MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Bảng thống kê số lượng viên chức, hợp đồng,.........Error: Reference
source not found
Bảng 2.2: Đánh giá của thính giả về những nội dung thơng tin.................Error:
Reference source not found
Bảng 2.3: Bảng kê chương trình của Đài truyền thanh huyện Tiên Lãng (Phát
sóng thứ Hai, ngày 4 tháng 4 năm 2016)Error: Reference source not
found
Bảng 2.4: Bảng kê chương trình của Đài truyền thanh huyện Cát Hải......Error:
Reference source not found
Bảng 2.5: Bảng kê chương trình đài truyền thanh quận Hải An. Phát sóng thứ
Tư, ngày 25 tháng 03 năm 2016. .Error: Reference source not found
Bảng 2.6: Tỷ lệ công chúng theo dõi chương trình đài truyền thanh.........Error:
Reference source not found
Bảng 2.7: Đánh giá của thính giả về chất lượng thông tin đài quận huyện
......................................................Error: Reference source not found
Bảng 3.1: Nhu cầu của công chúng về thông tin sâu các đài truyền thanh quận
huyện............................................Error: Reference source not found
Bảng 3.2: Ý kiến đánh giá của thính giả về sự cần thiết của đài truyền thanh
truyền thanh quận huyện..............Error: Reference source not found
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
UBND
: Uỷ ban nhân dân
HĐND
: Hội đồng nhân dân
UBMTTQ
: Uỷ ban mặt trận tổ quốc
VH-XH
: Văn hoá xã hội
MỞ ĐẦU
1. Lí do lựa chọn đề tài
Báo chí cách mạng Việt Nam đóng vai trị hết sức quan trọng trong đời
sống xã hội, là cơ quan ngôn luận của Đảng, nhà nước, tổ chức chính trị xã
hội, diễn đàn của nhân dân.
Nằm trong hệ thống báo chí nước ta, loại hình báo phát thanh đã, đang
phát triển, đáp ứng tốt nhu cầu tiếp nhận của thính giả. Về cơ cấu tổ chức, hệ
thống phát thanh được duy trì 4 cấp, từ trung ương, tỉnh, thành phố đến cấp
quận huyện và xã, phường, thị trấn. Cấp quận, huyện, xã phường thị trấn gọi
chung là truyền thanh cơ sở.
Mặc dù hệ thống truyền thanh cơ sở không được xác định là cơ quan
báo chí, nhưng hoạt động thơng tin tun truyền hết sức phong phú, sinh
động, là công cụ trực tiếp của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương trong
cơng tác chỉ đạo, quản lý, điều hành phát triển kinh tế, xã hội. Cả nước hiện
có hơn 600 đài truyền thanh, truyền hình cấp quận, huyện, thành phố trực
thuộc tỉnh. Nhiệm vụ chun mơn là tiếp sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, đài
Phát thanh Truyền hình tỉnh, thành phố và trực tiếp xây dựng chương trình
phát hàng ngày.
Cùng với hệ thống đài truyền thanh huyện cả nước, những năm qua,
mạng lưới đài truyền thanh quận huyện trên địa bàn thành phố Hải Phịng có
nhiều chuyển biến tích cực, nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của cấp
ủy chính quyền địa phương, sự đón nhận của nhân dân. Hoạt động báo chí ở
Hải Phịng khá sơi động, gồm 7 cơ quan báo chí thành phố và 30 văn phịng
đại diện cơ quan báo chí trung ương và các bộ ban ngành. Tuy nhiên, với đặc
trưng phủ sóng rộng khắp, gần gũi, công chúng dễ tiếp cận, hệ thống đài quận
huyện vẫn có vị trí, vai trị hết sức quan trọng.
1
Trên địa bàn thành phố, 4 quận khơng có đài truyền thanh là quận Hồng
Bàng, Lê Chân, Ngô Quyền và Dương Kinh, tại các quận này duy trì hệ thống
truyền thanh phường. Mạng lưới đài truyền thanh quận huyện gồm có các
quận Hải An, Đồ Sơn, Kiến An, các huyện Tiên Lãng, Cát Hải, Vĩnh Bảo,
Thủy Nguyên, An Dương, Bạch Long Vỹ, An Lão.
Những năm qua, hệ thống đài truyền thanh quận huyện từng bước hồn
thiện mơ hình hoạt động, nâng cấp cơ sở vật chất, cải thiện trang thiết bị,
phương tiện làm việc, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, nghiệp vụ cán bộ
viên chức. Cán bộ, viên chức đài các quận huyện khơng ngừng tìm tịi, sáng
tạo, cải tiến phương pháp làm việc, xây dựng chương trình đảm bảo thông tin
khách quan chân thực, sinh động, hấp dẫn. Thông tin đài quận huyện được thể
hiện qua thể loại như tin, phóng sự thu thanh, bài phản ánh, phỏng vấn, tọa
đàm về sự kiện thời sự địa phương, phản ánh tình hình kinh tế xã hội, gương
người tốt việc tốt, mơ hình mới, cách làm hay cần nhân rộng...
Bên cạnh đảm bảo thông tin tuyên truyền chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách pháp luật nhà nước, những năm gần đây, đài quận huyện
chủ động xây dựng, mở mang thêm nhiều chuyên mục, chuyên đề bám sát
nhiệm vụ chính trị, gắn liền với thực tiễn, cổ vũ mạnh mẽ phong trào thi đua.
Điển hình như tun truyền cơng tác xây dựng đảng, xây dựng nếp sống văn
hóa, nơng thơn mới, giữ gìn an ninh trật tự…
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, vẫn cịn khơng ít khó
khăn, tồn tại trong cơng tác thơng tin của hệ thống đài quận huyện thành phố
Hải Phòng. Cơ sở vật chất, trang thiết bị của các đài lạc hậu, máy phát có
cơng suất nhỏ, xuống cấp. Đội ngũ cán bộ, nhân viên làm việc tại các đài
truyền thanh ít được đào tạo bồi dưỡng chuyên môn, chưa được hưởng các
chế độ cần thiết, phương tiện làm việc thô sơ. Hoạt động quản lý, hướng dẫn
chuyên môn đài truyền thanh xã, phường, thị trấn còn yếu, chưa thường
xuyên tập huấn, kiểm tra, việc tiếp sóng đài huyện cịn chưa đều đặn. Nội
2
dung thơng tin đơi khi cịn sơ sài, đơn điệu, chưa có nhiều tuyến tin bài mang
tính chất giám sát, phản biện xã hội. Phương thức chuyển tài qua loa cơng
cộng bộc lộ bất cập trong q trình đơ thị hóa hiện nay,
Gần đây, khơng ít ý kiến cho rằng cần xóa bỏ hệ thống truyền thanh
phường, tiến tới khơng duy trì đài truyền thanh quận huyện, do các cơ quan
báo chí địa phương đã thơng tin, tun truyền khá tồn diện, mật độ phủ kín
đến tận cơ sở. Song, trong thực tế vai trị, vị trí và tầm ảnh hưởng của đài
truyền thanh quận huyện cũng như xã, phường, thị trấn vẫn hết sức cần thiết
và có đóng góp quan trọng trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.
Trên cơ sở nhìn nhận thực tế, khách quan, khoa học, người thực hiện
luận văn quyết định lựa chọn đề tài Chất lượng thông tin của Đài truyền
thanh quận, huyện ở thành phố Hải Phịng. Luận văn đánh giá những mặt
tích cực, tìm hiểu, chỉ rõ những hạn chế, khẳng định vị trí, tầm quan trọng và
đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng thông tin trên hệ thống đài truyền thanh
quận huyện ở thành phố Hải Phịng.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Qua khảo sát, nghiên cứu, tác giả nhận thấy có một số cơng trình
nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài:
Sách Nghề Báo nói, tác giả Nguyễn Đình Lương, Nxb. Văn hóa Thơng
tin, H.,1993, tác giả đề cập một cách tổng qt mơ hình tổ chức hoạt động đài
phát thanh, về đặc trưng, phương pháp, thể loại và những vấn đề thuộc
nguyên lý, quy trình nghề báo phát thanh, phát thanh với thính giả.
Giáo trình Báo phát thanh do các tác giả Khoa Báo chí, Học viện Báo
chí Tun truyền và Đài Tiếng nói Việt Nam biên soạn, Nxb Văn hóa thơng
tin, H., 2002.
Sách chun luận Lý luận báo phát thanh của tác giả Đức Dũng, Nxb
Văn hóa Thơng tin, H.,2003, tác giả đề cập đến những vấn đề đặc trưng loại
hình và các thể loại của báo phát thanh.
3
Giáo trình Phát thanh trực tiếp do GS.TS Vũ Văn Hiền và TS. Đức
Dũng chủ biên, Nxb Lý luận chính trị, H., 2007.
Tài liệu Phát thanh – Truyền thanh nông thơn do Ban địa phương, Đài
Tiếng nói Việt Nam dịch và lưu hành nội bộ, tái bản năm 2005.
Luận án Tiến sỹ Báo chí học, nhan đề Lời nói trong báo phát thanh Việt
Nam hiện nay, tác giả Trương Thị Kiên, H., 2012, Học viện Báo chí Tuyên
truyền. Luận án làm sáng tỏ một số vấn đề lý thuyết liên quan đến lời nói và
lời nói báo phát thanh trong thời điểm hiện nay; Khảo sát, phân tích, đánh giá
cách thức sử dụng lời nói báo phát thanh ở Đài TNVN trên hai phương diện:
phương diện sử dụng ngôn từ và phương diện đọc, nói trên sóng; Nêu lên
những vấn đề đang đặt ra đối với việc sử dụng lời nói trong báo phát thanh
Việt Nam hiện nay và hướng giải quyết những vấn đề đó.
Luận án Tiến sỹ Báo chí học, nhan đề Sự vận động của Tin phát thanh
ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay, tác giả Đinh Thị Thu Hằng, H., 2012,
Học viện Báo chí Tuyên truyền. Luận án xác định cơ sở lý thuyết về sự vận
động, phát triển của tin phát thanh hiện nay trong các điều kiện đời sống thay
đổi và nhu cầu của công chúng cũng thay đổi; dự báo xu hướng vận động,
phát triển trong thời gian tới và đề xuất một số khuyến nghị nhằm tiếp tục
nâng cao chất lượng của tin phát thanh trong xu thế vận động phát triển.
Luận án Tiến sỹ Báo chí học, Nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin
phát thanh của công chúng nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay,
tác giả Phạm Thị Thanh Tịnh, H., 2012, Học viện Báo chí Tuyên truyền. Luận
án hệ thống lý luận về nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của
công chúng nông thôn, làm rõ các khái niệm liên quan; cơ sở lý thuyết,
phương pháp luận và cơ sở thực tiễn của sự cần thiết nghiên cứu nhu cầu và
điều kiện tiếp nhận thông tin của dân cư nông thôn hiện nay.
Bên cạnh đó cũng có một số luận văn nghiên cứu trực tiếp về hệ thống
đài cấp huyện:
4
Luận văn Thạc sỹ báo chí học, đề tài Đổi mới phương thức hoạt động
đài truyền thanh cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội, tác giả Đỗ Thị
Minh Loan, H., 2012, Học viện Báo chí Tuyên truyền. Luận văn làm sáng tỏ
thực trạng hoạt động của hệ thống đài truyền thanh cấp huyện trên địa bàn Hà
Nội, thông qua đó đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng
hoạt động, trọng tâm là chất lượng nội dung, hình thức thể hiện và tìm kiếm
một phương thức truyền tải phù hợp.
Luận văn Thạc sỹ báo chí học, đề tài Hồn thiện mơ hình tổ chức hoạt
động mạng lưới truyền thanh cơ sở các huyện ven biển tỉnh Bến Tre, tác giả
Nguyễn Thanh Lâm, H., 2014, Học viện Báo chí Tun truyền. Luận văn tìm
hiểu vị trí, vai trị, đặc điểm của mơ hình hoạt động mạng lưới truyền thanh cơ
sở các huyện ven biển của tỉnh Bến Tre trong thông tin tuyên truyền, phục vụ
sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước.
Luận văn Thạc sỹ báo chí học, đề tài Hệ thống truyền thanh cơ sở của
tỉnh Bến Tre, thực trạng và giải pháp phát triển, tác giả Huỳnh Thiên Tài, H.,
2014, Học viện Báo chí Tuyên truyền. Luận văn tìm hiểu vị trí, vai trị, đặc
điểm của hoạt động truyền thanh huyện, thành phố và các xã, thị trấn trên địa
bàn tỉnh; khảo sát chất lượng và hiệu quả tác động của các chương trình
truyền thanh trên địa bàn, đồng thời đánh giá những ưu điểm và hạn chế của
hệ thống truyền thanh cơ sở
Luận văn Thạc sỹ báo chí học, đề tài Góp phần hồn thiện mơ hình
hoạt động đài truyền thanh truyền hình cấp huyện ở tỉnh Lạng Sơn, tác giả
Hoàng Thế Vinh, H., 2015, Học viện Báo chí Tun truyền. Luận văn tìm
hiểu mơ hình hoạt động của đài cấp huyện tỉnh Lạng Sơn, khẳng định vai trị
quan trọng, cơng cụ điều hành thực hiện nhiệm vụ chính trị, diễn đàn của
nhân dân.
Ngồi ra trong nhiều cuốn giáo trình, hay các bài báo khoa học, bài phỏng
vấn đều có nhắc đến, dẫn giải về hoạt động đài truyền thanh cơ sở nói chung.
5
Tóm lại, có nhiều cơng trình nghiên cứu khoa học liên quan đến lĩnh vực
báo phát thanh và mạng lưới truyền thanh địa phương. Nhất là một số luận văn
về đề tài liên quan trực tiếp đến hệ thống đài truyền thanh huyện, tuy nhiên,
chưa có một nghiên cứu nào đề cập một cách tồn diện, khách quan về cơng tác
thông tin tuyên truyền của đài phát thanh quận, huyện thành phố Hải Phịng.
Do đó, đề tài: Chất lượng thơng tin của Đài Truyền thanh quận,
huyện ở thành phố Hải Phòng là đề tài nghiên cứu khoa học đầu tiên về nội
dung này, khơng trùng lặp với cơng trình đã cơng bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng thông tin của đài
truyền thanh quận huyện ở thành phố Hải Phòng, luận văn chỉ ra thành cơng,
hạn chế, ngun nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng thông tin của các đài quận huyện thành phố Hải Phòng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, tác giả luận văn phải thực hiện
những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận liên quan đến báo phát thanh nói
chung, truyền thanh quận huyện nói riêng.
- Khảo sát thực trạng hoạt động trên phương diện nội dung và hình thức
thơng tin của các đài quận huyện thành phố Hải Phịng để chỉ rõ những thành
cơng, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng thông
tin tuyên truyền của đài truyền thanh cấp quận huyện thành phố Hải Phòng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống của các đài truyền thanh
quận, huyện ở thành phố Hải Phòng.
6
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu công tác thông tin của các đài quận huyện trên địa bàn thành
phố Hải Phòng, cụ thể là Đài quận Hải An, Đài huyện Tiên Lãng và Cát Hải.
Lý do chọn:
Đài Truyền thanh quận Hải An hoạt động trong khu vực nội thành, với
tốc độ đơ thị hóa nhanh chóng như hiện nay, hoạt động thơng tin của Đài quận
gặp nhiều khó khăn, thách thức. Cần không ngừng đổi mới nội dung, phương
thức thông tin, đáp ứng tình hình thực tiễn và nhu cầu thông tin của nhân dân.
Nghiên cứu đài truyền thanh Hải An sẽ cho cái nhìn tổng thể về hoạt động của
các đài quận khác trên địa bàn.
Tiên Lãng là huyện ngoại thành, điều kiện kinh tế thuần nông, đời sống
nhân dân chưa cao, do đó, hệ thống thơng tin của đài huyện khá hữu ích. Đặc
biệt, chương trình đài huyện chú trọng bám sát nhiệm vụ chính trị địa phương
như công tác xây dựng đảng, xây dựng đời sống văn hóa, nơng thơn mới.
Nghiên cứu đài Truyền thanh huyện Tiên Lãng sẽ đưa ra những nhận định về
hoạt động thông tin tuyên truyền của một số đài huyện ngoại thành khác.
Đài Truyền thanh Cát Hải hoạt động trên vị trí địa lý đặc biệt, huyện
đảo có tiềm năng du lịch và nuôi trồng thủy hải sản. Thông tin đài huyện là
khá cần thiết, nhất là thông tin dự báo thời tiết, phổ biến kiến thức khoa học
về thủy hải sản.
Thời gian khảo sát từ năm 6/2015 – 6/2016.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác –
Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; theo quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà
nước ta về báo chí truyền thơng; lý luận báo chí truyền thông và lý luận
chuyên ngành phát thanh ở Việt Nam.
7
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, tác giả lựa chọn một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: sách, báo, luận án, luận văn về báo
chí, báo phát thanh nhằm tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan
đến quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước về hoạt động phát thanh cơ sở.
- Phương pháp khảo sát, thống kê: thời lượng phát sóng, tin bài, máy
móc, phương tiện tác nghiệp để lượng hóa một số thơng tin cần thiết cho q
trình nghiên cứu.
- Phương pháp tổng hợp – phân tích văn bản tác phẩm, chương trình
phát hàng ngày, các chuyên đề, chuyên mục, chương trình truyền thanh trực
tiếp nhằm xem xét, đánh giá hoạt động thông tin của các đài truyền thanh
quận huyện.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Phát 300 phiếu phỏng vấn công
chúng thường xuyên nghe đài, gồm quận Kiến An, huyện Tiên Lãng, Cát Hải
mỗi đơn vị 100 phiếu, đối tượng là cán bộ, công nhân, nông dân, hội viên
người cao tuổi, cựu chiến binh…về tác động, hiệu quả, hạn chế việc thơng tin
trên sóng đài quận huyện, từ đó tác giả đưa ra những kết luận khách quan.
- Phỏng vấn sâu một số lãnh đạo cấp ủy chính quyền huyện, một số xã,
nhà quản lý, phóng viên, biên tập viên tại đài Tiên Lãng, Cát Hải, Kiến An về
thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thông tin tuyên truyền
đài truyền thanh quận huyện.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Là đề tài đầu tiên khảo sát một cách có hệ thống và tồn diện, góp
phần đánh giá khách quan về chất lượng thông tin tuyên truyền của đài cấp
huyện trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn hiện nay.
- Đề xuất những giải pháp có tính khả thi để áp dụng nâng cao chất
lượng nội dung, hình thức thể hiện thông tin của mạng lưới đài truyền thanh
quận huyện trong thời gian tới.
8
7. Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của đề tài
7.1. Về mặt lý luận
Đây là cơng trình đầu tiên ở cấp độ luận văn Thạc sỹ nghiên cứu về
Chất lượng thông tin của đài truyền thanh quận, huyện ở thành phố Hải
Phịng. Luận văn góp phần hệ thống, luận giải các khái niệm liên quan đến đề
tài; đồng thời đặt ra một số vấn đề về lý luận đối với hoạt động thông tin
tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh cơ sở giai đoạn hiện nay; làm sáng tỏ
thực trạng, khẳng định vị trí, vai trị, đặc điểm, thế mạnh của hệ thống truyền
thanh cấp quận huyện.
Luận văn góp phần bổ sung làm phong phú thêm kho tàng lý luận báo
chí về vai trị, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống truyền thanh cơ sở nước ta
hiện nay.
7.2. Về mặt thực tiễn
Thông qua việc nghiên cứu khoa học, khảo sát, đánh giá đúng thực
trạng mơ hình hoạt động, chất lượng thông tin và một số nhiệm vụ khác, chỉ
ra những ưu điểm, những hạn chế và nguyên nhân, đồng thời đưa ra các giải
pháp khoa học mang tính khả thi cao, luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích
đối với lãnh đạo, quản lý, phóng viên, biên tập viên đài cơ sở vận dụng, ứng
dụng nhằm nâng cao chất lượng, hồn thiện mơ hình hoạt động, nhất là cơng
tác thơng tin tun truyền trên sóng đài truyền thanh cấp quận huyện.
Đối với bản thân tác giả, những gì thu nhận được trong quá trình
nghiên cứu sẽ bổ sung thêm kiến thức cho q trình cơng tác thực tiễn được
tốt hơn.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn được kết
cấu thành 3 chương
9
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG
THÔNG TIN CỦA ĐÀI TRUYỀN THANH QUẬN HUYỆN
1.1. Các khái niệm liên quan
1.1.1. Phát thanh
Phát thanh là một loại hình báo chí mà đặc trưng cơ bản của nó là dùng
âm thanh phong phú, sinh động (lời nói, tiếng động, âm nhạc) để truyền tải
thông điệp nhờ sử dụng sóng điện từ và hệ thống truyền thanh tác động vào
thính giác cơng chúng.
Trong Quyết định ban hành quy chế hoạt động thơng tin cơ sở do Thủ
tướng Chính phủ ban hành định nghĩa: phát thanh là hoạt động cung cấp
thơng tin thiết yếu bằng âm thanh (lời nói, tiếng động, âm nhạc) đến nhân dân
ở xã phường, thị trấn, khu dân cư, cơ quan, đơn vị, trường học, bệnh viện
thơng qua hệ thống truyền dẫn, phát sóng phát thanh trên các hạ tầng kỹ thuật
ứng dụng công nghệ khác nhau.
Thông thường phát thanh được chia thành 2 hệ:
AM (Amplitude Modulation) là kỹ thuật điều biên được áp dụng trong
phát thanh sóng dài, sóng trung và sóng ngắn.
FM (Frequency Modulation) là kỹ thuật điều tần được áp dụng trong
phát thanh sóng cực ngắn.
Phần lớn các đài phát thanh AM có cơng suất máy phát lớn và tầm hoạt
động xa, song chất lượng loại phát thanh này thường bị ảnh hưởng bởi nhiễu
tĩnh. Đài FM phát sóng thẳng, hầu như khơng bị ảnh hưởng bởi nhiễu nên
chất lượng tín hiệu rất tốt. Tuy nhiên, đài FM có phạm vi phủ sóng nhỏ, nó
chỉ thích hợp với các trung tâm đơ thị lớn, các khu vực đông dân.
10
1.1.2. Truyền thanh
Truyền thanh là phương thức truyền tải thông tin tiếng động, âm thanh
qua dây dẫn tín hiệu từ máy phát tổng đài đến các loa. Hệ thống truyền thanh
được vận hành bởi tập hợp các thiết bị đầu cuối từ thu âm, thu tín hiệu đầu
vào sóng radio, thiết bị khuếch đại tín hiệu âm thanh, hệ thống dây dẫn và
các loa.
Trong Quyết định ban hành quy chế hoạt động thơng tin cơ sở do Thủ
tướng Chính phủ ban hành định nghĩa: truyền thanh là việc các đài truyền
thanh cấp huyện, đài truyền thanh cấp xã tiếp phát lại các chương trình phát
thanh phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin, tuyên truyền thiết yếu của quốc
gia và địa phương do các cơ quan được cấp phép hoạt động báo nói sản xuất
và phát sóng theo quy định của Luật Báo chí.
Hiện nay, ở nước ta cịn tồn tại 2 loại hình truyền thanh, gồm truyền
thanh vơ tuyến - khơng dây và truyền thanh hữu tuyến - có dây.
Hệ thống truyền thanh có dây đã được xây dựng và tồn tại ở Việt Nam
trên 30 năm qua, thường sử dụng tăng âm (Ampli) và hệ thống dây dẫn đến
các cụm loa phóng thanh. Hệ thống này có ưu điểm là lắp đặt, vận hành, sử
dụng đơn giản, độ bền vượt trội, với giá trị đầu tư ban đầu thấp hơn nhiều so
với hệ thống không dây. Người quản lý khai thác khơng địi hỏi chun mơn,
nghiệp vụ q cao và chi phí cho việc sửa chữa, duy tu, bảo dưỡng tương đối
thấp.
Hạn chế của truyền thanh có dây là công nghệ thiết bị lạc hậu, chất
lượng âm thanh kém và khơng đồng đều trên tồn tuyến. Khi triển khai hệ
thống này ở vùng sâu, vùng xa có nhiều đồi núi hoặc sơng suối thì việc trồng
cột trụ và kéo dây sẽ rất gian nan và tốn kém. Các đường dây dẫn chạy dài
theo hình xương cá thường bị vướng vào hệ thống các đường dây khác và hay
bị chạm chập đối với hệ thống đường dây trần.
11
Truyền thanh khơng dây cũng có một số nhược điểm. Đó là địi hỏi
kinh phí đầu tư ban đầu khá lớn; cán bộ quản lý khai thác phải có trình độ
chuyên môn kỹ thuật ở một cấp độ nhất định; việc sửa chữa các thiết bị như
máy phát, hộp thu rất tốn kém kinh phí. Hệ thống này đặc biệt nhạy cảm với
sét. Chỉ cần nhiều sét cũng có thể gây hỏng hóc một lúc hàng chục cụm thu và
máy phát trung tâm. Mặt khác, khi xây dựng và khai thác nhất định phải có
giấy phép và hàng năm phải đóng phí sử dụng tần số và thiết bị vơ tuyến điện
cho cơ quản quản lý.
1.1.3. Đài truyền thanh
Hiện nay, đài cấp quận, huyện, thành phố, thị xã và cấp xã, phường, thị
trấn, hệ thống đài gọi chung là Đài truyền thanh.
Thuật ngữ “truyền thanh cấp huyện” là một thuật ngữ đã được sử dụng
phổ biến trong lý luận chuyên ngành phát thanh ở nước ta. Theo các tác giả
của cuốn Báo phát thanh, Lý luận Báo phát thanh, Những vấn đề của báo chí
hiện đại thì đây là một thuật ngữ được sử dụng để chỉ một cấp trong hệ thống
phát thanh - truyền thanh bốn cấp: cấp trung ương; cấp tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương; cấp huyện, thị, thành phố trực thuộc tỉnh và cấp xã,
phường, thị trấn.
Là một cấp trong hệ thống phát thanh - truyền thanh nên hoạt động của
đài truyền thanh cấp huyện hoàn toàn chịu sự chi phối, quy định và thể hiện
những đặc trưng cơ bản của "báo nói". Theo quy định, hệ thống đài truyền
thanh cấp huyện được phép sản xuất chương trình phát thanh bằng tiếng Việt
và tiếng các dân tộc để phát sóng trên hệ thống truyền dẫn, phát sóng phát
thanh của mình.
Đài truyền thanh được hiểu như đài chuyển tiếp tín hiệu truyền thanh,
bao gồm tập hợp các thiết bị thu sóng radio, tách sóng và khuếch đại tín hiệu
âm thanh, sau đó tiếp tục truyền tín hiệu âm thanh theo đường dây truyền
thanh để thực hiện việc chuyển tiếp chương trình phát thanh, truyền thanh địa
12
phương. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, hiện
nay hệ thống truyền thanh đang được thay thế chuyển từ hình thức truyền dẫn
tín hiệu bằng dây dẫn kim loại (hữu tuyến) sang sử dụng phát sóng ngắn hệ
FM có chất lượng tín hiệu tốt, ít bị nhiễu tĩnh.
Đài Truyền thanh - Truyền hình hoặc Đài Truyền thanh huyện, thị xã,
thành phố thuộc cấp tỉnh là đơn vị trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, thị
xã, thành phố thuộc cấp tỉnh, thực hiện chức năng là cơ quan tuyên truyền của
Đảng bộ, chính quyền huyện. Đài Truyền thanh cấp huyện chịu sự quản lý
trực tiếp của Ủy ban nhân dân cấp huyện, quản lý nhà nước của Sở Thông tin
và Truyền thông, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật của Đài Phát
thanh và Truyền hình cấp tỉnh.
1.1.4. Thơng tin
Trong cuộc sống, con người cần đến thông tin, nhằm thoả mãn nhu cầu
được hiểu, biết về một sự kiện, vấn đề nào đó.
Theo từ điển tiếng Việt, thông tin là truyền tin cho nhau để biết, điều
được truyền đi cho biết (35, tr. 1220).
Hoặc thông tin là sự truyền đạt, sự phản ánh tri thức dưới các hình thức
khác nhau, cho biết về thế giới xung quanh và q trình xảy ra nó.
Khái niệm thông tin được sử dụng hàng ngày. Mỗi người đọc báo, nghe
đài, xem tivi, thăm qua, du lịch… để nắm bắt thông tin mới. Thông tin mang
lại cho con người sự hiểu biết, nhận thức tố hơn về các đối tượng trong đời
sống xã hội, tự nhiên, giúp họ thực hiện hợp lý công việc cần làm nhằm đạt
hiệu quả cao nhất.
Theo bách khoa tồn thư mở wikipedia, thơng tin là sự phản ánh sự vật,
sự việc, hiện tượng của thế giới khách quan và các hoạt động của con người
trong đời sống xã hội. Điều cơ bản là con người thông qua việc cảm nhận
thông tin là tăng hiểu biết cho mình và tiến hành những hoạt động có ích cho
cộng đồng.
13
Trong báo chí, thơng tin là yếu tố thứ nhất tạo nên sức mạnh, uy tín của
nhà báo, cơ quan thơng tấn báo chí. Báo chí khơng sử dụng các phương tiện
nào khác để thực hiện vai trò xã hội của mình, ngồi thơng tin. Do đó, có thể
khái qt rằng, thông tin là khối lượng tri thức, tư tưởng do nhà báo tái tạo và
sáng tạo từ hiện thực cuộc sống. Tất cả những vấn đề, sự kiện, hiện tượng
trong tự nhiên và xã hội được báo chí phản ánh nhằm phục vụ nhu cầu tìm
hiểu, khám phá của con người để tuyên truyền, phổ biến qua các phương tiện
kỹ thuật, các loại hình chuyển tải nhằm tác động đến những hành vi của công
chúng xã hội, định hướng dư luận xã hội, thực hiện chức năng giám sát, quản
lý để góp phần hồn thiện, phát triển xã hội.
1.1.5. Chương trình phát thanh
Đài truyền thanh cấp huyện có hai nội dung hoạt động chính là phát
thanh và truyền thanh.
Truyền thanh là tiếp phát lại các chương trình phát thanh phục vụ
nhiệm vụ chính trị, thơng tin, tun truyền thiết yếu của quốc gia và địa
phương do các cơ quan được cấp phép hoạt động báo nói sản xuất và phát
sóng theo quy định của Luật Báo chí.
Phát thanh là sản xuất các chương trình phát thanh bằng tiếng Việt và
tiếng các dân tộc.
Thông tư liên tịch giữa Bộ Thông tin truyền thông và Bộ Nội vụ hướng
dẫn thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Đài Phát
thanh và Truyền hình thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Đài Truyền thanh Truyền hình thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện nêu rõ, Đài Truyền thanh Truyền hình thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện sản xuất và phát sóng các
chương trình truyền thanh bằng tiếng Việt và bằng các tiếng dân tộc trên hệ
thống loa truyền thanh, thiết bị phát sóng phát thanh được trang bị nhằm
tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tập
trung vào sự chỉ đạo, điều hành của chính quyền địa phương, các hoạt động
14
tại cơ sở, phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật, kinh tế, văn hóa, xã hội, cơng
tác an ninh trật tự, gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến tới nhân dân
theo quy định của pháp luật…
Theo tác giả Đức Dũng thể hiện trong giáo trình “Báo phát thanh”, thì
chương trình phát thanh là sự liên kết, sắp xếp hợp lý tin bài, bảng tư liệu âm
nhạc trong một thời lượng nhất định được mở đầu bằng nhạc hiệu, kết thúc với
lời chào tạm biệt nhằm đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo phát
đồng thời mang lại hiệu quả cao nhất đối với người nghe. (14, trang 216).
Theo TS Đinh Thị Thu Hằng, Học viện Báo chí và Tun truyền,
chương trình phát thanh là một chỉnh thể, trong đó các thành phần tin bài, âm
nhạc, lời dẫn được bố trí, sắp xếp một cách hợp lý trong một khoảng thời gian
xác định nhằm đáp ứng nhiệm vụ của cơ quan truyền thông và mang lại hiệu
quả cao nhất với người nghe.
Chương trình phát thanh đề cập đến các vấn đề của đời sống xã hội
không phải một cách ngẫu nhiên như vẫn diễn ra mà nó thường chuyển tải
thơng tin từ ngày này qua ngày khác, nhằm phục vụ một đối tượng công
chúng xác định.
Đồng thời cũng như các sản phẩm khác, phát thanh có người sản xuất
và có người tiêu dùng. Người sản xuất tác động đến người tiêu dùng và ngược
lại, người tiêu dùng cũng tác động, chi phối đến người sản xuất thông qua
quan hệ nhà báo - tác phẩm - công chúng. Chương trình phát thanh tạo thành
chu kỳ khép kín những mắt xích trong chuỗi xích giao tiếp.
Chương trình phát thanh cũng là hình thức vật chất hóa sự tồn tại của
phát thanh trong đời sống xã hội để truyền tải thơng tin đến cơng chúng. Đó là
một sản phẩm hồn chỉnh về nội dung và hình thức, là kết quả của một quá
trình sáng tạo, là tập hợp nhiều cấp độ lao động khác nhau, tập hợp một hay
nhiều tác phẩm khác nhau, tồn tại ở nhiều mức độ khác nhau.
15
1.2. Chất lượng và tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin
1.2.1. Chất lượng
Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt phổ thông của Viện Ngôn ngữ
học, chất lượng là "cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật,
sự việc". Ví dụ: Nâng cao chất lượng giảng dạy. Đánh giá chất lượng sản phẩm.
Theo Từ điển Tiếng Việt, chất lượng là "giá trị về mặt lợi ích, khác với
số lượng. Bài giảng có chất lượng". Nâng cao chất lượng có nghĩa là làm cho
giá trị của một sự vật, sự việc, một con người được nâng lên, đưa giá trị phẩm
chất đó lên mức cao hơn.
Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO thì định nghĩa: Chất lượng là
khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình
để đáp ứng yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan.
Qua đó, có thể tổng hợp lại rằng chất lượng là cái tạo nên phẩm chất,
giá trị của một con người, một sự vật, sự việc, hệ thống, q trình. Đánh giá
chất lượng phải thơng qua các quy định, tiêu chuẩn rõ ràng và qua những cảm
nhận của người sử dụng.
1.2.2. Chất lượng thông tin trong chương trình phát thanh
Chương trình phát thanh là sản phẩm của báo chí truyền thơng, do đó
giá trị của chương trình phát thanh chính là sự tác động trực tiếp về nội dung
tư tưởng, tạo ra sự lan tỏa thông tin, mang lại hiệu quả cao trong xã hội. Một
tác phẩm báo chí hay bao giờ cũng là một tác phẩm báo chí có nội dung tư
tưởng tốt và hình thức thể hiện phù hợp. Công chúng tiếp nhận tác phẩm báo
chí có nhu cầu thoả mãn sự hưởng thụ cái hay về nội dung tư tưởng và hình
thức thể hiện.
Quy trình và cơ chế tác động của truyền thơng diễn ra theo trật tự: xuất
phát từ thực tiễn các sự kiện, sự việc trong cuộc sống, tác động vào chủ thể
truyền thông như nhà báo, nhà khoa học, nhà quảng cáo; bằng tri thức và kỹ
năng của mình, chủ thể truyền thông nhận biết thực tiễn sự việc, vấn đề, sự
16
kiện, xác định đối tượng và mục tiêu truyền thông để thiết kế, xây dựng thơng
điệp. Một thơng điệp hồn chỉnh chính là một sản phẩm truyền thơng. Căn cứ
vào tính chất, nội dung, mục tiêu, đối tượng của truyền thông mà chủ thể
truyền thông lựa chọn phương tiện truyền thơng phù hợp để chuyển tải sản
phẩm của mình đến công chúng. Các sản phẩm này khi đến với công chúng sẽ
tác động vào ý thức của công chúng, làm thay đổi thái độ, hành vi của công
chúng. Sự thay đổi ấy dẫn đến sự chuyển biến xã hội về mặt ý thức cũng như
việc quản lý, điều hành và hoạt động xã hội phù hợp với ý đồ, mục tiêu mà
chủ thể truyền thông mong muốn. Chuyển biến này là hiệu quả của truyền
thơng. Chính vì thế, hiệu quả tác động của chương trình phát thanh với cơng
chúng được cho là thước đo quan trọng nhất để đánh giá chất lượng thơng tin
của tác phẩm báo chí và cơ quan báo chí.
Chất lượng thơng tin của chương trình phát thanh đài quận huyện được
quyết định bởi các yếu tố cấu thành nội dung và hình thức chương trình phát
thanh, kênh chuyển tải thông tin đến công chúng. Các yếu tố đó là đối tượng
thính giả - nhu cầu, khả năng tiếp nhận; chủ đề, nội dung thông tin trong từng
tác phẩm; kết cấu chương trình, ngơn ngữ, cách sử dụng tiếng động, âm nhạc,
giọng nói, giọng đọc, hệ thống thể loại với năng lực chuyển tải nội dung
thông tin phù hợp nhất; chất lượng âm thanh, phương tiện kỹ thuật; trình độ,
năng lực đội ngũ nhân sự…
Do đó, chất lượng thông tin của đài quận huyện được đánh giá bằng giá
trị thông tin, chất lượng các tác phẩm, chương trình phát thanh, đáp ứng tốt
nhất và thoả mãn nhu cầu tiếp nhận của thính giả.
1.2.3. Tiêu chí đánh giá chất lượng thơng tin trong chương trình
phát thanh
Những năm qua, hệ thống đài truyền thanh quận huyện có nhiều đổi
mới hoạt động, nâng cao chất lượng thông tin, đáp ứng nhu cầu của cơng
chúng địa phương. Chương trình phát thanh do đài sản xuất là món ăn tinh
17
thần không thể thiếu mỗi ngày đối với nhân dân. Ngồi thơng tin chính trị
kinh tế, đội ngũ phóng viên cũng tích cực khai thác đề tài mới, nóng, điển
hình tiên tiến trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Tiêu chí đánh giá chất lượng
thông tin của đài truyền thanh quận huyện cũng mang những yêu cầu đặc
trưng của các cơ quan báo chí chính thống:
1.2.3.1. Thơng tin chính xác, phong phú đa dạng
Đây là yếu tố bắt buộc đối với mỗi cơ quan thông tin truyền thông. Đối
với đài quận huyện thì thơng tin càng bắt buộc phải chính xác, khách quan,
trung thực. Nếu như nhà đài đưa tin không đúng, lại mang tính chất quảng bá
về một loại thuốc bảo vệ thực vật, bà con nghe và mua về sử dụng sẽ đem lại
hậu quả tai hại, hay giống lúa, cây trồng, vật nuôi phù hợp với từng đồng đất
khác nhau… gây ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất, làm ăn của nhân
dân. Thơng tin chính xác, khách quan mới tạo nên độ tin cậy cho công chúng.
Đồng thời, thông tin của đài truyền thanh đài quận huyện cũng phải phong
phú, đa dạng với đối tượng phản ánh là các sự kiện, vấn đề đã và đang diễn ra
trong đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh trật tự…
Nhu cầu, sở thích và tâm lý tiếp nhận của cơng chúng quy đính tính thơng tin
đa dạng, phong phú của báo chí.
1.2.3.2. Thơng tin nhanh chóng, kịp thời, đều đặn
Đây là u cầu hàng đầu của thơng tin báo chí, là tiêu chí thu hút sự
quan tâm của người nghe. Đối với thơng tin trên đài quận huyện thì thơng tin
nhanh chóng, kịp thời rất quan trọng. Chỉ có nhanh chóng, kịp thời thì cơng
chúng mới có đánh giá, cái nhìn khách quan về sự kiện, sự việc mới diễn ra,
từ đó có nhận thức, hành vi, thái độ ứng xử phù hợp với xã hội. Địa phương
nào cũng có những sự kiện, vấn đề mới phát sinh. Mỗi sự kiện đều có tiềm
năng thơng tin, tiềm năng ấy có được khơi thức hay không tuỳ thuộc vào năng
lực nhận thức và bàn tay, kỹ năng nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội của nhà
báo. Đài truyền thanh cũng cần thông tin nhanh chóng, kịp thời cái mới và cái
18
lạ vì nó đáp ứng nhu cầu nhận thức, giải trí và hấp dẫn cơng chúng. Cùng với
đó, thơng tin ở chương trình phát thanh đài quận huyện mang tính định kỳ rõ
rệt, chương trình được phát vào các thời điểm cố định, các chuyên đề, chuyên
mục, tiểu mục lên sóng theo các thứ trong tuần. Tính định kỳ giúp cơng chúng
nghe đài có cách ứng xử với thơng tin mỗi khi có nhu cầu tham gia hoặc có
xung đột cần giải quyết.
1.2.3.3. Thông tin trung thực, công khai, khách quan
Thông tin phản ánh phải đúng và trúng bản chất vấn đề, sự kiện, hiện
tượng, xuất phát từ quyền lợi của nhân dân, giúp công chúng hiểu được bản
chất của sự việc và vấn đề thông tin. Thông tin sai lệch sẽ làm mất niềm tin
của công chúng, gây hoang mang và ảnh hưởng phong trào chung của địa
phương. Trung thực, khách quan là sức mạnh của báo chí nói chung, của
thơng tin đài quận huyện nói riêng. Cơng khai là khơng giữ kín, mà để cho
mọi người có thể biết. Tính cơng khai là căn ngun tạo nên dư luận xã hội
cũng như khả năng huy động nguồn lực xã hội.
1.2.3.4. Thơng tin có tính định hướng và cổ vũ phong trào thi đua địa
phương
Đài truyền thanh quận huyện trước hết là cơ quan ngơn luận của Đảng
bộ, chính quyền địa phương, do đó, thơng tin nó cung cấp, chuyển tải đến
nhân dân phải có tính định hướng dư luận xã hội. Khi thơng tin, phân tích,
bình luận về một vấn đề phải xuất phát từ lợi ích của đảng, của nhân dân. Đài
quận huyện có thể, phân tích bình luận về nhiều vấn đề xuất phát từ cuộc sống
để nhân dân đưa ra những nhận xét cho mình: đâu là tốt, đâu là xấu, việc gì
nên hay khơng nên…
1.2.3.5. Thơng tin hữu ích, thiết thực, liên quan đến nhiều người, dễ
hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo
Đây là yêu cầu không thể thiếu đối với thông tin của báo chí nói chung,
thơng tin của các đài quận huyện nói riêng. Cơng chúng có quyền lựa chọn
19
thơng tin thiết thực, hữu ích cho mình, nếu khơng họ sẽ khơng nghe đài hoặc
tìm đến phương tiện thơng tin đại chúng khác. Để thơng tin từ chương trình
phát thanh đài quận huyện đảm bảo sự gần gũi, thiết thực, thì người sản xuất
phải khai thác, tìm tịi, đăng tải nội dung thơng tin hữu ích, liên quan đến
nhiều người. Đó là thơng tin thời sự về các sự kiện, sự việc mới diễn ra, hay
những bài học, kinh nghiệm hay được chia sẻ từ thực tế cuộc sống… Trên
sóng phát thanh, bài viết khơng nên trình bày vấn đề một cách phức tạp, dùng
số lẻ, số liệt kê làm cơng chúng khó nhớ và thấy rối rắm. Trong bản tin, nên
dùng câu đơn, câu thông báo và dùng ngơn ngữ sự kiện, để sự kiện nói lên ý
đồ thông tin của người viết. Dễ hiểu là mang đến cho cơng chúng cá tác phẩm
mà trình độ chung của nhân dân có thể nắm bắt dễ dàng và hiểu ngay. Thơng
tin đài quận huyện bảo đảm người có trình độ cao tiếp nhận khơng thấy nhàm
chán, nhưng người trình độ thấp cũng khơng thấy khó hiểu.
1.2.3.6. Thơng tin tương tác với thính giả và có tính chất phản biện xã hội
Tương tác là tác động qua lại với nhau. Quan hệ hai chiều giữa các sự
vật hiện tượng. Khi thông tin đài chuyển tới công chúng sẽ nhận được những
ý kiến, hồi đáp, yêu cầu. Nhà đài căn cứ vào đó để trả lời hoặc đáp ứng nhu
cầu thiết thực của công chúng. Thực tế, ở các đài địa phương, có một bộ phận
khơng nhỏ nhân dân lựa chọn đài là diễn đàn, nơi gửi gắm tâm tư, nguyện
vọng hoặc phản ánh những sự việc cụ thể nào đó. Hơn nữa, những vấn đề
nhân dân nêu đều phản ánh những bức xúc diễn ra trong đời sống xã hội.
Đánh giá hiệu quả tương tác và có tính chất phản biện xã hội trong thơng tin
đài quận huyện chính là tạo ra sự đồng thuận xã hội, bảo đảm sự phát triển
bền vững, phòng tránh nguy cơ bất ổn trong cộng đồng. Do đó, địi hỏi người
làm cơng tác thơng tin tun truyền khơng những phải có kiến thức, trình độ
am hiểu vấn đề, có phong cách chuyên nghiệp, có nguyên tắc, kỹ năng tác
nghiệp giỏi.
20
1.2.3.7. Thơng tin mang tính đa phương tiện
Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, những năm gần đây,
nhiều đài truyền thanh quận huyện đầu tư, xây dựng trang thông tin điện tử
tổng hợp. Trên trang, các đài cập nhật tin tức, chương trình phát thanh do
mình sản xuất đưa lên. Thậm chí cịn đưa tin, chương trình thời sự dạng video
clip. Cách làm này giúp công chúng tiếp nhận thông tin từ đài quận huyện dễ
dàng, chủ động hơn, có thể xem, nghe lại vào bất cứ lúc nào. Sự đa dạng hố
loại hình qua tin chữ, phát thanh, video clip tạo ra cách thức thể hiện phong
phú, sinh động, giúp nâng cao chất lượng thông tin đài quận huyện.
1.3. Yếu tố tạo nên chất lượng thông tin của đài truyền thanh quận
huyện
1.3.1. Lịch sử đài truyền thanh quận huyện ở nước ta
Đài Tiếng nói Việt Nam được ra đời từ ngày 7/9/1945. Tuy nhiên, phải
đến năm 1956, với sự giúp đỡ của Liên Xô thời kỳ đó, chúng ta mới bắt đầu
xây dựng đựơc các đài phát thanh tỉnh. Đến những năm 60 của thế kỷ XX, hệ
thống đài truyền thanh ở nước ta đã từng bước được thành lập. Hệ thống đài
truyền thanh cấp huyện đã nhanh chóng được tăng cường về số lượng và nâng
cao dần chất lượng. Nhiệm vụ chính của các đài huyện trong giai đoạn này là
tiếp phát sóng đài Trung ương, đài tỉnh và tự xây dựng các bản tin, các
chương trình phát thanh để phản ánh về cơng việc của các hợp tác xã; cổ vũ
những phong trào thi đua lao động sản xuất, các điển hình; phê phán thói xa
hoa, lãng phí, quan liêu trong quản lý tài sản tập thể… Do số lượng đầu báo ở
ta khi đó cịn rất ít nên vị trí, vai trị của các đài huyện là rất lớn.
Từ năm 1976, Nhà nước ta đã quyết định đưa các đài truyền thanh xã,
phường vào bộ máy tổ chức của hệ thống truyền thanh 4 cấp gồm: cấp Trung
ương; cấp tỉnh, thành phố trực thuộc; cấp huyện, thị xã; cấp xã, phường, thị
21