Tải bản đầy đủ (.docx) (15 trang)

Tiểu luận triết 2 đề tài :Vận dụng lí luận lợi nhuận vào việc định giá bán cho hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (158.31 KB, 15 trang )

A.Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài:
Xuất phát từ nhận thức nền kinh tế nước ta đang chuyển từ kinh tế
tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường thì không một quốc gia nào mà
lại không tự tìm ra đường lối phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện
tình hình hiện nay. Và trong sản xuất kinh doanh, việc định giá sản
phẩm; hàng hóa và dịch vụ là vấn đề cực kì quan trọng, ảnh hưởng trực
tiếp đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Vì thế không thể
thực hiện định giá một cách tùy tiện, chủ quan. Một phương sách định
giá sản phẩm đúng đắn sẽ làm tăng sức mạnh cho doanh nghiệp, ngược
lai một phương sách sai lầm sẽ dẫn doanh nghiệp đến chỗ lụi bại.
Là một người kinh doanh, việc định giá sản phẩm đòi hỏi chúng ta
không chỉ nắm vững các quy luật, nguyên tắc kinh tế mà còn phải có cái
nhìn nhạy bén và cách xử trí khôn ngoan trước những diễn biến phức tạp
của nền kinh tế thị trường.
Hiện nay, đất nước ta có rất nhiều các bạn trẻ khởi nghiệp, nhiều
doanh nghiệp mới thành lập tạo nên một nền kinh tế thị trường sôi động.
Mặc dù vậy, không phải doanh nghiệp nào khởi nghiệp cũng thành công
vì nhiều khi có ý tưởng hay nhưng một phần do thiếu kiến thức về lí
luận nên không thu được lợi nhuận một cách hiệu quả nhất. Đây là lí do
nhóm tụi em chọn đề tài “Vận dụng lí luận lợi nhuận vào việc định giá
bán cho hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam” để phân tích và tìm
ra phương hướng phù hợp nhất với từng điều kiện sản xuất kinh doanh,
nhằm thu được lợi nhuận tối đa.
2. Tổng quan đề tài
“Vận dụng lí luận lợi nhuận vào việc định giá bán cho hàng hóa
của các doanh nghiệp Việt Nam” là đề tài không còn quá lạ lẫm, có thể
dễ dàng tìm thấy trên các diễn đàn học thuật. Đồng thời, các công trình
1



nghiên cứu tương đối từ tổng thể đến chi tiết. Một số bài nghiên cứu về
đề tài này là “Phương pháp định giá trong doanh nghiệp Việt Nam”, “Lý
luận và thực tiễn” hay “Nghệ thuật thúc đẩy doanh thu và làm tăng lợi
nhuận”.
3. Mục đích nghiên cứu
Việc tìm hiểu và nghiên cứu đề tài giúp chỉ ra mối liên hệ giữa lý
luận về lợi nhuận với thực tiễn. Từ đó vạch ra những phương án định giá
hàng hóa của các doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp thu được tối đa
lợi nhuận. Từ cơ sở đó, chất lượng cuộc sống người dân được nâng cao,
thúc đẩy xã hội phát triển.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Bài tiểu luận tập trung nghiên cứu và chỉ ra giải pháp tốt nhất trong
việc “Định giá bán cho hàng hóa” bằng việc vận dụng lí luận lợi nhuận
cho đối tượng là các doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Bài tiểu luận chủ yếu nghiên cứu dựa trên phương pháp phân tích,
tổng hợp và nghiên cứu lý luận.
6. Đóng góp của đề tài
Qua bài nghiên cứu, nhóm tụi em mong rằng có thể giúp các doanh
nghiệp có cái nhìn và hướng đi đúng đắn, phù hợp trong việc định mức
giá cho hàng hóa, từ đó đạt được lợi nhuận cho cả doanh nghiệp và đem
lại lợi ích cho người tiêu dùng.
7. Kết cấu của đề tài
Bài tiểu luận gồm 3 phần chính: Mở đầu, nội dung và kết luận.

B.Nội dung

Chương 1 - Phân tích cơ sở lí luận.
2



1.1 Bản chất và các hình thức của lợi nhuận
a) Qúa trình sản xuất giá trị thặng dư
Mục đích của nhà tư bản ứng ra một số tiền mua tư liệu sản xuất và
sức lao động là để tạo ra giá trị thặng dư. Quá trình nhà tư bản tiêu dùng
hàng hóa sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất giá trị thặng dư có
hai đặc điểm: một là, công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư
bản; hai là, sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản.
Ví dụ về sản xuất sợi:
Tư bản ứng trước
Gía trị của sản phẩm mới (20kg sợi)
- Tiền mua bông: 20$
- Gía trị của bông chuyển vào sợi: 20$
- Hao mòn máy móc: 4$
- Gía trị của máy móc chuyển vào sợi: 4$
- Tiền mua sức lao động của nhân
- Gía trị do lao động người công nhân tạo
công tổng 1 ngày: 3$
ra trong 12 giờ: 0.5 x12 = 6$
27$
30$
Vậy 27$ ứng trước đã chuyển hóa thành 30$, đem lại một giá trị thặng
dư là 3$. Do đó tiền đã biến thành tư bản. Phần giá trị mới dôi ra ngoài
giá trị sức lao động do công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không,
ký hiệu là m.
b) Lợi nhuận
Lợi nhuận là hình thái chuyển hóa của giá trị thặng dư do lao động
sống tạo ra được quan niệm là do toàn bộ tư bản ứng trước sinh ra, kí
hiệu là P.
Vậy, lợi nhuận chẳng qua là hình thái thần bí hóa của giá trị thặng dư, là

phần dôi ra của giá trị hàng hóa so với chi phí sản xuất của nó. Khi đó
giá trị hàng hoá (k + m) sẽ chuyển dịch thành k + p. Vấn đề đặt ra là P
và m có gì khác nhau?
Về mặt lượng, nếu hàng hoá bán đúng giá trị thì m = P; m và P giống
nhau ở chỗ đều có chung một nguồn gốc là kết quả lao động không công
của công nhân. Về mặt chất, m phản ánh đúng nguồn gốc và bản chát
3


của nó là kết quả của sự chiếm đoạt lao động không công của công nhân,
còn P được xem như toàn bộ tư bản ứng trước đề ra. Do đó P đã che dấu
quan hệ bóc lột TBCN, che dấu nguồn gốc thực sự của nó.
c) Tỷ suất lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư và
toàn bộ tư bản ứng trước, kí hiệu là P’.
P’=m/(c+v)*100%
Tỷ suất lợi nhuận chỉ cho nhà tư bản biết tư bản của họ đầu tư vào đâu
thì có lợi hơn. P' cao hay thấp là tuỳ thuộc vào nhiều nhân tố khách quan
như: tỷ suất giá trị thặng dư, tiết kiệm tư bản bất biến; cấu tạo hữu cơ
của tư bản; tốc độ chu chuyển tư bản.
1.2 Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân
a) Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp
trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá nhằm mục
đích tiêu thụ hàng hoá đó có lợi hơn để thu lợi nhuận siêu ngạch. Biện
pháp cạnh tranh là hạ thấp hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao
động xã hội bằng cách cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động, tăng
cấu tạo hữu cơ C/V. Kết quả của cạnh tranh là hình thành nên giá trị xã
hội của từng loại hàng hoá.
b) Cạnh tranh giữa các ngành: là cạnh tranh giữa các nhà tư bản kinh
doanh trong các ngành sản xuất khác nhau, nhằm mục đích tìm nơi đầu

tư có lợi hơn.Biện pháp để cạnh tranh là tự do di chuyển tư bản vào các
ngành khác nhau của xã hội. Kết quả là hình thành tỉ suất lợi nhuận bình
quân.
Ví dụ: Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa có ba nhà tư bản đều có 100
tư bản đầu tư vào ba ngành sản xuất khác nhau: Ngành A có P’=20%,
ngành B có P’= 30%, ngành C có P’=10%. Một số nhà tư bản ở ngành C
sẽ chuyển sang kinh doanh ở ngành B làm cho cung hàng hoá này tăng
lên dẫn tới P’ dần dần giảm xuống từ 30% xuống 20%, ngành C do giảm
4


về sản xuất nên cũng ít đi làm cho P’ từ 10% dần dần lên đến 20%. Kết
quả là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.
Vậy, lợi nhuận bình quân là lợi nhuận bằng nhau của tư bản bằng nhau
vào các ngành sản xuất khác nhau. Nó chính là lợi nhuận mà các nhà đầu
tư thu được căn cứ vào tổng tư bản đầu tư, nhân với tỉ suất lợi nhuận
bình quân, không kể cấu thành hữu cơ của nó như thế nào.
1.3 Sự hình thành giá cả sản xuất
Khi P chuyển hóa thành Ṗ thì giá trị của hàng hóa chuyển hóa thành
giá cả sản xuất. Giá trị hàng hoá G = c + v + m chuyển thành giá cả sản
xuất (k + Ṗ), tức là giá cả sản xuất bằng chi phí sản xuất tư bản chủ
nghĩa cộng với lợi nhuận bình quân. Điều kiện để giá trị hàng hóa
chuyển thành giá cả sản xuất gồm có: đại công nghiệp cơ khí tư bản chủ
nghĩa phát triển, sự liên hệ rộng rãi giữa các ngành sản xuất, quan hệ tín
dụng phát triển, tự bản tự do di chuyển từ ngành này sang ngành khác.
Như vậy, trong giai đoạn cạnh tranh tự do của chủ nghĩa tư bản, khi
giá trị thặng dư chuyển hóa thành lợi nhuận bình quân thì giá trị hàng
hóa chuyển hóa thành giá cả sản xuất và quy luật giá trị cũng biểu hiện
thành quy luật giá cả sản xuất.
1.4 Các hình thức của lợi nhuận


5


Chương 2 – Vận dụng liên hệ vào việc
định giá bán hàng cho các doanh
nghiệp Việt Nam
A) Định giá trong doanh nghiệp
2. Một số vấn đề lý luận về giá
2.1 Vai trò, chức năng và các nhân tố ảnh hưởng đến giá cả
2.1.1 Vai trò của giá
Thứ nhất, về mặt ngắn hạn, mức giá không ảnh hưởng lên khối
lượng sản xuất, nhưng nó ảnh hưởng trực tiếp lên “cung” và “cầu” của
thị trường. Nếu giá cao hoặc tăng, mức cung sẽ cao và tăng và ngược lại.
Đối với lượng cầu thị trường thì tác động của giá theo chiều ngược lại.
Gía càng giảm, mức cầu càng tăng.
Thứ hai, sự biến động của giá cả cũng luôn ảnh hưởng đến hành vi của
những người sản xuất. Giá hàng hoá tăng cao sẽ khuyến khích người sản
xuất gia tăng sản lượng hàng hoá. Giá hàng hoá hạ xuống thấp lại tạo ra
áp lực buộc những người này phải cắt giảm sản lượng.
Thứ ba, giá cả thực tại ảnh hưởng lên khối lượng sản xuất của từng
doanh nghiệp do đó ảnh hưởng đến khối lượng sản xuất của toàn ngành
và đến cơ cấu sản phẩm của toàn nền kinh tế.
Vai trò phân phối của giá: giá cả là quan hệ trao đổi giữa người sản xuất
và người tiêu dùng. Xét trên toàn bộ hệ thống sản xuất xã hội thì trao đổi
cũng là một hình thức phân phối. Nếu giá cả thay đổi thì tỷ lệ phân phối
cũng thay đổi, do đó giá cả ảnh hưởng đến sự phân phối nên tất nhiên nó
ảnh hưởng lên đời sống cá nhân và thu nhập của họ.
6



2.1.2 Chức năng của giá : Chức năng kích thích kinh tế, chức năng phân
phối, chức năng điều chỉnh cơ cấu kinh tế và chức năng thước đo của
cải.
2.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc định giá
Một là: Giá trị của hàng hoá – yếu tố QUYẾT ĐỊNH giá cả: giá trị
của hàng hóa tỷ lệ THUẬN với giá cả của hàng hóa. Giá trị của hàng
hóa (giá trị của 1 đơn vị hàng hóa) lại chịu sự tác động của 2 yếu tố là:
năng suất lao động và mức độ phức tạp của lao động. Mức thu nhập của
người tiêu dùng là nhân tố quyết định đến nhu cầu có khả năng thanh
toán. Đây là nhân tố mà các doanh nghiệp phải quan tâm không chỉ
trong định giá mà ngay từ khi xây dựng chiến lược kinh doanh , quyết
định phương án sản xuất, với mức chi phí tối đa là bao nhiêu để có giá
bán hợp lý, bảo đảm tiêu thụ nhanh và có lãi.
Hai là: Sức mua của tiền tệ: tỷ lệ NGHỊCH với giá cả hàng hoá. Sức
mua cùa tiền giảm thì giá cả tăng và ngược lại. Quan hệ giữa giá cả và
giá trị thực tế của tiền là quan hệ gián tiếp, giá trị thực tế của tiền ảnh
hưởng lên giá cả thông qua sức mua. CMac viết: “…tuyệt nhiên không
thể kết luận được rằng, giá trị của tiền tăng thì bao giờ cũng làm cho giá
cả hàng hóa giảm xuống theo cùng tỉ lệ và giá trị của tiền giảm xuống
kéo theo giá cả hàng hóa tăng lên cùng tỉ lệ.
Ba là: Quan hệ cung–cầu về hàng hoá trên thị trường: làm cho giá cả
lên xuống xung quanh giá trị. Cung lớn hơn cầu làm giá cả xuống thấp
hơn giá trị hàng hóa và ngược lại. Ngoài ra, giá cả hàng hóa còn chịu sự
tác động của quan hệ cạnh tranh. Sự cạnh tranh càng cao thì giá cả hàng
hóa càng có cơ hội được hạ thấp và ngược lại.
3) Phương pháp định giá bán cho hàng hóa của

các doanh nghiệp Việt Nam
Định giá sản phẩm là vấn đề cực kỳ quan trọng ảnh hưởng trực tiếp

đến khả năng tiêu thụ sản phẩm, lợi nhuận do đó ảnh hưởng đến sự tồn
tại và phát triển nói chung và sự sống còn của doanh nghiệp nói riêng.
Vì thế, trong quá trình sản xuất kinh doanh, không được định giá một
cách chủ quan, tùy tiện và càng không được xuất phát từ lòng mong
muốn.
7


Thực tế cuộc song cho thấy, mỗi người chúng ta đã có lúc là người bán
và có lúc là người mua. Xuất phát từ lợi ích kinh tế của mình, khi là
người bán ta luôn muốn bán với giá cao, nhưng ở vị trí người mua ta chỉ
muốn mua rẻ. Đó là sự mâu thuẫn muôn thủa giữa người bán và người
mua, xét về mặt lợi ích kinh tế, trong quan hệ thị truowfnfg, mâu thuẫn
chỉ được giải quyết khi, sản phẩm đã được định giá đúng, thỏa mãn lòng
mong muốn trong giới hạn có thể chấp nhận được giữ người bán và
người mua.

3.1 Phương pháp định giá cộng chi phí
Trong một thị trường không cạnh tranh, một công ty có thể dùng đến
phương pháp định giá cộng thêm vào chi phí - tức là cộng thêm một số
tiền hay một tỷ lệ phần trăm vào chi phí sản xuất và phân phối sản phẩm.
Khi cộng thêm vào chi phí, công ty sẽ đảm bảo được một mức lợi nhuận
nào đó. Theo phương pháp này, giá thành sản phẩm sẽ được xác định
theo công thức sau: Giá = (Biến phí trên đơn vị sản phẩm + Phần chi phí
cố định phân bổ cho đơn vị sản phẩm) x (1 + tỷ lệ phần trăm lợi nhuận )
Ví dụ cụ thể về công ty cung cấp thiết bị lái máy bay tân tiến như sau:
Biến phí để sản xuất ra mỗi bộ lái (gồm nhân công, linh kiện, điện…)
được tính toán. Các kế toán chi phí của công ty phân bổ một phần nào
đó trong tổng chi phí cố định (gồm lương, bảo hiểm, R&D, nhiệt xây
dựng, nợ, bảo dưỡng…) cho từng bộ lái được sản xuất theo hợp đồng.

Những phí này đại diện cho toàn bộ chi phí sản xuất ra mỗi bộ sản
phẩm. Hợp đồng này đảm bảo 15% lợi nhuận sau khi trừ tất cả những
chi phí đó. Do đó, Biến phí trên đơn vị sản phẩm = 10.000 USD, Phần
chi phí cố định phân bố cho đơn vị sản phẩm = 8.000 USD, Lợi nhuận =
15%, Đơn giá = (10.000 USD + 8.000 USD) x (1 + 0,15) = 20.700 USD
Trong thị trường tự do, phần lớn giá bán được xác định thông qua sự
cạnh tranh giữa các nhà cung cấp. Trong những thị trường này, hình thức
định giá cộng thêm vào chi phí đã không còn thích hơp nữa.
3.2 Phương pháp tỷ suất lợi nhuận hiện thời
8


Đây là chính sách định giá do các lực lượng thị trường đặt ra cho các
doanh nghiệp hoạt động trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Mỗi
doanh nghiệp có nghĩa vụ đặt ra giá bằng giá của các doanh nghiệp
khác , nếu không sẽ mất hết khách hàng.
Bước 1: Xác định mức giá chuẩn
Trong nhiều tình huống, các doanh nghiệp sử dụng giá của đối thủ
làm giá chuẩn.
Bước 2: Điều chỉnh mức giá của mình, có tính đến các yếu tố khác.
Các doanh nghiệp đặt tỷ giá lợi nhuận có tính đến giá của các đối thủ
cạnh tranh và ảnh hưởng các điều kiện cầu mà doanh nghiệp gặp
phải, sau đó đưa ra những biện pháp đảm bảo thu lợi nhuận cực đại.
Ví dụ: Hai doanh nghiệp A và B cùng sản xuất một loại giày thể thao
trong cùng một thị trường. Doanh nghiệp A định giá một đôi giày là
900.000đ. Doanh nghiệp B sẽ phải định giá một đôi giày mà họ sản xuất
với giá thành
xung quanh 900.000đ, nếu không sẽ không bán được hàng. Nếu chi
phí sản xuất của doanh nghiệp B nhỏ hơn 800.000đ thì họ sẽ định
giá 1 chiếc áo là 900.000đ hoặc 950.000đ để thu hút được khách

hàng và ngược lại, nếu chi phí sản xuất của doanh nghiệp B lớn hơn
800.000đ thì họ sẽ định giá một đôi giày là 900.000đ hoặc cắt giảm chi
phí sản xuất sao cho nhỏ hơn 800.000đ để thu được nhiều lợi nhuận
nhất.
3.3 Phương pháp phân tích điểm hòa vốn
Điểm hòa vốn là điểm mà tại đó doanh thu bán hàng đủ trang trải
mọi chi phí bỏ ra và doanh nghiệp không lỗ, không lãi, là một
điểm mà tại đó lợi nhuận bằng 0, như vậy trên điểm hòa vốn sẽ
có lãi và dưới điểm hòa vốn sẽ bị lỗ.
Phương pháp xác định: Tổng chi phí sản xuất: F; chi phí khả biến cho
một đơn vị sản phẩm: V; sản lượng hòa vốn: Q; giá bán một đơn vị sản
phẩm: g
Ta có: Tổng chi phí sản xuất = F +VQ
Tổng doanh thu tiêu thụ sản phẩm = gQ
Tại điểm hòa vốn: Tổng doanh thu = tổng chi phí sản xuất
9


( F + VQ = gQ)
suy ra Q = F/(g-V)
Từ đó, doanh nghiệp xác định được sản lượng sản phẩm cần phải
bán để có thể thu được lợi nhuận. Thông thường, các doanh nghiệp cần
phải xác định giá bán sản phẩm trước, vì vậy, ở đây ta lấy sản lượng hòa
vốn Q là sản lượng sản phẩm trung bình tiêu thụ được qua các giai đoạn
tương ứng, từ đó, xác định giá bán g nhưng phải nhỏ hơn chi phí sản
xuất:
g = ( F + VQ)/Q
Ví dụ: Xưởng mộc được nhắc tới ở trên đang có kế hoạch để làm một
chiếc tủ quần áo mới. Chiếc tủ cao gần 2 mét, rộng 1,5 mét và sâu 0,5
mét. Vị quản đốc xưởng mộc phải xem xét các dữ kiện trước khi quyết

định bắt tay vào sản xuất.
 Giá bán dự kiến là $1,000.
 Chi phí cố định trung bình một năm là $210,000 (lương nhân
viên hàng tháng, chi phí năng lượng, chi phí lãi suất và khấu
hao).
 Giá mua gỗ và các loại phụ liệu là 400$ cho mỗi tủ và là chi phí
biến đổi.
Với các dữ kiện này, vị quản đốc sẽ xác định điểm hòa vốn như sau:
Điểm hòa vốn = $210,000 / ( $1000 - $400 ) = 350 (chiếc)
Điều đó có nghĩa là xưởng mộc sẽ không thể hòa vốn cho đến khi họ
bán được 350 chiếc tủ quần áo và sẽ không có lãi cho đến chiếc thứ
351.

B) Định giá trong các cấu trúc thị trường
Khác với thời kỳ bao cấp, việc kinh doanh hiện nay – thời kì đổi mới
luôn gắn kiền với lợi nhuận. Trên góc độ nào đó, giá một sản phẩm nào
đó là số tiền mà người bán trù tính có thể nhận đươc từ người mua. Do
đó, khi ấn định một mức giá cụ thể, phải tính được số lượng sản phẩm có
10


khả năng tiêu thụ. Trong thực tế, có những doanh nghiệp, do định giá
thấp mà tăng được khối lượng tiêu thụ do đó thu được lợi nhuận tối đa.
Song cũng có doanh nghiệp, tiêu thụ một lượng sản phẩm nhỏ nhưng vì
định giá rất cao nên đã thu được lợi nhuận lớn.
4. Khi định các mức giá, cần phải xem xét tới một loạt các nhân tố sau:
4.1 Thu nhập của dân cư: đóng vai trò to lớn trong việc định giá
bán của các doanh nghiệp. Ở khu vực dân cư có thu nhập cao, đồng
nghĩa với việc mức sống, chất lượng của người dân nơi đó cao. Người
dân sẵn sàng chi nhiều tiền để mua hàng hóa. Một ví dụ điển hình như ở

thành phố Tokyo của Nhật Bản – thủ đô của một trong những quốc gia
phát triển bậc nhất Châu Á – có chi phí sinh hoạt cực kỳ đắt đỏ. Và
ngược lại, ở vùng nông thôn - nơi sinh sống chủ yếu của những người
nông dân, thu nhập thấp nên tương ứng với đó giá cả của các loại hàng
hóa sẽ rẻ hơn nhiều so với ở thành thị.
4.2 Quy mô thị trường: qui mô thị trường lớn hay nhỏ ảnh hưởng
đến việc định giá cho hàng hóa của các doanh nghiệp. Với một thị
trường có quy mô lớn, các doanh nghiệp định giá sản phẩm chỉ cần cao
hơn chi phí sản xuất một lượng nhỏ, nhưng sản lượng tiêu thụ lớn nên
doanh nghiệp có thể thu được nhiều lợi nhuận và ngược lại. Với thị
trường quy mô nhỏ, do sức mua ít nên doanh nghiệp cần phải định giá
hàng hóa cao hơn giá trị thực 30-40% thì mới có thể thu được lợi nhuận
và duy trì sản xuất.
4.3 Sở thích và tập quán tiêu dùng: Với một mặt hàng được ưa
chuộng, giá cả chỉ cần cao hơn giá trị thực 3-5% và hàng hóa được tiêu
thụ lớn nên lợi nhuận là đủ cho doanh nghiệp tồn tại, phát triển và ngược
lại.
4.4 Khả năng của các nhà cạnh tranh: Một mặt hàng được nhiều
doanh nghiệp cùng buôn bán tất sẽ dẫn đến việc cạnh tranh giữa các
11


doanh nghiệp. Vì vậy, mỗi doanh nghiệp nhất định sẽ hạ giá thành của
sản phẩm ít nhất phải ngang bằng hoặc thấp hơn của đối thủ, hoặc bán
với giá cao hơn của đối thủ nhưng phải có chất lượng tốt hơn. Ngược
lại, khi một doanh nghiệp độc quyền một mặt hàng, họ có thể thao túng
thị trường, đẩy giá cao hay thấp tùy ý họ. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần
phải định giá một cách phù hợp nhất, nếu không sẽ bị khách hàng tẩy
chay dẫn đến nguy cơ thua lỗ.
4.5 Chính sách phát triển kinh tế của nhà nước: ảnh hưởng một

phần đến việc định giá bán. Một mặt hàng được nhà nước ưu tiên phát
triển thì doanh nghiệp có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc kinh doanh
mặt hàng đó, từ đó dẫn đến việc định giá hàng hóa đó phù hợp, dễ dàng
trên thị trường.

C. KẾT LUẬN
Kinh doanh là một quá trình làm việc và đúc kết kinh nghiệm hết
sức khó khăn mà mỗi doanh nghiệp cần phải đương đầu, đặc biệt trong
giai đoạn hiện nay khi thế giới trở nên toàn cầu hóa, các hiệp định
thương mại liên tiếp được ký kết vừa là những điều kiện thuận lợi, vừa
là những khó khăn, thách thức mà các doanh nghiệp Việt Nam gặp phải.
Thị trường luôn luôn biến động về giá cả đòi hỏi mỗi doanh nhân cần
nắm chắc những kiến thức kinh tế và ứng biến một cách thông minh, có
12


chọn lọc để đạt lợi nhuận cao nhất. Một số phương pháp định giá bán
hàng hóa cho doanh nghiệp Việt Nam mà nhóm tác giả nghiên cứu trên
đây hi vọng góp một phần công sức nhỏ bé cho công cuộc xây dựng một
nền kinh tế vững mạnh, phát triển đi lên của đất nước Việt Nam. Mặt
khác, mỗi doanh nghiệp cũng cần phải tích cực sáng tạo, hăng say sản
xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm thu hút vốn đầu tư góp phần kiến
tạo đất nước Việt Nam hùng mạnh.

MỤC LỤC
A.Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
2. Tổng quan đề tài
3. Mục đích nghiên cứu
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
6. Đóng góp của đề tài
7. Kết cấu của đề tài

B.Nội dung
Chương 1 - Phân tích cơ sở lí luận
1.1 Bản chất và các hình thức của lợi nhuận
1.2 Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân
1.3 Sự hình thành giá cả sản xuất
1.4 Các hình thức của lợi nhuận

Chương 2 – Vận dụng liên hệ vào việc
định giá bán hàng cho các doanh nghiệp
Việt Nam
13


A) Định giá trong doanh nghiệp
2. Một số vấn đề lý luận về giá
2.1 Vai trò, chức năng và các nhân tố ảnh hưởng đến giá cả
2.1.1 Vai trò của giá
2.1.2 Chức năng của giá
2.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc định giá
3. Phương pháp định giá bán cho hàng hóa của các

doanh nghiệp Việt Nam
3.1 Phương pháp định giá cộng chi phí
3.2 Phương pháp tỷ suất lợi nhuận hiện thời
3.3 Phương pháp phân tích điểm hòa vốn


B) Định giá trong các cấu trúc thị trường
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến mức định giá hàng hóa
4.1 Thu nhập của dân cư
4.2 Qui mô thị trường
4.3 Sở thích và tập quán tiêu dùng
4.4 Khả năng của các nhà cạnh tranh
4.5 Chính sách phát triển kinh tê của nhà nước

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Giáo trình những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lenin, NXB
Bách Khoa Hà Nội
Giáo trình những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lenin, NXB
14


Chính trị Quốc gia – Sự thật, 2015
Vai trò của giá cả trong kinh doanh kinh tế - 123kienthuc.com - ???
Quản lý dự án lớn và nhỏ - vietbao.vn
Hocluat.vn – I Can - 27/4/2018
Vận dụng lí luận lợi nhuận vào việc định giá bán hàng cho doanh nghiệp
VN ( StuDocu ) – Viet Nguyen - ???

15



×