độ giao
- Mức

độ
bệnh
tiếp của nhân viên y tế và thông tin cụ thể tình trạng
- Bệnh kèm theo
bệnh.
- Về các hoạt động khám, chữa bệnh: thông tin về
Sự hỗthuốc,
trợ của
cácgiaxétđình
nghiệm, thông tin trước điều trị can
- Sự
hỗ trợ
thiệp,
khám khi có các bất thường, tư vấn lựa chọn
- Mức
độ hỗ
trợ điều trị, đảm bảo sự riêng tư khi thăm
phương
pháp
- Người
hỗ
trợ
chính thời điểm hiện tại
khám.
- Chi phí khám chữa bệnh: công khai chi phí, khả năng
chi trả.

Chất lượng
cuộc sống của
người bệnh

ung thư


25

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang
2.2. Đối tượng nghiên cứu
NB ung thư tại các khoa lâm sàng, Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ
Chí Minh năm 2019.
Tiêu chuẩn chọn vào:
 NB đang điều trị ung thư tại BV;
 NB tỉnh táo, có khả năng hiểu, trả lời phỏng vấn viên về các nội dung;
 NB có sự phản hồi đồng ý tham gia NC.
− Tiêu chuẩn loại ra:
 NB ung thư tại các khoa lâm sàng tại Bệnh viện có thở máy, đang nằm


tại ICU, cấp cứu.
NB ung thư giai đoạn IV tại các khoa lâm sàng.



2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu



Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01/2019 đến 6/2019.
Địa điểm nghiên cứu: tại 7 khoa lâm sàng có NB ung thư tại Bệnh viện Đại
học Y Dược TPHCM.


2.4. Cỡ mẫu

Với: α là sai lầm loại 1  α = 0,05
Z ( 1-α/2) là trị số từ phân phối chuẩn. Z(1-α/2) = 1,96
δ là độ lệch chuẩn ước lượng trong dân số. Lấy σ = 21,4 điểm theo
nghiên cứu của tác giả Ganesh S và cộng sự [32].
+ d là độ chính xác tuyệt đối mong muốn. Lấy d = 2,5 điểm.
− Áp dụng công thức trên ta tính được cỡ mẫu: n= 282 người bệnh.
− Dựa trên tỷ lệ phản hồi của nghiên cứu Ganesh S và cộng sự (2016) là
+
+
+

92,1%, vì vậy nghiên cứu dự trù thêm 10% mẫu.
Vậy n = 310 người bệnh.
 Nghiên cứu tiến hành lẫy mẫu thực tế được 318 người bệnh.
2.5. Phương pháp chọn mẫu


Giai đoạn 1: Phân tầng xác định tỷ lệ mẫu cần lấy tại từng khoa


×