Tải bản đầy đủ (.docx) (19 trang)

bài tập lớn tư tưởng hồ chí minh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (203.6 KB, 19 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
---  ---

BÀI TẬP MÔN
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

ĐỀ BÀI : Phân tích luận điểm của Hồ Chí Minh: "Muốn cứu nước
và giải phóng dân tộc không còn con đường nào khác con đường
cách mạng vô sản".

Hà Nội – 04/2020

MỤC LỤC


LỜI MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
PHẦN NỘI DUNG...................................................................................................3
I. CƠ SỞ HÌNH THÀNH LUẬN ĐIỂM.............................................................3
1. Cơ sở lý luận...................................................................................................3
2. Cơ sở thực tiễn...............................................................................................4
II. NỘI DUNG CỦA LUẬN ĐIỂM.....................................................................6
1. Cách mạng vô sản..........................................................................................6
2. Tính chất, nhiệm vụ của cách mạng giải phóng dân tộc............................6
3. Đối tượng của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.....................................8
4. Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc...............................................9
5. Con đường cứu nước giải phóng dân tộc- con đường cách mạng vô sản
...........................................................................................................................10
6. Thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc – cách mạng vô sản. 12
III. GIÁ TRỊ, Ý NGHĨA CỦA LUẬN ĐIỂM...................................................13
1. Giá trị tiền đề................................................................................................13


2. Ý nghĩa..........................................................................................................14
PHẦN KẾT LUẬN.................................................................................................16


LỜI MỞ ĐẦU

Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân xâm lược, nhân dân
bị hai tầng áp bức nặng nề, người thanh niên Nguyễn Tất Thành sớm bộc lộ tinh
thần yêu nước, thương dân mới, có chí muốn cứu giúp nhân dân thoát khỏi cảnh
lầm than. Anh tích cực tham gia các hoạt động cứu nước do các nhà cách mạng tiền
bối tổ chức. Trong quá trình đó, Nguyễn Tất Thành đã suy nghĩ nhiều về con đường
cứu nước của Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh,… chủ nghĩa Tam
Dân của Tôn Dật Tiên. Dù rất quý trọng và khâm phục lòng yêu nước, đánh giá cao
những cống hiến của họ, nhưng với một dự cảm chính trị thiên tài, Nguyễn Tất
Thành nhận thấy ở các con đường cứu nước ấy còn có nhiều hạn chế và bế tắc về
mục tiêu và phương pháp. Anh quyết định đi tìm con đường cứu nước mới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phải trải qua gần 50 năm hoạt động cách mạng,
trong đó có 30 năm ra nước ngoài tìm đường cứu nước, 18 năm trực tiếp lãnh đạo
cách mạng Việt Nam chống thực dân, phong kiến, giành độc lập cho dân tộc, tự do
cho nhân dân, xây dựng một nước Việt Nam mới do nhân dân lao động làm chủ.
Từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: chủ nghĩa đế
quốc là một con đỉa hai vòi, một vòi bám vào chính quốc, một vòi bám vào thuộc
địa. Muốn đánh bại chủ nghĩa đế quốc phải đồng thời cắt cả hai cái vòi của nó đi,
tức là phải kết hợp cách mạng vô sản ở chính quốc với cách mạng giải phóng dân
tộc ở thuộc địa; phải xem cách mạng ở thuộc địa như là “một trong những cái cánh
của cách mạng vô sản”, phát triển nhịp nhàng với cách mạng vô sản.
Đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực
tiễn Việt Nam qua các chặng đường gian nan thử thách, Hồ Chí Minh luôn luôn
khẳng định một chân lý là: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con
1



đường nào khác là cách mạng vô sản. Trong hệ thống luận điểm cách mạng của
Chủ tịch Hồ Chí Minh, đây là một luận điểm lớn mang tầm chân lý thời đại mà giá
trị và sức sống của nó còn mãi với tiến trình phát triển của xã hội loài người, đặc
biệt là đối với các dân tộc thuộc địa.
Vậy, cách mạng vô sản là gì? Tại sao không còn con đường nào ngoài con
đường cách mạng vô sản? Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn nào mà Người đã
lựa chọn con đường đó làm con đường dẫn tới độc lập, hoà bình, ấm no, hạnh phúc
của nhân dân ta? Và nhân dân ta đã vận dụng tư tưởng này làm cơ sở cho quá trình
tiến lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản như thế nào?

2


PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ HÌNH THÀNH LUẬN ĐIỂM
1. Cơ sở lý luận
Mác và Ăngghen khi nghiên cứu mâu thuẫn trong xã hội tư bản chủ nghĩa và
phát hiện quy luật giai cấp vô sản lật đổ giai cấp tư sản giành lấy chính quyền, xây
dựng chế độ xã hội mới tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Các ông quan tâm đến các
quốc gia, dân tộc bị áp bức và những cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc hay giải
phóng đất nước họ ở nhiều nước châu Á, Phi, Mỹ La-tinh, đặt trong mối quan hệ
với cách mạng vô sản ở các nước tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên do hạn chế về mặt
lịch sử, “Mác và Ăngghen mặc dù có nói đến cách mạng vô sản mà chưa hình
dung ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc về cách mạng vô sản là có căn cứ
thực tế, với một thái độ khoa học”.
Sau khi Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi, cách mạng vô sản được mở
rộng, liên kết nhà nươc vô sản với giai cấp vô sản các nước và nhân dân các dân tộc
bị áp bức thành một lực lượng mạnh mẽ chống chủ nghĩa đế quốc. Chủ nghĩa cộng

sản giờ đây trở thành một vũ khí tinh thần của châu Á, của các dân tộc thuộc địa và
của Việt Nam.
Như vậy là trào lưu giải phóng dân tộc theo xu hướng cách mạng vô sản có
sức mạnh to lớn và tương lai rực rỡ. Trào lưu giải phóng dân tộc theo xu hướng dân
chủ tư sản ngày càng đánh mất vai trò của mình. Nhân tố lý luận trên là yếu tố cơ
bản nhất quyết định việc đề ra đường lối tiến hành cuộc cách mạng vô sản.
Tháng 07 năm 1920 Nguyễn Ái Quốc được đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất
những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lê nin đăng trên báo Nhân
đạo - cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng Sản Pháp. Về cơ bản luận cương của Lê
nin có ba nội dung chính :
3


Một là cách mạng thuộc địa muốn thắng lợi phải đi theo cách mạng vô sản.
Hai là cách mạng thuộc địa phải gắn với cách mạng vô sản ở chính quốc.
Ba là cách mạng thuộc địa phải được tiến hành bằng phương pháp bạo lực
cách mạng.
Tại đại hội lần thứ 18 của Đảng xã hội Pháp họp ở Tua vào cuối tháng 12
năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc Tế III và tham
gia sáng lập Đảng cộng Sản Pháp. Hành động bỏ phiếu tán thành Quốc Tế III là sự
kiện đánh dấu bước nhảy vọt trong tư tưởng chính trị của Nguyễn Ái Quốc từ lập
trường yêu nước sang lập trường cộng sản. Sự kiện đó cũng mở ra cho Cách mạng
Việt Nam một giai đoạn phát triển mới “giai đoạn gắn phong trào cách mạng Việt
Nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt Nam đi theo con đường
mà chính người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác –Lênin”.
Tóm lại nhìn xuyên suốt hành trình đi tìm đường cứu nước của chủ tịch Hồ
Chí Minh. Từ thực tiễn hoàn cảnh ở trong nước và quốc tế cũng như bước đầu tiếp
thu tư tưởng Mác - Lênin, đến năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định rằng
“Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không còn con đường nào khác ngoài cách
mạng vô sản”. Thực tiễn diễn biến cách mạng ở Việt Nam từ khi Đảng công sản

được thành lập năm 1930 đến khi đất nước thống nhất vào năm 1975, đã chứng
minh rằng con đường cứu nước mà Người đã lựa chọn là hoàn toàn đúng đắn và
phù hợp với tình hình thực tiễn ở nước ta lúc bấy giờ.

2. Cơ sở thực tiễn
- Bối cảnh trên thế giới từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX
Lịch sử thế giới trong giai đoạn này đang có nhứng biến đổi hết sức to lớn.
Chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn cạnh tranh tự do chuyển sang độc quyền và thống trị
4


trên phạm vi toàn cầu. Chủ nghĩa đế quốc đã trở thành kẻ thù chung của nhân dân
thuộc địa.
Các cuộc đấu tranh sôi nổi của công nhân các nước tư bản chủ nghĩa cuối thế
kỉ XIX đầu thế kỉ XX đã dẩn đến một cao trào cách mạng thế giới và đỉnh cao là
cách mạng tháng Mười Nga 1917. Cuộc cách mạng này đã lật đổ nhà nước tư sản,
thiết lâp chính quyền Xô Viết-mở ra một kỉ nguyên mới cho lịch sử loai người và
đã thức tỉnh các dân tộc châu Á cũng như toàn thế giới. Thắng lợi của cách mạng
tháng Mười Nga đã dẫn đến sự ra đời của Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô
Viết (1922). Tiếp đó là sự ra đời của quốc tế Cộng sản (3-1919) đã làm cho phong
trào công nhân ở các nước có được mối quan hệ mật thiết với nhau cùng đấu tranh
chông chủ nghĩa đế quốc.
- Bối cảnh Việt Nam từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX
Trong nước chính quyền nhà Nguyễn đã thi hành một số chính sách đối nội
đối ngoại bảo thủ phản động: tăng cường đàn áp bóc lột nhân dân. Triều đình nhà
Nguyễn bạc nhược đã lần lượt ký kết các hiệp ước đầu hang thừa nhận nền bảo hộ
của Pháp trên đất nước ta. Đến cuối thế kỉ XIX các cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới
khẩu hiệu “Cần Vương” do các sĩ phu văn than lãnh đạo cuối cùng cũng thất
bại.điều này chứng tỏ hệ tư tưởng phong kiến đã lỗi thời trước hoàn cảnh hiệm vụ
của kịch sử. Sự khai thác bóc lột của thực dân Pháp đã khiến cho xã hội Việt Nam

có sư phân hóa và chuyển biến rõ rệt,giai cấp công nhân,tiểu tư sản và tư sản xuất
hiện tạo ra tiền đề bên trong phong trào yêu nước giải phóng dân tộc.
Hồ Chí Minh được chứng kiến các phong trào cứu nước của ông cha. Người
nhận thấy con đường của Phan Bội Châu chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước
beo cửa sau”; con đường của Phan Châu Trinh cũng chẳng khác gì “xin giặc rủ
lòng thương”; con đường của Hoàng Hoa Thám tuy có phần thực tế hơn, nhưng vẫn

5


mang nặng “cốt cách phong kiến”. Từ đó, phong trào yêu nước của nhân dân ta
muốn thắng lợi thì cần có một con đường mới.
Việc Bác lựa chọn con đường cách mạng vô sản cũng xuất phát từ tình hình
của cách mạng nước ta lúc bấy giờ, cũng như từ yêu cầu của cách mạng. Chỉ có
cách mạng vô sản mới đưa nước ta tiến đến chủ nghĩa xã hội, con người được hoàn
toàn giải phóng, xã hội công bằng, tiến bộ.

II. NỘI DUNG CỦA LUẬN ĐIỂM
1. Cách mạng vô sản
Trước hết, theo định nghĩa thì cách mạng vô sản là cuộc cách mạng nhằm
thay thế chế độ tư bản chủ nghĩa, trong cuộc cách mạng đó, giai cấp công nhân là
giai cấp lãnh đạo và cùng với quần chúng nhân dân lao động xây dựng một xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh.
Nếu như các cuộc cách mạng trước đó kết thúc bằng việc giành chính quyền
thì đối với cách mạng vô sản, việc giành chính quyền mới chỉ là bước đầu cho quá
trình biến đổi cách mạng toàn bộ đời sống xã hội. Cách mạng vô sản phải bao gồm
cả hai thời kỳ: cách mạng về chính trị với nội dung chính là thiết lập nhà nước
chuyên chính vô sản và tiếp theo là thời kỳ giai cấp công nhân và nhân dân lao
động sử dụng nhà nước của mình để cải tạo xã hội cũ về mọi mặt kinh tế, chính trị,
văn hoá, tư tưởng v.v..., xây dựng xã hội mới về mọi mặt nhằm thực hiện thắng lợi

chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

2. Tính chất, nhiệm vụ của cách mạng giải phóng dân tộc
Sau một quá trình tìm hiểu và phân tích, Hồ Chí Minh đã nhận thấy sự phân
hóa giai cấp ở các nước thuộc địa phương Đông không giống như ở các nước tư
bản phương Tây. Các giai cấp ở thuộc địa đều có chung một số phận giống nhau là
6


mất nước, chịu làm nô lệ, nếu như mâu thuẫn ở các nước tư bản chủ nghĩa là mâu
thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản thì mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội
thuộc địa phương Đông là mâu thuẫn giữa dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa thực
dân.
Hồ Chí Minh đã phân tích: “Xã hội phương Đông , Ấn Độ hay Trung Quốc
xét về mặt cấu trúc kinh tế không giống các xã hội phương Tây thời trung cổ cũng
như thời cận đại,và đấu tranh giai cấp không quyết liệt bằng ở đây”. Do mâu thuẫn
chủ yếu khác nhau nên tính chất cuộc đấu tranh cách mạng cũng khác nhau, nếu
như ở các nước tư bản chủ nghĩa phải tiến hành cuộc đấu tranh giai cấp thì ở các
nước thuộc địa trước hết phải tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu, trên
hết, trước hết của cách mạng Việt Nam. Giải phóng dân tộc, xét về thực chất là
đánh đổ ách thống trị, áp bức, xâm lược của đế quốc thực dân giành độc lập dân
tộc, hình thành nhà nước dân tộc, độc lập và tự do lựa chọn con đường phát triển
của dân tộc phù hợp với xu thế phát triển của thời đại,tiến bộ xã hội. Yêu cầu bức
thiết của nhân dân các nước thuộc địa là độc lập dân tộc, trong phong trào cộng sản
quốc tế có quan điểm cho rằng “Vấn đề cơ bản của cách mạng thuộc địa là vấn đề
nông dân”.
Ở các nước thuộc địa nông dân là nạn nhân chính của chính sách khai thác
thuộc địa, bóc lột tô thuế và cướp đoạt ruộng đất, vì thế kẻ thù số một của nông dân
là bọn đế quốc thực dân.

Mâu thuẫn chủ yếu ở thuộc địa là mâu thuẫn dân tộc, quy định tính chất và
nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng ở thuộc địa là giải phóng dân tộc. Trong tác
phẩm “Đường cách mệnh”, Nguyễn Áí Quốc đã nhấn mạnh tính chất và nhiệm vụ
của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, Người nói rõ: “giai cấp nông dân là
số lượng lớn nhất trong dân tộc nên giải phóng dân tộc chủ yếu là giải phóng nông
7


dân, nông dân có yêu cầu về ruộng đất”. Khi tiến hành đánh đổ chủ nghĩa đế quốc,
yêu cầu đó cũng phần nào được đáp ứng vì ruộng đất của bọn đế quốc và tay sai sẽ
thuộc về nông dân. Đế quốc và tay sai là kẻ thù số một của nông dân, lật đổ chế độ
thuộc địa là nguyện vọng hàng đầu của nông dân.
Tính chất và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam càng được thể hiện rõ hơn
trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Nguyễn Áí Quốc soạn thảo. Tại
hội nghị lần thư 8 ban chấp hành trung ương Đảng (5-1941) do Hồ Chí Minh chủ
trì đã quyết định thành lập mặt trận Việt Minh thực hiện đại đoàn kết dân tộc trên
cơ sở liên minh công-nông, giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, nhấn mạnh đó
là nhiệm vụ bức thiết nhất, chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất và
chỉ tiến hành nhiêm vụ đó ở một mức độ nhất định, thích hợp nhằm phục vụ cho
nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Người cũng
đã nêu rõ và khẳng định: “trường kì kháng chiến nhất định thắng lợi, thống nhất,
độc lập nhất định thành công”. Đó không những là quyết tâm mà còn là nhiệm vụ
của cách mạng Việt Nam bấy giờ.

3. Đối tượng của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc
Đối tượng của cách mạng ở thuộc địa không phải là giai cấp tư sản bản xứ,
càng không phải là giai cấp địa chủ nói chung, mà là chủ nghĩa thực dân và tay sai
phản động.
Cách mạng xã hội là lật đổ nền thống trị hiện có và thiết lập một chế độ xã
hội mới. Cách mạng ở thuộc địa trước hết phải “lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa

đế quốc”, chứ chưa phải là cuộc cách mạng xóa bỏ sự tư hữu, sự bóc lột nói chung.
Hồ Chí Minh luôn phân biệt rõ bọn thực dân xâm lược với nhân dân các
nước tư bản chủ nghĩa. Người kêu gọi nhân dân các nước phản đối chiến tranh xâm

8


lược thuộc địa, ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt
Nam.

4. Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc
Cách mạng giải phóng dân tộc nhằm đánh đổ ách thống trị của chủ nghĩa
thực dân, giành độc lập dân tộc và thiết lập ách chính quyền của nhân dân. Ở các
nước thuộc địa, nông dân là nạn nhân chính của các cuộc khai thác thuộc địa
Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước với ý chí quyết giải phóng gông
cùm nô lệ cho đồng bào. Người tin theo V.I Lênin, vì Quốc tế thứ ba có chủ trương
giải phóng dân tộc bị áp bức. Mục tiêu cấp thiết của cách mạng ở thuộc địa chưa
phải là giành quyền lợi riêng biệt ở mỗi giai cấp, mà là quyền lợi phù hợp với xu
thế của thời đại cách mạng chống để quốc, thời đại giải phóng dân tộc, đáp ứng
nguyện vọng độc lập, tự do của quần chúng nhân dân.
Tuy nhiên, do những hạn chế trong nhận thức về thực tiễn của cách mạng
thuộc địa, lại chịu ảnh hưởng của tư tưởng giáo điều, "tà khuynh”, nhấn mạnh một
chiều đấu tranh giai cấp. Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(tháng 10-1930) đã phê phán những quan điểm của Nguyễn Ái Quốc Nhưng với
bản lĩnh cách mạng kiên cường, bám sát thực tiễn Việt Nam, kiên quyết chống giáo
điều, tháng 5-1941. Nguyễn Ái Quốc chu trì Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành
Trung ương Đảng, chủ trương "thay đổi chiến lược", từ nhấn mạnh đấu tranh giai
cấp sang nhấn mạnh cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Hội nghị khẳng định dứt
khoát: "cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là một cuộc cách mạng tư
sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa,

mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp "dân tộc giải phóng”.
Vậy thì cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách
mạng dân tộc giải phóng". Hội nghị chủ trương tiếp tục tạm gác khẩu hiệu "cách
9


mạng ruộng đất", chi chia lại còng điền và ruộng đất "tịch thu của Việt Nam phản
quốc" cho dân cày nghèo, tức là ruộng đất đang nằm trong tay kẻ thù của dân tộc,
chứ không phải là của giai cấp địa chủ nói chung, nhằm đánh lại kẻ thù của dân tộc
cả về chính trị và kinh tế.
Cuối cùng thắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945 cũng như thắng lợi năm
1975 đã khẳng định dược đường lối giải phóng dân tộc đúng đắn và tư tưởng độc
lập, tư do của Hồ Chí Minh, đem lại kết quả vô cùng ý nghĩa cho cách mạng Việt
Nam.

5. Con đường cứu nước giải phóng dân tộc- con đường cách mạng vô sản
- Con đường cứu nước của thế hệ đi trước
Giữa thế kỉ XX, chế độ phong kiến ở Việt Nam, do triều đình nhà Nguyễn
đại diện, đang trong quá trình khủng hoảng trầm trọng và suy vong, biểu hiện cụ
thể và tập trung là sự bộc phát kịch liệt của chiến tranh nông dân trên phạm vi cả
nước. Sau một quá trình điều tra lâu dài, sáng ngày 1/9/1958 thực dân Pháp đã nổ
súng xâm lược Việt Nam. Với bản hiệp ước ô nhục được kí kết ngày 6/6/1884, triều
đình nhà Nguyễn vì lợi ích riêng ích kỉ, thiển cận giai cấp sợ mất ngôi hơn là sợ
mất nước, đã nhượng bộ và thỏa hiệp với đế quốc, cấu kết với đế quốc chống lại
nhân dân đứng lên chống đế quốc đế cứu nước.
Vượt lên tình hình bất lợi đó, nhân dân ta vẫn anh dũng đứng lên đấu tranh,
phong trào Cần Vương (1885-1896) dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước
chống thực dân Pháp trở nên rầm rộ trong cả nước kéo dài gần trọn 20 năm cuối thế
kỉ XIX. Nói về phong trào Cần Vương, đồng chí Lê Duẩn đả vạch rõ một bộ phận
của phong kiến, một số sĩ phu trí thức thấy rõ quyền lợi của phong kiến chỉ là

quyền lợi làm tay sai cho đế quốc, nên đã đứng lên chống đế quốc Pháp.

10


Nhưng các sĩ phu cuối thế kỉ XIX như Phan Đình Phùng, Ngô Xuân Ôn,
Nguyễn Thiện Thuật, Ngô Quang Bích....tuy giàu lòng yêu nước căm thù sâu sắc
bọn Pháp xâm lược, đều xuất than từ giai cấp phong kiến đã mất vai trò lịch sử nên
không có thời gian thống nhất toàn bộ đấu tranh dân tộc về một mối. Cũng trong
các thời kì đó, bên cạnh các phong trào do họ cầm đầu vẫn có các cuộc đấu tranh tự
giác của nông dân, với đỉnh cao là của nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh
đạo (1885-1913).
Cuối cùng phong trào đấu tranh vũ trang cuối thế kỉ XIX của nhân dân ta đã
bị dập tắt trong biển máu. Sự thất bại đau thương của các phong trào trên bộc lộ
một tình trạng khủng hoảng trầm trọng về sự lãnh đạo, những sĩ phu yêu nước
chống thực dân pháp cuối thế kỉ XIX bị điều kiện giai cấp và giai cấp hạn chế. Thế
kỉ XX mở màn chà đạp lên gót dày còn rỉ máu của phong trào kháng chiến của
nhân dân ta vừa thất bại, bọn tư bản Pháp bắt tay ngay vào việc khai thác bóc lột để
biến Việt Nam thành thuộc địa cho chúng.
Như vậy là, vượt qua sự hạn chế về tư tưởng của các sĩ phu và của các nhà
cách mạng có xu hướng tư sản đương thời, Hồ Chí Minh đã đến với học thuyết
cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và lựa chọn con đường cách mạng vô sản.
Từ đó, Người quyết tâm đưa dân tộc Việt Nam đi theo con đường đó.
- Con đường giải phóng dân tộc-con đường cách mạng vô sản
Thất bại của các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp ở Việt Nam cuối
thế ki XIX đầu thế kỷ XX chứng tỏ rằng, những con đường giải phóng dân tộc
phong kiến hoặc tư tưởng tư sản là không đáp ứng được yêu cầu khách quan là
giành độc lập, tự do của dân tộc do lịch sử đặt ra. Hồ Chí Minh rất khâm phục tinh
thần cứu nước của ông cha, nhưng Người không tán thành các con đường cứu nước
ấy, mà quyết tâm ra đi tìm một con đường cứu nước mới.


11


Tháng 7-1920, khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân
tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin, Người thấy "tin tưởng, sáng tỏ và cảm
động". Người khẳng định: "Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải
phóng chúng ta". Người đã tìm thấy trong lý luận của V.I. Lênin một con đường
cứu nước mới: con đường cách mạng vô sản. Đầu năm 1923, trong Truyền đơn cổ
động mua báo Người cùng khổ (Le Paria), Người viết: "Chỉ có chủ nghĩa cộng sản
mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc
sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người
và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc...".
Như vậy là, vượt qua sự hạn chế về tư tưởng của các sĩ phu và của các nhà
cách mạng có xu hướng tư sản đương thời, Hồ Chí Minh đã đến với học thuyết
cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và lựa chọn con đường cách mạng vô sản.
Từ đó, Người quyết tâm đưa dân tộc Việt Nam đi theo con đường đó. Con đường
cách mạng vô sản, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, bao hàm những nội dung chủ
yếu sau:

- Tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc và dần dần từng bước "đi

tới xã hội cộng sản".
- Lực lượng lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân mà đội tiền phong của
nó là Đảng Cộng sản.
- Lực lượng cách mạng là khối đoàn kết toàn dân, nòng cốt là liên minh giữa
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và lao động trí óc.
- Sự nghiệp cách mạng của Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách
mạng thế giới, cho nên phải đoàn kết quốc tế dưới ngọn cờ tư tưởng.


12


6. Thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc – cách mạng vô sản
Những thành tựu mà cách mạng ta đạt được là những minh chứng hùng hồn
nhất chứng tỏ sự đúng đắn của con đường mà Hồ Chủ tịch đã lựa chọn, nhân dân ta
đã và đang thực hiện.
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã đưa đến sự thành lập Nhà
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, chế độ thuộc địa nửa phong kiến bị xoá bỏ, một
kỷ nguyên mới mở ra - kỷ nguyên của độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã
hội.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến oanh liệt để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ
quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên xã hội chủ nghĩa,
góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập
dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã
hội. Đảng đã đề ra và thực hiện đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ
quốc phù hợp với thực tiễn Việt Nam và bối cảnh quốc tế mới.

III. GIÁ TRỊ, Ý NGHĨA CỦA LUẬN ĐIỂM
1. Giá trị tiền đề
- Giá trị truyền thống của dân tộc:
Những giá trị truyền thống hết sức đặc sắc và cao quý của dân tộc Việt Nam
đã được hình thành từ lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời và trở thành tiền đề tư
tưởng xuất phát hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là truyền thống yêu nước
kiên cường, bất khuất, nhân nghĩa, là ý chí vươn lên vượt qua mọi khó khăn, thử
thách, thông minh , tài sáng tạo. Chủ nghĩa yêu nước là truyền thống tư tưởng tình

13



cảm cao quý nhất. Chính sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước đã thúc giục Nguyễn
Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước đấu tranh giải phóng dân tộc.
- Tinh hoa văn hóa nhân loại :
Đó là sự kết hợp giữa các giá trị truyền thống của văn hóa phương Đông với
thành tựu văn hóa phương Tây để góp phần hình thành nhân cách văn hóa Hồ Chí
Minh. Văn hóa phương Đông đối với Hồ Chí Minh là sự chắt lọc lấy những gì tinh
túy nhất trong các học thuyết triết học,trong tư tưởng của Lảo Tử, Mặc Tử, Quản
Tử, ... Người còn tiếp thu những mặt tích cực của Nho Giáo.
Về Phật Giáo, Hồ Chí Minh tiếp thu và chịu ảnh hưởng sâu sắc các tư tưởng
vị tha, từ bi bác ái,cứu khổ cứu nạn, thương người... là nếp sống có đạo đức trong
sạch, giản dị. Không những thế, Người còn tiếp tục tìm hiểu chủ nghĩa Tam Dân
của Tôn Trung Sơn . Cùng với tư tưởng triết học phương Đông, Hồ Chí Minh còn
nghiên cứu tiếp thu ảnh hưởng của nền văn hóa dân chủ và cách mạng phương Tây.
Nhìn chung lại, trên hành trình yêu nước Hồ Chí Minh đã tự làm giàu trí tuệ của
mình bằng vốn trí tuệ của thời đại. Cùng với đó là sự suy nghĩ, lựa chọn, kế thừa,
đổi mới, vận dụng và phát triển.
- Chủ nghĩa Mác- Lênin :
Hồ Chí Minh đã tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin trên nền tảng của tri thức văn
hóa tinh túy được chắt lọc và một vốn chính trị, hiểu biết vô cùng phong phú được
Người tích lũy qua thực tiễn hoat động đấu tranh vì mục tiêu giải phóng dân tộc
khọi áp bức nô lệ. Từ những nhân thức ban đầu về chủ nghĩa Lênin, Hồ Chí Minh
đã tiến dần tới những nhận thức “lý tính” trở lại nghiên cứu Mác sâu sắc hơn để rồi
tiếp thu học thuyết của họ một cách có chọn lọc, không sao chép giáo điều. Người
tiếp thu bằng cách nắm lấy tinh thần bản chất để vân dụng vào thục tiễn cách mạng
Việt Nam.

14



2. Ý nghĩa
- Lý luận:
Những lập luận, dẫn chứng đưa ra cũng đã phần nào chứng minh cho tính
đúng đắn của luận điểm. Ngoài ra có thể lấy một vài ví dụ khác nữa về cơ sở lý
luận của nhận định Hồ Chí Minh:
Trong các tác phẩm của mình, Lênin đã trình bày tư tưởng cho rằng nếu
trước kia phong trào giải phóng dân tộc kết thúc với việc giai cấp tư sản lên nắm
chính quyền, thì trong thời đại đế quốc chủ nghĩa những phong trào này được sự
lãnh đạo của giai cấp vô sản đứng đầu là Đảng Cộng sản, khi gặp những điều kiện
thuận lợi, có thể dẫn tới việc thành lập một chính quyền thực sự nhân dân. Tư
tưởng này của Lênin đề cập một cách chính xác tới hoàn cảnh của nước ta, qua đây
có thể thấy con đường thục hiện cách mạng vô sản, tiến lên chủ nghĩa xã hội không
qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa là hoàn toàn có khả năng. Chúng ta hoàn toàn có thể
tự tin đi theo con đường ấy, không cần qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa.
- Thực tiễn:
Cách mạng vô sản ở Việt Nam có những đặc điểm đặc trưng của mọi cuộc
cách mạng vô sản, đống thời cũng thể hiện tính sáng tạo, vận dụng khéo léo phù
hợp hoàn cảnh riêng của đất nước: Cách mạng vô sản ở Việt Nam có những đặc
điểm đặc trưng của mọi cuộc cách mạng vô sản, đồng thời cũng thể hiện tính sáng
tạo, vận dụng khéo léo phù hợp hoàn cảnh riêng của đất nước:
+ Cách mạng nước ta do một chính đảng duy nhất lãnh đạo là Đảng Cộng
sản Việt Nam – chính đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động; hoạt
động trên cơ sở thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; hết lòng
vì lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động trong nước và đấu tranh vì
sự phát triển của vô sản toàn thế giới.

15



+ Lực lượng của cách mạng nước ta bao gồm cả dân tộc: công nhân, nông
dân, tiểu tư sản, trí thức, trung nông, tư sản dân tộc,...
+ Cách mạng được tiến hành chủ động, sáng tạo, tự lực tự cường và tranh thủ
sự ủng hộ của quốc tế.
+ Sử dụng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng.

PHẦN KẾT LUẬN
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc
không có con đường khác con đường cách mạng vô sản” trải qua thời gian càng
ngày càng chứng tỏ được tính đúng đắn. Nhận định mang ý nghĩa sống còn cho nền
độc lập dân tộc trên là một kết tinh của một quá trình giác ngộ, tìm hiểu, vận dụng
muôn vàn khó khăn gian khổ mà vô cùng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nó là
kết quả của việc vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, là bài học rút ra từ thực tiễn
cách mạng thế giới và là sự biểu hiện rõ nét nhất của trí tuệ và tinh thần yêu nước,
tinh thần vô sản của người cộng sản lỗi lạc, vị anh hùng giải phóng dân tộc Việt
Nam – Hồ Chí Minh. Qua đó, chúng ta mới hiểu rõ được lòng nồng nàn yêu nước
và khát khao cháy bỏng việc giải phóng dân tộc của Người, tư tưởng đó đã được
hình thành từ rất lâu và sớm trong con người Bác.
Không chỉ thấm nhuần và kế thừa Chủ nghĩa Mác – Lênin, những quan điểm
của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc còn là sự phát triển, sáng tạo
dựa trên tình hình thực tế ở Việt Nam. Những quan điểm của Người luôn theo sát
từng chặng đường cách mạng của nước ta, luôn là hệ tư tưởng vững chắc soi đường
16


cho cách mạng nước ta đi đến thắng lợi cuối cùng. Thông qua việc tìm hiểu những
quan điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc giúp em
nhận thức rõ được vai trò của Người trong sự nghiệp giải phóng dân tộc của nước
ta nói riêng và sự nghiêp cách mạng của thế giới nói chung. Từ đó xây dựng cho
mình một hệ tư tưởng vững chắc để có thái độ đúng đắn đối với những đường lối tư

tưởng của Đảng và nhà nước.

17



×