Tải bản đầy đủ (.doc) (16 trang)

Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giáo dục lễ giáo cho trẻ 56 tuổi ở trường mầm nnon

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (117.1 KB, 16 trang )

BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
I. LỜI GIỚI THIỆU

Từ ngàn xưa kinh nghiệm của cha ông ta đã đúc kết, nhiệm vụ học đầu
tiên của mỗi con người phải là “Tiên học lễ, hậu học văn”. Lễ phép là nét đẹp
văn hóa được đặt lên hàng đầu khi nhìn nhận và đánh giá về một ai đó mà chúng
ta thường bàn luận. Vì vậy, Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII của Đảng cộng
sản Việt Nam về định hướng chiến lược giáo dục – đào tạo trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và đề ra mục tiêu giáo dục Mầm non phải trang bị cho
trẻ những gì tốt nhất kể cả về mặt vật chất và tinh thần một cách toàn diện,
chuẩn bị tâm thế cho trẻ bước vào trường phổ thông sau này.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Trẻ em như búp trên cành
biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan” . Đúng vậy, trẻ em là mầm xanh, là chủ
nhân tương lai của đất nước. Cho nên việc chăm sóc giáo dục trẻ em, đặc biệt là
việc giáo dục để hình thành nhân cách trẻ ở độ tuổi Mẫu giáo là nhiệm vụ quan
trọng đối với người giáo viên mầm non. Như Bác Hồ của chúng ta đã viết:
“Hiền dữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên”. Chính vì điều đó
mà việc giáo dục trẻ em về cái thiện từ lúc còn bé là việc làm hết sức đúng đắn
và cần thiết. Làm thế nào để trẻ biết “kính trên nhường dưới”, biết “cảm ơn và
xin lỗi”… để trẻ trở thành người “có tài và có đức”.
Việc giáo dục lễ giáo ở trường mầm non đã được chú trọng, tuy nhiên kết
quả đạt trên trẻ chưa cao và chưa bền vững. Những nội dung lễ giáo trẻ tiếp thu
chưa được thể hiện bằng hành động trong các thời điểm hàng ngày. Trẻ chưa
hiểu hết việc kính trọng, thưa gửi lễ phép, trẻ còn ứng xử theo cách riêng của
bản thân mình với mọi người xung quanh.
Bản thân tôi là một người giáo viên dạy trẻ 5-6 tuổi, tôi đã băn khoăn trăn
trở rất nhiều là làm sao giáo dục lễ giáo cho trẻ, để các nội dung lễ giáo trẻ học
được trở thành kỹ năng thành các hành động thiết thực trong cuộc sống hàng
ngày của trẻ. Qua các buổi sinh hoạt chuyên đề về giáo dục lễ giáo cho trẻ trong
trường mầm non, qua việc bản thân tôi tự học hỏi từ các phương tiện thông tin


đại chúng và từ tình hình thực tế của lớp của trường, bản thân tôi đã có sáng
kiến kinh nghiệm về: “ Một số biện pháp giáo dục lễ giáo cho trẻ mẫu giáo 5-6
tuổi ở trường mầm non”
II. TÊN SÁNG KIẾN:

Một số biện pháp giáo dục lễ giáo cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường
mầm non.
III. TÁC GIẢ SÁNG KIẾN:

- Họ và tên:


- Địa chỉ:
- Số điện thoại:

; Email:

IV. CHỦ ĐẦU TƯ TẠO RA SÁNG KIẾN:

Bản thân tự tiến hành nghiên cứu sáng kiến.
V. LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN.

Thực hiện một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục lễ giáo cho trẻ
mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non.
- Qua áp dụng và triển khai để đề xuất và lý giải một số biện pháp thực
hiện nâng cao chất lượng giáo dục lễ giáo cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường
mầm non.
- Đề cập đến một số cơ sở khoa học của vấn đề giáo dục lễ giáo cho trẻ
mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non.
- Chỉ ra thực trạng về công tác giáo dục lễ giáo cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

ở trường Mầm non .... - huyện Yên Lạc - tỉnh Vĩnh Phúc. Đề xuất một số kinh
nghiệm để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục lễ giáo cho trẻ mẫu giáo 56 tuổi ở trường mầm non ....... Góp phần giúp cho giáo viên tổ 5 tuổi nâng cao
kiến thức chuyên ngành và công tác giáo dục lễ giáo tại trường mầm non đạt kết
quả cao hơn.
- Nâng cao chất lượng giáo dục lễ giáo cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường
Mầm non ....
VI. NGÀY SÁNG KIẾN ĐƯỢC ÁP DỤNG .

Sáng kiến được áp dụng từ tháng 8 năm 2018 đến tháng 5 năm 2019.
VII. MÔ TẢ BẢN CHẤT SÁNG KIẾN.

1. Cơ sở lý luận.
1.1. Thế nào là giáo dục lễ giáo?
Giáo dục lễ giáo là giáo dục về cả phẩm chất đạo đức và tính cách, lối
sống của con người cho phù hợp với các chuẩn mực đạo đức chung của xã hội.
Từ quan niệm đó chúng ta phải dạy trẻ lễ phép, nhường nhịn, trung thực, biết
bảo vệ môi trường sống, biết quan tâm đến mọi người xung quanh để trẻ trở
thành người có ích cho xã hội.
1.2. Ý nghĩa của giáo dục lễ giáo cho trẻ .
Giáo dục lễ giáo có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách
trẻ sau này: Khỏe mạnh, nhanh nhẹn, phát triển hài hòa cân đối, giàu lòng nhân
ái, biết yêu thương quan tâm đến mọi người và mọi vật xung quanh. Giáo dục lễ
giáo nhằm tăng cường hiểu biết, mối quan hệ với cộng đồng, đưa trẻ vào môi
trường sư phạm lành mạnh và trong sáng. Từ đó kết quả học tập của trẻ sẽ đạt
cao hơn.
2


Giúp cho phụ huynh có nhận thức đúng đắn và sâu sắc hơn về việc cần
thiết phải giáo dục lễ giáo cho trẻ ngay từ nhỏ, tin tưởng vào chương trình và nội

dung giáo dục trẻ của nhà trường, của giáo viên.
Nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ trong nhà trường
mầm non.
2. Thực trạng việc giáo dục lễ giáo cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm
non ...........
2.1. Thuận lợi:
Trẻ đi học tương đối đều ( tỉ lệ trẻ đi học chuyên cần hàng tháng đều đạt
98% trở lên). Trẻ thích khám phá môi trường xung quanh. Trẻ hay đặt các câu
hỏi về những điều trẻ chưa biết nên đó là điều kiện thuận lợi để giáo viên nắm
bắt kiến thức của trẻ, truyền đạt cho trẻ nhiều kiến thức mới.
Giáo viên dạy lớp 5-6 tuổi có trình độ chuyên môn vững, đều đạt trình độ
trên chuẩn, yêu nghề mến trẻ, tích cực học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ. Tích cực nghiên cứu, sưu tầm các loại sách báo nên tích lũy được
nhiều kinh nghiệm hay về chăm sóc giáo dục trẻ.
Lớp học sạch đẹp, có môi trường an toàn để chăm sóc giáo dục trẻ, có đầy
đủ đồ dùng cần thiết cho dạy và học.
Ban giám hiệu nhà trường luôn chỉ đạo sát sao các nội dung giáo dục trẻ,
đặc biệt là giáo dục lễ giáo. Đầu tư vật chất, tài liệu về giáo dục lễ giáo cho giáo
viên. Tổ chức một số hoạt động tập thể cho trẻ tham gia để phát huy tính chủ
động tự tin và sáng tạo của trẻ.
Phụ huynh có tinh thần tham gia phối hợp với nhà trường và giáo viên để
nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ.
2.2. Khó khăn:
Đa số bố mẹ các cháu làm nông nghiệp và làm nghề xây dựng xa nhà nên
việc quan tâm đến con em còn hạn chế.
Bên cạnh đó vì mục tiêu giảm tỷ lệ sinh con nên số con trong mỗi gia đình
ít đi, trẻ được nuông chiều hơn do đó nhiều trẻ còn có tính ích kỷ, hay vòi vĩnh
mà chưa biết tự phục vụ bản thân phù hợp với lứa tuổi của trẻ. Một số phụ
huynh chưa hiểu dược tầm quan trọng của lễ giáo cho trẻ ở lứa tuổi mầm non,
nên thường ỷ nại cho giáo viên.

Thời gian đầu năm học trẻ đến lớp với thói quen tự do, hay nói tục, chửi
bậy, nói chưa rõ ràng và còn ngại ngùng khi giao tiếp. Nhiều trẻ chưa có kỹ năng
trong việc bảo vệ môi trường trong lớp học, chưa biết giữ gìn vệ sinh cá nhân
sạch sẽ, trẻ chơi nhưng chưa biết cất dọn đồ dùng đúng nơi quy định, và thường
không quan tâm đến cảm xúc của các bạn xung quanh.
3


Giáo viên dạy lớp 5 tuổi đã lồng ghép các nội dung giáo dục lễ giáo vào
các hoạt động hàng ngày để dạy trẻ nhưng chưa thường xuyên, chưa có nhiều
biện pháp giáo dục hay, chưa ứng dụng công nghệ thông tin vào giáo dục lễ giáo
nên kết quả đạt trên trẻ còn hạn chế.
Giáo viên đã xây dựng góc tuyên truyền tới cha mẹ trẻ tại từng nhóm lớp.
Tuy nhiên nội dung tuyên truyền chủ yếu là về chương trình giảng dạy trong
tuần cho trẻ, chưa chú trọng sưu tầm bài viết hoặc tranh ảnh có nội dung giáo
dục lễ giáo để tuyên truyền đến cha mẹ trẻ.
Nhà trường đã tổ chức được một số hoạt động tập thể vào các dịp lễ hội
cho trẻ tham gia để tạo mối quan hệ thân thiện, gần gũi giữa trẻ với trẻ, trẻ với
cô nhưng chất lượng hoạt động chưa phong phú nên chưa phát huy hết tính tích
cực sáng tạo và chủ động của trẻ.
Đứng trước tình hình đó, tôi rất lo lắng và luôn suy nghĩ để tìm ra phương
pháp và biện pháp tốt nhất để tất cả trẻ lớp tôi có những thói quen và hành vi
đạo đức phù hợp với chuẩn mực xã hội theo lứa tuổi của trẻ để việc giáo dục lễ
giáo cho trẻ đạt kết quả tốt nhất.
2.3. Kết quả khảo sát ban đầu:
Qua khảo sát trẻ lần 1 vào tháng 9/ 2018 trên 33 trẻ ở lớp tôi phụ trách về
các nội dung giáo dục lễ giáo của học sinh lớp tôi. Trẻ có kết quả như sau:
STT

Nội dung


Số trẻ đạt

Tỉ lệ đạt

1

- Trẻ biết chào hỏi, xưng hô lễ phép

18/33

54%

2

- Trẻ biết cảm ơn, xin lỗi

20/33

61%

3

- Trẻ biết nhường nhịn, giúp đỡ bạn.

24/33

73%

4


- Trẻ biết giữ gìn, cất, sắp xếp đồ chơi
gọn gàng ngăn nắp

20/33

61%

5

- Trẻ mạnh dạn trong giao tiếp

23/33

70%

6

- Có hành vi bảo vệ môi trường .

27/33

82%

Với bảng khảo sát trên ta thấy, tỉ lệ trẻ đạt ở các nội dung như biết cất dọn
và giữ gìn đồ dùng đồ chơi , biết nói lời cảm ơn hay xin lỗi với mọi người còn
thấp( chỉ đạt 54 %). Nhiều trẻ chưa biết nhường nhịn giúp đỡ bạn, trẻ còn rụt rè
trong giao tiếp...
Từ thực trạng trên, để giáo dục lễ giáo cho trẻ 5-6 tuổi tại lớp mình phụ
trách tôi đã thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

3. Một số biện pháp giáo dục lễ giáo cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường
mầm non :
4


Để đạt được hiệu quả cao trong việc chăm sóc giáo dục lễ giáo cho trẻ, thì
trước hết người giáo viên phải xây dựng kế hoạch thực hiện cụ thể cho năm học,
cho từng tháng, từng tuần. Phải nắm vững chuyên môn, không ngừng học hỏi,
tìm tòi để trao đổi kiến thức, năng động sáng tạo, phải thực sự yêu nghề, mến
trẻ, luôn luôn gần gũi yêu thương và tôn trọng trẻ, tạo niềm tin và uy tín đối với
trẻ. Trẻ mẫu giáo, hoạt động vui chơi luôn đóng vai trò chủ đạo, trẻ được “Học
mà chơi chơi mà học”. Để việc giáo dục lễ giáo cho trẻ có chất lượng thì cần
phải thực hiện các giải pháp sau:
- Giáo dục lễ giáo cho trẻ qua các tiết học
- Giáo dục lễ giáo cho trẻ qua các hoạt động vui chơi
- Giáo dục lễ giáo cho trẻ mọi lúc, mọi nơi
- Xây dựng góc tuyên truyền giáo dục lễ giáo
- Xây dựng cảnh quan sư phạm trong lớp học
- Phối hợp với phụ huynh trong giáo dục lễ giáo cho trẻ.
- Ứng dụng công nghệ thông tin vào giáo dục lễ giáo.
- Giáo dục lễ giáo thông qua ngày lễ, hội.
- Cô gương mẫu chuẩn mực.
- Khích lệ nêu gương trẻ.
Những biện pháp này có liên quan mật thiết với nhau, xuyên suốt trong
quá trình thực hiện giáo dục lễ giáo cho trẻ. Trong năm học 2018-2019, cùng với
việc giáo dục để trang bị cho trẻ những kiến thức sơ đẳng chuẩn bị tâm thế cho
trẻ vào lớp một, tôi còn quyết tâm thực hiện mục tiêu giáo dục lễ giáo cho trẻ để
góp phần nhỏ bé của mình vào quá trình hình thành nhân cách cho trẻ một cách
toàn diện.
Biện pháp 1: Giáo dục lễ giáo thông qua tiết học.

Lồng ghép nội dung giáo dục lễ giáo vào các môn học nhằm hình thành
cho trẻ những thói quen, hành vi có văn hóa, giúp cho các tiết học trở nên gần
gũi và phong phú đối với trẻ. Ví dụ:
* Qua giờ khám phá khoa học “Nước và các hiện tượng tự nhiên”.
Cô có thể đàm thoại: Nước để làm gì? Nước có những ích lợi nào?
Qua lợi ích của nước, cô giáo dục trẻ uống nước không được lãng phí, bảo
vệ nguồn nước bằng những việc làm nhỏ bé như không vứt rác xuống ao, hồ...
* Đối với giờ phát triển thể chất:
Cô giáo dục trẻ thường xuyên tập thể dục, tập đều đặn giúp cơ thể khỏe
mạnh, trong lúc tập không được chen lấn xô đẩy nhau.
* Qua giờ thể dục sáng, thể dục giờ, hình thành cho trẻ thói quen tự giác:
5


Đến giờ thể dục lớp trưởng cho 3 tổ ra sân xếp hàng ngay ngắn, không
chạy, không xô đẩy nhau, khi có hiệu lệnh trẻ tự dãn hàng, tự điều chỉnh hàng và
tập theo nhạc.
* Đối với giờ tạo hình: “ Vẽ chân dung mẹ”
Cô có thể đàm thoại:
Mẹ con là người như thế nào?
Công việc hàng ngày của mẹ?
Hàng ngày mẹ thường làm gì cho con?
Đối với mẹ các con phải như thế nào?
Qua đó cô giáo dục trẻ yêu thương, kính trọng mẹ, biết giúp đỡ mẹ những
công việc nhỏ như nhặt rau, quét nhà..., biết được sự vất vả lam lũ của mẹ để
nuôi chúng ta lớn như ngày hôm nay.
* Giờ học làm quen với chữ cái:
Cô nhắc trẻ ngồi học ngay ngắn, đúng tư thế, tự lấy đồ dùng sách vở để
học bài, tự cất đồ dùng đúng nơi quy định một cách gọn gàng, ngăn nắp, biết giữ
gìn bảo quản đồ dùng.

* Qua giờ văn học: Qua câu truyện “ Cây khế”
Cô đàm thoại cùng trẻ: Người anh có tính cách như thế nào? Người em
thế nào? Con yêu thích nhân vật anh hay em?...
Qua câu chuyện cô giáo dục các cháu tình thương yêu, đoàn kết, chăm lo
lao động, không tham lam, yêu cái thiện, ghét cái ác, hình thình cho trẻ lòng
nhân ái đối với mọi người xung quanh.
* Qua giờ âm nhạc: Bài “ Cháu yêu bà”. “ Cháu yêu cô thợ dệt”. Cô đàm thoại
cùng trẻ:
Đối với bà các con phải như thế nào? Khi các con giành tình yêu thương
cho bà thì bà thấy thế nào?
Cô thợ dệt làm ra sản phẩm gì? Vậy để có những chiếc áo đẹp mặc chúng
mình phải làm gì?
Thông qua đó giáo dục trẻ yêu thương, lễ phép và kính trọng bà và người
lớn tuổi, yêu quí các nghề trong xã hội, giữ gìn quần áo sạch sẽ.
Sau một thời gian thực hiện những thói quen và lễ giáo, chất lượng lớp tôi
tăng lên rõ rệt, trẻ biết chào hỏi, thưa gửi, biết nói lời cảm ơn, xin lỗi, yêu mến
cô giáo, đoàn kết với bạn bè, có thói quen tự giác, kỷ luật tốt.
Biện pháp 2: Giáo dục lễ giáo thông qua hoạt động vui chơi.
Đối với trẻ ở tuổi mầm non trẻ học mà chơi, chơi mà học, trong các giờ
chơi trẻ được thực hành trải nghiệm nhiều vai chơi khác nhau bắt chước theo
6


cuộc sống của người lớn. Thông qua giờ chơi tôi đã lồng giáo dục lễ giáo vào
vui chơi, qua đó trẻ được trực tiếp đối thoại những câu chào hỏi lễ phép, câu
cảm ơn, xin lỗi, đưa và nhận bằng hai tay, tôi luôn theo dõi và lắng nghe để kịp
thời uốn nắn cho trẻ khi có trẻ có biểu hiện chưa đúng. Qua đó giúp trẻ hình
thành thói quen hành vi văn minh trong giao tiếp với mọi người xung quanh. Ví
dụ:
* Qua trò chơi phân vai -Bán hàng:

Người bán hàng phải có thái độ niềm nở, chào hỏi người mua hàng và
phục vụ người mua hàng chu đáo, tươi vui. ( Cô, chú mua gì ạ? Cô, chú cần bao
nhiêu để cháu lấy ạ?...)
Người mua hàng vui vẻ, hỏi han, nói với người bán hàng những gì cần
giúp, biết xếp hàng chờ đến lượt mình…( Bao nhiêu tiền một chai nước ngọt này
ạ?Lấy giúp tôi 2 gói bánh này với ạ!...)
* Qua trò chơi phân vai y tá, bác sĩ:
Với bệnh nhân bác sĩ phải ân cần, dặn dò cẩn thận trước khi bệnh nhân
về…
Bệnh nhân biết lắng nghe lời dặn dò của bác sĩ, xin thuốc từ bác sĩ bằng
hai tay…
Qua hoạt động vui chơi trẻ mạnh dạn hơn, tự tin trong giao tiếp, trong ứng
xử, chào hỏi lễ phép đối với mọi người xung quanh mình. Từ đó trẻ lớp tôi đã
hết nói trống không, câu cụt câu què. Trẻ biết nói và trả lời đầy đủ, biết xưng hô
phù hợp với tình huống giao tiếp.
Biện pháp 3: Giáo dục lễ giáo mọi lúc mọi nơi.
Ngoài việc giáo dục lễ giáo cho trẻ trên tiết học, tôi dạy trẻ ở mọi lúc mọi
nơi, trong giờ chơi, trong giờ sinh hoạt của trẻ. Tôi đọc thơ, trò chuyện, cho trẻ
xem tranh, kể chuyện ngắn,… Có lúc giáo dục trẻ nề nếp tập thể, có khách đến
lớp không cần cô phải nhắc nhở các con cũng tự biết chào hỏi khách, đang giờ
ăn cơm không ai được nói chuyện, giờ học bài các con phải chú ý lắng nghe cô
giảng và tích cực phát biểu ý kiến, nhưng cũng có lúc rèn luyện cá nhân, nhắc
trẻ khi đến lớp phải chào cô, chào tạm biệt bố mẹ rồi mới vào lớp. Ví dụ:
Trong các hoạt động tôi rèn cách nói năng, cách chào hỏi, biết cảm ơn, xin
lỗi qua bài thơ: “Cảm ơn và xin lỗi”
“Ai giúp cho cái gì
Nhớ cảm ơn ngay
Lỡ làm điều sai trái
Dù với ai cũng vậy


Xin lỗi cho đàng hoàng
Muốn trẻ thành bé ngoan
Phải biết làm như vậy”.

Muốn trẻ nắm được nội quy ra vào lớp tôi dạy trẻ bài thơ: “Ra vào lớp”
7


“Khi đi em bước nhẹ nhàng
Không làm xô ghế động bàn mới ngoan
Ra vào lớp nhẹ chân tay

Không như lúc ở ngoài sân nô đùa
Nhắc nhau nhường bước người già
Những người mang nặng mới là bé ngoan”

Dạy trẻ về luật an toàn giao thông, dạy trẻ cách đi đường tôi kết hợp với
các bài thơ như: “Đường em đi”, “Em đi qua ngã tư phố” . Qua đó dạy trẻ biết
cách đi đường, đi bên phải đường và không đùa nghịch ngoài đường, khi đi đâu
xa phải có người lớn đi cùng.
Khi cho trẻ quan sát, tiếp xúc với con vật nuôi. Tôi đọc cho trẻ nghe bài
thơ “Đàn gà mới nở” của Trần Đăng Khoa và lồng giáo dục trẻ biết cách bảo vệ,
yêu thương nâng niu chăm sóc động vật nuôi trong gia đình.
Giờ đón trẻ và trả trẻ tôi rất ân cần và chuẩn mực trong xưng hô với ông
bà, bố mẹ trẻ, tôi dạy trẻ đến lớp chào cô, sau đó chào tạm biệt bố mẹ để vào
lớp.
Trong giờ chơi tự do, hay giờ hoạt động ngoài trời nếu cháu làm việc gì
sai đối với bạn, với cô, tôi dạy trẻ biết xin lỗi cô, xin lỗi bạn, cô hay ai cho gì thì
phải nhận bằng hai tay và nói lời cảm ơn.
Dạy trẻ trong khi chơi phải đoàn kết và không tranh giành đồ chơi .

Trong giờ hoạt động ngoài trời cô cho trẻ đi tham quan vườn hoa. Tôi
đàm thoại: Để có vườn hoa đẹp như thế này là nhờ có ai? Muốn có vườn hoa
đẹp con phải làm gì? Từ đó, giáo dục trẻ kính trọng, yêu quí những người lao
động, không ngắt hoa, bẻ cành, không vứt rác vào bồn hoa. Giáo dục trẻ giữ gìn
vệ sinh môi trường, biết đoàn kết, giúp đỡ bạn bè, mọi người xung quanh. Qua
nhiều lần như vậy, trẻ lớp tôi đã có được những thói quen tốt.
Biện pháp 4: Xây dựng góc tuyên truyền về giáo dục lễ giáo.
Góc lễ giáo của lớp cũng rất quan trọng, đây là biện pháp không thể thiếu
đối với chuyên đề giáo dục lễ giáo. Góc lễ giáo được trang trí phía ngoài cửa lớp
để phụ huynh dễ quan sát được nội dung giáo viên muốn tuyên truyền. Từ đó,
phụ huynh sẽ có hướng kết hợp với giáo viên để giáo dục con cái mình.
Đặc điểm nhận thức của trẻ là dễ nhớ nhưng lại mau quên. Do đó, nếu trẻ
được trực quan bằng hình ảnh, hoặc qua bài thơ, câu chuyện ở góc lễ giáo thì trẻ
dễ tiếp thu, dễ phân biệt việc làm tốt, việc làm xấu.
Ở góc lễ giáo tôi sưu tầm tranh ảnh có nội dung giáo dục lễ giáo và dán
vào góc cho trẻ xem, kèm theo những câu chuyện, bài thơ hay phù hợp với
tranh, có thời gian rảnh rỗi tôi và trẻ cùng trò chuyện và đàm thoại về những
hành vi văn minh trong xã hội và những hành vi đẹp hàng ngày trẻ nhìn thấy. Ví
dụ là hình ảnh cháu rót nước mời ông bằng hai tay...
8


Tôi thường xuyên thay đổi tranh ảnh, những câu chuyện, bài thơ phù hợp
với từng chủ đề. Ngoài ra tôi sưu tầm thêm sách báo để trẻ có thể xem ở góc học
tập.
Đồng thời, qua góc tuyên truyền tôi muốn các bậc phụ huỳnh nhìn nhận
và nắm bắt được tầm quan trọng của giáo dục lễ giáo để cùng giáo viên chú
trọng giáo dục lễ giáo cho trẻ mọi lúc mọi nơi. Từ việc áp dụng biện pháp này
tôi thấy trẻ lớp tôi ngoan hơn, có nề nếp tốt, trẻ thể hiện một cách tự nhiên hơn.
Biện pháp 5: Xây dựng cảnh quan sư phạm trong lớp học.

Cùng với toàn ngành thực hiện chủ đề năm học “xây dựng trường học
thân thiện học sinh tích cực”. Thì việc tạo cảnh quan sư phạm trong lớp học, môi
trường xung quanh cũng là vấn đề cần chú trọng. Tôi tạo cảnh quan trong phòng
học theo hướng mở, đồ dùng đồ chơi được sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp, từng
góc riêng biệt, thuận tiện cho trẻ khi hoạt động, mỗi góc tôi đều trang trí đẹp mắt
để hấp dẫn trẻ, tạo cảm giác thích thú đối với trẻ.
Khuyến khích trẻ tận dụng những nguyên vật liệu đã qua sử dụng nhưng
vẫn còn tốt và an toàn để làm đồ chơi. Cùng trẻ “ sưu tập” nguyên vật liệu làm
đồ chơi như: giấy báo, giấy màu, lõi giấy vệ sinh, thìa nhựa ăn sữa chua... Để
cùng trẻ làm đồ chơi trưng bày ở góc. Qua đó giáo dục trẻ tính tiết kiệm, không
lãng phí.
Đặc biệt ở góc thiên nhiên, tôi trồng nhiều cây xanh để hàng ngày trẻ có
thể tự mình chăm sóc cây. Qua đó giáo dục trẻ yêu thiên nhiên, khuyến khích trẻ
lao động, tạo tình cảm của trẻ với thế giới tự nhiên.
Để tạo cảnh quan sân trường, trước giờ học tôi cho trẻ nhặt rác, lá cây để
tạo môi trường sạch đẹp. Còn môi trường trong lớp vào cuối tuần tôi thường tổ
chức cho trẻ thi đua lau dọn, sắp xếp đồ dùng đồ chơi gọn gàng. Nhờ có vậy sau
mỗi lần tổ chức giờ chơi trẻ đã tự biết cất dọn đồ chơi gọn gàng, ngăn nắp.
Trong lớp tôi có thùng đựng rác, để ở góc hiên. Vào giờ nêu gương bé
ngoan xong tôi thường nhắc nhở trẻ sau khi ăn quà sáng, ăn quà chiều nên để rác
vào thùng để giữ gìn vệ sinh chung và trẻ đã thực hiện rất tốt, nhất là vào giờ tạo
hình, sau khi trẻ xé dán, tô màu nếu có rác rơi ra thì trẻ tự giác nhặt và bỏ vào
thùng rác.
Nhà vệ sinh sát ngay lớp học nên việc giáo dục trẻ thói quen vệ sinh văn
minh, sạch sẽ phải thường xuyên hơn, tôi luôn nhắc nhở trẻ đi vệ sinh đúng nơi
quy định, nữ một bên, nam một bên và tạo thói quen vệ sinh đi theo tổ và đi
đúng giờ giấc. Sau khi đi vệ sinh nhớ dội nước...
Trong một số trường hợp cụ thể, tôi trực tiếp trò chuyện giúp trẻ hiểu rõ
hơn: Ví dụ: Khi trẻ đi tiểu tiện, tôi trực tiếp quan sát, nếu có trẻ quên không dội
nước, hoặc đi tiểu vung vãi ra bên ngoài bồn cầu, tôi hỏi trẻ luôn:

9


- Con có ngửi thấy mùi hôi không?
- Con có biết vì sao có mùi hôi không?
- Con sẽ làm gì để nhà vệ sinh sạch sẽ?
Qua đó giúp trẻ nhận ra việc giữ gìn vệ sinh là rất quan trọng và ghi nhớ
thói quen vệ sinh sạch sẽ, dội nước sau khi đi vệ sinh. Kết quả là tất cả học sinh
lớp tôi đều có thói quen vệ sinh sạch sẽ, biết giữ gìn vệ sinh chung .
Biện pháp 6: Ứng dụng công nghệ thông tin vào giáo dục lễ giáo cho trẻ.
“Trăm nghe không bằng một thấy”, nên ngoài việc cho trẻ quan sát góc
tuyên truyền với các hình ảnh tĩnh thì tôi luôn chú trọng đánh thức các giác quan
và cảm xúc của trẻ trong việc giáo dục lễ giáo cho trẻ bằng cách ứng dụng công
nghệ thông tin. Cụ thể là tôi đã sưu tập các video, phim hoạt hình, ảnh động có
các nội dung giáo dục lễ giáo, thực hiện các hành vi văn minh với môi trường
với mọi người để cho trẻ xem. Ví dụ qua video vì sức khỏe cộng đồng tôi đã
giáo dục trẻ biết bảo vệ nguồn nước, bảo vệ cây xanh... Đồng thời, tôi tạo ra các
trò chơi chọn hành vi đúng sai với các hình ảnh đẹp, âm thanh vui nhộn và lời
khuyến khích khi trẻ chọn đúng các hình ảnh có nội dung tốt trên phần mềm
Powerpoint, Adobe Presenter...giúp cho trẻ hứng thú với việc học, trẻ tiếp thu
kiến thức một cách nhẹ nhàng và hiệu quả.
Biện pháp 7: Phối hợp với các bậc phụ huynh trong giáo dục trẻ.
Cùng với mục tiêu xã hội hóa giáo dục thì phụ huynh có vai trò không
nhỏ trong việc giáo dục trẻ, nhất là trong thời kì hội nhập, chúng ta tiếp cận với
nhiều nền văn hóa và trò chơi giải trí đã ảnh hưởng không nhỏ về hành vi văn
minh của trẻ. Trẻ có thể đối xử thô bạo với bạn sau khi xem bộ phim hành động,
hay trẻ có những lời không đúng đối với ông bà, bố mẹ khi không đồng ý về một
điều gì đó, hay trẻ học theo những thói hư tật xấu từ phim ảnh. Từ đó, phụ
huynh nhận thức được vấn đề và phối hợp cùng giáo viên giáo dục trẻ.
Phụ huynh lớp tôi đa số làm nghề nông và nghề xây dựng nên họ ít quan

tâm đến việc rèn lễ giáo cho con cái mình thường xuyên, qua các buổi họp phụ
huynh và qua giờ đón trả trẻ tôi luôn phổ biến và tuyên truyền cách nuôi dạy con
theo khoa học và cách giáo dục lễ giáo cho trẻ khi ở nhà. Phụ huynh dành thời
gian chăm sóc con cái như vệ sinh thân thể, chải răng đúng cách, phụ huynh
phải luôn mẫu mực trong giao tiếp ở nhà để trẻ noi theo. Đồng thời sửa sai cho
trẻ kịp thời những thiếu sót trong giao tiếp với bạn bè và người lớn.
Tuyên truyền tới cha mẹ và người lớn trong nhà làm gương cho trẻ bắt
chước khi sử dụng đồ dùng: nhẹ nhàng, không quăng ném lung tung, để đúng
chỗ. Cùng trẻ thường xuyên dọn dẹp đồ dùng, đồ chơi, thu gom đồ phế thải để
dùng vào các việc khác. Dần dần hãy để trẻ tự thực hiện. Khen trẻ kịp thời, tỏ ra
hài lòng mỗi khi trẻ dọn đồ chơi, đồ dùng.
10


Tôi thường xuyên trao đổi với phụ huynh trong giờ đón, trả trẻ về sự tiến
bộ của trẻ để phụ huynh kịp thời nắm bắt. Qua một thời gian áp dụng biện pháp
này tôi nhận thấy trẻ lớp tôi có sự tiến bộ rõ rệt như xưng hô lễ phép, lịch sự
trong giao tiếp. Trẻ lớp tôi có thói quen ăn mặc sạch sẽ, biết cách đánh răng, rửa
mặt, có thói quen rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, sau khi đi chơi về. Ăn
nhiều loại thức ăn khác nhau, ăn nhiều hoa quả... Đồng thời, tôi nhận được nhiều
hơn sử ủng hộ và cộng tác từ các bậc phụ huynh.
Biện pháp 8: Giáo dục lễ giáo thông qua ngày hội ngày lễ.
Thông qua ngày hội ngày lễ như ngày khai giảng năm học mới, Tết trung
thu, ngày 20/11, ngày giỗ tổ Hùng Vương 10/3 âm lịch, ngày 1/6... tôi đã tham
mưu với Ban giám hiệu nhà trường tổ chức cho trẻ 5-6 tuổi tập luyện các tiết
mục văn nghệ mang ý nghĩa về ngày lễ ngày hội đó để trẻ biểu diễn trong ngày
hội, đồng thời trò chuyện với trẻ về những truyền thống của dân tộc để nhằm
giáo dục trẻ lòng tự hào dân tộc, biết kính trọng những người đã hy sinh vì lợi
ích dân tộc, khuyến khích trẻ học tập để trở thành người có ích cho xã hội.
Biện pháp 9: Cô gương mẫu chuẩn mực.

Trẻ nhỏ luôn muốn nhận được sự yêu thương của cô, muốn gần gũi cô,
mọi hành vi của cô đều được trẻ chú ý. Vì vậy, tôi luôn chuẩn mực trong giao
tiếp với người lớn tuổi, với trẻ không to tiếng quát tháo, xưng hô dịu dàng bằng
cô và con, giờ đón trả trẻ tôi luôn ân cần và dịu dàng đối với trẻ, khiêm tốn lịch
sự trong giao tiếp với phụ huynh, cháu hỏi gì tôi trả lời rõ ràng, gọn gàng, tôn
trọng ý kiến của trẻ và lắng nghe trẻ nói để tạo sự tin tưởng đối với trẻ.
Tôi hứa điều gì với trẻ là phải thực hiện đúng, nếu trẻ có lời nói hoặc hành
vi không hay tôi nhẹ nhàng góp ý và khuyến khích trẻ tránh sai lầm lần sau. Tác
phong, quần áo, đầu tóc tôi luôn chú ý ăn mặc đẹp, lịch sự, cô luôn tươi trẻ sẽ
giúp trẻ hứng thú tham gia các hoạt động trong ngày. Cô giáo cần là tấm gương
sáng để trẻ noi theo.
Biện pháp 10: Khích lệ nêu gương trẻ.
Tâm lý chung của con người thích được khen hơn là chê. Nhất là đối với
trẻ lúc nào cũng muốn được khen nhiều và rất nhiều. Hằng ngày vào giờ nêu
gương cuối ngày, trước khi cắm cờ tôi thường cho trẻ tự nhận xét về mình, hoặc
các bạn trong lớp nhận xét về nhau trong ngày đó, có bạn nào có hành vi lời nói
hay tôi thường nêu gương ra cho cả lớp tuyên dương và tặng trẻ một lá cờ. Tôi
làm mỗi màu cờ là một nội dung yêu cầu:
Lá cờ màu đỏ: Bé học ngoan
Lá cờ màu vàng: Bé sạch sẽ.
Lá cờ màu xanh: Bé lễ phép.
Khi trẻ nhận được lá cờ màu gì, tôi hỏi cả lớp vì sao bạn nhận được lá cờ đó?
11


Cuối tuần nào tôi cũng giành thời gian để kể về gương người tốt, việc tốt phù
hợp với nội dung chủ đề tuần đó.
Ví dụ: Tuần 1 tháng 9 tôi kể cho trẻ nghe “ Tấm cám”
Tuần 2 tháng 9 tôi kể cho trẻ nghe “ Người con út hiếu thảo”
Tuần 1 tháng 10 tôi kể chuyện “ Tích chu”

Tuần khác tôi kể chuyện “ Ai đáng khen nhiều hơn” Hay “ Sự tích cây vú sữa”...
Hoặc những câu chuyện về ăn uống có văn hóa do tôi đặt ra hoặc sưu tầm, trẻ rất
thích lắng nghe, muốn được cắm cờ trẻ sẽ nỗ lực phấn đấu để đạt được. Vì trẻ ở
lứa tuổi này thích được động viên khen ngợi. Khi được khen trẻ sẽ tự tin và tích
cực thực hiện yêu cầu của cô.
4. Khả năng áp dụng của sáng kiến:
Sáng kiến kinh nghiệm này đã được áp dụng để bồi dưỡng chuyên môn
cho giáo viên tại lớp bồi dưỡng hè năm 2018 của trường Mầm non ......, huyện
Yên Lạc. Sáng kiến này được các giáo viên, nhân viên trong trường đánh giá
cao.
Trong năm học 2018 - 2019: Sáng kiến kinh nghiệm này đã được áp dụng
trong công tác giáo dục,chăm sóc trẻ tại trường Mầm non ...... Khi áp dụng sáng
kiến này, chất lượng giáo dục trẻ được nâng lên một cách rõ rệt .
VIII. NHỮNG THÔNG TIN CẦN BẢO MẬT.

Những biện pháp giáo dục lễ giáo cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non có
thể áp dụng rộng rãi không cần bảo mật.
IX. CÁC ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN.

Cơ sở vật chất: Tài liệu hướng dẫn phương pháp giáo dục lễ giáo cho trẻ
mẫu giáo. Nhóm lớp có đủ đồ dùng, trang thiết bị phục vụ cho công tác dạy và
học.
Môi trường sư phạm nhà trường.
Phụ huynh của trẻ 5-6 tuổi trong nhà trường.
Học sinh 5-6 tuổi các nhóm lớp trong nhà trường.
X. ĐÁNH GIÁ LỢI ÍCH THU ĐƯỢC HOẶC DỰ KIẾN CÓ THỂ THU ĐƯỚC
DO ÁP DỤNG SÁNG KIẾN THEO Ý KIẾN CỦA TÁC GIẢ VÀ THEO Ý KIẾN
CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN ĐÃ THAM GIA ÁP DỤNG SÁNG KIẾN LẦN
ĐẦU.


1. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả:
Sau khi áp dụng những biện pháp tôi nghiên cứu vào thực hiện giáo dục lễ
giáo cho trẻ ở lớp mình phụ trách, kết quả khảo sát trẻ lần 2 vào tháng 5 năm
2019 đã đạt được như sau:
12


STT

Nội dung

Số trẻ đạt

Tỉ lệ đạt

1

- Trẻ biết chào hỏi, xưng hô lễ
phép

32/33

97%

2

- Trẻ biết cảm ơn, xin lỗi

30/33


91%

3

- Trẻ biết nhường nhịn, giúp đỡ
bạn.

31/33

94%

4

- Trẻ biết giữ gìn, cất, sắp xếp đồ
chơi gọn gàng ngăn nắp

33/33

100%

5

- Trẻ mạnh dạn trong giao tiếp

31/33

94%

6


- Có hành vi bảo vệ môi trường .

33/33

100%

* So sánh kết quả khảo sát lần 1 và lần 2:
Tỉ lệ đạt lần 1
Tỉ lệ đạt lần 2
( Đầu năm học) ( Cuối năm học)

STT

Nội dung

Tỉ lệ đạt tăng

1

- Trẻ biết chào hỏi,
xưng hô lễ phép

54%

97%

43%

2


- Trẻ biết cảm ơn, xin
lỗi

61%

91%

30%

3

- Trẻ biết nhường nhịn,
giúp đỡ bạn.

73%

94%

21%

4

- Trẻ biết giữ gìn, cất,
sắp xếp đồ chơi gọn
gàng ngăn nắp

61%

100%


39%

5

- Trẻ mạnh dạn trong
giao tiếp

70%

94%

24%

6

- Có hành vi bảo vệ môi
trường .

82%

100%

18%

Qua bảng khảo sát cuối năm học và bảng so sánh tỉ lệ trẻ đạt được giữa
khảo sát trẻ lần 1 và lần 2 cho thấy:
Tỉ lệ trẻ đạt được ở các nội dung giáo dục lễ giáo đều tăng lên rõ rệt. Trẻ
đạt cao nhất là ở nội dung bảo vệ môi trường, biết cất dọn đồ dùng đúng nơi quy
định (đạt 100%).
Nội dung trẻ đạt tăng cao nhất giữa lần 2 so với lần 1 là nội dung trẻ biết

cảm ơn, xin lỗi và xưng hô lễ phép ( tăng 43%) .
13


Từ kết quả đó, trẻ lớp tôi ngoan hơn, lễ phép hơn, trẻ được hình thành
những thói quen vệ sinh văn minh, biết chào hỏi khi có khách đến, biết trao nhận
bằng hai tay, biết giúp đỡ bạn bè, cô giáo, bố mẹ, không đánh bạn, không nói tục
chửi bậy, kính trọng cô giáo và người lớn.
Các bậc phụ huynh có chuyển biến rõ rệt trong giao tiếp, và quan tâm
ngày càng nhiều đến trẻ.
Bản thân tôi nhận được rất nhiều kiến thức và kinh nghiệm dạy trẻ qua
các giờ học, các hoạt động, được phụ huynh tin yêu, đồng nghiệp quý mến.
2. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá
nhân:
Sáng kiến kinh nghiêm này khi triển khai thực hiện mở rộng cho giáo viên
trong tổ 5 tuổi ở trường tôi đã được các giáo viên đón nhận hưởng ứng nhiệt
tình, đánh giá cao. Các giáo viên đều có nhận xét là sáng kiến hay và thiết thực,
có thể áp dụng rộng rãi để bồi dưỡng cho các giáo viên dạy trẻ 5-6 tuổi ở các
trường mầm non khác.
Khi áp dụng sáng kiến này trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ, chất
lượng giáo dục trẻ được nâng lên rõ rệt, giúp phát triển toàn diện nhân cách trẻ,
tạo tâm thế vững chắc cho trẻ 5-6 tuổi bước vào lớp Một.
XI. DANH SÁCH NHỮNG TỔ CHỨC CÁ NHÂN ĐÃ THAM GIA ÁP DỤNG
SÁNG KIẾN.

Số
TT

Tên tổ chức/cá nhân
Giáo viên tổ 5 tuổi


1

Địa chỉ

Phạm vi/Lĩnh vực
áp dụng sáng kiến

Trường Mầm
Áp dụng các giải pháp của
non ...........- Huyện sáng kiến vào giáo dục lễ
Yên Lạc
giáo cho trẻ.

Học sinh và phụ huynh
Trường Mầm
Áp dụng thực hiện theo các
2 khối lớp 5-6 tuổi năm học non ......... - Huyện giải pháp đề ra.
2018 - 2019
Yên Lạc
..........., ngày 15 tháng 5 năm 2019
Thủ trưởng đơn vị
( Ký tên, đóng dấu)

........., ngày 15 tháng 5 năm 2019
Tác giả sáng kiến
( Ký, ghi rõ họ tên)

Nguyễn Thị Toan
14



MỤC LỤC
I. Lời giới thiệu……………………………………………………………...….1
II. Tên sáng kiến …………………………………………………… ……...….1
III. Tác giả sáng kiến……………………………………………... ……….......1
IV. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến …………………………………………....... 2
V. L ĩnh vực dụng sáng kiến………………………………………………...…2
VI. Ngày sáng kiến được áp dụng………………………………………….... 2
VII. Mô tả bản chất sáng kiến………………………………………………....2
1. Cơ sở lý luận ……………..……………………………………………….......2
2. Thực trạng .................………..…………………………………………….....3
3.Một số biện pháp .........…………………………………………………..........4
Biện pháp 1: Giáo dục lễ giáo thông qua tiết học..…………………………....…5
Biện pháp 2: Giáo dục lễ giáo thông qua hoạt động vui chơi...…………............6
Biện pháp 3: Giáo dục lễ giáo mọi lúc mọi nơi.........................…………............7
Biện pháp 4: Xây dựng góc tuyên truyền về giáo dục lễ giáo ..…………............8
Biện pháp 5: Xây dựng cảnh quan sưu phạm trong lớp học......…………...........9
Biện pháp 6: Ứng dụng công nghệ thông tin vào giáo dục lễ giáo cho trẻ.........10
Biện pháp 7: Phối hợp với các bậc phụ huynh .........................…………..........10
Biện pháp 8: Giáo dục lễ giáo thông qua ngày hội ngày lễ......…………...........11
Biện pháp 9: Cô gương mẫu chuẩn mực...................................…………..........11
Biện pháp 10: Khích lệ nêu gương trẻ......................................…………...........11
4. Khả năng áp dụng của sáng kiến ....................................................................12
15


XIII. Những thông tin cần bảo mật ................................................................12
IX. Các điều kiện cần thiết…………………………………………………....12
X. Đánh giá lợi ích thu được……………………………………………….....12

XI. Danh sách những tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến......14

16



×