MỤC LỤC
I.Lời nói đầu…………………………………………………………………………………………………1
II.Nội dung……………………………………………………………………………………………………2
1.Độc lập dân tộc theo con đường cách mạng vô sản là tiền đề
của hạnh phúc ,tự do………..……………………………………………………………………2
2.Hạnh phúc,tự do là giá trị của độc lập dân tộc…………………………….………...4
3.Sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay…………………………………..………………7
III.Lời kết……………………………………………………………………………………………………13
Nguồn tư liệu…………………………………………………………………………………………….14
1
LỜI NÓI ĐẦU
Tự do và mưu cầu hạnh phúc là quyền cơ bản của con người, của mỗi công dân:” Tất
cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có
thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền
mưu cầu hạnh phúc”(trích Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ) . Bác cũng cho
rằng”Nếu nước độc lập mà dân không đuợc huởng hạnh phúc ,tự do thì độc lập ấy cũng
không có nghĩ lí gì”.”Tự do”,không phải là giá trị bất biến mà nó luôn thay đổi theo thời
gian và bối cảnh xã hội.Có được độc lập chưa đủ,”hạnh phúc ,tự do” mới chính là mục
đích cuối cùng của ,mong ước sâu thẳm của người dân Việt Nam.
Nghiên cứu Cương lĩnh dân tộc của Lê-nin:bình đẳng ,tự quyết,đòan kết giai cấp công
nhân các dân tộc,Hồ Chí Minh đã nhận thấy sau khi cách mạng giải phóng dân tộc thắng
lợi, phải tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ,độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩ xã
hội.Độc lập dân tộc đòi hỏi trước hết phải đảm bảo quyền tự quyết dân tộc,quyền lựa
chọn chế độ chính trị, con đường và mô hình phát triển ,độc lập cả về chính trị,kinh
tế,văn hóa.Nhân dân chỉ có được tự do đích thực “khi nào mà quyền lực của nhà nước
bị giới hạn bởi một bản hiến pháp dân chủ được phúc quyết bởi tòan dân,trong đó xác
định rõ ràng những quyền cơ bản , cũng như xác định rõ việc người dân có quyền được
lựa chọn,được thay đổi Quốc hội,Chính phủ thông qua cuộc bầu cử chân chính”(1) .Vì vậy
phải làm cách mạng giải phóng dân tộc ,đất nước giành được độc lập thì dân tộc ấy mới
có quyền lựa chọn con đường phát triển đất nước của mình.Quan trọng hơn ,độc lập
dân tộc đòi hỏi phải thực sự đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân ,nhân dân có cuộc
sống ấm no, tự do, hạnh phúc cong người được phát triển tòan diện ,hạnh phúc ,có
năng lực làm chủ.Độc lập tự do tức là phải xóa bỏ hòan tòan tình trạng áp bức bóc lột ,
nô dịch của dân tộc này với dân tộc khác về kinh tế chính trị và tinh thần.Để đảm bảo
độc lập dân tộc thực sự giữ vững thành quả cách mạng,cả nước phải tiến lên chủ nghĩa
xã hội , đó là quy luật của thời đại ,đáp ứng nguyện vọng của nhân dân là độc lập, tự
do ,ấm no ,hạnh phúc.Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “chúng ta tranh được tự do độc lập
rồi mà dân cứ chết đói , chết rét thì tự do,độc lập cũng không làm gì”.Để giữ vững độc
lập,tự chủ , để đảm bảo cho nhân dân một cuộc sống ấm no,hạnh phúc chúng ta không
còn con đường nào khác là tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Với ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội , cuộc cách mạng giải phóng dân tộc
không chỉ mang lại độc lập thống nhất cho tổ quốc, mà trong từng bước phải mang lại tự
do , hạnh phúc cho tòan dân.
2
Nội dung
Bàn về vấn đề dân tộc , tư tưởng Hồ Chí Minh có những bước phát triển sáng tạo chủ
nghĩa Mác-Lênin .Nếu như C.Mác nói nhiều đến cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư
bản,V.I.Lênin lại bàn nhiều về cuộc đấu tranh chống đế quốc, còn Hồ Chí Minh lại tập
trung bàn về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân;C.Mác và Lênin bàn nhiều về vấn
đề đấu tranh giai cấp ở các nước tư bản thì Hồ Chí Minh lại bàn nhiều về vấn đề đấu
tranh giải phóng dân tộc ở thuộc địa.Mác-Ănghen Đã đưa ra những quan điểm có tính
chất phương pháp luận để giải quyết các vấn đề dân tộc:nguồn gốc ,đặc trưng dân tộc
,quan hệ giai cấp dân tộc để xã định quan điểm ,thái độ, phương pháp ,thách thức của
giai cấp công nhân và Đảng cộng sản quốc tế để giải quyết vấn đề dân tộc .Sau đó Lênim
đã chỉ ra xu hướng phát triển khách quan của dân tộc là độc lập dân tộc và liên kết dân
tộc ;xây dựng cương lĩnh dân tộc tạo cơ sở cho đường lối , chính sách dân tộc của Đảng
cộng sản trong thời kì đế quốc chủ nghĩa.Trong tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất của vấn
đề dân tộc là vấn đề thuộc địa,là vấn đề đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân ,giải phóng
dân tộc và xây dựng nhà nước dân tộc.
Ngày 17-10-1945,Chủ tịch Hồ Chí Minh viết”Thư gửi Ủy ban Nhân dân các kỳ
,tỉnh,huyện và làng “ và đăng bài báo “Bỏ cách làm tiên ấy đi!” trên tờ Cứu quốc ,phê
phán tệ bán chức và buộc dân góp quỹ.Trong thư,người đứng đầu nhà nước tuyên
bố:”Ngày nay ,chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa.Nhưng nếu
nước độc lập mà dân không đuợc huởng hạnh phúc ,tự do thì độc lập ấy cũng không có
nghĩ lý gì”.
1.Độc lập dân tộc theo con đường cách mạng vô sản là tiền đề của hạnh phúc,tự
do
Năm 1911, khi Việt nam đã hòan tòan trở thành thuộc địa của thực dân Pháp, nước
mất độc lập ,dân nô lệ , Hồ Chí Minh không hòan tòan tán thành con đường cứu nước
của các bậc tiền bối, quyết tâm đi ra nước ngoài tìm con đuờng cứu nuớc mới.Suy nghĩ
lớn nhất ,duy nhất của người lúc đó là giải phóng đồng bào tức là lật đổ ,xóa bỏ ách áp
bức ,bóc lột của bọn thực dân ,phong kiến giành độc lập dân tộc.
Trong khỏang 7 năm từ năm 1911 đến trước khi Cách mạng tháng Mười Nga thắng
lợi ,Hồ Chí Minh đã:tìm hiểu các cuộc cách mạng lớn trên thế giới ,tìm hiểu nghiên cứu
các kiểu nhà nước và khảo sát cuộc sống của nhân dân các dân tộc bị áp bức.Ngay sau
thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga,tuy chưa có được nhận thức lý tính,nhưng
3
Ngừơi thấy rằng chỉ có đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga thì mới giành
được thắng độc lập dân tộc .Người nhiệt thành và ủng hộ và tuyên truyền cho cuộc Cách
mạng Tháng Mười Nga.
Được ánh sáng của Quốc tế Cộng sản soi sáng,đặc biêt Luận cương về vấn đề dân tộc
và thuộc địa của Lênin, đã giải đáp trăn trở của Người về vấn đề giải phóng các dân tộc
thuộc địa,giải phóng dân tộc Việt Nam .Tiếp xúc với Luận cương,Hồ Chí Minh đã tìm thấy
con đường chân chính cho sự nghiệp cứu nước giải phóng dân tộc . Người quyết tâm
thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc ,giành độc lập dân tộc theo con đường cách
mạng vô sản.Trên diễn đàn Đại hội tòan quốc lần thứ XVIII Đảng xã hội pháp (12-1920),
Hồ Chí Minh đã yêu cầu Đảng phải tuyên truyền chủ nghĩa xã hội trong tất cả các nước
thuộc địa.Năm 1923 ,Hồ Chí Minh viết:”Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại
,đem lại cho mọi ngừơi không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do ,bình đẳng
,bác ái ,đòan kết ,ấm no trên quả đất,việc làm cho mọi người và vì mọi người ,niềm
vui ,hòa bình,hạnh phúc ,nói tóm lại là nền cộng hòa thế giới chân chính,xóa bỏ những
biên giới tư bản chủ nghĩa cho đến nay chỉ là những vách tường dài ngăn cản những
người lao động trên thế giới hiểu nhau và yêu thương nhau”. Hồ Chí Minh không bao giờ
chấp nhận độc lập dân tộc dưới chế độ quân chủ chuyên chế,càng không chấp nhận chế
độ thực dân.Bởi vì, đó là chế độ mà người dân bị đầu độc cả về tinh thần lẫn về thể
xác ,bị bịt mồm và giam hãm.Phát biểu tại Đại hội XVIII Đảng xã hội pháp,Hồ Chí Minh
nhấn mạnh rằng “thực dân Pháp đã dùng lưỡi lê để chinh phục đất nước tôi.Từ đó chúng
tôi không những bị áp bức bóc lột một cách nhục nhã,mà còn bị hành hạ và đầu độc
bằng thuốc phiện và rượu một cách thê thảm.Đó là một chế độ tàn bạo mà bọn ăn cướp
đã gay ra ở Đông Dương.Nhà tù nhiều hơn trường học và lúc nào cũng chật ních
nguời.Bất kỳ người bản xứ nào có tư tưởng xã hội chủ nghĩa cũng đều bị bắt và đôi khi
bị giết mà không cần xét xử…Với một nền “công lý” ở Đông Dương như vậy,một sự phân
biệt đối xử không có những đảm bảo về quyền con người như vậy,một kiểu sống nô lệ
như vậy,thì sẽ không có gì hết”.Hơn ai hết, Người ý thức rất rõ không có độc lập là sống
kiếp trâu ngựa,thì”chết tự do còn hơn sống nô lệ”.Vì vậy Người nung nấu và truyền quyết
tâm cho tòan Đảng, tòan dân,tòan quân”dù có phải đôt scháy cả dãy Trường Sơn cũang
phải giành được độc lập cho dân tộc “. Độc lập dân tộc không phải là điều mới mẻ trong
lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới .Nhưng độc lập dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh lại
hòan tòan mới ,vì đó là một kiểu độc lập dân tộc được nâng lên một trình độ mới,một
chất mới.Đối với một người dân mất nước ,cái quý nhất là độc lập của Tổ quốc,tự do của
nhân dân .Trên con đường tiếp cận chân lý cứu nước, Người đã chọn kiểu độc lập dân
4
tộc theo con đường cách mạng vô sản ,đó là kiểu độc lập dân tộc làm tiền đề và phải đi
tới hạnh phúc ,tự do .
“Độc lập-tự do-hạnh phúc”là dòng tiêu ngữ của nứớc ta suốt 70 năm qua,tuy đơn giản
nhưng đó là “ham muốn tột bậc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh :”Tôi chỉ có một ham muốn
tột bậc , ham muốn tột bậc là là sao cho nước ta được hòan tòan tự do ,đồng bào ai
cũng có cơm ăn, áo mặc , ai cũng được học hành”.Theo Hồ Chí Minh ,trong điều kiện
nước thuộc địa như Việt Nam thì trước hết phải đấu tranh giành độc lập dân tộc ,nhưng
nếu nứơc độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do thì đó vẫn là độc lập kiểu
cũ ,và vì vậy độc lập đó cũng chẳng có nghĩa lý gì .
Với Hồ Chí Minh ,nước có độc lập rồi thì dân phải được hưởng hạnh phúc ,tự do ,vì
hạnh phúc,tự do,là thước đo giá trị của độc lập dân tộc .Muốn có hạnh phúc,tự do thì
độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội .Người nhấn mạnh chỉ có trong chế độ
xã hội chủ nghĩa thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện cuộc sống riêng của
mình,phát huy tính cách ,sở trường riêng của mình, chăm lo con người và con người có
điều kiện phát triển tòan diện.Khi Hồ Chí Minh xác định giành độc lập theo con đường
cách mạng vô sản là đã khẳng định độc lập dân tộc đi tới chủ nghĩa xã hội .Trong nền độc
lập đó mọi nguời đều phải được hưởng ấm no ,hạnh phúc nếu không độc lập chẳng có
nghĩa lý gì.Bác đã nói:”Chúng ta đã hi sinh, đã giành được độc lập ,dân ta chỉ thấy giá trị
của độc lập khi ăn đủ no mặc đủ ấm”. Tư tưởng này thể hiện tính nhân văn cao cả và cả
tính cách mạng triệt để của Người.
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là cống hiến quý giá nhất của Hồ Chí
Minh cho cách mạng Việt Nam .Đó cũng là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư tưởng Hồ Chí Minh ,
xuyên suốt đường lối và thực tiễn cách mạng Việt Nam .Theo quan điểm của Hồ Chí
Minh , chủ nghĩa xã hội nhằm làm cho nhân dân lao động thóat khỏi nạn bần cùng, làm
cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một cuộc đời hạnh phúc .Chủ
nghĩa xã hội là giải phóng nhân dân lao động khỏi nghèo nàn, lạc hậu.Chủ nghĩa xã hội là
một xã hội không có chế độ người bóc lột người,một xã hội bình đẳng ,nghĩa là ai cũng
phải lao động và có quyền lao động, ai làmnhiều thì hưởng nhiều,ai làm ít thì hưởng
ít,không làm không hưởng. Hạnh phúc ,tự do theo quan điểm Hồ Chí Minh là người dân
phải được hưởng đầy đủ đời sống vật chất và tinh thần do chủ nghĩa xã hội mang lại.
2.Hạnh phúc, tự do là giá trị của độc lập dân tộc .
5
Theo Hồ Chí Minh ,trong điều kiện nước thuộc địa như Việt Nam thì trước hết phải
đấu tranh giành độc lập dân tộc ,nhưng nếu nước độc lập mà dân không được hưởng
hạnh phúc tự do thì đó vẫn là độc lập kiểu cũ ,và vì vậy độc lập đó cũng chẳng có nghĩa lý
gì .
Chủ nghĩa xã hội trong quan niệm của Hồ Chí Minh không phải câu trả lời cho mong
muốn chủ quan của con người theo quan niệm duy tâm ,không tưởng ,mà là câu trả lời
cho một sự vận động lịch sử hiện thực theo khái niệm duy vật phê phán. Chủ nghĩa xã
hội là một vấn đề hiện thực, xuất phát từ thực tiễn khách quan, từ hiện thực vận động
của lịch sử, từ đặc điểm của Việt Nam ,một nứơc vốn là thuộc địa, nông nghiệp lạc
hậu,khoa học kĩ thuật kém phát triển,tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua gia đọan
phát triển tư bản chủ nghĩa . Chủ nghĩa xã hội theo quan điểm Hồ Chí Minh không thể
suy nghĩ chủ quan giáo điều ,nóng vội,duy ý chí mà phải dựa trên cơ sở thực tiễn nước
ta ,đặc điểm thế giới và xu thế thời đại.
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh ,chủ nghĩa xã hội nhằm làm cho nhân dân lao động
thóat khỏi bần cùng ,làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một
đời hạnh phúc . Chủ nghĩa xã hội là giải phóng nhân dân lao động khỏi nghèo nàn lạc
hậu . Chủ nghĩa xã hội là một xã hội không có chế độ người bóc lột người,một xã hội
bình đẳng ,nghĩa là ai cũng phải lao động và có quyền được lao động , ai làm nhiều thì
hưởng nhiều,ai làm ít thì hưởng ít,không làm không hưởng.Có được độc lập chưa đủ,
độc lập nhưng người dân phải được hưởng hạnh phúc ,tự do .Đấy chính là đòi hỏi chính
đáng,điều mà không ai khác mà chính Hồ Chí Minh đã chỉ ra. Hạnh phúc,tự do mới chính
là mục đích cuối cùng,mong ước sâu thẳm nhất của mỗi người dân Việt Nam .Mục tiêu
của chủ nghĩa xã hội là “độc lập ,tự do cho dân tộc ,hạnh phúc cho nhân dân ,không
ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân ,trước hết là nhân dân lao
động “,”Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn ,đủ mặc,ngày càng sung
sứơng ,ai nấy được đi học ,ốm đau có thuốc,không lao động được thì nghỉ ngơi,những
phong tục tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ…Tóm lại xã hội ngày càng tiến
bộ,vật chất ngày càng tăng,tinh thần ngày càng tốt đó là chủ nghĩa xã hội .” Chỉ có chủ
nghĩa xã hội mới đem lại hạnh phúc,ấm no cho nhân dân.
Trong hệ tư tưởng Hồ Chí Minh , chủ nghĩa xã hội được nói đến một cách thiết thực
,cụ thể,dễ hiểu:”Chủ nghĩa xã hội nhằm làm cho nhân dân lao động thóat khỏi bần
cùng ,làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh
phúc”.”nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập tự do cũng
không có nghĩa lý gì”.”Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa
6
của nhân dân và do nhân dân tự xây dựng lấy”. Hạnh phúc ,tự do theo quan điểm Hồ Chí
Minh là người dân phải được hưởng đầy đủ đời sống vật chất tinh thần do chủ nghĩa xã
hội đem lại.Đời sống vật chất là trên cơ sở một nền kinh tế cao dựa trên lực lượng sản
xuất tiến bộ ,ai cũng có cơm ăn áo mặc,ai cũng được học hành.Tuy nhiên tăng trưởng
kinh tế thu nhập cao chưa thể gọi là chủ nghĩa xã hội . Chủ nghĩa xã hội là cùng với việc
không ngừng nâng cao đời sống vật chất đi đôi với đời sống tinh thần của nhân dân
.Trong điều kiện nước ta ,nhiều khi đời sống tinh thần,văn hóa phải đi trước”soi đường
cho quốc dân đi;văn háo lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập tự cường,tự chủ”.Theo
Hồ Chí Minh nhân tố nào biến nước Việt Nam lạc hậu thành một nước tiên tiến:”Có lẽ
cần phải để lên hàng đầu những cố gắng của chúng tôi nhằm phát triển văn hóa. Chủ
nghĩa thực dân đã kìm hãm nhân dân chúng tôi trong vòng ngu muội để chúng chúng dễ
áp bức .Nền văn hóa nảy nở hiện thời là điều kiện cho nhân dân chúng tôi tiến bộ”(2)
Ngay khi còn phải tập trung vào nhiệm vụ hàng đầu là giành độc lập dân tộc ,Hồ Chí
Minh đã nhìn thấu ý nghĩa sức mạnh của văn hóa, của đời sống tinh thần .Người cho
rằng , con người cần có đời sống văn hóa tinh thầnvì đó là lẽ sinh tồn và mục đích sống
của chúng ta.Sau này ,trong kháng chiến ác liệt,Hồ Chí Minh nhấn mạnh”không sợ
thiếu ,chỉ sợ không công bằng; không sợ nghèo,chỉ sợ lòng dân không yên”.
Chủ nghĩa xã hội xóa bỏ căn bản nguyên nhân kinh tế sâu xa của tình trạng người bóc
lột người do chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất gây ra,nhờ đó xóa bỏ cơ sở
kinh tế sinh ra áp bức bóc lột con người về chính trị và sự nô dịch con người về tinh
thần, ý thức,tư tưởng .Chỉ với chủ nghĩa xã hội ,độc lập dân tộc mới đạt tới mục tiêu
phục vụ lợi ích và quyền klực cho mọi người lao động ,làm cho mọi thành viên trong
cộng đồng trở thành người chủ thực sự,có cuộc sống vật chất ngày càng đầy đủ và đời
sống tinh thần ngày càng phong phú.Nó đảm bảo cho dân tộc vượt qua tình trạng đói
ngào ,lạc hậu và tụt hậu trong tương quan các dân tộc khác trên thế giới và ngày càng
phát triển mạnh mẽ hơn để đạt tới sự bình đẳng trong các mối quan hệ giữa con người
với con người ,giữa cộng đồng dân tộc này với dân tộc khác.Tòan bộ khả năng và điều
kiện bảo đảm chỉ có thể được tìm thấy và giải quyết bằng con đường phát triển chủ
nghĩa xã hội .
Chủ nghĩa xã hội là giai đọan phát triển cao hơn của chủ nghĩa tư bản về mặt giải
phóng con người khỏi mọi áp bức bóc lột đem lại cho con người hạnh phúc,tự do.
Vì vậy Hồ Chí Minh rất coi trọng vai trò của tư tưởng ,văn hóa,đạo đức,lối sống .Văn
hóa là lối sống ,là quyền con người ,là cái chân,thiện,mỹ giữa người với người .Thống
7
nhất với cách tiếp cận của chủ nghĩa Mác-Lênin ,Hồ Chí Minh rất chú trọng sức phát
triển sản xuất ,chú trọng chế độ sở hữu coi đó à những nhân tố quyết định thắng lợi của
chủ nghĩa xã hội .Nhưng điều đặc biệt mang sắc thái tư tưởng Hồ Chí Minh là chú trọng
tiếp cận chủ nghĩa xã hội theo phương diện đạo đức. Con người có hạnh phúc trong chế
độ xã hội chủ nghĩa phải là những con người được giáo dục và có đạo đức.Chế độ xã hội
chủ nghĩa mang lại hạnh phúc cho con người là chế độ không có chủ nghĩa cá nhân ,và
những gì phản văn hóa ,đạo đức. Hồ Chí Minh chỉ rõ chủ nghĩa cá nhân là trái đạo đức
cách mạng ,là trở lực ngại con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội .Vì vậy thắng lợi của chủ
nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân.
Tóm lại, Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện ra giá trị của chủ nghĩa xã hội .Chế độ xã hội
chủ nghĩa theo quan điểm của Hồ Chí Minh không chỉ là thước đo giá trị của độc lập dân
tộc mà còn tạo dựng sức mạnh để bảo về vững chắc độc lập dân tộc và tự bảo vệ. Độc
lập dân tộc có đi đôi với với chủ nghĩa xã hội thì mới có một nền độc lập dân tộc thực
sự,hòan tòan,nhân dân mới được hưởng hạnh phúc tự do ;chủ nghĩa xã hội xã hộiỉ có
phất triển trên một nề độc lập dân tộc thật sự thì mới có điều kiện phát triển và hòan
thiện.
3.Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay
Hệ thống động lực của chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất phong phú
,trong đố bao trùm lên tất cả là động lực con người ,trên cả hai bình diện :cộng đồng và
cá nhân.Đó là phát huy sức mạnh của đòan kết của cả cộng đồng dân tộc-động lực chủ
yếu để phát triển đất nước,sức mạnh của con người được giải phóng để làm chủ.Để
phát huy được sức mạnh này phải tác động vào nhu cầu,lợi ích của con người ,phát huy
động lực chính trị ,tinh thần đạo đức, truyền thống ,quyền làm chủ của người dân lao
động ,thực hiện công bằng xã hội ..Đó là sự khắc phục các trở lực kìm hãm sự phát triển
của chủ nghĩa xã hội ,bao gồm đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân,đấu tranh chống tham
ô lãng phí,quan liêu, chống chủ quan,bảo thủ giáo điều lười biếng,không chịu tiếp thu
học tập cái mới,..
Đi lên chủ nghĩa xã hội là sự phát triển tất yếu của lịch sử xã hội loài người và lựa chọn
đi theo con đường này của Hồ Chí Minh là hòan tòan đúng đắn.Đất nước đang đứng
trước những thử thách lớn lao của thời đại đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải kiên định với
mục tiêu ,phải lấy chủ nghĩa Mác-Lênin , tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng
,kim chỉ nan cho mọi hành động.
8
Con đường đi lên chủa nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa,tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và
kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa ,nhưng tiếp thu ,kế thừa những thành tựu mà
nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa ,đặc biệt về khoa học công nghệ ,để
phát triển nhanh lực lượng sản xuất ,xây dựng nền kinh tế hiện đại .Theo sự khái quát
của Đảng ,thời kỳ quá độ là quá trình cách mạng sâu sắc triệt để, đấu tranh phức tạp
giữa cái cũ và cái mới .Có thể hiểu cái cũ ở đây không chỉ là những tàn dư của xã hội tiền
tư bản , xã hội ta mới thóat ra mấy chục năm,mà cái cũ ở đây còn là nhứng yếu tố tư bản
chủ nghĩa đang và sẽ hiện diện trong đời sống kinh tế-xã hội .Đó là để tạo ra sự biến đổi
về chất trong xã hội ,nghĩa là sự biến đổi mang tính bản chất căn bản ,tòan diện ở tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội ,quá trình đó phải diễn ra lâu dài với nhiều bước phát
triển ,nhiều hình thức tổ chức kinh tế ,xã hội đan xen nhau do xuất phát điểm của nước
thấp và nước ta cũng chưa trải qua thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa Vì vậy thời kỳ quá
độ phải diễn ra lâu dài là một tất yếu của lịch sử.Có thể khẳng định ,khi bước vào thời kỳ
quá độ chúng ta sẽ gặp phải nhiều khó khăn thách thức.Bên cạnh đó các thế lực thù địch
luôn tìm cách chống phá,xóa bỏ bỏ chủ nghĩa xã hội .Trong bối cảnh khó khăn đó,Đảng ta
vẫn lạc quan khẳng định:”Chúng ta có nhiều thuận lợi cơ bản:có sự lãnh đạo đúng đắn
của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rền luyện,có bản lĩnh
chính trị vững vàng và dày dặn kinh nghiệm lãnh đạo ;dân tộc ta là một dân tộc anh
hùng ;nhân dân ta có lòng yêu nước nồng nàn,có truyền thống đòan kết và nhân ái,cần
cù lao động và sáng tạo,luôn ủng hộ và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng;chúng ta đã
từng bước xây dựng được những cơ sở vật chất-kỹ thuật rất quan trọng;cuộc cách mạng
khoa học và công nghệ hiện đại ,sự hình thành và phát triển của kinh tế tri thức cùng với
quá trình tòan cầu hóa và hội nhập quốc tế là một thời cơ để phát triển”.(3)
Nhận thức đúng những thời cơ và thách thức đang đặt ra để htực hiện được mục tiêu
tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ,Đảng ta chỉ rõ chúng ta phải quán triệt và thực
hiện tốt các phương hướng ,nhiệm vụ cơ bản :Đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa
đất nước gắn liền với phát triển kinh tế tri thức,bảo vệ tài nguyên,môi trường;Phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ;Xây dựng nền văn hóa tiên tiến
,đậm đà bản sắc dân tộc ;Xây dựng con người ,nâng cao đời sống nhân dân ,thực hiện
tiến bộ và công bằng xã hội ;Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia ,trật tự
an tòan xã hội ;Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập ,dân chủ,hòa bình,hữu nghị,hợp
tác và phát triển ;chủ động và tích cực hội nhập quốc tế;Xây dựng nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa ,thực hiện đại đòan kết dân tộc ,tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc
9
thống nhất ;Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,do nhân
dân,vì nhân dân ;Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh.
Trải qua hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ,kể từ
Đại hội VI(năm 1986), và hơn 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) đến nay, Việt Nam đã thu được những
thành tựu to lớn,hết sức quan trọng.Thực hiện đường lối đổi mới ,với mô hình kinh tế
tổng quát là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ,đất nước ta đã thóat
khỏi khủng hỏang kinh tế -xã hội ,tạo những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ
phát triển mới –thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa,đời sống nhân dân ngày
càng được nâng cao .Đặc biệt trong Đại hội XI, vấn đề mô hình phát triển xã hội –mô
hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam được Đảng ta trình bày một cách vừa cụ thể vừa sâu sắc
tòan diện.Đảng ta khẳng định”Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một
xã hội :Dân giàu,nước mạnh dân chủ,công bằng ,văn minh;do nhân dân làm chủ ;có nền
kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ
phù hợp;có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ;con người có cuộc sống ấm
no,tự do,hạnh phúc,có điều kiện phát triển tòan diện;các dân tộc trong cộng đồng Việt
Nam bình đẳng đòan kết,tôn trọng và giúp nhau phát triển;có Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của nhân dân ,do nhân dân,vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo ;có
quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nứơc trên thế giới”.(4)
Văn kiện Đại hội XII của Đảng Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội 5 năm 2011 – 2015: Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát
triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 – 2015 đã chỉ ra một số điểm nổi bật:
Tốc độ tăng giá tiêu dùng giảm mạnh, từ 18,13% năm 2011 xuống còn 0,6% vào năm
2015. Mặt bằng lãi suất giảm, năm 2015 chỉ bằng 40% so với năm 2011. Tỉ giá, thị trường
ngoại hối ổn định. Khắc phục được cơ bản tình trạng sử dụng đô la, vàng trong giao dịch
thanh toán. Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng khá cao, đạt bình quân 17,5%/năm; tỉ trọng
sản phẩm chế biến trong cơ cấu hàng xuất khẩu tăng mạnh. Dự trữ ngoại hối tăng, đạt
mức cao nhất từ trước đến nay.
Tốc độ tăng Tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 5 năm đạt trên 5,9%/năm.
Quy mô và tiềm lực của nền kinh tế tiếp tục tăng lên; GDP năm 2015 đạt 193,4 tỉ USD,
bình quân đầu người khoảng 2.109 USD.
10
Sản xuất công nghiệp từng bước phục hồi; giá trị gia tăng ngành công nghiệp, xây
dựng tăng bình quân 6,9%/năm; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong cơ cấu
công nghiệp tăng. Khu vực nông nghiệp cơ bản phát triển ổn định, giá trị gia tăng tăng
bình quân 3,0%/năm; độ che phủ rừng đạt khoảng 40,7% vào năm 2015.Giá trị gia tăng
khu vực dịch vụ tăng khá, bình quân 6,3%/năm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu
dịch vụ tiêu dùng tăng bình quân 14,1%/năm (loại trừ yếu tố giá tăng khoảng 5,6%).
Tổng doanh thu từ khách du lịch tăng bình quân 21%/năm; khách quốc tế đạt 7,9 triệu
lượt vào năm 2015.
Chất lượng tăng trưởng nhiều mặt được nâng lên, đóng góp của khoa học, công nghệ
tăng; năng suất lao động tăng bình quân 4,2%/năm, cao hơn giai đoạn trước[6]; vốn đầu
tư được sử dụng hiệu quả hơnđóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào
tăng trưởng giai đoạn 2011 - 2015 khoảng 29%.
Tiềm lực khoa học, công nghệ được tăng cường. Đầu tư từ ngân sách nhà nước cho
khoa học, công nghệ tăng bình quân 16,5%/năm, đạt khoảng 2% tổng chi ngân sách nhà
nước. Đầu tư xã hội cho khoa học, công nghệ tăng nhanh, ước đạt 1,3% GDP vào năm
2015. Ứng dụng khoa học và đổi mới công nghệ có bước tiến bộ, nhất là trong các lĩnh
vực nông nghiệp, xây dựng, y tế, thông tin và truyền thông,... Phát triển thị trường khoa
học, công nghệ, tăng cường hoạt động kết nối cung - cầu, giá trị giao dịch công nghệ
tăng bình quân 13,5%/năm.
Hạ tầng giao thông cả đường bộ, đường sắt, đường hàng không, hàng hải, đường thủy
được quan tâm đầu tư, bảo đảm tốt hơn sự kết nối trên phạm vi cả nước và giao thương
quốc tế. Hạ tầng đô thị có bước được cải thiện, nhất là ở các thành phố lớn; hạ tầng
nông thôn được quan tâm đầu tư. Hạ tầng thông tin truyền thông phát triển mạnh, đã
phóng thành công và đưa vào sử dụng Vệ tinh Vinasat-2. Hạ tầng giáo dục, đào tạo, khoa
học, công nghệ, y tế, văn hóa, thể thao, du lịch,... được quan tâm đầu tư.
Đã triển khai thực hiện đề án cơ cấu lại tổng thể nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình
tăng trưởng theo hướng kết hợp giữa chiều rộng và chiều sâu, chú trọng chiều sâu, nâng
cao hiệu quả và sức cạnh tranh. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, tỉ trọng công nghiệp
và dịch vụ trong GDP tăng từ 79,9% năm 2011 lên 82,6% vào năm 2015; tỉ trọng nông
nghiệp giảm từ 20,1% xuống còn 17,4%. Tỉ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao
11
động xã hội giảm, còn 44,3%. Tập trung thực hiện cơ cấu lại về đầu tư công, hệ thống các
tổ chức tín dụng, doanh nghiệp nhà nước và cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với xây
dựng nông thôn mới.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút vốn đầu tư ngoài nhà nước. Tỉ trọng đầu tư
công giảm dần, đầu tư ngoài nhà nước tăng lên. Đầu tư trực tiếp nước ngoài phục hồi,
vốn đăng ký giai đoạn 2011 - 2015 đạt 99 tỉ USD, thực hiện đạt 60,5 tỉ USD. Vốn ODA ký
kết khoảng 27,8 tỉ USD, giải ngân khoảng 22,3 tỉ USD, đóng góp quan trọng vào phát
triển kết cấu hạ tầng. Đầu tư tư nhân trong nước tiếp tục tăng, chiếm khoảng 38,5%
tổng đầu tư toàn xã hội.
Phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội đạt được những kết quả tích
cực. Chính sách an sinh xã hội được tiếp tục bổ sung, hoàn thiện trên các lĩnh vực lao
động, việc làm, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, người có công và bảo trợ xã hội. An sinh
xã hội cơ bản được bảo đảm, phúc lợi xã hội và đời sống nhân dân tiếp tục được cải
thiện. Nhận thức của người dân về tự bảo đảm an sinh xã hội có tiến bộ, huy động
nguồn lực xã hội cho chính sách xã hội tốt hơn. Đã hoàn thành trước thời hạn nhiều mục
tiêu Phát triển Thiên niên kỷ.
Trong bối cảnh kinh tế có nhiều khó khăn, đã tăng thêm ngân sách nhà nước và huy
động các nguồn lực để thực hiện tốt hơn các chính sách xã hội, ưu tiên vùng sâu, vùng
xa, vùng bị thiên tai và đồng bào dân tộc thiểu số.
Thị trường lao động có bước phát triển. Trong 5 năm đã tạo việc làm cho khoảng 7,8
triệu người, trong đó đi lao động ở nước ngoài khoảng 469 nghìn người. Tỉ lệ hộ nghèo
giảm bình quân khoảng 2%/năm, từ 14,2%cuối năm 2010 xuống dưới 4,5% năm 2015;
riêng các huyện nghèo giảm khoảng 6%/năm, từ 58,3% xuống còn 28%. Tỉ lệ thất nghiệp
của lao động trong độ tuổi năm 2015 là 2,3%. Tỉ lệ tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm
ytế, bảo hiểm thất nghiệp tăng[14]. Diện tích nhà ở bình quân đầu người tăng từ 17,5
m2 năm 2010 lên 22 m2 năm 2015. Nhà ở xã hội được quan tâm đầu tư, hỗ trợ.
12
Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân được chú trọng. Tuổi thọ trung bình
tăng, đạt 73,3 tuổi vào năm 2015.Làm tốt công tác y tế dự phòng, không để dịch bệnh
lớn xảy ra. Chất lượng khám, chữa bệnh được nâng lên, ứng dụng nhiều thành tựu khoa
học - công nghệ kỹ thuật cao. Đã tích cực triển khai nhiều giải pháp giảm quá tải bệnh
viện và đạt kết quả bước đầu.
Công tác chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi; bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em; công tác gia đình, bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ đạt kết quả tích cực.
Các giá trị văn hóa dân tộc, di tích lịch sử được quan tâm bảo tồn, phát huy. Nhiều di sản
văn hóa vật thể, phi vật thể được công nhận là di sản văn hóa quốc gia và thế giới. Sản
phẩm văn hóa, văn học - nghệ thuật ngày càng phong phú. Các phong trào toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa; thể dục, thể thao được đẩy mạnh.
Chính sách dân tộc được quan tâm; tự do tín ngưỡng, tôn giáo được bảo đảm. Công
tác dân vận được chú trọng, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân
dân được củng cố, phát huy.
13
Lời kết
Có thể nói ,tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội , con đường quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam thực sự là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nan cho sự nghiệp đổi
mới của chúng ta hiện nay.Vấn đề là phải tiếp tục làm quán triệt những tư tưởng ấy
trong cơ chế,chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước .Trong tổ chức và hành động
của mỗi cán bộ,Đảng viên ,chỉ có bằng hiệu quả thực tế trong đổi mới kinh tế ,chính trị
cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân chúng ta mới củng cố được lòng
tin vào Đảng, vào con đường mà chúng ta đã chọn”con đường tiến tới của chủ nghĩa xã
hội của các dân tộc là con đừơng chung của thời đại,lịch sử ,không ai ngăn cản nổi”.Dù
con đường phía trước còn nhiều khó khăn,thử thách chúng ta vẫn phải vững bước vượt
qua khó khăn tin tưởng vào sự lãnh đạo, dẫn dắt của Đảng để đưa nước ta ngày càng
phát triển sánh bước với các nước trong khu vực và trên thế giới.
14
Nguồn tư liệu:
(1)
(2)
(3)
(4)
Trang 1:Hồ Chí Minh ,Tòan tập,NXB Sự thật,T4,tr 283
Trang 5:Hồ Chí Minh :Tòan tập ,Nxb Chính trị quốc gia ,Hà Nội ,1995,t.10,tr 392
Trang 8:Đảng Cộng sản Việt Nam :Sđd,tr70-71
Trang 9: Đảng Cộng sản Việt Nam :Sđd,tr70
15
16