Tải bản đầy đủ (.docx) (26 trang)

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH CỦA NGÀNH VẬN TẢI BIỂN VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (201.37 KB, 26 trang )

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH CỦA NGÀNH VẬN TẢI BIỂN VIỆT
NAM.
I. Các Lý Luận Về Cạnh Tranh Và Năng Lực Cạnh Tranh.
1. Các lý luận về cạnh tranh.
1.1. Lí luận cạnh tranh cổ điển.
Chủ nghĩa tự do kinh tế cổ điển ra đời ở Anh vào thế kỷ XVIII mà nhân vật
đại biểu kiệt xuất của nó là Adam Smith và David Ricardo họ đều là người Anh.
Những cống hiến về học thuật của họ có ảnh hưởng to lớn trong lịch sử phát triển
của lý luận kinh tế nói chung.
Trong tác phẩm “Nghiên cứu tính chất và nguồn gốc của cải của quốc dân”
hay còn gọi là “Quốc phú luận” "trích dẫn sách bàn về năng lực cạnh tranh toàn
cầu" xuất bản năm 1776 với tư tưởng tự do kinh tế trong đó có chủ trương tự do
cạnh tranh. Ông cho rằng cạnh tranh có thể phối hợp kinh tế một cách nhịp nhàng,
có lợi cho xã hội. Vì sự cạnh tranh trong quá trình của cải quốc dân tăng lên chủ
yếu diễn ra thông qua thì trường và giá cả, do đó cạnh tranh có quan hệ chặt chẽ
với cơ chế thị trường. Theo Smith, “nếu tự do cạnh tranh, các cá nhân chèn ép
nhau, thì cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một
cách chính xác”, “cạnh tranh và thi đua thường tạo ra sự cố gắng lớn nhất. Ngược
lại, chỉ có mục đích lớn lao nhưng lại không có động cơ thúc đẩy thực hiện mục
đích ấy thì rất ít có khả năng tạo ra được bất kì sự cố lớn nào”. Từ đó cho thấy,
cạnh tranh có thể khơi dậy sự nỗ lực chủ quan của con người, từ đó thúc đẩy của
cải tăng lên. Theo Ông cạnh tranh có thể điều tiết quan hệ cung cầu ở mức độ cân
bằng của xã hội vì trong cạnh tranh tức là có nhiều người cùng tham gia nên
“chẳng những họ phải thường xuyên theo dõi, chú ý sự biến động ngẫu nhiên của
tình hình cầu, mà còn phải thường xuyên theo dõi, chú ý tình hình cạnh tranh hoặc
sự biến động còn lớn hơn nhiều, thường xuyên hơn nhiều của tình hình cung tuỳ
theo sự biến động của tình hình cầu, rồi dùng mánh lới khôn khéo và năng lực
phán đoán chính xác làm cho số lượng các loại hàng hoá có thể thích ứng với tình
hình thay đổi của cung cầu và của cạnh tranh”. Cạnh tranh còn kích thích nhiệt tình
lao động, kích thích người lao động nắm vững thành thạo kĩ xảo, nâng cao năng lực
...Càng tự do cạnh tranh một cách phổ biến thì công việc ấy càng có lợi cho xã hội.


Smith chỉ ra rằng, cạnh tranh phát huy tác dụng trong hoạt động kinh tế, chính thị
trường là môi trường của nó. Ông coi tự do cạnh tranh là điều kiện để phát huy tính
chủ động và tính tích cực của mỗi thành viên xã hội.
Trong lý luận cạnh tranh của mình ông còn nhấn mạnh đến “lợi thế so
sánh”: Nước nào sản xuất cái gì giỏi nhất, nước nào nên phát triển công nghiệp,
nước nào nên phát triển nông nghiệp, điều không chỉ do điều kiện lịch sử mà còn
do điều kiện tự nhiên của mỗi nước, như môi trường địa lý, thổ nhưỡng, khí hậu...
quyết định do đó khi xem xét năng lực cạnh tranh của một quốc gia, một ngành thì
yếu tố về lợi thế so sánh cũng hết sức quan trọng.
1.2. Lí luận cạnh tranh hiện đại.
♦ Lí luận cạnh tranh hoàn hảo.
Kinh tế học cổ điển mới là lý luận kinh tế có ảnh hưởmg rộng rãi và giữ địa
vị quan trọng trong kinh tế học phương tây cuối thế kỷ XIX, còn được gọi là lý
luận của trường phái cổ điển mới mà đại diện tiêu biểu là A.Marshall (1842- 1924)
và L.Walras (1834- 1910). Họ cũng ra sức đề cao nguyên tắc tự do cạnh tranh, ở
nửa cuối thế kỷ XIX họ đã xây lý luận cạnh tranh của họ trên cơ sở tổng kết sự
phát triển lý luận nhằm vạch ra nguyên lý cơ bản về sự vận động của chế độ tư
bản chủ nghĩa để chỉ đạo cạnh tranh, kết quả là họ đã cho ra đời tư tưởng về thể
chế kinh tế cạnh tranh hoàn hảo lấy thị trường tự do hoặc chế độ trao đổi làm cốt
lõi, lý luận này chú ý đầy đủ tới vấn đề hiệu quả phân phối hoặc sử dụng một cách
tối ưu tài nguyên kinh tế.
Trong mọi thể chế kinh tế, dẫu tính chất xã hội là như thế nào chăng nữa,
một trong những vấn đề quan trọng là phân phối một cách có hiệu quả tài nguyên
hiện có để các doanh nghiệp muốn có hiệu quả và lợi nhuận tối đa thì phải phải bố
chí sản xuất theo nguyên tắc giá thành cận biên gắn với lợi ích cận biên.
Nó còn là mô hình hướng về người tiêu dùng. Vì nó thúc đẩy cá doanh
nghiệp điều chỉnh quy mô sản xuất tới điểm thấp nhất của chi phí bình quân, tới
giới hạn sản xuất tối ưu. Điều đó không những làm cho giá cả giảm xuống, mà còn
sử dụng tài nguyên một cách có hiệu quả nhất. Tuy mô hình kinh tế cạnh tranh
hoàn hảo rất có ích về mặt phân tích kinh tế nhưng về mặt phương pháp phân tích

nó vẫn còn một số hạn chế nhất định như không thể giải thích được chủ nghĩa tư
bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền, hoặc không
làm rõ được vấn đề nảy sinh và mở rộng sức chi phối thị trường ...
♦ Lí luận cạnh tranh của trường phái Áo.
Ra đời vào những năm 80 của thế kỷ XIX với đặc trưng là dựa vào phương
pháp phân tích tâm lý chủ quan để giải thích hiện tượng và quá trình kinh tế- xã
hội nên còn gọi là trường phái “lợi ích cận biên” hay “trường phái tâm lý” mà đại
diện tiêu biểu là J.Schumpeter (1883- 1950) "trích dẫn sách bàn về năng lực cạnh
tranh toản cầu". Lí luận này được xem xét trong trạng thái cạnh tranh động lấy
sáng tạo là yếu tố quyết định, sự nhạy cảm đối với cơ may trên thị trường là việc
cực kỳ quan trọng vì thế mà trường phái áo hết sức nhấn mạnh vai trò của nhà
doanh nghiệp Schumpeter chủ trương dành cho nhà doanh nghiệp một chân trời
rộng mở để họ phát huy vai trò của họ, không nên “lãng phí sức sống sáng tạo (của
họ) vào việc vật lộn với luật lệ và sự quản lý ngu xuẩn”. Điều đó có nghĩa là phải để
cho các nhà các nhà doanh nghiệp có cơ hội thi thố tài năng trong một môi trường
cạnh tranh. Động lực đằng sau hoạt động sáng tạo của nhà doanh nghiệp là động cơ
lợi nhuận có tác dụng quyết định đối với sự nhạy cảm và sáng tạo trong hoạt động
thương mại. Trong lý luận của trường phái này còn nhấn mạnh đến vai trò của tri
thức, “tri thức là nhân tố then chốt”, họ còn có lòng tin sâu sắc vào nền kinh tế thị
trường tự do, họ cho rằng, hầu như không một nhà doanh nghiệp nào đang thống
lĩnh một thị trường nào đó có thể duy trì mãi được vị trí ấy “không ngừng huỷ bỏ
kết cấu cũ, không ngừng sáng tạo kết cấu mới”, đó là quá trình huỷ diệt có tính
chất sáng tạo”. Việc đầu tư vào một loại sản phẩm, một thị trường, hay một đoạn
thị trường nhất định ...thì doanh nghiệp phải có tầm nhìn chiến lược, phải tích luỹ
được tiềm năng thực sự, phải lấy khách hàng làm trung tâm... Trong sản xuất kinh
doanh phải thường xuyên đẩy mạnh việc cải tiến sản phẩm để làm thế nào vừa
giảm chi phí sản xuất tức là có thể hạ được giá thành sản phẩm hoặc tăng lợi nhuận
cho công ty vừa nâng cao năng lực cạnh tranh đối với các đối thủ trong ngành.
Khi đề cập đến các phương pháp cạnh tranh thì theo Schumpeter, có nhiều
phương pháp cạnh tranh, ngoài cạnh tranh giá cả, cạnh tranh chất lượng và cạnh

tranh tiêu thụ như thường nói, còn có cạnh tranh sản phẩm mới, cạnh tranh kỹ thuật
mới, cạnh tranh nguồn cung mới, cạnh tranh loại hình tổ chức mới. Sản phẩm mới
cũng phải cạnh tranh với sản phẩm cũ, các loại hình cạnh tranh này không đánh
vào lợi nhuận và sản lượng của doanh nghiệp hiện có mà đánh vào nền tảng của
những doanh nghiệp ấy, nó có nguy hại tới sự sống còn của họ.
♦ Lí luận lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter.
Michael Porter là một trong những nhân vật có uy tín về sách lược cạnh tranh
và sức cạnh tranh quốc tế trên thế giới ngày nay. Riêng về mảng lý luận cạnh tranh
ông đã có những tác phẩm nổi tiếng mà đã được coi như kinh thánh sống mà một
nhà kinh doanh không thể không đọc như “sách lược cạnh tranh” (1980), “lợi thế
cạnh tranh” (1985), lợi thế cạnh tranh quốc gia” (1990) và “dẫn chứng về sách lược
cạnh tranh” (1992). Lĩnh vực nghiên cứu chủ yếu của Porter tập chung vào hai mặt
là quản lý chiến lược doanh nghiệp và tổ chức ngành. Do vậy trong tác phẩm
“sách lược cạnh tranh” ông chỉ ra ba chiến lược về dẫn đầu vê giá thành, chiến
lược về sự khác biệt, chiến lược tập chung mục tiêu. Trong tác phẩm “lợi thế cạnh
tranh” ông đề ra lý luận về chuỗi giá trị (giá trị liên), cho rằng nguồn gốc then chốt
của lợi thế cạnh tranh là sự khác nhau về chuỗi gía trị. Trong tác phẩm “Lợi thế
cạnh tranh quốc gia”, Porter đã vận dụng lý luận về lợi thế cạnh tranh trong nước
của ông vào lĩnh vực cạnh tranh quốc tế và đề ra “ Lí luận hình viên kim
cương”(1), ông cho rằng của cải nhiều hay ít là do năng suất quyết định. Năng suất
sản xuất phụ thuộc vào môi trường cạnh tranh của mỗi nước, môi trường cạnh
tranh sinh ra trong một khuôn khổ nào đó khuôn khổ ấy về kết cấu mà nói giống
như một viên kim cương có bốn cạnh. Theo lý luận này, thông tin, nhân tố kích
thích, sức ép cạnh tranh và doanh nghiệp chủ chốt, thể chế, công trình hạ tầng,
năng lực quan sát, kỹ năng của con người đều có tác dụng trụ cột trong việc nâng
cao năng suất sản xuất của một quốc gia và một lĩnh vực nào đó. Việc nâng cao
năng suất một cách bền vững đòi hỏi bản thân nền kinh tế của mỗi nước phải được
nâng cấp không ngừng. Cũng có nghĩa là, các doanh nghiệp của mỗi nước phải
kiên trì nâng cao năng suất sản xuất ngành bằng cách nâng cao chất lượng của sản
phẩm, làm nổi bật nét đặc sắc của sản phẩm, cải tiến kĩ thuật sản xuất, nâng cao

hiệu quả sản xuất.
Porter cũng đã tổng hợp phương pháp nghiên cứu trong quá khứ, xây dựng
mô hình lý luận gồm bốn nhân tố giữ vai trò mấu chốt đối với sự thành công trong
cạnh tranh của một ngành nhất định, một nước nhất định. Theo mô hình này, việc
kết hợp yếu tố sản xuất, nhu cầu trong nước, cạnh tranh trong nước với doanh
nghiệp chủ chốt là nhân tố then chốt quyết định sự thành công của một nước trong
thương mại quốc tế, ông cũng chú ý tới ảnh hưởng của sáng tạo tri thức, sáng tạo
kỹ thuật và kinh tế quy mô đối với thương mại, chất lượng của yếu tố sản xuất và
thang bậc của thị trường nhu cầu hàng hoá, ông phân tích sự khác biệt giữa lợi thế
cạnh tranh và lợi thế so sánh ông cho rằng một nước có ngành lợi thế so sánh thì
thường dễ hình thành lợi thế cạnh tranh mạnh tức là lợi thế so sánh có thể trở thành
nhân tố nội tại của lợi thế cạnh tranh nó thúc đẩy năng lực cạnh tranh quốc tế ngày
càng tăng lên do đó nếu một ngành nào đó khong có lợi thế so sánh thì thường khó
hình thành và bảo vệ lợi thế cạnh tranh quốc tế. Lợi thế cạnh tranh thường diễn ra
giữa các ngành giống nhau của các nước hoặc trong cùng một quốc gia về năng
suất, nó cùng với lợi thế so sánh quyết định vị thế quốc tế và xu thế thay đổi của
các ngành tại các nước nên để đạt được sự phồn thịnh về kinh tế thì phải tạo ra môi
trường doanh nghiệp và thể chế đồng bộ để có thể sử dụng một cách có hiệu quả
các yếu tố sản xuất.
Ông đề cập đến rất nhiều vấn đề như mô hình năm lực lượng cạnh tranh trong
ngành bao gồm cạnh tranh giữa các lực lượng cạnh tranh trong ngành, sức ép từ
phía nhà cung cấp, sức ép từ phía khách hàng, sự gia nhập của các đối thủ tiềm ẩn,
cạnh tranh của các sản phẩm thay thế, việc phân tích mô hình này có ý nghĩa rất
quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp, có đưa ra những cơ hội, thách
thức, điểm mạnh, điểm yếu thông qua ma trận SWOT đồng thời đề ra giải pháp về
chiến lược cho doanh nghiệp. Ông cũng cho rằng, sức mạnh của doanh nghiệp
trong mỗi nước được quyết định bởi mức độ dư thừa các yếu tố sản xuất tiên tiến
trong nước, tính chất nhu cầu trong nước, sự hiện diện của các ngành có liên quan
ở bản địa và mức độ cạnh tranh của các ngành ấy.
Trong tình hình phát triển kinh tế và xu thế quốc tế hoá thì cạnh tranh ở bất kỳ

ngành nào, ở bất kỳ nước nào cũng có hình thức và đặc điểm riêng, có các giai
đoạn phát triển với những đặc trưng khác nhau. Có bốn giai đoạn như sau: Giai
đoạn chạy đua các yếu tố sản xuất, giai đoạn chạy đua đầu tư, giai đoạn chạy đua
sáng tạo và giai đoạn chạy đua của cải. Trong bốn giai đoạn này, giai đoạn đầu là
thời kì tăng trưởng sức cạnh tranh quốc tế của ngành, giai đoạn bốn là thời kì sức
cạnh tranh quốc tế giảm.
2. Năng lực cạnh tranh và các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh.
2.1. Cách tiếp cận về năng lực cạnh tranh.
Một doanh nghiệp kinh doanh, một ngành hay một quốc gia được gọi là có
năng lực cạnh tranh khi nó có thể đứng vững cùng các nhà doanh nghiệp khác hay
các quốc gia khác trong những điều kiện tương đồng khách quan như môi trường
chính trị, pháp luật, hay thể chế kinh tế. Thông thường khi xem xét năng lực cạnh
tranh thì người ta thường xét ở góc độ giá của sản phẩm cũng như tiềm năng sản
xuất của hàng hoá hay một dịch vụ ở một mức cao ngang bằng hoặc thấp hơn mức
của thị trường. Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức hợp tác và
phát triển kinh tế (OECD) đã định nghĩa về cạnh tranh như sau: “cạnh tranh là khả
năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng lãnh thổ trong việc tạo ra việc
làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Theo Uỷ ban cạnh
tranh công nghiệp của tổng thống Mỹ “cạnh tranh đối với một quốc gia là mức độ
mà ở đó, dưới điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng
hoá và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường quốc tế, đồng thời duy trì
và mở rộng được thu nhập thực tế của nhân dân nước đó”. Trong một báo cáo về
cạnh tranh toàn cầu thì “cạnh tranh đối với một quốc gia được định nghĩa là khả
năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống,
nghĩa là đạt được tỉ lệ tăng trưởng kinh tế cao, được xác định bằng thay đổi tổng
sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầu người theo thời gian”.(1)
Khi nghiên cứu cạnh tranh, các nhà nghiên cứu đã sử dụng một số thuật
như sức cạnh tranh, khả năng cạnh tranh và năng lực cạnh tranh. Trong thực tế cá
thuật ngữ này đều có quan hệ với khái niệm về cạnh tranh và được sử dụng như
những khái niệm tương đồng.

Xét trên bình diện quốc gia (sức cạnh tranh cấp quốc gia): Được hiểu là ở
đó diễn ra sự cạnh tranh giữa các quốc gia với nhau để làm tăng khả năng một
nước thực hiện được các mục tiêu tăng trưởng kinh tế, thu nhập và việc làm trong
điều kiện tham gia vào các quan hệ kinh tế quốc tế để đạt mục tiêu mong muốn.
Trong ngắn hạn, năng lực cạnh tranh của một quốc gia được thể hiện thông
qua khả năng tạo cơ sở cho tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững, chuyển đổi cơ
cấu kinh tế một cách linh hoạt theo sự thay đổi nhanh tróng của các nhu cầu quốc
tế.
Xét trên giác độ doanh nghiệp (năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp): Là
khả năng mà doanh nghiệp có thể chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng
như có được các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất để đạt mục tiêu cuối
cùng là tối đa hoá lợi nhuận.
Xét trên giác độ ngành (năng lực cạnh tranh cấp ngành): Nghành là tập hợp
các doanh nghiệp cùng loại để sản xuất ra những sản phẩm hàng hoá và dịch vụ
tương đồng do đó năng lực cạnh tranh cấp ngành xét về bản chất là năng lực cạnh
tranh cấp doanh nghiệp.
2.2. Các tiêu trí đánh giá năng lực cạnh tranh.
♦ Diễn đàn kinh tế thế giới đã xếp hạng trên cơ sở 371 chỉ tiêu của 8 nhóm về
năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung gồm có:
Nhóm I. Sức mạnh của nền kinh tế trên cơ sở đánh giá toàn bộ nền kinh tế vĩ mô.
Nhóm II. Mức tham gia của quốc gia trong dòng đầu tư và thương mại quốc tế.
Nhóm III. Vai trò của chính phủ trong việc đưa ra các chính sách tạo môi trường
cho cạnh tranh.
Nhóm IV. Cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh.
Nhóm V. Nền tài chính quốc gia, mức độ thực hiện tài chính và chất lượng dịch vụ
tài chính.
NhómVI. Quản lý, tần xuất các doanh nghiệp đạt được trong việc đổi mới, đạt lợi
nhuận và cách chịu trách nhiệm.
Nhóm VII. Khoa học và công nghệ, năng lực khoa học công nghệ, cùng sự nghiên
cứu thành công của khoa học cơ bản và ứng dụng.

Nhóm VIII. Chất lượng nguồn nhân lực.
♦ Trong lĩnh vực cạnh tranh công nghiệp nói chung thì năng lực cạnh tranh phụ
thuộc rất nhiều vào sự đổi mới công nghệ, khă năng áp dụng công nghệ mới
trong sản xuất để tăng năng suất, ngoài ra còn phụ thuộc vào những yếu tố khác
như khả năng tiếp thị, vấn đề đảm bảo giao hàng đúng thời gian, các dịch vụ
sau bán hàng...
♦ Các tiêu thức thể hiện năng lực cạnh tranh trong kinh doanh hàng hải nói chung
và vận tải biển nói riêng.
Có ba tiêu thức về năng lực cạnh tranh trong ngành hàng hải là chất lượng
phục vụ, thời gian và độ tin cậy của quá trình phục vụ khách hàng.
Thứ nhất: Về chất lượng phục vụ.
Ngành hàng hải mang tính quốc tế cao, nên nó chịu sự chi phối mạnh mẽ của
quy luật cạnh tranh. Quy luật cạnh tranh vừa là đòn bẩy để các doanh nghiệp hàng
hải tiến lên phát triển, vừa hoà nhập với thị trường khu vực và thế giới, nhưng
đồng thời cũng là sức ép đè bẹp các doanh nghiệp. Do đó trong quản trị kinh doanh
nếu không lấy mục tiêu chất lượng làm mục tiêu phấn đấu, nếu chạy theo những
lợi nhuận trước mắt, rõ ràng doanh nghiệp sẽ bị đẩy lùi ra ngoài vòng quay của thị
trường thế giới, đi đến thua lỗ, phá sản.
Các Mác (1818- 1883) đã nêu rõ khái niệm về chất lượng hàng hoá. Ông
viết: “người tiêu dùng mua hàng không phải hàng có giá trị mà hàng có giá trị sử
dụng và thoả mãn những mục đích nhất định”. Điều đó nói lên, giá trị sử dụng
được đánh giá thông qua chất lượng, chất lượng là thước đo mức độ hữu ích của
giá trị sử dụng, biểu thị trình độ giá trị sử dụng của hàng hoá.
Chất lượng sản phẩm hàng hoá đã trở thành mối quan tâm của nhiều người,
nhiều ngành và có thể tổng hợp ra mấy khuynh hướng sau:
Khuynh hướng quản lý sản xuất: “chất lượng của một sản phẩm nào đó là
mức độ mà sản phẩm ấy thể hiện được những yêu cầu, những chỉ tiêu thiết kế hay
những quy định riêng cho sản phẩm ấy”.
Khuynh hướng thoả mãn nhu cầu: Theo quan niệm của tổ chức kiểm tra
chất lượng châu Âu (European Organization for Quality Control) thì “chất lượng

của sản phẩm là mức độ mà sản phẩm ấy đáp ứng được nhu cầu của người sử
dụng”. Theo tiêu chuẩn AFNOR 50-109: “Chất lượng sản phẩm là năng lực của
một sản phẩm hoặc dịch vụ thoả mãn những nhu cầu của người sử dụng”. Theo
J.Juran(Mỹ): “Chất lượng là thoả mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất”.
Theo từ điển tiếng Việt phổ thông “Chất lượng là tổng thể những tính chất,
những thuộc tính cơ bản của sự vật... làm cho sự vật này phân biệt với sự vật
khác”. Theo Oxford Pocket Dictionary “Chất lượng là mức độ hoàn thiện, là đặc
trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện,thông số cơ
bản”. Theo GOST 15.467-70: “Chất lượng của sản phẩm là tổng hợp những thuộc
tính của sản phẩm thể hiện sự thoả mãn nhu cầu xác định đối với sản phẩm đó”.
Theo ISO 8402- 86: “Chất lượng sản phẩm là tổng thể những đặc điểm, những đặc
trưng của sản phẩm thể hiện được sự thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu
dùng nhất định, phù hợp với công dụng, tên gọi của sản phẩm”.
Do đặc trưng khác biệt của ngành vận tải biển nên chất lượng phục vụ của
ngành là việc thoả mãn được các yêu cầu của người gửi hàng bằng đường biển từ
lúc họ giao hàng cho người vận tải cho đến khi họ nhận hàng từ người vận tải giao
cho. Tức là hàng hoá được vận chuyển nhanh, gọn, không bị hao hụt, hư hỏng
trong quá trình vận chuyển và giá cả hợp lý mà người hàng chấp nhận được.
Thứ hai: Giá cả phục vụ.
Trình độ khoa hoc- kỹ thuật của từng nước cũng như thế giới ngày càng phát
triển, thúc đẩy sản xuất nhiều sản phẩm tiêu dùng cho xã hội. Do đó nhu cầu về
vận tải hàng hoá ngày càng tăng, khách hàng ngày càng có nhiều yêu cầu cao hơn
về tính an toàn, tiện lợi và giá cả phục vụ của ngành vận tải. Do sự cạnh tranh gay
gắt nên khách hàng có quyền lựa chọn người vận tải của các quốc gia khác nhau
cho mình. Buôn bán quốc tế ngày càng được mở rộng, hàng hoá được vận tải qua
nhiều quốc gia khác nhau. Giá của sản phẩm dịch vụ vận vận tải ngoài việc phụ
thuộc vào giá thành sản phẩm, còn phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường.
Chi phí vận tải hàng hoá từ nơi gửi tới nơi nhận trên thực tế có thể giảm được trên
cơ sở phối hợp công tác của tất cả các khâu trong quá trình vận chuyển hàng hoá.
Do đó việc lựa chọn và xác định đúng đắn các hình thức phối hợp công tác trong

quá trình vận chuyển hàng hoá là điều kiện cần thiết và bắt buộc. Soạn thảo việc
thực hiện quá trình vận chuyển trong mối quan hệ qua lại và sự phối hợp các
phương tiện kỹ thuật, bao gồm các trang thiết bị của các cảng, các kho bãi chứa
hàng hoá, các phưong tiện giao thông của các dạng vận tải khác nhau....và các
trang thiết bị trong phạm vi tiêu thụ. áp dụng quy trình công nghệ thống nhất, tổ
chức phối hợp công tác với nhau để giảm chi phí giá thành vận tải hàng hoá tới
mức tối đa.
Thứ ba: Thời gian và độ tin cậy trong quá trình phục vụ.
Nhiệm vụ của quá trình vận tải hàng hoá nói chung là việc di chuyển hàng hoá
trong không gian phục vụ cho các ngành sản xuất vật chất của nền kinh tế trong
các quốc gia và phạm vi toàn thế giới. Công dụng của việc vận tải hàng hoá là làm
cho hàng hoá thực hiện chức năng giá trị sử dụng của nó. Quá trình vận chuyển
hàng từ nơi gửi đến nơi nhận bao gồm rất nhiều công đoạn, nhiều bộ phận phục vụ
như: Trên tàu, trên các phương tiện vận tải khác, trên càu tàu, trên ga trong kho
(bãi). Mỗi bộ phận phục vụ có một quy trình công nghệ sản xuất riêng rẽ của mình.
Tổng hợp các thành phần thời gian của hàng hoá nằm trong các bộ phận phục vụ
tạo nên thời đưa hàng từ nơi gửi tới nơi nhận. Thời gian đưa hàng từ nơi gửi tới nơi
nhận là một khía cạnh của sức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp kinh doanh vận
tải và giữa các hệ thống sản xuất vận tải khác nhau.
II. Cạnh Tranh Trong Ngành Vận Tải Biển.
1. Tổng quan về vị trí vai trò, đặc điểm, chức năng và sức hấp dẫn của ngành
vận tải biển trong nền kinh tế quốc dân .
1.1. Các lĩnh vực kinh doanh của ngành hàng hải.
Theo quan điểm hiện nay, vận tải nói chung, vận tải biển nói riêng là một
loại hình dịch vụ. Dịch vụ ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm toàn bộ các
hoạt động hàng hải.
Vận tải biển (Hàng hải) là một bộ của ngành sản xuất vận tải mặc dù có
những đặc trưng khác biệt với các phương thức vận tải khác nhưng nó không thể
gắn liền một cách thống nhất với các phương thức vận tải đó. Các tiểu hệ thống của
quá trình sản xuất hàng hải bao gồm: Quá trình vận chuyển, quá trình xếp dỡ, quá

trình phục vụ cho hai cho hai quá trình trên. Các quá trình sản xuất nói trên có thể
diễn ra trong phạm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia. Tương ứng với các quá
trình sản xuất đó, trong ngành hàng hải có các lĩnh vực kinh doanh sau:
Kinh doanh khai thác tàu.
Kinh doanh khai thác cảng.

×