TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ - LUẬT
BÀI THẢO LUẬN
MÔN: HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ
Đề tài: Hệ thống quản trị chuỗi cung ứng (SCM) của tập đoàn
Walmart và Những thuận lợi và khó khăn khi triển khai, áp dụng
HTTT SCM vào HĐ SXKD của các DN tại Việt Nam.
Giáo viên hướng dẫn
: Trần Thị Nhung
Mã lớp HP
: 2005eCIT0311
Nhóm thực hiện
: 01
HÀ NỘI, 2020
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 1
STT
Họ và tên
Mã SV
Đánh giá
1
Nguyễn Thị Mai Anh
18D130003
9.5
2
Vũ Thị Lan Anh
17D160065
10
3
Hoàng Yến Chi
17D160126
9.5
4
Nguyễn Linh Chi
17D160245
9.5
5
Vũ Đào Thành Đạt
17D160009
10
6
Nguyễn Thị Dua
17D160127
9.5
7
Đỗ Anh Đức
17D160130
9.5
8
Nguyễn Thành Duy
17D220129
9
9
Nguyễn Thu Hà
18D160293
9.5
Vũ Thùy Linh
16D210028
10
Ghi chú
Nhóm trưởng
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Để cạnh tranh thành công trong môi trường kinh doanh đầy biến động như hiện
nay, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tham gia vào công việc kinh doanh của nhà cung
cấp cũng như khách hàng của họ bằng việc xây dựng riêng cho mình một chỗi cung
ứng hoàn chỉnh. Phát triển chuỗi cung ứng hoàn chỉnh sẽ tạo nền tảng cho doanh
nghiệp tiết kiệm chi phí không cần thiết; nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm,
tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm với đối thủ . Ngoài ra, nó còn giúp cho nền
công nghiệp trong nước gia nhập chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu, phát triển thị
trường tiêu thụ ra toàn thế giới. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải quan tâm sâu
sắc đến toàn bộ dòng dịch chuyển nguyên vật liệu, cách thức thiết kế và đóng gói
sản phẩm và dịch vụ của nhà cung cấp, cách thức vận chuyển, bảo quản sản phẩm
hoàn thiện và những điều mà người tiêu dùng yêu cầu.
Walmart là một tập đoàn bán lẻ đa quốc gia đứng đầu thế giới, là một công ty
hàng đầu nước Mỹ, tất nhiên họ phải có một bí quyết kinh doanh cho riêng mình.
Tuy nhiên điều đáng học hỏi hay nghiên cứu nhiều nhất về họ đó là việc đầu tư ứng
dụng tốt nhất trong hệ thống quản trị chuỗi cung ứng. Trên thực tế đã không biết
bao nhiêu tác giả, nhà báo tốn biết bao nhiêu là giấy mực về tập đoàn này. Tuy
nhiên tại Việt Nam các bài viết, các đề tài nghiên cứu về nó còn khá ít. Việc cung
cấp thêm tài liệu và tìm ra những bí quyết kinh doanh hay cho các doanh nghiệp
Việt Nam là hết sức cần thiết. Đặc biệt trong thời kì hội nhập, các doanh nghiệp Việt
Nam phải cạnh tranh gay gắt với các doanh nghiệp nước ngoài thì những tài liệu
như thế này là hết sức cần thiết. Xuất phát từ sự cấp thiết của đề tài đối với các
doanh nghiệp Việt Nam và đặc biệt là các nhà bán lẻ trong môi trường hội nhập nên
quyết định chọn đề tài: “ Quản trị chuỗi cung ứng (SCM) của tập đoàn Walmart
và Những thuận lợi và khó khăn khi triển khai, áp dụng HTTT SCM vào HĐ
SXKD của các DN tại Việt Nam”
5
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về hệ thống thông tin SCM
1.1. Khái niệm:
Chuỗi cung ứng của một tổ chức, doanh nghiệp là một mạng lưới các tổ chức và
các quá trình kinh doanh từ mua sắm nguyên vật liệu, chuyển các nguyên vật liệu
này vào các giai đoạn sản xuất thành các sản phẩm trung gian, sản phẩm cuối cùng
và phân phối các sản phẩm hoàn chỉnh cho khách hàng.
Hệ thóng quản lý chuỗi cung ứng liên kết các nhà cung cấp, các nhà máy sản
xuất, trung tâm phân phối, cửa hàng bán lẻ và khách hàng để cung cấp hàng hóa và
dịch vụ từ các nguồn thông qua quá trình tiêu thụ, các nguyên vật liệu, thông tin và
các khoản thanh toán lưu chuyển qua các chuỗi cung ứng ở cả hai hướng đi vào và
đi ra trong hệ thống.
SCM (Supply Chain Management) hay Quản trị chuỗi cung ứng, là sự phối kết
hợp nhiều thủ pháp nghệ thuật và khoa học nhằm cải thiện cách thức các tổ chức,
doanh nghiệp tìm kiếm những nguồn nguyên liệu thô cấu thành sản phẩm/ dịch vụ,
sau đó sản xuất ra sẩn phẩm/dịch vụ và phân phối tới các khách hàng. Điều quan
trọng đối với bất kỳ giải pháp SCM nào, dù sản xuất hàng hóa hay dịch vụ, chính là
việc làm thế nào để hiểu được sức mạnh của các nguồn tài nguyên và mối tương
quan giữa chúng trong toàn bộ dây chuyền cung ứng sản xuất.
1.2. Chức năng và mục tiêu:
- Chức năng:
Về cơ bản, SCM sẽ cung cấp giải pháp cho toàn bộ các hoạt dộng đầu vào của
doanh nghiệp, từ việc đặt mua hàng hóa, nguyên vật liệu của nhà cung cấp, cho đến
các giải pháp tồn kho an toàn tài chính cho doanh nghiệp. Trong hoạt dộng quản trị
nguồn cung ứng, SCM cung cấp những giải pháp mà theo đó, các nhà cung cấp và
tổ chức, doanh nghiệp sản xuất sẽ làm việc trong môi trường cộng tác, giúp cho các
bên nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và phân phối sản phẩm/dịch vụ tới
khách hàng. SCM tích hợp hệ thống cung ứng mở rộng và phát triển một môi
trường sản xuất kinh doanh thực sự, cho phép tổ chức, doanh nghiệp giao dịch trực
tiếp với khách hàng và nhà cung cấp ở cả hai phương diện mua bán và chia sẻ thông
tin.
- Mục tiêu:
SCM là sự quản lý toàn bộ chuỗi giá trị gia tăng, từ nhà cung cấp tới nhà sản
xuất rồi tới các nhà bán buôn, bán lẻ và cuối cùng là tới khách hàng đầu cuối. SCM
có 3 mục tiêu chính:
+ Thứ nhất là giảm lượng hàng tồn kho.
6
+ Thứ hai là tăng lượng giao dịch thông qua việc đẩy mạnh trao đổi dữ liệu
trong thời gian thực.
+ Thứ ba là tăng doanh thu bán hàng với việc triển khai đáp ứng khách hàng
một cách hiệu quả hơn.
1.3. Các thành phần của SCM:
Một dây chuyền cung ứng sản xuất bao gồm tối thiểu ba yếu tố:
- Nhà cung cấp: là các công ty bán sản phẩm, dịch vụ là nguyên liệu đầu vào cần
thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh.
- Đơn vị sản xuất: là nơi sử dụng nguyên liệu, dịch vụ đầu vào áp dụng các quá
trình sản xuất để tạo ra sản phẩm cuối cùng.
- Khách hàng: là người sử dụng sản phẩm của đơn vị sản xuất.
Dây chuyền cung ứng được cấu tạo từ 5 thành phần cơ bản. Các thành phần này
là các nhóm chức năng khác nhau và cùng nằm trong dây chuyền cung ứng:
- Sản xuất (làm gì, như thế nào, khi nào)
- Vận chuyển (khi nào, vận chuyển như thế nào)
- Tồn kho (chi phí sản xuất và lưu trữ)
- Định vị (nơi nào tốt nhất để làm cái gì)
- Thông tin (cơ sở để ra quyết định)
1.4. Các vấn đề chính cần xem xét:
- Chiến lược cung ứng
- Logistics
- Quản lý mua sắm
- Quản lý thông tin
- Lập kế hoạch cung ứng
- Quản lý tài sản
1.5. Vai trò của SCM đối với tổ chức, doanh nghiệp:
Đối với các doanh nghiệp, SCM có vai trò rất to lớn, bởi SCM giải quyết cà đầu
ra lẫn đầu vào của tổ chức, doanh nghiệp một cách hiệu quả, nhờ có thể thay đổi các
nguồn nguyên vật liệu đầu vào hoặc tối ưu hoá quá trình luân chuyển nguyên vật
liệu, hàng hoá, dịch vụ mà SCM có thể giúp tiết kiệm chi phí, tăng khả năng cạnh
tranh cho doanh nghiệp. Chính SCM đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản
phẩm đến đúng nơi cần đến và vào đúng thời điểm thích hợp, mục tiêu lớn nhất của
SCM là cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng với tổng chi phí nhỏ nhất.
Điểm đáng lưu ý là các chuyên gia kinh tế đã nhìn nhận rằng hệ thống SCM hứa
hẹn từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất của tổ chức, doanh nghiệp và
tạo điều kiện cho Chiến lược thương mại điện tử phát triển, đây chính là chìa khoá
7
thành công cho B2B. Tuy nhiên, như không ít cốc nhà phân tích kinh doanh đã cảnh
báo, chiếc chìa khoá này chỉ thực sự phục vụ cho việc nhận biết các chiến lược dựa
trên hệ thống sản xuất, khi chúng tạo ra một trong những mối liên kết trọng yếu
nhất trong dây chuyền cung ứng.
Trong một tổ chức, doanh nghiệp sản xuất luôn tồn tại ba yếu tố chính của dây
chuyền cung ứng:
Thứ nhất là các bước khởi đầu và chuẩn bị cho quá trình sản xuất, hướng tới
những thông tin tập trung vào khách hàng và yêu cầu của họ;
Thứ hai là bản thân chức năng sản xuất, tập trung vào những phương tiện, thiết
bị, nhân lực, nguyên vật liệu và chính quá trình sản xuất;
Thứ ba là tập trung vào sản phẩm cuối cùng, phân phối và một lần nữa hưởng tới
những thông tin tập trung vào khách hàng và yêu cầu của họ.
Trong dây chuyền cung ứng ba nhân tố này, SCM sẽ điều phổi khả năng sản xuất
có giới hạn và thực hiện việc lên kế hoạch sản xuất những công việc đòi hỏi tính dữ
liệu chính xác về hoạt động tại các nhà máy, nhằm làm cho kế hoạch sản xuất đạt
hiệu quả cao nhất. Các nhà máy sản xuất trong tổ quốc, doanh nghiệp cần phải là
một môi Trường năng động, trong đó các nguyên vật liệu được chuyển hoá liên tục,
đồng thời thông tin cần được cập nhật và phổ biến tới tất cả các cấp quản lý tổ chức,
doanh nghiệp để cùng đưa ra quyết định nhanh chóng và chính xác. SCM cung cấp
khả năng trực quan hoá đối với các dữ liệu liên quan đến sản xuất và khép kín dây
chuyên cung cấp, tạo điều kiện cho việc tối ưu hoá sản xuất đúng lúc bằng các hệ
thống sắp xếp và lên kế hoạch, nó cũng mang lại hiệu quả tối đa cho việc dự trù số
lượng nguyên vật liệu, quản lý nguồn tài nguyên, lập kế hoạch đầu tư và sắp xếp
hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
Một tác dụng khác của việc ứng dụng giải pháp SCM là phân tích dữ liệu thu
thập được- và lưu trữ hồ sơ với chi phí thấp, hoạt động này nhằm phục vụ cho
những mục đích liên quan đến hoạt động sản xuất (như dữ liệu về thông tin sản
phẩm, dữ liệu về nhu cầu thị trường...) để đáp ứng đòi hỏi của khách hàng.
8
Phần 2: Thực trạng áp dụng mô hình SCM của tập đoàn
Walmart
2.1. Giới thiệu về Walmart
Walmart được biết đến là một tập đoàn bán lẻ hàng đầu trên thế giới, xuất hiện ở
nhiều quốc gia khác nhau. Đây được xem là một thương hiệu quen thuộc đối với các
khách hàng và cửa hàng phân phối trong nhiều năm qua. Trên thế giới hiện nay,
Walmart là ông chủ thống trị hơn 12.000 cửa hàng trải dài trên 28 quốc gia khác
nhau.
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Walmart
Walmart là thương hiệu nổi tiếng hàng đầu tại Mỹ được ra đời vào năm 1962 do
Sam Walton sáng lập ra. Sau 6 năm chinh phục thị trường bằng những ý tưởng sáng
tạo thông minh thì đến năm 1972 Walmart đã chính thức cập bến sở giao dịch New
York. Suốt 17 năm thành lập thì Walmart đã ngày càng khẳng định được sự “đáng
sợ” của mình.
Có thể nói, tại Mỹ thương hiệu này là trong những thương hiệu nhận được rất
nhiều sự yêu mến từ các bà mẹ và trẻ nhỏ. Nơi đây cung cấp rất nhiều các sản phẩm
đồ chơi đẹp mắt với lượng tiêu thị chiếm 45% tổng doanh số của cả doanh nghiệp.
Nhờ liên tục thay đổi, cải tiến kỹ thuật mà Walmart luôn giữ chân khách hàng đến
với hệ thống bán hàng của mình.
Walmart được biết đến là công ty bán lẻ quốc tế với hơn 200 triệu khách hàng
nhờ hình thức mua bán trực tuyến và chuỗi các siêu thị, cửa hàng tạp hóa giảm giá.
Tập đoàn cũng nơi có lượng đồ chơi bán ra nhiều nhất trên thị trường Mỹ. Đặc biệt,
nhiều sản phẩm ở Walmart “độc quyền” không thể tìm thấy ở các siêu thị, cửa hàng
khác.
Ở Walmart bạn có thể tìm thấy mọi mặt hàng, sản phẩm mong muốn. Bên cạnh
đó hình thức bán hàng online của Walmart cũng rất phát triển đáp ứng nhu cầu của
nhiều người dân. Từ đầu tháng 2 năm 2019 những khách hàng của Walmart có thể
trải nghiệm tính năng đặt hàng bằng Walmart Voice Order – một ứng dụng đặt hàng
bằng giọng nói.
2.1.2 Những bí quyết dẫn đến thành công của Walmart
Để có thể thành công chinh phục khách hàng và đạt được những tiếng vang như
hiện tại có thể nói người sáng lập Walmart ông Sam Walton đã bỏ ra rất nhiều tâm
huyết, công sức. Vậy những bí quyết tạo nên sự thành công, lớn mạnh như hiện tại
mà ông Sam Walton đã áp dụng là gì?
•
Luôn quý trọng giá trị lao động
9
Là người xuất thân từ tầng lớp bình dân nên ông là người thấu hiểu hơn ai hết
giá trị của sức lao động. Để xây dựng được một Walmart lớn mạnh như hiện nay vị
tỷ phú người Mỹ này đã có một thời kì gia khổ. Không còn đường nào dẫn đến
thành công mà không phải đổ mồ hôi, nước mắt và đôi khi cả máu nữa.
•
Đứng lên từ thất bại
Trải qua hơn 50 năm thống trị có thể nói Walmart phải đi qua biết bao sự khó
khăn, gian khổ, có cả sự thất bại nữa. Để không bị gục ngã ông Sam Walton cho biết
ông luôn rút ra những bài học từ chính sự thất bại của mình. Từ đó để không phạm
phải những sai lầm đáng tiếc như vậy nữa.
•
Học mọi thứ liên quan đến kinh doanh
Kinh doanh là lĩnh vực ngàng nghề mà người làm và hoạt động trong đó liên tục
phải tự mình trau dồi những kiến thức. Bên cạnh trải nghiệm thực tế thì việc học tập
những kiến thức về kinh doanh từ những người thành công trước đó không bao giờ
là đủ. Bạn sẽ có thêm nhiều những điều mới mẻ mà trước đây bạn lỡ bỏ qua nhưng
lại cực có giá trị trong hoạt động kinh doanh.
•
Đối xử công bằng với tất cả nhân viên
Để trở thành một nhà lãnh đạo của một tập đoàn kinh doanh, ngoài khả năng
quản lý bạn còn cần phải biết cách đối nhân xử thế. Một ông chủ khiến nhân viên nể
trọng là một người tài giỏi và luôn đối xử với tất cả nhân viên công bằng nhất. Được
tôn trọng, được đối xử công bằng sẽ khiến nhân viên càng có thêm niềm tin yêu,
muốn gắn bó với bạn.
2.1.3. Walmart tại thị trường Việt Nam
Ở Việt nam Walmart là thương hiệu tương đối mới mẻ, còn khá lạ lẫm với nhiều
người. Bởi ở Việt Nam những thương hiệu bán lẻ như Vinmart, Big C, Coopmart,
…. đang chiếm vị thế lớn. Dù Walmart đã cho xây dựng văn phòng đại diện tại Việt
Nam để tấn công thị trường tiềm năng này từ năm 2013 nhưng vẫn chưa có những
bước tiến đáng kể.
Lĩnh vực:
Bán Lẻ
Thành Lập: Rogers, Bang Arkansas, Hoa Kì( 1962)
Trụ sở chính Benloville, Arkansas, Hoa Kì
Sản phẩm : Các cửa hàng truyền thống, cửa hàng tạp phẩm, siêu trung tâm mua
sắm và kho mua sắm,
Doanh thu: 469,2 tỉ USD
Tổng nhận viên:
2,2, triệu
Trang web: www.walmart.com
10
Thị trường hoạt động: Mỹ, Mexico, Anh, Nhật, Argentina, Cananda, Trung Quốc,..
với hơn 3800 cơ sở ở Mĩ và hơn 2600 cơ sở ở nước ngoài.
2.2 Hoạt động quản trị chuỗi cung ứng của tập đoàn Walmart
2.2.1. Quản trị thu mua
Bởi Wal-Mart là một nhà phân phối khổng lồ, đến nỗi các thương hiệu sản phẩm
không thể để mình bị loại bỏ khỏi các kệ hàng nhà bán lẻ. Kết quả là, một nhà sản
xuất của một thương hiệu nổi tiếng có thể phải chịu sự nhượng bộ về giá cả để được
có mặt trong chuỗi cửa hàng Wal-Mart. Đây chính là một trong những lợi thế quan
trọng với mức giá bán thấp hơn bất kỳ đối thủ nào (thấp hơn 15%) trong các cửa
hàng và đại siêu thị của Wal-mart.
Wal-mart chỉ mua hàng trực tiếp từ nhà sản xuất, không chấp nhận trung gian;
Wal-mart là một nhà đám phán rất cứng rắn (tough) về giá và chỉ giá mà thôi;
(Walmart có một đội ngũ chỉ nghiên cứu lý thuyết trò chơi trong đàm phán để làm
sao giành lợi thế về mình tốt nhất..).;Wal-mart sẽ mua hàng theo chính sách factory
gate pricing nghĩa là walmart sẽ vận chuyển hàng từ cửa nhà máy. ;Walmart rất chịu
khó giành thời gian làm việc với nhà cung cấp và dĩ nhiên chỉ để hiệu cấu trúc chi
phí của họ như: anh mua nguyên liệu của ai? Giá bao nhiêu? Công nhân của anh là
ai? Lương thếnào? Có giảm được không? Vận chuyển nguyên liệu thếnào? Có
phụphí không? Lợi nhuận biên của anh bao nhiêu? Tại sao lại là thế? Tại sao? Và dĩ
nhiên chỉ sau khi thỏa mãn thì walmart mới ký hợp đồng dài hạn.Wal-mart đã và
đang thúc ép, gây áp lực cho những nhà cung cấp phải hiệu quả, cắt giảm chi phí
trên chuỗi cung ứng của mình.Wal-mart thường xuyên thanh tra sổ sách của nhà
cung cấp và buộc họ phải cắt giảm chi phí ở những chỗ mà Wal-mart cho rằng là
không hợp lý. Khi mà các tiêu chuẩn vềmôi trường hay lao động tạo ra rào cản cho
việc cắt giảm chi phí thì Wal-mart khuyến khích những nhà cung cấp di chuyển tới
thị trường khác nơi mà những nhà cung cấp này có thể tiếp tục sản xuất ở mức giá
thấp cái mà Wal-mart luôn luôn đòi hỏi.Các hàng hoá sau khi được thu mua từ các
nhà cung cấp sẽ được chuyển tới hệ thống các trung tâm phân phối của Wal-mart.
Tại đây hàng hoá sẽ được dự trữ trong một khoảng thời gian ngắn và có thể thực
hiện các hoạt động về như đóng gói hàng hoá, dán nhãn.
2.2.2. Quản trị phân phối
Chiến lược kinh doanh của Walmart là hướng đến lợi thế chi phí, trở thành nhà
bán lẻ giá rẻ hơn mỗi ngày, hướng đến đối tượng người tiêu dùng quan tâm đến giá
cả. Để tuân thủ chiến lược này, Walmart đã quyết định loại bỏ các trung gian và trực
tiếp đến các nhà cung cấp để mua những thứ cần thiết.
11
Vào năm 1970, Walmart mở trung tâm mua hàng đầu tiên có trụ sở tại
Bentonville, nhằm cắt giảm trung gian.
Những năm 1980, Walmart bắt đầu tìm nguồn cung ứng toàn cầu bằng việc mở
văn phòng ở Trung Quốc, Ấn Độ.
Trước khi đặt hàng, Walmart luôn tập trung vào giá cả, luôn nhấn mạnh vào một
mức giá hóa đơn duy nhất và chỉ đi đến giao dịch cuối cùng khi biết chắc rằng công
ty đã mua sản phẩm với giá cả thấp nhất. Walmart cũng dành nhiều thời gian để tìm
hiểu về cấu trúc chi phí của nhà cung cấp. Từ đó, gây áp lực lên nhà cung cấp phải
cắt giảm chi phí trên chuỗi cung ứng của mình.
Chiến lược cơ bản là mở rộng quanh những trung tâm phân phối khi Wal-Mart
thâm nhập vào một thị trường mới (xét trên phương diện địa lý). Wal-Mart tìm kiếm
các khu vực có thể hỗ trợ cho một nhóm cửa hàng mới chứ không chì là một cửa
hàng mở ra riêng lẻ. Sau đó, tập đoàn này sẽ xây dựng một đạị bản doanh phân phối
mới tại khu vực trung tâm, đồng thời, khai trương cửa hàng đầu tiên của mình ở
đây. Trung tâm phân phối chính là địa điểm chiến lược trong chuỗi cung ứng khi
thâm nhập vào một thị trường mới, có chức năng hỗ trợ cho quá trình mở rộng qui
mô trong khu vực với khoản chi phí tăng thêm không đáng kể. Khoản tiết kiệm này
được chuyển sang cho khách hàng.
Việc ứng dụng chuẩn EDI với nhà cung cấp mang lại cho doanh nghỉệp hai lợi
ích to lớn. Trước hết, nó giúp cắt giảm chí phỉ giao dịch liên quan đến quá trình đặt
hàng và thanh toán các hóa đơn. Tác dụng quan trọng nhất là việc quy trình đặt
hàng và thanh toán hóa đơn được xác định rạch ròi, đồng thời các quy trình thường
nhật được vận hành một cách hiệu quả nhờ sử dụng chuẩn EDI. Mạng lưới liên kết
điện tử với các nhà cung cấp chính là lợi ích thứ hai cho phép Wal-Mart kiểm soát
và phối hợp cao độ việc lên kế hoạch và nhận hàng. Điều này đảm bảo rằng các nhà
cung cấp của Wal-Mart sẽ giao một lượng hàng ổn định gồm đầy đủ các sản phẩm
thích hợp theo từng thời điểm tới đúng những trung tâm phân phối đang cần hàng.
Trong thực tế, việc thiết kế cửa hàng dạng "big box" cho phép Wal- Mart kết
hợp cửa hàng và nhà kho vào một phương tiện kinh doanh riêng lẻ để đạt được hiệu
suất hoạt động tối ưu. Cửa hàng "big box" đủ lớn để chứa những khối lượng lớn
hàng hóa lưu kho như một nhà kho thực thụ. Và vì hàng hóa lưu kho được bày bán
trong cùng một địa điểm, nơi khách hàng có thể mua trực tiếp nên sẽ không có bất
kì một sự chậm trễ hay chi phí phát sinh nào khi vận chuyển hàng hóa từ nhà kho
đến cửa hàng. Và như vậy, khách hàng nghiễm nhiên lại có cơ hội nhận được giá trị
tiết kiệm này.
12
"Giá rẻ mỗi ngày" là một cách thức vẹn cả đôi đường. Đầu tiên, Wal- Mart thể
hiện rõ với những khách hàng quan tâm đến vấn đề giá cả của mình là họ sẽ luôn
nhận được mức giá tốt nhất không ở đâu có hoặc không phải chờ đợi cấc đợt giảm
giá đặc biệt. Hiệu quả đạt được từ thông điệp này là bước đệm để Wal-Mart tiến
hành nhiệm vụ thứ hai – dự đoán chính xác doanh thu sản phẩm. Bằng cách không
áp dụng những dợt giảm giá đặc biệt và đảm bảo khách hàng luôn nhận được mức
giá thấp, W al-Mart đã cân đối được những biến động của nhu cầu đến mức dần ổn
định hơn và có thể dự đoán được. Phương pháp này nâng cao khả năng của các cửa
hàng trong việc đáp ứng được những nhu cầu của khách hàng vào đúng thời điểm.
Nếu đặt lên bàn cân, mỗi cách trên đều có những giá trị nhất định nhưng chúng
chỉ phát huy hiệu quả tối ưu khỉ kết hợp với nhau tạo thành một chuỗi cung ứng
trong quy trình kinh doanh tự hoàn thiện. Mỗi khái niệm được thiết lập dựa trên sức
mạnh của các khái niệm còn lại nhằm tạo ra một mô hình kinh doanh hiệu quả giúp
cho doanh nghiệp vươn lên vị trí thống lĩnh trên thị trường. Dường như có vài điểm
tương đồng giữa Wal-Mart và Alexander Đại dế – thành công của cả hai đều bắt
nguồn từ việc phát triển những chuỗi cung ứng rất hiệu quả.
2.2.3. Quản trị vận tải
Trong chuỗi cung ứng Wal-mart thì hoạt động vận tải đóng một vai trò cực kỳ
quan trọng trong lưu chuyển hàng hoá từ các nhà cung cấp đến trung tâm phân phối
và từ trung tâm phân phối đến từng cửa hàng và siêu thị của Wal-mart. Hoạt động
vận tải chính xác, an toàn sẽ giúp cho hàng hoá đến đúng nơi và đúng thời điểm cần
thiết. Với bộ phận logistics lên tới 75.000 người, là 7.800 lái xe quản lý gần 7.000
xe tải thuộc đội xe tư nhân của Wal-mart, đã tạo nền tảng để công ty phân phối hầu
hết những hàng hóa được bày bán tại các cửa hàng thông qua khoảng 114 trung tâm
phân phối trải rộng toàn nước Mỹ. Hàng hóa được vận chuyển từ kho của các nhà
cung cấp bởi đội xe của Wal-mart đến các trung tâm phân phối. Từ đây, hàng hóa
được vận chuyển trực tiếp đến các cửa hàng mà không cần lưu kho thêm. Những
đội xe tải chuyên dụng cho phép công ty vận chuyển hàng hoá từ những trung tâm
phân phối đến cửa hàng chỉ trong hai ngày và bổ sung cho các kệ hàng trong cửa
hàng 2 lần/tuần. Đoàn xe tải chính là một sự kết nối hiệu quả giữa cửa hàng và các
trung tâm phân phối của Wal-mart.
Một nét nổi bật trong hạ tầng logistics của Wal-Mart là hệ thống vận tải linh
hoạt và nhanh nhẹn của nó. Các trung tâm phân phối được phục vụ bởi hơn 3500 xe
tải. Những đội ngũ xe tải chuyên dụng này cho phép công ty vận chuyển hàng hóa
từ trung tâm phân phối đến các cửa hàng trong vòng 2 ngày và làm đầy các kệ hàng
ở cửa hàng 2 lần 1 tuần. Đội ngũ xe tải là sự liên kết hữu hình giữa các cửa hàng và
13
các trung tâm phân phối. Wal-Mart tin rằng nó cần đến những tài xế người mà đã
cam kết và luôn tận tâm với dịch vụ khách hàng.
Với chiến lược này, mục tiêu đầu tiên của Wal-Mart là rút ngắn không gian
và thời gian vận chuyển. Ban đầu, chu trình phân phối của Wal-Mart diễn ra như
sau: nhà sản xuất chở hàng đến trung tâm phân phối của Wal-Mart. Sau đó, từ trung
tâm này, Wal-Mart sẽ chuyển hàng đến những cửa hàng con của mình. Như vậy, ở
khâu đầu tiên, Wal-Mart phải trả cho nhà sản xuất chi phí vận chuyển. Nhưng WalMart đã có một sáng kiến thú vị, đó là trang bị cho các nhân viên lái xe hệ thống
thông tin liên lạc bằng vô tuyến. Khi các nhân viên chở hàng từ trung tâm phân phối
đến một cửa hàng của Wal-Mart sẽ được thông tin tiếp tục (qua hệ thống liên lạc)
đến một nhà sản xuất gần đó, nhân tiện lấy hàng và mang về trung tâm. Như vậy là
tiết kiệm được một chuyến xe về không, tiết kiệm được chi phí vận chuyển lẽ ra
phải trả cho nhà sản xuất.
Điểm thứ hai trong chiến lược giảm chi phí của Wal-Mart là “tối ưu các hoạt
động của nhân viên”. Ở trung tâm phân phối của Wal-Mart, xung quanh là các băng
chuyền chằng chịt với rất nhiều xe cẩu hàng. Mỗi nhân viên lái xe trước khi điều
khiển xe đều phải nhận các bảng chỉ dẫn về chuyền. Và câu hỏi mà Wal-Mart nghĩ
đến là: làm sao để công nhân không cần cầm giấy tờ gì trong tay mà vẫn chuyền tốt.
Câu hỏi đó đã đưa Wal-Mart đến với ý tưởng trang bị cho nhân viên lái xe tai nghe
có phát giọng nói được lập trình sẵn. Với tai nghe này, họ có thể biết được những
chỉ dẫn trong công việc và quan trọng hơn, nó sẽ nhắc nhở người lao động “anh
đang làm nhanh hay chậm hơn so với tiến độ đề ra”. Bên cạnh tai nghe tuy đơn giản
nhưng rất hiệu quả ấy, Wal-Mart còn đưa ra một công cụ gọi là “máy đo lường năng
suất” để kiểm tra năng suất lao động của nhân viên. Thực chất, đó là một hệ thống
máy tính kiểm tra số lượng hàng được chất lên xe tải trong mỗi giờ làm việc của
công nhân tại trung tâm trước khi chở đến các cửa hàng của Wal-Mart.
Wal-Mart cũng tạo ra được nhiều lợi ích từ chi phí vận tải kể từ khi nó có hệ
thống vận tải riêng cái mà hỗ trợ Wal-Mart trong việc phân phối hàng hóa đến các
cửa hàng khác nhau trong vòng 48 tiếng đồng hồ. Chi phí vận tải của Wal-Mart ước
tính ở mức khoảng 3% tổng chi phí so với đối thủ của nó (5%). Có được hệ thống
vận tải riêng giúp Wal-Mart lắp đầy các kệ hàng nhanh hơn đối thủ của nó gấp 4
lần.
2.2.4. Quản trị hàng tồn kho
Với một quy mô hoạt động phân phối và bán lẻ khổng lồ như Wal-mart, để có
thể đáp ứng được phân phối một cánh linh hoạt hoạt, kịp thời đến các cửa hàng, vừa
cạnh tranh với các đối thủ về cắt giảm chi phí là một vấn đề không nhỏ. Để giải
14
quyết vấn đề này, Wal-mart đã tiến hành ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin
vào quản trị tồn kho, song song với việc áp dụng kỹ thuật “cross – docking” để tạo
ra hiệu quả cao nhất.
Wal-Mart có thể cắt giảm hàng tồn kho kém hiệu quả bằng cách cho phép các
cửa hàng quản lí kho hàng của chính họ, cắt giảm kích thước các kiện hàng cho
nhiều loại hàng hóa khác nhau và giảm giá đúng kịp thời. Thay vì cắt giảm hàng tồn
kho một cách triệt để, Wal-Mart tận dụng năng lực của đội ngũ IT để tạo ra nhiều
hàng tồn kho hơn có sẵn trong container mà khách hàng cần nhất, trong khi đó cắt
giảm toàn bộ mức tồn kho. Wal-Mart cũng kết nối với các nhà cung cấp của nó
thông qua những máy tính. Wal-mart hợp tác với P&G nhằm duy trì lượng tồn kho
trong các cửa hàng của nó và xây dựng hệ thống tái đặt hàng tự động, kết nối với tất
cả các máy tính giữa P&G và các cửa hàng và các trung tâm phân phối. Hệ thống
máy tính ở các cửa hàng của Wal-Mart nhận dạng ra mặt hàng còn ít trong kho và
gửi tín hiệu đến P&G. Hệ thống sau đó sẽ gửi đơn đặt hàng cho nhà máy gần nhất
của P&G thông qua hệ thống thông tin liên lạc qua vệ tinh. P&G sau đó phân phối
hàng đến cả cho trung tâm phân phối của Wal-Mart và trực tiếp đến các cửa hàng có
liên quan. Sự phối hợp này giữa Wal-Mart và P&G là 1 ý tưởng kinh doanh mà có
lợi cho cả đôi bên bởi vì Wal-Mart có thể giám sát mức tồn kho trong các cửa hàng
1 cách liên tục và cũng nhận dạng hàng hóa thứ mà đang bị dời đi nhanh chóng.
P&G cũng có thể hạ thấp chi phí và tăng tiết kiệm cho Wal-Mart nhờ vào sự hợp tác
tốt đẹp. Công nhân ở các cửa hàng có 1 máy vi tính cầm tay được kết nối với máy
tính bên trong cửa hàng thông qua mạng tần số radio. Những thứ này giúp giữ lại
những ghi nhận về tồn kho, những lần giao hàng và lưu giữ hàng hóa trong ở các
trung tâm phân phối. Quản trị đơn đặt hàng và lưu kho hàng hóa được thực hiện với
sự giúp đỡ của các máy tính thông qua các hệ thống điểm bán hàng. Thông qua hệ
thống này, có thể kiểm soát và ghi nhận doanh số và mức tồn kho trên các kệ hàng
tại các cửa hàng. Wal-Mart cũng sử dụng hệ thống thuật toán phức tạp để dự đoán
số lượng chính xác của mỗi loại hàng hóa được giao, căn cứ vào mức tồn kho ở các
cửa hàng. Khi có dữ liệu chính xác, ngay cả hàng hóa số lượng lớn cũng có thể
được cung cấp cho các cửa hàng. Wal-Mart cũng sử dụng hệ thống dữ liệu tồn kho
tập trung được nhân viên tại các cửa hàng nhận biết mức tồn kho và nơi lưu trữ mỗi
loại hàng bất cứ lúc nào. Nó cũng cho thấy rằng sản phẩm đó có đang được dỡ
xuống tại trung tâm phân phối không hay đang trên đường vận chuyển. Một khi
hàng hóa đã được bốc xuống cửa hàng nào, thì cửa hàng đó sẽ được lấp đầy kho với
một mặt hàng cụ thể nào đó và hệ thống dữ liệu tồn kho sẽ được cập nhật ngay lập
tức. Wal-Mart cũng sử dụng công nghệ mã vạch và tần số radio để quản lí tồn kho.
15
Sử dụng các máy đọc quang học cố định và máy đọc mã vạch, hàng hóa có thể được
chuyển thẳng đến bãi chứa thích hợp, nơi mà chúng sẽ được bốc lên các xe tải cho
việc giao hàng. Nó cũng có thể thực hiện việc đóng gói và kiểm kê tồn kho.
Năm 1991, Wal-Mart đã đầu tư gần 4 tỉ USD để xây dựng một hệ thống liên
hệ các nhà bán lẻ. Hơn 10,000 nhà bán lẻ của Wal-Mart sử dụng hệ thống này để
kiểm soát doanh số bán tại các cửa hàng và lấp đầy tồn kho. Chi tiết về các giao
dịch hằng ngày, có thể hơn 10 triệu lượt mỗi ngày, được xử lí thông qua hệ thống
không thể tách rời này và được cung cấp cho mỗi cửa hàng của Wal-Mart vào lúc
4a.m ngày hôm sau. Tháng 10 năm 2001, Wal-Mart hợp tác với công ty thương mại
Atlas nhằm nâng cấp hệ thống kết nối công nghệ Internet.
Wal-Mart nắm giữ một hệ thống máy tính quy mô và phức tạp nhất trong
từng lĩnh vực riêng. Công ty sử dụng hệ thống máy tính MPP để lưu trữ quá trình
vận chuyển hàng hóa và mức tồn kho. Tất cả thông tin liên quan đến doanh số bán
và tồn kho đều được chuyển đến thông qua 1 hệ thống thông tin liên lạc vệ tinh hiện
đại. Nhằm cung cấp việc lưu giữ dữ liệu trong trường hợp có sự ngắt quảng hay đứt
đoạn về dịch vụ thì công ty cũng có được 1 kế hoạch tác chiến 1 cách bao quát.
Bằng cách sử dụng máy tính 1 cách có hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của
mình, Wal-Mart rất thành công trong việc cung cấp dịch vụ không gián đoạn cho
khách hàng, nhà cung ứng, các cổ đông và đối tác chiến lược của nó.
2.3. Lợi ích mà SCM đem lại cho Wal-mart
Hệ thống quản lý chuỗi cung ứng (SCM) của Wal-mart là một hệ thống
khổng lồ, toàn diện và phức tạp. Mọi công việc quản lý của Wal-mart, bao gồm cả
SCM đều liên quan đến công nghệ, công nghệ được ứng dụng ở mọi nơi để tối ưu
hóa hiệu quả công việc.
Hệ thống quản lý chuỗi cung ứng của Wal-mart là một tập hợp nhiều hệ
thống khác nhau, đồng bộ và liên kết chặt chẽ với nhau. Thông tin của hệ thống này
được hệ thống khác sử dụng, việc hoạt động của hệ thống này cũng dựa nhiều vào
hệ thống khác. Mọi thứ tạo nên một chu kì hoàn chỉnh, tuyệt vời và hiệu quả đến kì
diệu.
Hệ thống SCM này không hề hoạt động riêng rẽ với các hệ thống khác của
Wal-mart mà chúng hoạt động tương tác với nhau, tạo nên một hệ thống thông tin
hoàn chỉnh. Thông tin này được lưu trữ, gửi đi và sử dụng để tạo nên giá trị đích
thực, tạo nên mục đích cuối cùng của hệ thống quản lý chuỗi cung ứng, đó là giảm
chi phí. Tất cả hoạt động của chuỗi cung ứng đều nhằm mục đích giảm chi phí, để
nhờ đó mà Wal-mart có thể trở thành một trong những nhà bán lẻ lớn mạnh nhất thế
giới.
16
Các phòng ban, bộ phận liên quan đến hệ thống quản lý chuỗi cung ứng này
gồm bộ phận bán hàng, bộ phận logistics, bộ phận quản lý mua hàng.
Chuỗi cung ứng hiệu quả cho phép doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh.
Những nỗ lực không ngừng của Wal-mart trong việc sử dụng hệ thống thông tin,
đặc biệt là trong chuỗi cung ứng để giảm tối đa chi phí bỏ ra. Từ đó mang lại khả
năng cung cấp hàng hóa thấp cho người tiêu dùng, góp phần vào chiến lược quan
trọng của công ty.
Việc ứng dụng hệ thống thông tin nói chung đã được thực hiện thành công và
nới rộng khoảng cách giữa Wal-mart và các đối thủ cạnh tranh. Đó là lý do vì sao
mà Wal-mart luôn giữ được vị thế của mình.
Hệ thống thông tin quản lý chuỗi cung ứng của họ phản ứng nhạy cảm với
các tình huống thực tế. Nhờ đó đem lại thông tin quan trọng giúp cho hoạt động
kinh doanh đạt được hiệu quả tối đa.
Nhờ hệ thống thông tin, Wal-mart hiểu rõ hơn khách hàng của mình. Không
chỉ thế, nó đem lại cơ hội hợp tác và làm việc nhuần nhuyễn giữa các nhân viên
trong công ty. Mọi hoạt động của Wal-mart đều có dính dáng đến công nghệ, cả
công việc của nhân viên cũng vậy. Công nghệ giúp cho các nhân viên làm việc hiệu
quả hơn nhờ việc giảm thời gian thực hiện công việc và mang lại sự chính xác cho
từng công việc.
Các nhà cung cấp của Wal-mart cũng được hưởng lợi khi mà họ có được dữ
liệu quan trọng về việc bán hàng của siêu thị bán lẻ lớn nhất thế giới. Từ đó họ có
thể tham khảo và đưa ra quyết định chính xác hơn về sản xuất cho từng thời kì.
17
Phần 3 : Thuận lợi và khó khăn trong việc áp dụng mô hình
SCM của các doanh nghiệp tại Việt Nam
3.1. Thực trạng áp dụng mô hình SCM của các doanh nghiệp tại Việt Nam
Một số tập đoàn nổi tiếng , SCM trên thế giới đã đặt đại diện ở Việt Nam như
APL Logistics , Kuehn & Nagel , Schenher , Expeditor , UTI , UPS.. Qua nghiên
cứu ta thấy quản lý chuỗi cung ứng (SCM ) tại Việt Nam còn nhỏ lẻ , yếu kém so
với thế giới và các nước trong khu vực . Cụ thể là trong công nghệ vận tải đa
phương thức vẫn chưa được kết hợp hiệu quả các phương tiện vận chuyển , chưa tổ
chức tốt các điểm chuyển tải , trình độ cơ giới hóa trong bốc xếp còn kém , trình độ
lao động còn thấp , cơ sở hạ tầng thiếu và yếu , công nghệ thông tin lạc hậu xa với
yêu cầu .Các doanh nghiệp Việt Nam còn nhỏ yếu song tính liên kết để tạo ra sức
mạnh cạnh tranh lại còn rất kém .Nhận thức của các doanh nhân hoạt động trong
lĩnh vực này thường dừng ở mức kinh nghiệm bản thân , hiểu biết về luật pháp quốc
tế , tài chính , chuyên nghành còn thấp dẫn đến tỉ lệ phạt hợp đồng cao , lãng phí
tài chính ..v...
Cũng chính vì những rủi ro có thể gặp phải khi ứng dụng hệ thống chuản lý
chuỗi cung ứng SCM sai làm gây tổn hại nặng nề tới toàn bộ doanh nghiệp mà các
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta không có gan đánh liều trước số phận của doanh
nghiệp mình. Bời vậy mà khả năng cạnh tranh với đơn vị kinh doanh cùng lĩnh vực
trên thế giới còn rất mong manh.
3.2. Thuận lợi
Doanh nghiệp phải tự bơi bằng thực lực, phải tự cải thiện mình nếu không sẽ bị
loại khỏi cuộc cạnh tranh . Điều này có tác dụng đưa nền kinh tế nước ta phát
triển nhanh và rộng khắp , tạo nhiều công ăn việc làm , xóa đói giảm nghèo .
Việc áp dụng SCM khiến hàng hóa nước ngoài tự do hơn khi tham gia thị trường
Việt Nam . Thuế nhập khẩu giảm giá sản phẩm mềm hơn thúc đẩy việc mua
hàng
Việc cắt giảm ngân sách trợ cấp sẽ tiết kiệm một khoản đáng kể cho chính phủ
và đầu tư nhiều hơn vào các chương trình khác
Với hiệp định SCM , Việt Nam không chỉ phải tuân theo quy định mà còn có thể
dùng chính các quy định này để bảo vệ mình .
3.3. Khó khăn
Với tầm quan trọng và lợi ích của hệ thống quản lý chuỗi cung ứng mang lại
không chắc chắn được điều là cứ áp dụng thì doanh nghiệp nào cũng sẽ nhận lại kết
quả đáng mong ước như vậy. Không có gì là hoàn hảo, có mặt tốt thì chắc chắn có
18
mặt xấu. Về lợi ích chúng ta đề cập tới khá nhiều trên đây nhưng còn mặt bất lợi thì
sao?
Vì hoạt động của hệ thống SCM có tác động trực tiếp tới toàn bộ quá trình
kinh doanh của doanh nghiệp đó nên nếu lựa chọn sai hệ thống sẽ gây thiệt hại rất
lớn cho công ty.
Toàn bộ hoạt động kinh doanh có thể bị phá hủy nếu hệ thống SCM được lựa
chọn không tương thích với những công cụ quản lý ban đầu của công ty như hệ
thống quản lý sổ sách phần mềm hỗ trợ kinh doanh, và quan trọng nhất là nhân lực
vận hành không có chuyên môn. Các hình thức kinh doanh với đa chi nhanh, văn
phòng đại diện có thể dẫn tới sự xáo trộn không phân tích nổi.
19
Phần 4: Một số giải pháp nhằm phát triển SCM tại Việt Nam
4.1. Giải pháp vi mô
Tổ chức các lớp huấn luyện , đào tạo thường niên giúp nâng cao năng lực nhân
sự , đặc biệt là các cấp quản lý.
Tăng cường quảng bá , nâng cao nhận thức về lợi ích đạt được khi tham gia vào
chuỗi cung ứng, nhận thức đúng đắn sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của toàn
bộ chuỗi cung ứng
Cần đảm bảo nguồn dữ liệu liền mạch trong chuỗi cung ứng.
Địa phương hóa quy trình phân phối đến người dùng cuối trên quy mô lớn, giúp
gia tăng hiệu quả kinh tế theo quy mô.
Xây dựng mạng lưới phân phối thông minh, phù hợp với sự thay đổi về nhu cầu
khách hàng, sự thay đổi về mức độ sản xuất, lựa chọn nhà cung cấp mới và dòng
dịch chuyển mới của sản phẩm.
Cần có công cụ dự đoán nhu cầu của khách hàng một cách tương đối chính xác,
giúp hàng tồn kho luôn ở mức tối thiểu để đảm bảo chi phí cho doanh nghiệp,
đảm bảo chất lượng hàng hóa và số lượng đủ đáp ứng nhu cầu tạm thời của
khách hàng.
Tích hợp chuỗi cung ứng trong trường hợp gặp phải các sự cố, xung đột và tham
gia vào cộng tác chiến lược.
Sử dụng nguồn lực từ bên ngoài và thu mua
Tích hợp thương mại điện tử vào hệ thống chuỗi cung ứng một cách hiệu quả để
tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
4.2. Giải pháp vĩ mô
Ứng dụng công nghệ hiện đại vào trong chuỗi cung ứng còn đang hạn chế
Ứng dụng công nghệ thông tin hiện đai trong quá trình sản xuất là một trong
những thách thức khá lớn của nhiều doanh nghiệp hiện nay,bởi công nghệ thông tin
có vai trò quan trọng trong các hoạt động kinh tế lớn hay nhỏ của doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh hay xúc tiến bán các sản phẩm ra nước lân cận hay thập chí là
những nước Châu Âu …việc ứng dụng công nghệ thông tin không những vậy còn
cực kì hiệu quả trong khâu tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệ.Ngoài ra việc ứng
dụng này còn lưu thông việc xử lý thông tin nhanh giúp doanh nghiệp có thể nhanh
chóng xuất đơn hàng thu lợi nhuận về nhanh chóng
Quan tâm tới vấn đề tiền tệ:
Thực hiện chính sách tiền tệ thận trọng, hiệu quả; điều hành cung tiền và tăng
trưởng tín dụng phù hợp, tránh gây sức ép lên lạm phát; thúc đẩy cơ cấu lại các tổ
chức tín dụng, xử lý nợ xấu gắn với bảo đảm chất lượng tín dụng, nhất là những
20
lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như cho vay tiêu dùng và bất động sản; phấn đấu giảm mặt
bằng lãi suất; giữ ổn định giá trị đồng tiền, điều hành tỉ giá theo tín hiệu thị trường,
không để biến động lớn, phù hợp với diễn biến lạm phát, tăng dự trữ ngoại hối; có
kịch bản đối phó với các cú sốc từ bên ngoài và nội tại nền kinh tế.
Giải quyết nợ tốt:
Có giải pháp phù hợp bảo đảm tập trung nguồn lực để ngân sách trung ương đóng
vai trò chủ đạo. Huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn lực từ tài sản công. Quản
lý, sử dụng hiệu quả nợ công và bảo đảm khả năng trả nợ, bảo đảm an toàn nợ công
Nâng cao sự cộng tác đối tác trong chuỗi cung ứng:
Khi áp lực về các vấn đề mà xã hội chúng ta phải đối mặt trở nên phức tạp hơn,
ý tưởng về hợp tác giữa các tổ chức có thể hứa hẹn nhiều cơ hội để các tổ chức đi
xa hơn trong việc hỗ trợ các nhóm đối tượng hưởng lợi và phát triển tổ chức. Thông
qua mối quan hệ đối tác, các tổ chức có thể đóng góp phần của mình và cũng gặt hái
được những lợi ích của những nỗ lực của đối tác; thúc đẩy việc học tập và phát triển
các kỹ năng và kiến thức; để đạt được mục tiêu chung. Các tổ chức cũng tìm kiếm
các đối tác để tăng giá trị thông qua các nỗ lực kết hợp. Mặc dù các tổ chức có thể
có các cấu trúc và cách tiếp cận khác nhau nhưng cùng nhau làm việc theo các mục
đích chung và chia sẻ kết quả đạt được.
Giải quyết một số vấn đề về lạm phát,giảm phát:
Duy trì ổn định ở mức giá chung và giải quyết các vấn đề chính của nền kinh tế
doanh nghiệp
Xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải và hệ thống logistics:
Cơ sở hạ tầng đóng một vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tếxã hội của địa phương, tạo động lực cho sự phát triển. Hệ thống kết cấu hạ tầng phát
triển đồng bộ, hiện đại sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất, hiệu
quả của nền kinh tế và góp phần giải quyết các vấn đề doanh nghiệp
Cơ sở hạ tầng yếu kém là một rào cản lớn với mọi hoạt động trong nền kinh tế.
Trong khi đó việc quản trị chuỗi cung ứng cần phải được xây dựng dựa trên một nền
tảng hạ tầng phù hợp và luôn luôn đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển. Thực tế, đây
là bài toán vô cùng khó đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Chúng ta vẫn
biết rằng cơ sở hạ tầng yếu kém sẽ khiến cho các chi phí liên quan đến hoạt động
logistics tăng cao, mà điều đó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động quản trị chuỗi
cung ứng, làm cho chuỗi cung ứng trở nên rất tốn kém. Trong thời gian qua, cơ sở
hạ tầng tại Việt Nam cũng đã có nhiều thay đổi đáng kể. Nhiều công trình và hệ
thống giao thông đường bộ, cảng nội địa và cảng biển được nâng cấp và xây mới.
Tuy nhiên nhìn từ góc độ logistics, cơ sở hạ tầng của chúng ta vẫn còn nhiều yếu
21
kém, lạc hậu và thiếu đồng bộ. Quy mô của hệ thống kho bãi còn nhỏ và rời rạc.
Trang thiết bị, phương tiện như xe vận chuyển hàng, dây chuyền, băng tải, đường
ống, thiết bị chiếu sáng, xe nâng hạ hàng hóa, máy đóng gói và các thiết bị mã
vạch… với công nghệ còn thấp và đã cũ. Hệ thống vận tải đường biển, đường sông,
hàng không, đường bộ, đường sắt còn nhiều bất cập dẫn đến tốc độ lưu chuyển
trong logistics còn khá chậm nên đã ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả của ngành
logistics.
Xây dựng hệ thống cung cấp và cập nhật thông tin về quản trị chuỗi cung ứng
cho doanh nghiệp:
Xuất phát từ thực tế nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các
nhà lãnh đạo doanh nghiệp về quản trị chuỗi cung ứng còn chưa thật đầy đủ. Một
trong những giải pháp để giúp các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả quản trị chuỗi
cung ứng đó là xây dựng hệ thống cung cấp và cập nhật thông tin về quản trị chuỗi
cung ứng. Nhà nước nên đảm đương vai trò là cầu nối đưa các thông tin về quản trị
chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp. Bởi trong một xã hội thông tin như hiện nay,
có rất nhiều nguồn thông tin trái chiều và các doanh nghiệp sẽ gặp phải rất nhiều
khó khăn trong việc tiếp nhận và xử lí các nguồn thông tin. Đặc biệt là trong thời
điểm hiện tại, các kiến thức liên quan đến chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung
ứng còn chưa được giảng dạy phổ biến ở các trường đại học, có chăng cũng chỉ
chiếm thời lượng rất ít trong chương trình giảng dạy. Do vậy, rất cần có sự hỗ trợ
của Nhà nước trong việc xây dựng các chương trình đào tạo nhằm mục tiêu truyền
tải những kiến thức cơ bản, đồng thời thường xuyên cập nhật những thông tin liên
quan đến quản trị chuỗi cung ứng cho doanh nghiệp.
Xây dựng hành lang pháp lý và hiệp hội logistics ,chuỗi cung ứng tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp có định hướng:
Logistics đóng một vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản trị chuỗi cung
ứng. Tuy nhiên ở nước ta hiện nay sự không nhất quán trong chính sách và pháp
luật quy định về hoạt động logistics đã làm giảm tính hiệu quả của hoạt động này rất
nhiều. Điển hình là sự không nhất quán trong các chính sách về thủ tục hải quan.
Bên cạnh đó còn có sự không nhất quán trong việc hiểu và thi hành các quy định
liên quan đến thực hiện thủ tục hải quan. Chính những sự không rõ ràng, không nhất
quán này khiến cho các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, thường xuyên phải
đối mặt với sự chồng chéo trong quản lí ở các cấp, không những tốn kém thời gian
mà còn cả các chi phí ngoài luồng đã trở nên quá phổ biến. Điều này đã ảnh hưởng
không nhỏ đến hiệu quả quản trị chuỗi cung ứng của doanh nghiệp. Đã đến lúc Nhà
nước cần có những điều chỉnh trong việc xây dựng hành lang pháp lí, ban hành
22
những chính sách và văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động logistics một cách
nhất quán và theo kịp được sự phát triển của ngành logistics, giảm bớt sự rườm rà
và chồng chéo giữa các văn bản pháp luật
23
KẾT LUẬN
Khi môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, sức ép lên các doanh nghiệp
phải giảm thiểu chi phí, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm, gia tăng dịch
vụ khách hàng ngày càng cao. Vì thế quản lý hiệu quả hoạt động logistics vẫn là
chưa đủ để các doanh nghiệp đạt được hiệu quả tối ưu. Khi đó, chuỗi cung ứng
chính là giải pháp tất yếu.
Hiện nay khi các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài đang ồ ạt vào Việt Nam, với
lợi thế về tài chính, nguồn nhân lực, kinh nghiệm quản trị, và đặc biệt các công ty
này thật sự tập trung vào xây dựng chuỗi cung ứng; thì các doanh nghiệp bán lẻ Việt
Nam vẫn đang gặp nhiều khó khăn. Thực trạng quản lý chuỗi cung ứng của các
doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam cho thấy vừa yếu chuyên môn, vừa thiếu các nguồn
lực. Áp dụng hiệu quả từ quản trị chuỗi cung ứng của Walmart, đã đưa ra một số bài
học kinh nghiệm như: hiện đại hóa hệ thống thông tin, tăng cường ứng dụng công
nghệ tiên tiến, thay nhà kho bằng các trung tâm phân phối, xây dựng đội xe tải hiện
đại, thay đổi hình thức phân phối, tập trung quản trị tồn kho hiệu quả.
24
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. />2. />3. />
le-walmart
4. />