MỤC LỤC
Trang
1
MỞ ĐẦU
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VỐN
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ
HẠ TẦNG THEO CHƯƠNG TRÌNH 135 Ở CÁC HUYỆN
MIỀN NÚI
1.1. Vốn ngân sách nhà nước đầu tư phát triển và vai trò của nó
trong phát triển cơ sở hạ tầng ở các huyện miền núi
1.2. Khái quát về Chương trình 135
1.3. Những yêu cầu về phân bổ vốn ngân sách nhà nước đầu tư
phát triển cơ sở hạ tầng theo Chương trình 135 và kinh nghiệm
thực tiễn của một số huyện
7
7
19
29
Chương 2: THỰC TRẠNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ
PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG THEO CHƯƠNG
TRÌNH 135 Ở HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN
2.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội của huyện
Con Cuông, tỉnh Nghệ An
2.2. Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng theo Chương trình 135
ở huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An và những kết quả đạt được
46
46
58
Chương 3: QUAN ĐIỂM PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP VỀ ĐẦU TƯ
VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ
TẦNG THEO CHƯƠNG TRÌNH 135 Ở HUYỆN CON
CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN
3.1. Quan điểm và phương hướng đầu tư vốn ngân sách nhà nước
phát triển cơ sở hạ tầng theo Chương trình 135
3.2. Những giải pháp cơ bản trong đầu tư vốn ngân sách nhà nước
phát triển cơ sở hạ tầng theo Chương trình 135 ở huyện Con
Cuông, tỉnh Nghệ An trong thời gian tới
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
83
83
91
107
110
CHDCND
:
Cộng hòa Dân chủ nhân dân
CNH, HĐH
:
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ĐBKK
:
Đặc biệt khó khăn
KT - XH
:
Kinh tế - xã hội
NSNN
:
Ngân sách nhà nước
THPT
:
Trung học phổ thông
TM - DV
:
Thương mại - dịch vụ
TTCN
:
Tiểu thủ công nghiệp
TTCX
:
Trung tâm cụm xã
XDCB
:
Xây dựng cơ bản
XHCN
:
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Thực trạng về phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
của huyện Con Cuông
Bảng 2.2: Thực trạng về cung cấp dịch vụ và cơ sở hạ tầng
Bảng 2.3: Thực trạng phát triển giáo dục - đào tạo và y tế
Bảng 2.4: Thực trạng về xã hội và xoá đói giảm nghèo
49
52
53
56
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vốn đầu tư của ngân sách nhà thuộc Chương trình 135 để phát triển kinh
tế - xã hội ở vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao, hải đảo là chủ trương lớn của
Đảng và Nhà nước trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp với
củng cố quốc phòng - an ninh ở nước ta.
Huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An là một trong những huyện nghèo,
nằm ở phía Tây tỉnh, tiếp giáp với CHDCND Lào, Hyện Con Cuông có diện
tích tự nhiên 174.456ha, dân số 67.387 người, trong đó dân tộc Thái là 45.531
người chiếm 67,56% dân số toàn huyện. Huyện Con Cuông có tiềm năng về
điều kiện tự nhiên cho phát triển kinh tế - xã hội rất lớn. Nhưng đến nay tỷ lệ
hộ nghèo còn chiếm trên 36%, kinh tế chậm phát triển. Sở dĩ như vậy, một
mặt do trình độ dân trí thấp, kỹ thuật canh tác lạc hậu, sản xuất tự cung tự cấp
là chủ yếu; mặt khác do thiếu vốn đầu tư cho phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng
kinh tế - xã hội. Do đó, cơ cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của huyện còn kém
phát triển, giao thông đi lại khó khăn, diện tích đất canh tác ít, chủ yếu là đất
lâm nghiệp với 157.800,94ha chiếm tới 90,45% diện tích, phong tục tập quán
còn lạc hậu, số người không biết chữ chiếm tỷ lệ cao trong tỉnh. Vì thế, sản
xuất hàng hóa chưa phát triển, nguồn sống của người dân vẫn dựa nhiều vào
khai thác nguồn tài nguyên sẵn có, nhất là tài nguyên rừng, làm cho nguồn tài
nguyên rừng bị khai thác quá mức. Cuộc sống của đồng bào các dân tộc ở huyện
Con Cuông còn rất nhiều khó khăn. Điều đó đòi hỏi phải có sự đầu tư nguồn vốn
từ ngân sách nhà nước theo các chương trình mục tiêu, nhất là đầu tư cho xây
dựng hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội như Chương trình 135 nhằm tạo
điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất hàng hóa trên cơ sở khai thác có hiệu
quả các tiềm năng, lợi thế về điều kiện tự nhiên thì huyện Con Cuông mới có
cơ hội thoát khỏi tình trạng nghèo đói, vươn tới khả giả, giàu sang.
2
Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương và chính
sách ưu đãi đối với đồng bào các dân tộc ít người, chính quyền địa phương các
cấp đã triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách về phát triển giao thông
nông thôn và các chương trình mục tiêu quốc gia khác ở huyện Con Cuông đạt
được những kết quả bước đầu đáng khích lệ. Tuy vậy, những kết quả đạt được
còn thấp xa so với yêu cầu cần có để phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Hơn
nữa việc thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trên địa
bàn còn nhiều hạn chế, yếu kém do những nguyên nhân khách quan và chủ
quan, nên chưa phát huy tốt nguồn vốn đầu tư của ngân sách cho phát triển kinh
tế - xã hội ở huyện miền núi có nhiều khó khăn như huyện Con Cuông. Vì vậy,
tác giả chọn vấn đề "Vốn ngân sách Nhà nước đầu tư phất triển cơ sở hạ tầng
theo Chương trình 135 ở huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An" để làm luận văn
thạc sĩ kinh tế, chuyên ngành Kinh tế phát triển. Đây là vấn đề có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn cấp thiết không chỉ ở huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An mà còn là
vấn đề chung của các huyện vùng núi có nhiều khó khăn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Để có những chủ trương chính sách cho miền núi, các cơ quan chức
năng và các cấp ủy Đảng, chính quyền từ Trung ương đến địa phương đã tổ
chức những hoạt động nghiên cứu điều tra, khảo sát, xây dựng từng đề án
cụ thể về đầu tư của Nhà nước để phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi.
Những hoạt động này chủ yếu nhằm giải quyết các vấn đề nổi cộm ở miền
núi mà cuộc sống đòi hỏi phải giải quyết ngay. Liên quan đến đề tài này, đã
có một số công trình khoa học nghiên cứu từng lĩnh vực đầu tư của Nhà
nước như:
- Đinh Văn Phượng, Thu hút và sử dụng vốn đầu tư để phát triển kinh
tế miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ kinh tế, Hà Nội, 2000.
- Hoàng Thị Hiền, Xóa đói giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc ít
người tỉnh Hòa Bình - Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Hà
Nội, 2005.
3
- Trần Thị Len, Kết hợp phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng ở
vùng biên giới Tây Nguyên, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Hà Nội, 2006.
- Hồ Đại Dũng, Hiểu quả sử dụng vốn đầu tư cơ bản ở tỉnh Phú Thọ,
Luận văn thạc sĩ kinh tế, Hà Nội, 2006
- Nguyễn Thúy Anh, Vai trò kinh tế của Nhà nước trong bối cảnh toàn
cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, Luận văn thạc sĩ kinh tế,
Hà Nội, 2006.
- Nguyễn Đình Thành, Giải pháp sử dụng vốn ngân sách nhà nước
đẩy mạnh phát triển giao thông đường bộ Việt Nam, Luận văn thạc sĩ kinh tế,
Hà Nội, 2006.
- Giảng Thị Dung, Xóa đói giảm nghèo ở các huyện biên giới tỉnh Lào
Cai trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Hà Nội, 2006.
- Nguyễn Thành Công, Tác động của Chương trình 135 tới xóa đói
giảm nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn, Luận văn thạc sĩ kinh tế Học viện
Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2007.
- Phạm Quý Vui, Vốn đầu tư phát triển giao thông tỉnh Hải Dương,
Luận văn thạc sĩ kinh tế, Hà Nội, 2007
- Trần Văn Vinh, Tác động của chi ngân sách nhà nước đến phát triển
kinh tế - xã hội ở tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Hà Nội, 2007.
- Lê Đăng Quang, Đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở
tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Hà Nội, 2007.
- Trịnh Diệu Bình, Định canh định cư với xóa đói giảm nghèo ở Hà
Giang, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Hà Nội, 2007.
- Trần Ngọc Minh, Vấn đề phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Yên Bái,
Luận văn thạc sĩ kinh tế, Hà Nội, 2008.
- Nguyễn Văn Thông, Vốn đầu tư của Nhà nước để phát triển kinh tế xã hội ở các huyện miền núi cao tỉnh Nghệ An, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Hà
Nội, 2008.
4
- Hoàng Đình Tuấn, Định canh định cư để phát triển Kinh tế - Xã hội
ở huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Hà Nội, 2008.
- Ngô Tiến Ngọc, Xóa đói giảm nghèo ở miền núi tỉnh Thanh Hóa,
Luận văn thạc sĩ kinh tế, Hà Nội, 2008.
Lý Văn Chương, Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở các
huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Hà Nội, 2008.
- Phan Xuân Lĩnh, Một số giải pháp chống thất thoát lãng phí trong
đầu tư xây dựng từ nguồn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Đaklak, Luận
văn thạc sĩ kinh tế, Hà Nội, 2008.
- Phan Đình Tý, Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách
Nhà nước qua Kho bạc Hà Tĩnh, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Hà Nội, 2008.
Tuy đã có các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài và những công
trình này đã bàn đến vai trò vốn đầu tư của ngân sách nhà nước để phát triển kết cấu
hạ tầng góp phần tích cực phát triển kinh tế - xã hội, nhưng chưa có công trình nào
nghiên cứu về vốn ngân sách nhà nước đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng theo
Chương trình 135 nói chung ở huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An nói riêng. Đề tài
này không trùng tên và nội dung với các công trình khoa học đã công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Mục đích của luận văn là làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
vốn ngân sách nhà nước đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ở các huyện miền núi
nói chung, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An nói riêng, làm cơ sở cho việc
phân tích, đánh giá thực trạng rút ra hạn chế, yếu kém cùng những nguyên
nhân trong việc sử dụng vốn ngân sách nhà nước đầu tư phát triển cơ sở hạ
tầng theo Chương trình 135 trên địa bàn huyện Con Cuông từ năm 2001 đến
nay và đề xuất phương hướng, giải pháp sử dựng vốn ngân sách nhà nước
đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ở huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An trong
những năm tới.
5
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Khảo cứu, hệ thống hóa, kế thừa có chọn lọc nhằm làm rõ thêm cơ
sở lý luận và thực tiễn về vốn ngân sách nhà nước đầu tư phát triển cơ sở hạ
tầng ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn thuộc các huyện miền núi trong phát
triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Phân tích, đánh giá thực trạng sử dụng vốn ngân sách nhà nước đầu
tư phát triển cơ sở hạ tầng ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn theo Chương
trình 135 ở huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
- Đề xuất quan điểm, phương hướng và những giải pháp cơ bản nhằm
sử dụng tốt nguồn vốn ngân sách nhà nước đầu tư phát cơ sở hạ tầng cho các
xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn ở huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An trong
những năm tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu chủ yếu vốn ngân sách nhà nước đầu
tư phát triển cơ sở hạ tầng, nhất là vốn đầu tư theo Chương trình 135 và các
giải pháp sử dụng nguồn vốn này để phát triển cơ sở hạ tầng ở các xã, thôn,
bản đặc biệt khó khăn của các huyện miền núi cao nói chung, huyện Con
Cuông, tỉnh Nghệ An nói riêng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu chủ yếu vốn ngân sách nhà nước đầu
tư phát triển cơ sở hạ tầng theo Chương trình 135 ở huyện Con Cuông, tỉnh
Nghệ an từ năm 2001 đến năm 2010 và đề xuất phương hướng, giải pháp sử
dụng tốt nguồn vốn này trong giai đoạn 2011 - 2020.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng và pháp luật, chính sách của Nhà
nước Việt Nam.
6
- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp được sử dụng xuyên suốt
của luận văn là phương pháp luận duy vật biện chứng và phương pháp luận
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin để khảo cứu, kế thừa có chọn lọc
các công trình khoa học đã được công bố và khảo sát, phân tích, đánh giá thực
trạng trên địa bàn huyện. Trong quá trình nghiên cứu cụ thể, tác giả luận văn
còn sử dụng các phương pháp đặc thù của khoa học kinh tế như: trừu tượng
hóa khoa học, phương pháp phân tích gắn với tổng hợp; phương pháp thống
kê, so sánh và gắn lý luận với thực tiễn, v.v...
6. Dự kiến về đóng góp của luận văn
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về định hướng và giải pháp sử dụng vốn
ngân sách nhà nước đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ở huyện Con Cuông, tỉnh
Nghệ An nhằm đạt tới những mục tiêu đã hoạch định..
- Vạch rõ những thành công, những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân
trong đầu tư vốn ngân sách nhà nước phát triển cơ sở hạ tầng theo Chương
trình 135 ở huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An
- Đề xuất những quan điểm, phương hướng và giải pháp nhằm sử
dụng tốt vốn ngân sách nhà nước đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng theo Chương
trình 135 cho các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn ở huyện Con Cuông, tỉnh
Nghệ An.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết.
7
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VỐN NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG THEO
CHƯƠNG TRÌNH 135 Ở CÁC HUYỆN MIỀN NÚI
1.1. VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ
TRONG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG Ở CÁC HUYỆN MIỀN NÚI
1.1.1. Vốn ngân sách nhà nước đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng
kinh tế - xã hội
1.1.1.1. Vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển
Vốn đầu tư, cùng với lao động và đất đai là những yếu tố đầu vào cơ bản
của mọi quá trình sản xuất. Những năm qua, hoạt động đầu tư đang phát triển
rất mạnh về quy mô, đa dạng về nguồn vốn và hình thức sở hữu. Chính phủ
Việt Nam cũng đã có những cơ chế, chính sách và giải pháp tương đối phù
hợp để huy động các nguồn vốn trong nước và ngoài nước cho đầu tư phát
triển, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức sống của nhân dân
và giải quyết nhiều vấn đề về phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong
đó nguồn vốn đầu tư quan trọng nhất, giữ vai trò quyết định trong thời gian
qua là nguồn vốn NSNN.
Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam năm 1996 đã quy định: “Ngân
sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong
một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [33].
NSNN là một công cụ tài chính quan trọng của quốc gia để quản lý quá
trình hình thành và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực tài chính khan hiếm
của quốc gia nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược, thực hiện thành công
các kế hoạch, các chương trình dài, trung và ngắn hạn của quốc gia trong từng
thời kỳ phát triển khác nhau.
8
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, NSNN được sử dụng như một
công cụ tài chính quan trọng để Nhà nước có thể khắc phục những khuyết tật
vốn có của nền kinh tế thị trường, đưa nền kinh tế tăng trưởng, tạo đầy đủ
công ăn việc làm, ổn định giá cả, kìm chế lạm phát.
Vốn ngân sách nhà nước là nguồn vốn mà Nhà nước bỏ ra cho các
chương trình đầu tư. Chi cho các địa phương để tiến hành các hoạt động của
mình trong đó có hoạt động đầu tư nói chung và đầu tư phát triển nói riêng.
Vốn ngân sách đầu tư phát triển được hình thành từ vốn tích luỹ của nền
kinh tế và được Nhà nước duy trì trong kế hoạch ngân sách để cấp cho các
đơn vị thực hiện các công trình thuộc quy hoạch, kế hoạch Nhà nước.
Vốn NSNN đầu tư phát triển là nguồn chi của ngân sách nhà nước cho
đầu tư phát triển, là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Nguồn vốn này thường được sử dụng
cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho
các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của Nhà nước,
chi cho công tác lập và thực hiện các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế
- xã hội của quốc gia, vùng lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và phát triển
nông thôn.
Vốn NSNN đầu tư phát triển có những vai trò riêng biệt được xác lập dựa
trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ cụ thể của nó trong từng giai đoạn cụ thể:
- Vốn NSNN đầu tư phát triển được phân bổ, sử dụng một cách phù hợp
nguồn lực tài chính khan hiếm của quốc gia nhằm phục vụ các mục tiêu phát
triển, ổn định, bền vững, công bằng và dân chủ của đất nước. Nó gắn với các chi
phí của Nhà nước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình. Xét cụ thể hơn:
- Vai trò vốn NSNN đầu tư phát triển về phương diện kinh tế.
Phần vốn NSNN chi cho hoạt động đầu tư phát triển có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, vì nó tạo ra điều kiện và môi trường
thuận lợi cho việc bỏ vốn đầu tư của các thành phần kinh tế khác, hay nói
9
cách khác là đầu tư của Nhà nước là phần “vốn mồi”, tạo ra sự khởi động ban
đầu, kích thích quá trình vận động vốn từ các nguồn khác để hướng tới sự tăng trưởng.
Với những mục tiêu có tính lâu dài và tính xã hội cao, vốn NSNN
đầu tư phát triển thường được sử dụng để đầu tư vào những lĩnh vực có tỷ
suất lợi nhuận thấp, thời gian thu hồi vốn dài, những ngành kinh tế mũi
nhọn và những công trình kinh tế mà không thể dựa vào đầu tư tư nhân
nhưng lại có ảnh hưởng quan trọng đến công cuộc phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước như đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng về: điện,
đường, trường, trạm...
Các ngành công nghiệp thiết yếu nhưng còn non trẻ cũng cần có vốn đầu
tư của NSNN. Sự phát triển của các ngành này sẽ tạo điều kiện cho sự phát
triển của các ngành kinh tế khác.
Cùng với đầu tư phát triển công cộng, vốn NSNN đầu tư để thu hút vốn
đầu tư từ các nguồn phi Nhà nước hình thành nên nguồn vốn tín dụng ĐTPT
của Nhà nước, nguồn vốn này tham gia đầu tư vào lĩnh vực sản xuất kinh
doanh dịch vụ, là nguồn lực chủ yếu để phát triển kinh tế của đất nước, để
khuyến khích đầu tư ưu đãi cho nhiều ngành sản xuất kinh doanh, tạo điều
kiện hình thành nên các ngành sản xuất quan trọng, có vai trò to lớn trong nền
kinh tế quốc dân, như ngành năng lượng, sản xuất lương thực, công nghiệp
dầu khí, thuỷ sản, một số ngành công nghiệp nhẹ...
Các khoản chi của ngân sách nhà nước để hỗ trợ cho các DNNN cấu trúc
lại hoặc trợ cấp cho một số doanh nghiệp nhà nước trong trường hợp thực
hiện những nhiệm vụ đặc biệt, góp phần không nhỏ trong quá trình khẳng
định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong giai đoạn phát triển hiện nay.
Như vậy, xét về khía cạnh kinh tế, bằng chính sách đầu tư và phân bổ các
nguồn lực hạn chế tương đối thích hợp, vốn NSNN đầu tư phát triển có tác
động đến việc đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế, cấu trúc lại hoặc hình
thành cơ cấu kinh tế mới hợp lý hơn, đến việc chống độc quyền, tạo ra môi
10
trường và điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, tạo thế và lực cho sự
phát triển của đất nước trong tương lai.
- Vai trò của vốn NSNN đầu tư phát triển về phương diện xã hội
Chính sách chi của NSNN cũng góp phần đáng kể trong quá trình phân
phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng miền trong cả nước
qua việc sử dụng các khoản trợ cấp mang tính chất chuyển giao, các hoạt
động đầu tư có định hướng. Ví dụ, việc chú trọng đến chi cho các chương
trình công cộng nông thôn sẽ có tác động nhiều hơn đến việc giảm bớt sự bất
công trong phân phối thu nhập với các khoản chi cho công trình công cộng ở
thành thị vì đa số người nghèo sống ở nông thôn hay việc đầu tư phát triển hệ
thống giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá, các chương trình bảo vệ mội trường
sinh thái của cộng đồng hay các hình thức trợ giá....
Tuy vậy, trong điều kiện vốn NSNN đầu tư phát triển còn eo hẹp, mà chi
phí cho các vấn đề xã hội thường rất lớn, nên yêu cầu đặt ra là các khoản chi
đầu tư của NSNN để giải quyết các vấn đề xã hội phải đảm bảo tiết kiệm, hiệu
quả, đúng đối tượng và đúng việc cần chi.
1.1.1.2. Vốn ngân sách nhà nước đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi
Qua một số dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở khu vực miền núi
cho thấy đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng không chỉ góp phần đẩy nhanh tốc độ
tăng trưởng kinh tế của các huyện miền núi mà còn mang lại nguồn sinh khí
mới, làm khởi sắc bức tranh kinh tế - xã hội vùng miền núi. Theo đánh giá
của ngành kế hoạch và đầu tư, năm 2009 nguồn vốn đầu tư phát triển cho cơ
sở hạ tầng các huyện miền núi đã thu được kết quả khả quan, đó là tổng vốn
đầu tư phát triển tăng 7,6% so với kế hoạch và 39% so với cùng kỳ. Trong đó,
vốn ngân sách nhà nước tăng 53%; Tính chung trong năm, tổng vốn đầu tư
phát triển trên địa bàn các huyện miền núi cho lĩnh vực kinh tế khoảng 58%;
lĩnh vực xã hội khoảng 18% và cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoảng 28% [10].
11
Từ các nguồn vốn trên đã từng bước tạo sự chuyển biến trong phát
triển kinh tế - xã hội ở khu vực này với tốc độ tăng trưởng GDP được đánh
giá đạt 16,5%. Nhờ tốc độ đầu tư phát triển mạnh đã tạo sự chuyển biến đáng
kể trong các lĩnh vực văn hóa - xã hội. Đến thời điểm này, 100% số xã ở khu
vực các huyện miền núi đã có điểm bưu điện - văn hóa; mạng lưới cung cấp
dịch vụ Internet và điện thoại di động đã phủ sóng đến trung tâm huyện lỵ hầu
hết các huyện miền núi. Trên 92,6% số xã đã có điện lưới quốc gia. Các địa
phương đã thực hiện kiên cố hóa phòng học, các cơ sở y tế [41].
Riêng đối với tỉnh Nghệ An, từ đầu năm đến nay, các huyện miền núi
trong tỉnh đã tiếp nhận 92.650 triệu đồng trong dự án đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng thuộc Chương trình 135. Đây là nguồn vốn lớn nhất đầu tư xây dựng
các công trình thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống dân sinh.
Việc đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng đã tạo ra động lực mạnh mẽ cho
phát triển, đưa các huyện miền núi tiến nhanh hơn trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, rút ngắn khoảng cách giữa miền núi và miền xuôi,
đưa miền núi từng bước tiến kịp miền xuôi. Tuy nhiên, trong đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng ở khu vực này cũng bộc lộ những hạn chế chung đó là nhiều dự
án, hạng mục công trình chưa lựa chọn được nhà thầu thực sự có năng lực.
Một số chủ đầu tư lựa chọn nhà thầu tham gia nhiều dự án, khả năng tài chính
có hạn, năng lực hạn chế nên tiến độ thi công chậm, nhất là các dự án từ
nguồn Trái phiếu Chính phủ của ngành giao thông, thủy lợi. Một số công trình
ở khu vực vùng núi cao chất lượng chưa được bảo đảm. Hơn nữa, do nguồn
vốn ứng trước một số dự án tăng, góp phần tạo điều kiện cho các nhà thầu
chủ động hơn, nhưng vẫn có công trình giá trị khối lượng thực hiện lại chưa
tương xứng. Đó là chưa kể những hệ lụy kèm theo nếu như không có sự kiểm
soát nghiêm về việc sử dụng nguồn vốn đúng mục đích...
Năm 2010
được nhiều tỉnh chọn là “Năm đầu tư xây dựng cơ bản”, trên địa bàn khu vực
miền núi hoàn thiện và triển khai nhiều dự án trọng điểm như: Các tuyến giao
thông; Công trình Thủy lợi; Kiên cố hóa trường học,...
12
Tuy vậy, đấy mới chỉ là kết quả bước đầu, nhiều tuyến đường, công trình
thủy lợi, thủy điện, trường học, bệnh viện trên địa bàn các huyện đang đứng
trước nhu cầu lớn về vốn đầu tư phát triển. Vì vậy, ngoài nguồn vốn ngân sách
Nhà nước đầu tư, cần có giải pháp huy động nguồn lực tài chính từ các doanh
nghiệp, các tổ chức trong và ngoài nước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước chỉ
giành để đầu tư cho các lĩnh vực, công trình trọng điểm, các vùng nông thôn,
miền núi, vùng khó khăn; còn lại sẽ thực hiện xã hội hóa, thông qua các cơ chế
khuyến khích các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia
đầu tư xây dựng theo quy hoạch. Chỉ có thực hiện những giải pháp như vậy, mới
đáp ứng nhu cầu của thời kỳ tăng tốc phát triển, nâng cao đời sống của nhân dân
trên địa bàn các huyện miền núi như Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
X đề ra.
1.1.2. Vai trò của vốn ngân sách nhà nước đầu tư phát triển cơ sở
hạ tầng ở các huyện miền núi nói chung, đầu tư theo Chương trình 135
nói riêng
1.1.2.1. Vai trò của cơ sở hạ tầng đối với phát triển
kinh tế - xã hội của các huyện miền núi nói chung và các xã,
thôn, bản đặc biệt khó khăn
- Cơ sở hạ tầng:
Trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia thì hệ thống cơ sở hạ tầng
đều có vai trò quan trọng trong sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực cũng
như các địa phương. Có thể nói rằng, hệ thống cơ sở hạ tầng là nền tảng cho
quá trình phát triển, đặc biệt là phát triển kinh tế - xã hội. Hệ thống cơ sở hạ
tầng tốt đảm bảo cho các hoạt động của nền kinh tế diễn ra một cách thuận
lợi, giảm bớt được các chi phí đầu vào cũng như rút ngắn được khoảng cách
giữa sản xuất với tiêu dùng.
Một hệ thống cơ sở hạ tầng tốt đồng nghĩa với các ngành, lĩnh vực hay
cả một quốc gia có nhiều cơ hội hơn để thu hút các nguồn vốn đầu tư phát
13
triển kinh tế - xã hội đặc biệt là trong thu hút các nguồn vốn đầu tư nước
ngoài. Do đó một điều có thể nhận thấy trong các chính sách phát triển kinh tế
- xã hội hiện nay của tất cả các quốc gia trên thế giới nhất là các quốc gia
đang phát triển như nước ta nơi mà hệ thống cơ sở hạ tầng còn yếu kém đều
cố gắng tập trung các nguồn lực để ưu tiên phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng
làm nền tảng và cơ sở cho đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội theo những
mục tiêu đã hoạch định.
Theo quan niệm của các nhà kinh tế học thì: hệ thống CSHT là tổng thể
những điều kiện, yếu tố vật chất kỹ thuật, kiến trúc được hình thành theo một
cấu trúc nhất định và đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động kinh tế - xã hội
được diễn ra một cách bình thường. Như vậy, hệ thống CSHT sẽ bao gồm
tổng thể những điều kiện, yếu tố vật chất kỹ thuật phục vụ cho các hoạt động
kinh tế - xã hội. Các điều kiện và yếu tố vật chất này bao gồm nhiều loại,
nhiều cách tổ chức khác nhau như giao thông, thông tin liên lạc, điện, cơ sở
vật chất - kỹ thuật của giáo dục, y tế. Nếu dựa theo mục đích và đối tượng
phục vụ của các công trình CSHT thì chúng ta có thể phân loại CSHT thành
bốn nhóm sau.
Nhóm hệ thống CSHT kinh tế: Đây là những cơ sở vật chất - kỹ thuật
phục vụ cho sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực kinh tế và sự giao lưu
kinh tế giữa các địa phương trong nền kinh tế quốc dân. Hệ thống CSHT kinh
tế cũng được chia thành những loại sau:
+ Hệ thống giao thông vận tải: đường bộ, đường sắt, cầu cống, nhà ga,
sân bay, bến cảng.
+ Hệ thống cung ứng vật tư - kỹ thuật, nguyên, nhiên, vật liệu phục vụ
sản xuất và đời sống (phân bón, xăng, dầu, chất đốt…).
+ Mạng lưới vận tải và phân phối năng lượng: các trạm biến áp, trạm
trung chuyển, hệ thống đường dây, các thiết bị vận hành.
14
+ Hệ thống công trình và phương tiện thông tin liên lạc, bưu điện viễn
thông, lưu trữ và xử lý thông tin.
+ Hệ thống thuỷ lợi, thuỷ nông phục vụ việc tưới tiêu, chăn nuôi, nước
sinh hoạt.
Nhóm hệ thống CSHT xã hội: Là toàn bộ hệ thống cơ sở vật chất - kỹ
thuật phục vụ hoạt động giáo dục - đào tạo, khám chữa bệnh và chăm sóc sức
khoẻ, các hoạt động văn hóa, xã hội, thể dục thể thao bảo đảm cho việc thoả
mãn và nâng cao trình độ dân trí, chăm sóc sức khoẻ, đời sống văn hóa tinh
thần của nhân dân, đồng thời cũng tạo điều kiện chung cho quá trình tái sản
xuất sức lao động và nâng cao trình độ lao động của xã hội.
Nhóm hệ thống cơ sở hạ tầng bảo vệ môi trường: hệ thống cơ sở hạ
tầng bảo vệ môi trường là toàn bộ hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ
cho việc bảo vệ và cải tạo môi trường sinh thái của đất nước và môi trường
sống của con người.
Nhóm các công trình CSHT vật chất phục vụ cho công tác an ninh
quốc phòng: Đây là những yếu tố vật chất, kỹ thuật hay điều kiện cần thiết
phục vụ cho các hoạt động đặc thù về an ninh - quốc phòng.
- Vai trò của đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội:
Thứ nhất, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Thực tế
đồng bào ở nông thôn nói chung và các xã đặc biệt khó khăn nói riêng, điều
kiện về cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội rất khó khăn, thường là không có hoặc
có nhưng đã xuống cấp và đơn sơ. Vì thế khi Chương trình 135 và các chương
trình có liên quan được thực hiện thì hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở
những vùng này dần dần có sự cải thiện phần nào. Mặt khác, nhân dân ở các
vùng này nói chung, suốt ngày làm lụng vất vả, thường không có các điều kiện
để tham gia các hoạt động văn hoá. Vì thế, khi Chương trình 135 nói riêng,
các chương trình có liên quan nói chung được thực hiện thì cuộc sống tinh
thần văn hoá của nhân dân được cải thiện, nhiều phong tục, tập quán lạc hậu
từng bước được khắc phục. Kết quả đó đã đóng góp tích cực vào việc giúp
15
các vùng khó khăn thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu, hoà nhập vào sự
phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước.
Thứ hai, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cho những địa bàn này đóng vai
trò tích cực góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác tiềm năng, lợi
thế phát triển sản xuất hàng hoá để xoá đói giảm nghèo. Nhờ đó, mỗi năm
giảm 4-5% hộ nghèo. Các công trình cơ sở hạ tầng phục vụ nhân dân, giúp trẻ
em có trường để học tập, nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân. Từ những
công trình đó mới có thể đào tạo ra nguồn nhân lực cho các huyện miền núi,
vì địa bàn này rất khó thực hiện việc thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao
về sinh sống và làm việc; tạo điều kiện cho nhân dân được tiếp cận với các
phương thức sản xuất mới, kiến thức khoa học, kỹ thuật, văn hoá xã hội, tạo
khả năng chủ động vận dụng các kiến thức tiếp thu được từ nhà trường vào
cuộc sống.
Thứ ba, các công trình cơ sở hạ tầng giao thông ra đời, giúp cho điều
kiện giao thông trên các vùng khó khăn được cải thiện đáng kể, làm cho sự
giao lưu kinh tế giữa các vùng, miền, địa phương trở nên thuận lợi hơn. Từ
đó, tạo ra các mối quan hệ kinh tế giữa các vùng, góp phần giúp kinh tế hàng
hoá ở các vùng miền núi phát triển đi lên. Phổ biến ở các xã đặc biệt khó khăn
thì phát triển kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và lâm nghiệp, nên khi giao
thông thuận lợi sẽ làm phong phú thêm các hoạt động khác như thương
nghiệp, trong đó có buôn bán các sản phẩm nông, lâm nghiệp. Điều đó kích
thích người dân sản xuất sản phẩm, hàng hoá, làm tăng thu nhập cho bà con
những vùng này. Các công trình cơ sở hạ tầng như cung ứng điện, nước sạch,
bệnh viện, trạm xá, trường học, điểm văn hoá xã,… mang ánh sáng văn minh
về các thôn, bản. Có điện sẽ có nhiều thuận lợi cho các hoạt động sản xuất cũng
như tổ chức các hoạt động về văn hoá… điện giúp cho các hoạt động sản xuất
được tiến hành dễ dàng hơn. Chẳng hạn như, khi áp dụng cơ khí hoá trong sản
xuất nông nghiệp thì rất cần các nguồn năng lượng như điện. Các công trình như
16
bệnh viện, trạm y tế thì giúp bảo vệ sức khoẻ, điều trị khám chữa bệnh cho nhân
dân, giúp nâng cao chỉ số HDI của người dân các vùng này,…
Ở các vùng nông thôn miền núi, hệ thống cơ sở hạ tầng giữ vai trò đặc
biệt quan trọng trong đời sống xã hội của bà con nơi đây. Nó không chỉ góp
phần vào việc hỗ trợ tăng trưởng kinh tế mà còn thúc đẩy sự phát triển xã hội;
tác động mạnh tới giảm đói nghèo.
Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã chỉ ra rằng, nếu
không phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội thì sẽ không thể phát triển kinh
tế - xã hội, không thể xây dựng được một nền kinh tế thị trường hiện đại, đặc
biệt là đối với các huyện miền núi và các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn ở
nước ta. Nơi nào cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội yếu kém thì nơi đó tỷ lệ đói
nghèo cao. Điều này cho thấy cơ sở hạ tầng ở nông thôn, miền núi giữ vị trí
quan trọng có ý nghĩa quyết định, làm đòn bẩy thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
và xóa đói giảm nghèo đối với các xã, thôn, bản miền núi.
1.1.2.2. Vai trò của vốn ngân sách nhà nước đầu tư phát triển cơ sở
hạ tầng các huyện miền núi và các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn
Cơ sở hạ tầng của các huyện miền núi, nhất là các xã, thôn, bản vùng
sâu, vùng xa còn rất yếu kém, lạc hậu. Do địa hình hiểm trở, chia cắt. Đồng
bào ở các vùng này lại sinh sống rải rác, phân tán, nên sự đầu tư của Nhà
nước về giao thông và điện, nước... gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Một số
nơi có đường giao thông đi qua cũng không được khai thác nhiều vào mục
đích phát triển kinh tế, điện nhiều nơi chưa có, hoặc đã có thì chỉ để thắp
sáng mà chưa sử dụng nhiều vào mục đích phát triển kinh tế, nâng mức
hưởng thụ văn hoá, nâng cao nhận thức qua các phương tiện truyền thanh,
truyền hình. Hệ thống giao thông khó khăn dẫn đến thị trường bị chia cắt,
chi phí lưu thông cao, gây khó khăn trở ngại lớn đến sự đầu tư phát triển
sản xuất, phát triển giáo dục, y tế, văn hoá thông tin. Những xã, thôn, bản
đặc biệt khó khăn ở huyện miền núi cao trên cả nước, đường ô tô chỉ đi đến
17
được vào mùa khô, còn mùa mưa lũ thì bị chia cắt hoàn toàn. Trong điều
kiện phát triển kinh tế thị trường, thực trạng này gây trở ngại lớn, làm cho
khoảng cách phát triển giữa miền núi và miền xuôi ngày càng xa. Có thể
nói, hệ thống cơ sở hạ tầng thấp kém đã trở thành yếu tố chi phối, kìm hãm
khả năng phát triển kinh tế hàng hoá và sự nghiệp phát triển văn hoá; cản
trở việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc
thiểu số. Đây là một khó khăn, trở ngại khách quan, cần phải có sự nỗ lực
rất cao của người dân và sự trợ giúp to lớn, có hiệu quả của Nhà nước và
của cả cộng đồng, nhất là của các doanh nghiệp thì mới có thể khắc phục
được. Theo quy luật tự nhiên, các dân tộc sinh sống ở miền núi đều có sự
tăng dân số sinh học, do đó nhu cầu khai thác tự nhiên, nhất là đất canh tác
tăng lên. Mặt khác do trình độ, năng lực quản lý yếu kém của các cấp chính
quyền huyện, xã và do chạy theo lợi nhuận mà một số đơn vị, tổ chức kinh
tế nhà nước, tư nhân đã có những hành vi mua bán rừng đồi, khai thác tài
nguyên rừng tuỳ tiện, trái phép. Tình trạng đó đã trở thành những nguyên
nhân làm cho tài nguyên rừng cạn kiệt, môi trường nước ô nhiễm, đất đai
bạc mầu dẫn đến các thảm hoạ thiên nhiên như cháy rừng, lũ ống, lũ quét,
sập núi, lở đất xảy ra làm cho đời sống đồng bào dân tộc thiểu số đã khó
khăn lại càng thêm vất vả.
Trước những khó khăn đã nêu trên, làm cho miền núi càng không hấp
dẫn, thu hút được các nhà đầu tư, nhất là trong lĩnh vực đầu tư phát triển cơ hạ
tầng kinh tế - xã hội. Vì vậy, nguồn vốn đầu tư của ngân sách nhà nước trong
giai đoạn khởi động nói riêng và phát triển hệ thống cơ sở kết cấu hạ tầng cho
các huyện miền núi nói chung là cực kỳ quan trọng, có tính quyết định để phát
triển kinh tế - xã hội đối với vùng này. Vai trò này thể hiện ở các mặt sau:
Thứ nhất, vốn NSNN là vốn đầu tư lớn nhất và là nguồn vốn đầu tư chủ
yếu cho miền núi cao. Nhà nước đầu tư cho vùng này nhăm giải quyết nhiều
mục tiêu khác nhau: Xóa đói, giảm nghèo cho đồng bào sinh sống ở vùng sâu,
18
vùng xa, đặc biệt là đối với đồng bào các dân tộc thiểu số; đảm bảo ổn định
sản xuất, ổn định cuộc sống cho nhân dân trong khu vực; xây dựng cơ sở hạ
tầng vật chất kỹ thuật trong các lĩnh vực: giao thông - thông tin liên lạc, thủy
lợi…Nhằm mục đích để đồng bào cải thiện đời sống dân sinh, phảt triển kinh
tế; tạo điều kiện hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư; tạo điều kiện để đồng bào
được hưởng thụ các giá trị văn hóa…
Thứ hai, các huyện miền núi cao biên giới do địa hình phức tạp và
thường là những địa phương có biên giới tiếp giáp với các nước láng giềng
anh em, nên quản lí nhà nước về quốc phòng, an ninh có những khó khăn nhất
định. Để khắc phục những vấn đề này cần phải có sự đầu tư thỏa đáng của
Nhà nước.
Thứ ba, từ trước đến nay đồng bào các dân tộc thiểu số ở các huyện miền
núi cao, sản xuất tự cung tự cấp là chủ yếu, sản xuất hàng hóa ở miền núi cao
chưa phát triển, nhân dân chưa quen với cơ chế thị trường. Vì vậy, Nhà nước cần
đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi khuyến
khích đồng bào chuyển sang sản xuất hang hóa, vừa làm giàu cho bản thân, gia
đình vừa góp phần làm giàu cho xã hội.
Thứ tư, đầu tư vốn NSNN nước sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các thành
phần kinh tế và nhân dân đầu tư khai thác, phát huy tốt hơn các tiềm năng
lợi thế trên địa bàn từ tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lí đến nhân tố con
người và truyền thống văn hóa…
Thứ năm, đầu tư của vốn NSNN tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bào
tiếp cận và áp dụng những thành tựu mới của khoa học, công nghệ để khai thác
có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của địa phương trong phát triển kinh tế hàng hoá.
Thứ sáu, hằng năm Nhà nước bỏ vốn đầu tư cho miền núi cao thể hiện sự
quan tâm ưu đãi của Đảng, Nhà nước và xã hội đối với những vùng miền lạc
hậu, chịu nhiều thiệt thòi. Điều đó có tác động rất lớn trong việc tạo ra niềm tin
của đồng bào các dân tộc đối với tính ưu việt của chế độ XHCN.
19
Thứ bảy, một trong những mục tiêu cơ bản, có tính nguyên tắc của
Đảng và Nhà nước ta là công bằng xã hội. Tính công bằng ở đây bao gồm
những yêu cầu về sự bình đẳng thỏa đáng, hợp lý về các quyền lợi… giữa các
dân tộc, các vùng miền, giữa các tầng lớp dân cư. Chính họat động đầu tư của
ngân sách nhà nước cho các huyện miền núi cao nhằm đạt được các mục tiêu
như đã nêu trên, góp phần rất quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu của
công bằng xã hội.
1.2. KHÁI QUÁT VỀ CHƯƠNG TRÌNH 135
Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng
dân tộc thiểu số và miền núi cao là một trong các chương trình xóa đói giảm
nghèo ở Việt Nam do Nhà nước Việt Nam triển khai từ năm 1998. Chương
trình được biết đến rộng rãi dưới tên gọi Chương trình 135 do Quyết định của
Thủ tướng Chính phủ Việt Nam phê duyệt thực hiện Chương trình này có số
hiệu văn bản là 135/1998/QĐ-TTg. Theo kế hoạch ban đầu, chương trình sẽ
kéo dài 7 năm và chia làm hai giai đoạn; giai đoạn 1 từ năm ngân sách 1998
đến năm 2000 và giai đoạn 2 từ năm 2001 đến năm 2005. Tuy vậy, do yêu cầu
thực tiễn đặt ra, đến năm 2006, Nhà nước Việt Nam quyết định kéo dài
Chương trình này thêm 5 năm, nên gọi giai đoạn 1998-2005 là giai đoạn I và
nối tiếp là giai đoạn II (từ 2006 đến 2010) [ 38].
1.2.1. Mục tiêu và nhiệm vụ của chương trình 135
1.2.1.1. Quan điểm chỉ đạo
- Xuất phát từ mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển đất nước đã
được khẳng định trong các văn kiện Đại hội Đảng là đảm bảo phát triển hài
hoà giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội. Từ đó, hệ thống chính sách
phát triển đã được hoạch định trên những quan điểm đẩy mạnh tăng trưởng
kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá
trình phát triển. "Công bằng xã hội phải thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư
liệu sản xuất lẫn khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi
người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình".
20
- Tạo điều kiện cho tất cả các vùng đều phát triển trên cơ sở khai thác
tiềm năng, thế mạnh của mỗi vùng để hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý và
liên kết giữa các vùng, tạo nên sự phát triển kinh tế, xã hội mạnh mẽ của cả
nước. Kết hợp phát triển có trọng điểm với phát triển toàn diện các vùng lãnh
thổ, giảm bớt sự chênh lệch quá xa về nhịp độ tăng trưởng kinh tế giữa các
vùng, điều tiết một phần tích luỹ từ nền kinh tế để hỗ trợ cho vùng khó khăn.
Vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, khu căn cứ cách mạng được
xác định là địa bàn còn nhiều khó khăn nhất, cần được hỗ trợ, nhằm tạo điều
kiện ban đầu để các vùng đó từng bước vươn lên, hoà nhập với cả nước cùng
phát triển.
- Thực hiện công bằng xã hội được thể hiện trên mọi phương diện,
trong đó việc tạo cơ hội cho mọi tầng lớp dân cư thuộc mọi dân tộc có điều
kiện tham gia vào quá trình phát triển là hết sức cần thiết, thể hiện trên các
mặt: được bình đẳng trong việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, hỗ trợ sản
xuất,phát triển kinh tế, văn hoá, giải quyết vấn đề xã hội, cải thiện cuộc sống
của đồng bào các dân tộc…, được trực tiếp đóng góp công sức, vật lực của
mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng thôn xóm cho xây dựng quê hương
mình; được đào tạo nâng cao kiến thức và kỹ năng sản xuất, tổ chức cuộc
sống, nâng cao năng lực mọi mặt cho cán bộ và người dân trong vùng; giúp
họ tham gia sản xuất hàng hoá để trao đổi với bên ngoài; được cung cấp thông
tin về thị trường, giá cả, định hướng cho hoạt động sản xuất kinh doanh; được
tiếp cận với các dịch vụ xã hội khác.
- Vùng ĐBKK miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng,
vùng đồng bào dân tộc thiểu số là đối tượng và phạm vi đầu tư của Chương
trình 135. Sở dĩ như vậy là do những vùng này có vai trò rất quan trọng trong
lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc. Từ xa xưa, các cuộc khởi nghĩa
chống giặc ngoại xâm đều lấy vùng sâu, vùng xa làm căn cứ; trong kháng
chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, vùng này tiếp tục được dùng làm
21
căn cứ, làm an toàn khu, đồng bào các dân tộc trong vùng đã hết lòng ủng hộ
cách mạng, ủng hộ kháng chiến, góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc.
Sau khi chiến tranh kết thúc, đất nước rơi vào khó khăn mới nên chưa có điều
kiện hỗ trợ cho các vùng này, nay cần được đất nước và toàn xã hội đền đáp
lại một cách xứng đáng.
1.2.1.2. Mục tiêu phát triển của các vùng lãnh thổ
Dựa trên cơ sở định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả
nước trong các kỳ Đại hội Đảng, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định về
quy hoạch, kế hoạch dài hạn và kế hoạch hàng năm đối với các vùng đô thị,
vùng kinh tế trọng điểm, vùng công nghiệp và vùng nông nghiệp hàng hoá.
Nhìn chung các vùng trên có nhiều điều kiện thuận lợi và về cơ bản đã có
định hướng rõ ràng. Vấn đề đang đặt ra là tạo điều kiện thu hút nguồn lực để
đảm bảo thực hiện có chất lượng và đạt tốc độ phát triển mong muốn. Riêng
vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số là địa bàn có nhiều khó khăn,
là vùng ít có cơ hội thuận lợi, khó huy động nguồn lực nên cần được Nhà
nước ưu tiên đầu tư, tạo điều kiện hỗ trợ ban đầu, để:
- Trước mắt thực hiện chương trình XĐGN, giải quyết việc làm, tăng
thu nhập nâng cao đời sống cho đồng bào các dân tộc trong vùng.
- Từng bước tăng khả năng khai thác các tiềm năng, lợi thế và nguồn
lực tại chỗ giải quyết việc làm để tăng thu nhập cho người lao động, tăng
nguồn thu cho ngân sách.
- Tạo bước đi ban đầu để tăng tính hấp dẫn trong việc thu hút đầu tư.
Việc lựa chọn những địa bàn xung yếu, những lĩnh vực ưu tiên để hỗ trợ phát
triển là nhiệm vụ bức thiết có ý nghĩa quyết định đối với việc phát triển kinh
tế - xã hội các vùng này.
Trước khi có Chương trình 135, sau hơn 10 năm thực hiện đường lối
đổi mới (1986 - 1997), tình hình kinh tế - xã hội các tỉnh, các huyện miền núi
22
và vùng dân tộc thiểu số ở nước ta đã đạt được những tiến bộ đáng kể, đến
cuối năm 1996 đã hình thành 3 khu vực phát triển với trình độ khác nhau:
- Khu vực I: gồm các khu trung tâm đô thị, các thị trấn, các khu công
nghiệp: có 806 xã, phường; 1.068.845 hộ với 5.275.369 người, chiếm tỷ lệ
39,02% dân số của các tỉnh miền núi và vùng dân tộc. Nét nổi bật của khu vực
này là kinh tế hàng hoá phát triển khá, là vùng động lực phát triển chính của các
tỉnh, huyện miền núi; GDP bình quân đầu người có địa phương đạt cao hơn mức
bình quân chung của cả nước. Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đã được xây dựng
tương đối đồng bộ, bước đầu phục vụ tốt sản xuất, đời sống đồng bào. Trình độ
dân trí, đời sống văn hoá - xã hội cộng đồng tiến bộ khá [11].
- Khu vực II: là khu vực đệm giữa khu vực I (đô thị…) với khu vực III
(vùng sâu, vùng xa…); có 1.737 xã, phường; 1.516.005 hộ với 7.764.202
người, chiếm tỷ lệ 44,18% dân số của các tỉnh miền núi và vùng dân tộc [11].
Nhìn chung kinh tế khu vực này phát triển chậm, sản phẩm hàng hoá ít;
GDP bình quân đầu người chỉ bằng 70% mức bình quân chung cả nước; sản
xuất nông lâm nghiệp còn nhiều hạn chế, một bộ phận dân cư còn phát rừng
làm rẫy, khả năng tái du canh, du cư và tái trồng cây thuốc phiện còn nhiều;
đời sống kinh tế tuy đã được cải thiện nhưng thiếu bền vững. Số hộ đói nghèo
chiếm tỷ lệ cao (20-50%). Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đã được xây dựng
nhưng chưa đồng bộ hoặc còn tạm bợ, chưa phục vụ tốt sản xuất, đời sống
đồng bào. Mặt bằng dân trí còn thấp, đời sống văn hoá -xã hội cộng đồng còn
nhiều mặt hạn chế so với khu vực I.
- Khu vực III: gồm 1.557 xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng giáp
biên. Vùng căn cứ kháng chiến; có 799.034 hộ với 4.533.598 người, chiếm tỷ
lệ 25,8% dân số của các tỉnh miền núi và vùng dân tộc. Đây là khu vực còn
nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng kinh tế -xã hội rất yếu kém (còn 672 xã chưa có
đường ô tô đến trung tâm xã) - nhiều nơi thiếu đất canh tác, thiếu nước sinh
hoạt nghiêm trọng. Sản xuất còn mang nặng tính tự nhiên, tự cấp, tự túc, phát,