B GIO DC V O TO
B Y T
TRNG I HC Y DC THI BèNH
LNG TH XUN
ĐáNH GIá TìNH TRạNG DINH DƯỡNG
Và CHấT LƯợNG CUộC SốNG CủA NGƯờI BệNH
UNG THƯ GAN ĐIềU TRị TạI TRUNG TÂM UNG BƯớU
BệNH VIệN BãI CHáY TỉNH QUảNG NINH NĂM 2019
LUN VN THC S DINH DNG
Mó s: 8720401
Ngi hng dn khoa hc:
1. TS. Nguyn Trng Hng
2. PGS.TS. Ninh Th Nhung
THI BèNH NM 2020
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn Đảng ủy, Ban Giám hiệu, Phòng
Quản lý Sau Đại học, Bộ môn Dinh dưỡng & An toàn thực phẩm Trường Đại
học Y Dược Thái Bình cùng các thầy cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, hướng
dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh
Quảng Ninh; Khoa kiểm soát bệnh không lây nhiễm & Dinh dưỡng cùng bạn
bè đồng nghiệp, nơi tôi đang công tác và làm việc luôn động viên và tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu.
Tôi xin cảm ơn Lãnh đạo và các cán bộ Trung tâm Ung Bướu – Bệnh
Viện Bãi Cháy tỉnh Quảng Ninh đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong thời gian triển
khai thực hiện nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin được bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: NGƯT. PGS.TS. Ninh Thị
Nhung và TS. Nguyễn Trọng Hưng, những người thầy, cô đã dành tâm huyết
của mình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để tôi hoàn thành
luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới gia đình, anh chị em và bạn bè,
những người đã luôn ở bên tôi, động viên và khích lệ tôi trong suốt quá trình
học tập và nghiên cứu!
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Bình, tháng 6 năm 2020
Tác giả
Lƣờng Thị Xuân
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi: Những số liệu
trong nghiên cứu là do tôi thu thập trong quá trình nghiên cứu và làm việc tại
Trung tâm Ung bướu bệnh viện bãi Cháy tỉnh Quảng Ninh một cách tỷ mỷ, khoa
học và chính xác.
Kết quả thu thập được trong nghiên cứu chưa được đăng tải và công bố
trên bất kỳ một tạp chí hay công trình khoa học nào. Các bài trích dẫn, các số
liệu tham khảo là những tài liệu đã được công nhận./.
Thái Bình, tháng 6 năm 2020
Tác giả
Lƣờng Thị Xuân
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BMI
: (Body Mass Index) Chỉ số khối cơ thể
CLCS
: Chất lượng cuộc sống
CED
: (Chronic Energy Deficiency) Thiếu năng lượng trường diễn
EORTC QLQ-C30 : (European Organization for Research and Treatment of
Cancer – EORTC). Bộ công cụ đo chất lượng cuộc sống
đặc hiệu cho người bênh Ung thư.
FACT- Hep
: (FACT- hepatobiliary) Phiên bản đặc hiệu cho ung thư
gan mật thuộc hệ thống đo lường FACIT
FACT – G
: (Functional Assessment Illness Therapy - General) Bộ
công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống cho người bệnh
mắc nhiều loại ung thư khác nhau.
Hb
: Hemoglobin.
LQĐSK
: Liên quan đến sức khỏe
MNA:
(Mini Nutritional Assessment) Phương pháp đánh giá tình
trạng dinh dưỡng tối thiểu.
SDD
: Suy dinh dưỡng.
SGA
: (Subjective Global Assessment of nutritional status)
Phương pháp đánh giá dinh dưỡng chủ quan
TTDD
: Tình trạng dinh dưỡng.
WHO
: (World Health Organization) Tổ chức Y tế Thế giới
UTBMTBG
: Ung Thư biểu mô tế bào gan
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................. 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................ 3
1.1. Một số khái niệm .................................................................................... 3
1.1.1. Ung Thư .......................................................................................... 3
1.1.2. Ung Thư gan: Phụ thuộc vào nơi Ung Thư khởi phát, có hai
cách để phân loại Ung Thư gan................................................................. 3
1.1.3. Chất lượng cuộc sống ...................................................................... 3
1.1.4. Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe ................................ 4
1.1.5. Suy dinh dưỡng ............................................................................... 5
1.2. Thực trạng mắc ung thư gan và Suy dinh dưỡng ở người bệnh ung thư ... 6
1.2.1. Tình hình mắc ung thư gan ............................................................. 6
1.2.2. Thực trạng Suy dinh dưỡng ở người bệnh ung thư ......................... 7
1.3. Một số nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư gan . 14
1.4. Các công cụ đo lường chất lượng cuộc sông liên quan đến sức khỏe
của người bệnh ung thư ............................................................................... 20
1.4.1. FACT - G ...................................................................................... 21
1.4.2. FACT - Hep................................................................................... 21
1.4.3. EORTC-C30 .................................................................................. 21
1.4.4. Các công cụ khác .......................................................................... 22
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............. 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu ........................................................................... 24
2.1.1. Địa bàn nghiên cứu ....................................................................... 24
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu: .................................................................. 24
2.1.3. Thời gian nghiên cứu .................................................................... 25
2.2. Phương pháp nghiên cứu...................................................................... 25
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu ....................................................................... 25
2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu .............................................. 25
2.2.3. Biến số và chỉ số trong nghiên cứu ............................................... 26
2.2.4. Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu ........................................ 27
2.2.5. Các tiêu chuẩn sử dụng trong nghiên cứu ..................................... 31
2.2.6. Xử lý số liệu. ................................................................................. 35
2.2.7. Đạo đức trong nghiên cứu: ............................................................ 35
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................ 37
3.1. Xác định tỷ lệ SDD và thói quen ăn uống của người bệnh ung thư
gan đang điều trị tại Trung tâm Ung bướu thuộc Bệnh Viện Bãi Cháy,
tỉnh Quảng Ninh năm 2019 ......................................................................... 37
3.2. Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư gan đang
điều trị tại Trung tâm Ung bướu, thuộc Bệnh Viện Bãi Cháy, tỉnh
Quảng Ninh năm 2019 ................................................................................ 50
Chƣơng 4. BÀN LUẬN ................................................................................. 64
4.1. Tỷ lệ SDD và thói quen ăn uống của người bệnh ung thư gan đang
điều trị tại Trung tâm Ung bướu thuộc Bệnh Viện Bãi Cháy, tỉnh Quảng
Ninh năm 2019 ............................................................................................ 64
4.2. Chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư gan đang điều trị
tại Trung tâm Ung bướu, thuộc Bệnh Viện Bãi Cháy, tỉnh Quảng
Ninh năm 2019 ........................................................................................... 75
KẾT LUẬN .................................................................................................... 83
KHUYẾN NGHỊ............................................................................................ 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1.
Thông tin chung của người bệnh theo giới tính, nhóm tuổi,
nghề nghiệp, trình độ học vấn..................................................... 37
Bảng 3.2.
Các bệnh lý kèm theo (bệnh nền) của người bệnh chia theo
nhóm tuổi .................................................................................... 39
Bảng 3.3.
Tiền sử mắc các bệnh gan của người bệnh chia theo nhóm tuổi ... 40
Bảng 3.4.
Số bữa ăn và bữa ăn phụ của người bệnh trong một ngày theo
giới tính và giai đoạn bệnh ......................................................... 41
Bảng 3.5.
Tần suất (%) tiêu thụ thường xuyên (≥3 lần/tuần) nhóm thực
phẩm giầu đạm ............................................................................ 42
Bảng 3.6.
Tỷ lệ bệnh nhân ăn trái cây, rau xanh trong tuần qua và giá trị
trung bình số gam ăn trong 1 ngày ............................................. 43
Bảng 3.7.
Tỷ lệ uống rượu bia và lượng uống hàng ngày của đối tượng ... 43
Bảng 3.8:
Giá trị trung bình BMI của người bệnh theo giai đoạn bệnh
chia theo giới tính và nhóm tuổi ................................................. 44
Bảng 3.9:
Phân loại tình trạng dinh dưỡng của người bệnh dựa vào BMI
theo giai đoạn bệnh ..................................................................... 45
Bảng 3.10. Phân loại tình trạng dinh dưỡng và điểm trung bình của người
bệnh dựa vào SGA theo giới tính ............................................... 45
Bảng 3.11. Phân loại tình trạng dinh dưỡng và điểm trung bình của người
bệnh dựa vào SGA theo giai đoạn bệnh ..................................... 46
Bảng 3.12. Phân loại tình trạng dinh dưỡng và điểm trung bình của người
bệnh dựa vào MNA theo giới tính .............................................. 47
Bảng 3.13. Phân loại tình trạng dinh dưỡng của người bệnh dựa vào MNA
theo bệnh nền .............................................................................. 48
Bảng 3.14. Phân loại tình trạng dinh dưỡng và điểm trung bình của người
bệnh dựa vào MNA theo giai đoạn bệnh .................................... 48
Bảng 3.15. Giá trị trung bình hàm lượng Albumin và Protein huyết thanh
của người bệnh theo nhóm tuổi .................................................. 49
Bảng 3.16. Tỷ lệ người bệnh giảm Albumin và Protein huyết thanh theo
nhóm tuổi và bệnh nền ................................................................ 49
Bảng 3.17. Tự đánh giá của người bệnh về ảnh hưởng của bệnh đến chất
lượng cuộc sống theo giai đoạn bệnh ........................................ 51
Bảng 3.18. Các mức độ ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống người bệnh
theo từng lĩnh vực của bộ câu hỏi EORTC-C30......................... 52
Bảng 3.19. Điểm trung vị lĩnh vực chức năng chung của người bệnh theo
bộ câu hỏi EORTC-C30 chia theo giai đoạn bệnh ..................... 53
Bảng 3.20. Điểm trung vị lĩnh vực triệu chứng của người bệnh theo bộ câu
hỏi EORTC-C30 chia theo giai đoạn bệnh ................................. 54
Bảng 3.21. Điểm trung vị chất lượng cuộc sống tổng thể của người bệnh
theo bộ câu hỏi EORTC-C30 chia theo giai đoạn bệnh ............. 55
Bảng 3.22. Đánh giá mức độ ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống tổng thể
của người bệnh theo bộ câu hỏi EORTC-C30 chia theo giai
đoạn bệnh .................................................................................... 56
Bảng 3.23. Điểm trung bình, trung vị chất lượng cuộc sống tổng thể của người
bệnh bộ câu hỏi EORTC - C30 chia theo tuổi và bệnh lý nền .......... 57
Bảng 3.24. Đánh giá mức độ ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống tổng thể
của người bệnh bộ câu hỏi EORTC-C30 chia theo tuổi, bệnh
lý nền ........................................................................................... 58
Bảng 3.25. Điểm trung bình các lĩnh vực chất lượng cuộc sống của người
bệnh bộ câu hỏi FACT- Hep chia theo giai đoạn bệnh .............. 59
Bảng 3.26: Điểm trung vị các lĩnh vực chất lượng cuộc sống của người
bệnh bộ câu hỏi FACT- Hep chia theo giai đoạn bệnh .............. 60
Bảng 3.27: Đánh giá mức độ ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống tổng thể
của người bệnh theo các lĩnh vực chia theo giai đoạn bệnh bộ
câu hỏi FACT- HEP .................................................................... 61
Bảng 3.28. Điểm trung bình, trung vị chất lượng cuộc sống tổng thể của
người bệnh bộ câu hỏi FACT- HEP chia theo tuổi và bệnh lý nền . 62
Bảng 3.29. Đánh giá mức độ ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của người
bệnh bộ câu hỏi FACT - Hep chia theo tuổi, bệnh lý nền ............ 63
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1.
Khoảng thời gian được chẩn đoán mắc ung thư của người
bệnh ......................................................................................... 38
Biểu đồ 3.2.
Tỷ lệ người bệnh mắc ung thư gan theo giai đoạn bệnh chia
theo nhóm tuổi ........................................................................ 40
Biểu đồ 3.3:
Phân loại tình trạng dinh dưỡng của người bệnh dựa vào
BMI theo nhóm tuổi................................................................ 44
Biểu đồ 3.4.
Phân loại tình trạng dinh dưỡng của người bệnh dựa vào
SGA theo bệnh nền ................................................................. 46
Biểu đồ 3.5.
Tự đánh giá của người bệnh về ảnh hưởng của bệnh đến
chất lượng cuộc sống theo nhóm tuổi ..................................... 50
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư gan có 2 loại là ung thư gan nguyên phát và ung thư gan thứ
phát. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) năm 2018 cho
thấy ung thư gan đứng thứ 5 về tỷ lệ mắc và đứng thứ 3 về tỷ lệ tử vong trong
các loại ung thư. Năm 2018 thế giới ghi nhận hơn 840 nghìn người phát hiện
mới ung thư gan, phần lớn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Quỹ Nghiên cứu Ung thư Thế giới đã xếp Việt Nam trong nhóm những nước
mắc ung thư gan cao nhất. Theo số liệu từ GLOBOCAN năm 2018, đối với
Việt Nam, ung thư gan là loại ung thư hàng đầu cả về mức độ phổ biến cũng
như tỷ lệ tử vong, với tổng số 25.335 ca mắc mới/năm [1], [56]. Chính vì vậy
nghiên cứu các vấn đề liên quan đến ung thư gan hiện nay là chủ đề rất được
quan tâm.
Trước đây, tiên lượng của người bệnh Ung thư gan rất kém, thường chỉ
sống thêm 6 tháng đến 1 năm kể từ khi được chẩn đoán. Đến nay, các tiến bộ
về chẩn đoán và điều trị, cùng với sự tăng trưởng kinh tế và dân trí khiến cho
người dân quan tam đến sức khỏe nhiều hơn, tỉ lệ phát hiện ung thư gan ở giai
đoạn sớm ngày càng tăng lên.
Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu phòng chống ung thư, ở Việt Nam hiện
nay, rất nhiều người bệnh ung thư gan không được chăm sóc dinh dưỡng
đúng trong suốt thời gian trị bệnh, nên đã dẫn đến tình trạng sụt cân, suy dinh
dưỡng và suy kiệt trầm trọng hơn. Trong khi đó, nhiều nghiên cứu trên thế
giới đã chỉ ra rằng chỉ cần sụt 5% cân nặng đã rút ngắn 1/3 thời giai sống của
bệnh nhân. Đa số bệnh nhân ung thư chỉ tập trung vào điều trị mà chưa chú
trọng đến chế độ dinh dưỡng để nâng cao thể trạng. Mỗi năm, nước ta có
khoảng 150.000 bệnh nhân chết vì ung thư, trong đó 80% bị sụt cân, 30% chết
vì suy kiệt trước khi qua đời do khối u, con số trên đã phần nào cho thấy tác
động xấu của tình trạng sút cân, suy kiệt. Dinh dưỡng lúc này có tác dụng
2
nâng đỡ để người bệnh có đủ sức theo được hết các liệu pháp điều trị nặng nề
[48], [50], [53].
Bên cạnh việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh ung thư
gan thì đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư gan cũng là
một vấn đề đang được hết sức quan tâm. Thực tế nhiều nghiên cứu đã chỉ ra
chất lượng cuộc sống của bênh nhân ung thư gan phụ thuộc vào giai đoạn
phát hiện bệnh. Chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư gan là vấn đề
mới ngày càng được quan tâm của người bệnh cũng như những người làm
công tác chăm sóc sức khỏe. Tại Việt Nam do điều kiện kinh tế và do tình
trạng gia tăng nhanh chóng các bệnh ung thư gan, chất lượng cuộc sống của
người bệnh ung thư gan ở mức độ nào? chưa có nghiên cứu nào đánh giá về
chất lượng cuộc sống của người bệnh [1], [6], [22].
Vì vậy để nâng cao về chất lượng cuộc sống, cũng như cải thiện về tình
trạng dinh dưỡng cho người bệnh mắc bệnh ung thư gan, được hiệu quả trong
điều trị và cung cấp cho người bệnh những thông tin đầy đủ, toàn diện hơn về
tiến triển của bệnh cũng như tình trạng sức khỏe, giúp người bệnh cải thiện
khả năng thích nghi và hòa nhập với cuộc sống, nhất là bệnh ung thư gan
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và
chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư gan điều trị tại trung tâm
ung bướu bệnh viện Bãi Cháy tỉnh Quảng Ninh năm 2019” với mục tiêu:
1.
Xác định tỷ lệ SDD và thói quen ăn uống của người bệnh ung thư gan
đang điều trị tại Trung tâm Ung bướu thuộc Bệnh Viện Bãi Cháy, tỉnh
Quảng Ninh năm 2019.
2.
Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư gan đang điều
trị tại Trung tâm Ung bướu, thuộc Bệnh Viện Bãi Cháy, tỉnh Quảng Ninh
năm 2019.
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Ung Thư
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG), Ung Thư là sự tăng trưởng
không được kiểm soát và sự xâm lấn lan rộng của tế bào, Ung thư là một bệnh
lý ác tính của tế bào, khi bị kích thích bởi các tác nhân gây ung thư thì tế bào
tăng sinh một cách vô hạn, không tuân theo các cơ chế kiểm soát về mặt phát
triển của cơ thể [15].
1.1.2. Ung Thư gan: Phụ thuộc vào nơi Ung Thư khởi phát, có hai cách để
phân loại Ung Thư gan
- Ung Thư gan nguyên phát: Là Ung Thư có thể khởi phát từ gan gồm:
+ Ung Thư biểu mô tế bào gan (UTBMTBG) là Ung Thư gan phổ biến nhất
+ Ung Thư ống mật (Ung Thư biểu mô đường mật) ít phổ biến hơn;
+ Sarcôm mạch máu là một thể hiếm gặp
+ Ung Thư nguyên bào gan là một thể rất hiếm gặp
- Ung Thư gan thứ phát: Xảy ra khi các tế bào Ung Thư từ một cơ quan khác
trong cơ thể lan đến gan hay còn gọi là ung thư di căn gan, thường gặp hơn
nhiều so với ung thư gan nguyên phát. Ung thư của đại tràng, trực tràng, phổi
hay vú có thể di căn gan âm thầm [15].
1.1.3. Chất lượng cuộc sống
Chất lượng cuộc sống (CLCS) là một khái niệm đa chiều, thường bao
gồm những đánh giá chủ quan về cả hai khía cạnh tích cực và tiêu cực của
cuộc sống [55]. Thuật ngữ "chất lượng cuộc sống" đối với mọi người và
mọi ngành học có thể quan niệm rất khác nhau, mặc dù sức khỏe là một
trong những yếu tố quan trọng của chất lượng cuộc sống, những lĩnh vực
khác như việc làm, nhà ở, trường học, quan hệ với người xung quanh, các
4
khía cạnh của nền văn hóa, các giá trị và tâm linh cũng là những khía cạnh
ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Do đó, đo lường chất lượng cuộc
sống, là rất phức tạp [55].
1.1.4. Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe
Các khái niệm về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe và các
yếu tố của nó đã bắt đầu hình thành từ những năm 1980, bao trùm hết những
yếu tố của chất lượng cuộc sống (CLCS) bị ảnh hưởng bởi sức khỏe hoặc thể
chất hoặc tinh thần [43]. Ở cấp độ cá nhân, điều này bao gồm nhận thức về
sức khỏe thể chất, tinh thần và mối tương quan của chúng, bao gồm cả rủi ro
về sức khỏe, tình trạng chức năng, hỗ trợ xã hội, và tình trạng kinh tế xã hội,
Ở cấp độ cộng đồng, bao gồm các điều kiện, chính sách và thực tiễn ảnh
hưởng đến nhận thức sức khỏe của một cộng đồng dân cư. Hiểu biết về các
yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe cho phép
cơ quan y tế hợp pháp hóa việc giải quyết các lĩnh vực chính sách công liên
quan đến sức khỏe xung quanh một bối cảnh chung bao gồm cả các dịch vụ
xã hội, quy hoạch cộng đồng và kinh tế [43]. Đo lường chất lượng cuộc sống
liên quan đến sức khỏe có thể giúp xác định những gánh nặng của các căn
bệnh và cung cấp những hiểu biết mới có giá trị để hiểu mối quan hệ giữa
chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe và các yếu tố nguy cơ, đo lường
chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe sẽ giúp giám sát tiến độ trong
việc đạt được mục tiêu y tế quốc gia. Phân tích các dữ liệu giám sát chất
lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe có thể phân nhóm các đối tượng dựa
vào tình trạng sức khỏe, hướng dẫn can thiệp để cải thiện tình hình của họ và
ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng hơn. Giải thích và công bố những dữ liệu
này có thể giúp xác định các nhu cầu cho chính sách y tế và pháp luật, giúp
phân bổ nguồn lực, hướng dẫn xây dựng kế hoạch chiến lược, và theo dõi
hiệu quả của các can thiệp cộng đồng rộng lớn [43], [55].
5
1.1.5. Suy dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng (SDSD) là một trạng thái mất cân bằng (thiếu hoặc thừa)
về năng lượng, protein và các chất dinh dưỡng khác gây ra những hậu quả bất
lợi đến cấu trúc, chức năng của từng bộ phận cơ thể và gây ra bệnh tật. Hội
Dinh dưỡng lâm sàng và chuyển hóa châu Âu đã đề xuất định nghĩa suy dinh
dưỡng cho người bệnh như sau: “Suy dinh dưỡng là một tình trạng cung cấp
thiếu, không đầy đủ hay rối loạn hấp thu dinh dưỡng dẫn đến làm thay đổi
thành phần cơ thể (giảm khối mỡ tự do và khối tế bào cơ thể), làm giảm chức
năng về thể chất, tinh thần và suy giảm kết quả điều trị bệnh” [41].
Tuy nhiên, suy dinh dưỡng ở người bệnh còn có thể do tình trạng tăng dị
hóa trong chấn thương, viêm và các stress chuyển hóa. Nếu như suy dinh
dưỡng do khẩu phần cung cấp không đủ thì có thể dễ dàng can thiệp và hồi
phục bằng hỗ trợ dinh dưỡng. Nhưng đối với các bệnh lý gây tăng dị hóa, tạo
ra cân bằng năng lượng và nitơ âm tính thì không thể phục hồi bằng liệu pháp
dinh dưỡng đơn thuần, kể cả khi được nuôi ăn dư thừa. Thông thường, chỉ khi
giai đoạn dị hóa bắt đầu giảm mới có thể hồi phục lại các mô đã mất. Do đó,
Ủy ban hướng dẫn đồng thuận Quốc tế đã thống nhất chẩn đoán suy dinh
dưỡng dựa trên nguyên nhân của tình trạng đói và bệnh lý. “Suy dinh dưỡng
do đói” là khi có tình trạng đói mạn tính và không có viêm; “suy dinh dưỡng
do bệnh mạn tính” khi có tình trạng viêm ở mức độ nhẹ đến vừa (như suy
giảm chức năng cơ thể, ung thư, viêm khớp hay béo phì); “suy dinh dưỡng do
tổn thương hay bệnh cấp tính” là khi có tình trạng viêm cấp tính nặng (như
nhiễm trùng nặng, bỏng, chấn thương, sau đại phẫu thuật) [41].
Ngoài ra, để sử dụng thuật ngữ “suy dinh dưỡng” theo cả nghĩa thiếu
và thừa dinh dưỡng, suy dinh dưỡng được định nghĩa “là tình trạng rối loạn
dinh dưỡng bán cấp hay mãn tính, trong đó có sự kết hợp thừa dinh dưỡng,
thiếu dinh dưỡng và tình trạng viêm ở nhiều mức độ khác nhau dẫn đến sự
thay đổi về thành phần và suy giảm chức năng cơ thể” [41].
6
1.2. Thực trạng mắc ung thƣ gan và Suy dinh dƣỡng ở ngƣời bệnh ung thƣ
1.2.1. Tình hình mắc ung thư gan
Ung thư gan là một trong 6 loại ung thư phổ biến nhất trên thế giới. Vào
năm 2008, có khoảng 40.000 nam và khoảng 20.000 nữ được chẩn đoáng mắc
ung thư gan tại châu Âu, năm 2012, cả thế giới có 782.000 ca mắc mới. Nó
cũng là nguyên nhân gây tử vong nhiều thứ hai trong số các loại ung thư hiện
nay, ung thư gan phổ biến ở nam giới hơn nữ giới. Tại châu Âu, cứ 1000 nam
thì có 10 người và 1000 nữ thì có 2 người mắc ung thư gan. Ở giai đoạn sớm,
ung thư gan thường không có biểu hiện bệnh, chính vì thế những trường hợp
mắc bệnh thường được chẩn đoán khi bệnh đã chuyển sang giai đoạn trầm
trọng. Bệnh có xu hướng liên quan tới tuổi tác, với đa số ca được chẩn đoán
mắc bệnh nằm ở độ tuổi trên 75. Tuy nhiên, ở một số khu vực có nền kinh tế
đang phát triển như châu Á hay châu Phi thì bệnh có thể phát triển ở những độ
tuổi trẻ hơn. Khoảng 83% bệnh nhân ung thư gan đến từ những quốc gia có
nền kinh tế kém hoặc đang phát triển [59].
Trước đây, thời gian sống thêm trung bình của ung thư gan không cao do
thời gian đầu bệnh nhân hầu hết không có triệu chứng, chỉ phát hiện khi bệnh
đã ở giai đoạn tiến triển hay giai đoạn muộn. Theo nghiên cứu của Zhao và
cộng sụ tại Trung Quốc trên 743 bệnh nhân được phẫu thuật cắt gan, nghĩa là
bệnh nhân ở giai đoạn gần như sớm nhất và được điều trị triệt để, thời gian
sống thêm trung bình cũng chỉ là 72 tháng, và tỉ lệ sống sau 1 năm, 3 năm và
5 năm lần lượt là 91.5%, 70.3% và 55.3% [38].
Ở Việt Nam, các nghiên cứu ở một số tỉnh thành cho thấy ung thư gan
rất thường gặp. Cũng giống như các nước trong khu vực Đông Nam Á, tỉ lệ
mắc ung thư gan hiệu chỉnh theo tuổi ở nước ta khá cao, hơn 20/100000 dân,
đồng thời với tỉ lệ tử vong cao nhất trong các nguyên nhân tử vong do ung
thư, 31% ở nam và 20% ở nữ. Nguyên nhân gây ung thư gan ở nước ta chủ
yếu là virus viêm gan B. Tỉ lệ bệnh nhân nhiễm virus viêm gan B chiếm tới
7
hơn 70% các bệnh nhân ung thư gan. Tuổi mắc bệnh ung thư gan dao động từ
40 đến 60 tuổi, là độ tuổi lao động chính, đóng góp nhiều cho xã hội. Chính vì
vậy, nhóm bệnh nhân ung thư gan rất cần được quan tâm nghiên cứu để cải
thiện về khả năng chẩn đoán, điều trị cũng như chất lượng cuộc sống để giảm
bớt gánh nặng cho bệnh nhân, gia đình và xã hội [46].
Tại Bệnh viện Ung Bướu thành phố Hồ Chí Minh, mỗi năm tiếp nhận
khoảng 500 ca ung thư gan mới. Trong những năm gần đây, mỗi năm, Việt
Nam có đến 10.000 ca mắc bệnh mới, và trở thành quốc gia có tỉ lệ người mắc
bệnh ung thư gan hàng đầu thế giới. Phần lớn các bệnh nhân lại phát hiện
bệnh trong giai đoạn muộn nên việc chữa trị không còn hiệu quả.
Một nghiên cứu gần đây dựa trên các số liệu hiện có và sử dụng các
thuật toán để tính toán tiên lượng cho thấy tỷ lệ nhiễm HBV mạn tính tăng
từ 6,4 triệu người năm 1990 lên khoảng 8,4 triệu năm 2005 và tiên lượng
đến năm 2025 là 8 triệu. Đó là kết quả của chương trình tiêm chủng để
phòng nhiễm HBV. Trong khi đó tỷ lệ xơ gan và ung thư gan do HBV lại
có xu hướng tăng cao: năm 1990 là 21.900 đối với xơ gan, 9.400 đối với
ung thư gan thì đến năm 2025 các số liệu tương ứng là 58.650 và 25.000.
Tỷ lệ tử vong do HBV tăng từ 12.600 năm 1990 và có thể lên tới 40.000 ở
năm 2025 [59].
1.2.2. Thực trạng Suy dinh dưỡng ở người bệnh ung thư
a/ Trên thế giới.
Suy dinh dưỡng ở bệnh nhân ung thư là thường gặp: Tỉ lệ thay đổi tùy
thuộc từng địa điểm, loại ung thư, giai đoạn ung thư. Suy dinh dưỡng làm
tăng tỉ lệ biến chứng và tỉ lệ tử vong, kéo dài thời gian nằm viện và tăng chi
phí điều trị, suy giảm chất lượng cuộc sống.
Kết quả nghiên cứu của Ferigollo năm 2018 có 60 bệnh nhân đã được
đánh giá tình trạng dinh dưỡng, hầu hết trong số họ là nữ (58,3%), người
trưởng thành (51,7%), bị ung thư ruột kết và trực tràng (45%) và được ghi
8
danh vào các chu kỳ điều trị hóa trị đầu tiên (68%) với bệnh kèm theo ( 77%).
PG-SGA cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng (77%) trong mẫu, giảm cân nặng
(40%) và giảm tiêu thụ thực phẩm (41,7%) với các triệu chứng tiêu hóa (75%)
và thay đổi về năng lực chức năng (78 %), kết luận sự cần thiết phải can thiệp
dinh dưỡng quan trọng (70%). Các thông số sinh hóa cho thấy một số giảm
albumin huyết thanh (56%) và tổng số tế bào lympho (76%) [35].
Các nghiên cứu quốc gia tại Anh cho thấy, tỷ lệ suy dinh dưỡng gặp ở
khoảng 1/3 số người bệnh. Suy dinh dưỡng phổ biến ở hầu hết các lứa tuổi và
các nhóm bệnh. Tuy nhiên, nhóm đối tượng trên 65 tuổi có tỷ lệ suy dinh
dưỡng cao hơn so với nhóm dưới 65. Các bệnh có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao là
bệnh đường tiêu hóa (41%), ung thư (40%), bệnh lý thần kinh (31%) [41].
Theo Hiệp hội Dinh dưỡng lâm sàng và chuyển hóa châu Âu, tỷ lệ suy
dinh dưỡng chiếm 20-60% người bệnh nằm viện và có đến 30-90% bị mất cân
đối trong thời gian điều trị [41].
Kết quả nghiên cứu tại Tây Ban Nha cho biết tỷ lệ suy dinh dưỡng gặp
ở khoảng 50% số người bệnh điều trị ngoại khoa. Nhóm người bệnh có tình
trạng dinh dưỡng tốt có thời gian nằm viện ngắn hơn so với nhóm người bệnh
suy dinh dưỡng. Điều này còn có liên quan đến việc sử dụng thuốc cao hơn,
xét nghiệm chẩn đoán và tỷ lệ tử vong cao hơn. Kết quả này cũng tương tự
như kết quả nghiên cứu của tác giả Francisca Leide da Silva Nunes và cộng
sự tại Brazil [26].
Một nghiên cứu khác tại Đức cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng của người
bệnh nằm viện là 53,6% theo SGA và 44,6% theo NRS. Trong thời gian nằm
viện, người bệnh nhận được trung bình 759,9 +/- 546,8 kcal / ngày. Tỷ lệ suy
dinh dưỡng tăng lên ở người bệnh bị bệnh lý gan mật và tiêu hoá, trầm cảm
hoặc chứng sa sút trí tuệ. Các yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với suy dinh
dưỡng là nghỉ ngơi và bất động tại giường. Bệnh nhân nhập viện phải chịu
9
đựng liệu pháp dinh dưỡng không đầy đủ và nguy cơ phát triển suy dinh
dưỡng tăng cao trong thời gian nằm viện [47].
Một nghiên cứu của tác giả Surat Komindr và cộng sự tại Thái Lan cho
biết, suy dinh dưỡng ở người bệnh nằm viện gặp chiếm tới 40,5% với 24,8%
có mức độ suy dinh dưỡng vừa và 15,7% là suy dinh dưỡng nặng [54].
Theo Hiệp hội Dinh dưỡng lâm sàng và chuyển hóa châu Âu, tỷ lệ suy
dinh dưỡng (SDD) ở người bệnh phẫu thuật là 40-50% [41]. Mọt bẹnh nhan
khi đuợc phẫu thuạt là mọt stress đối với co thể. Để đáp ứng với tình trạng
stress này, co thể sẽ tiết ra các hormon như: cortisol, epinephrine, glucagon,
GH, aldosterol, ADH... làm tang nhu cầu chuyển hóa, nên cơ thể cần nhiều
nang luợng hon. Sau mổ, sự lành vết thuong, co thể có quá trình đáp ứng
viem, tiết ra những chất kích hoạt các tuyến nọi tiết tiết ra các chất tuong tự
nhu với stress, vì vạy nhu cầu nang luợng càng tang hon nữa. Sau phẫu thuật,
ngoài lý do người bệnh bị suy dinh dưỡng từ trước thì chính cuộc phẫu thuật
đã làm thay đổi về chuyển hóa (như tăng hoạt động giao cảm, tăng tốc độ
chuyển hóa, cân bằng nitơ âm tính, tăng Cytokins và các Interleukin…), làm
thay đổi về sinh lý (tăng tính thấm ruột, giảm chiều cao nhung mao dẫn đến
làm tăng thẩm lậu vi khuẩn, dễ gây nhiễm trùng,...) khiến cho tình trạng dinh
dưỡng của người bệnh ngày càng xấu [60].
Nhiều nghien cứu đã chứng minh lợi ích của vấn đề dinh duỡng truớc
và sau mổ, dinh duỡng kém có lien quan đến kết cục sau mổ kém, chạm lành
vết thuong, khó cai máy thở (đối với các bẹnh nhan phải thở máy sau mổ),
suy dinh duỡng, nhiễm trùng vết mổ...Từ đó làm tang tỉ lẹ tử vong chu phẫu
cho nguời bẹnh, xác định các bẹnh nhan có yếu tố nguy co về dinh duỡng từ
đó có kế hoạch dinh duỡng hợp lý, nang cao tổng trạng truớc mổ, phòng suy
dinh duỡng sau mổ, giúp bẹnh nhan mau hồi phục, xuất viẹn sớm, giảm đuợc
chi phí điều trị từ đó giảm đuợc chi phí y tế cho quốc gia. Nhịn an uống đúng
10
truớc mổ, thời gian nhịn ngắn hon, giúp bẹnh nhan giảm đuợc các bất lợi của
đáp ứng stress đối với co thể mà khong làm tăng nguy co hít sạc khi làm các
thủ thuạt gay me hồi sức. Sau mổ, an lại sớm có thể trong vòng 24 giờ đuợc
chứng minh là có lợi cho bẹnh nhan [60]. Nuôi ăn sớm đường tiêu hóa làm
giảm thời gian nằm viện sau khi phẫu thuật. Giảm tỷ lệ biến chứng, giảm tỷ lệ
tử vong và chức năng hệ tiêu hóa sớm hoạt động trở lại.
Một nghiên cứu tại bệnh viện Đa khoa San Benedetto del Tronto, Ý,
cho thấy tình trạng dinh dưỡng bị tổn hại đã xuất hiện ở hơn một nửa (54%)
bệnh nhân (suy dinh dưỡng 10% và nguy cơ suy dinh dưỡng ở 44% bệnh
nhân). Nữ giới có nguy cơ suy dinh dưỡng cao hơn nam giới (48% so với
41%, nữ so với nam) và tỷ lệ suy dinh dưỡng rõ ràng cũng cao hơn so với
nam giới (14% so với 7%, p <0,05, nữ so với nam) [33].
Theo kết quả nghiên cứu của Somboon Subwongcharoen và cộng sự
năm 2019 nhằm so sánh chi phí và thời gian nằm viện của bệnh nhân phẫu
thuật suy dinh dưỡng và được nuôi dưỡng tốt, đối với cả nhóm bệnh lành tính
và ác tính thì bệnh nhân suy dinh dưỡng có thời gian nằm viện dài hơn và chi
phí điều trị nhiều hơn so với những người bệnh được nuôi dưỡng tốt [53].
Nghiên cứu của Pirlich tại Đức cho thấy 22% bệnh nhân nằm viện bị
suy dinh dưỡng, tỉ lệ suy dinh dưỡng (SDD) của bệnh nhân nằm viện ở
Argentina là 47% trong đó suy dinh dưỡng nặng chiếm 12%, tỉ lệ suy dinh
dưỡng của bệnh nhân nằm viện ở Brazil là 56,5% trong đó SDD nặng là
17,4%, SDD trung bình là 39,1% [42].
Một nghiên cứu khác ở Úc trên bệnh nhân tuổi lớn hơn 60 trong một
năm từ 2014 - 2015 cho kết quả chỉ có 49,7% bệnh nhân được khám sàng lọc
dinh dưỡng, 53,5% bệnh nhân được xác nhận bị suy dinh dưỡng bởi công cụ
SGA. Bệnh nhân suy dinh dưỡng có thời gian nằm viện lâu hơn, tỷ lệ tử vong
ở các bệnh nhân này cao hơn và các bệnh nhân còn sống có chất lượng cuộc
sống kém hơn [50].
11
b/ Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc suy dinh dưỡng của người bệnh tại bệnh viện
dao động khác nhau tùy theo từng loại bệnh lý, phụ thuộc vào các ngưỡng giá
trị của các công cụ đánh giá.
Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hương Quỳnh, các bệnh
nhân ung thư tham gia nghiên cứu được đo chiều cao, cân trọng lượng cơ thể
và phân loại tình trạng dinh dưỡng theo Tổ chức Y tế thế giới dựa vào chỉ số
khối cơ thể (BMI), đánh giá nguy cơ dinh dưỡng theo công cụ đánh giá chủ
quan người bệnh (SGA), phỏng vấn khẩu phần ăn và chỉ số hóa sinh
(Hemoglobin, Albumin) được thu thập từ bệnh án. Kết quả nghiên cứu cho
thấy tình trạng Suy dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư đang ở mức khá cao.
Trong đó, tỷ lệ Suy dinh dưỡng theo BMI là 27,3% và thừa cân/béo phì là
2,7%, có 58,0% người bệnh ung thư có nguy cơ suy dinh dưỡng theo phân
loại SGA. Có 21,4% đối tượng nghiên cứu bị suy dinh dưỡng theo phân loại
Albumin, tỷ lệ người bệnh thiếu máu là 58,0%. Tỷ lệ người bệnh có khẩu
phần ăn 24 giờ không đạt nhu cầu khuyến nghị chiếm 59,3% [16].
Theo nghiên cứu của Dương Thị Phượng và cộng sự về tình trạng dinh
dưỡng của bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2016 cho
thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng là 20% theo chỉ số khối cơ thể (BMI), có 51,7%
bệnh nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng theo phân loại SGA, có 29,1% đối
tượng nghiên cứu bị suy dinh dưỡng theo phân loại Albumin. Từ những số
liệu của nghiên cứu trên có thể thấy tình trạng suy dinh dưỡng ở bệnh nhân
ung thư đang ở mức khá cao [14].
Tình trạng dinh dưỡng và thành phần của chế độ ăn uống là các yếu tố
liên quan đến nguy cơ ung thư tế bào gan, họ cũng có một vai trò quan trọng
liên quan đến tiên lượng của bệnh nhân bị ung thư biểu mô tế bào gan. Một
số thành phần vi lượng đã được tìm thấy có mối tương quan nghịch với nguy
cơ mắc ung thư tế bào gan. Để ngăn ngừa sự tiến triển của bệnh thành xơ
12
gan hoặc ung thư tế bào gan ở bệnh nhân viêm gan nhiễm mỡ không do
rượu, điều tối quan trọng là phải tối ưu hóa trạng thái trao đổi chất. Tuy
nhiên, bằng chứng từ các thử nghiệm can thiệp trong tương lai được thiết kế
tốt với mục đích giảm tỷ lệ mắc ung thư tế bào gan hoặc kéo dài thời gian
sống ở bệnh nhân bị ung thư tế bào gan dựa trên sửa đổi dinh dưỡng vẫn còn
được tạo ra [8].
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 292 bệnh nhân ung thư đường tiêu
hóa có điều trị hóa chất tại Bệnh viện K nhằm mô tả tình trạng dinh dưỡng và
chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Trong tổng số 292 trường hợp nghiên
cứu, 208 (71,2%) là nam và 84 (28,8%) là nữ, tuổi trung bình là 57,6 ± 9,99.
Nghiên cứu cho thấy theo chỉ số khối cơ thể, tỷ lệ bệnh nhân suy dinh dưỡng
là 35,2% và theo phân loại SGA có 121 (41,4%) bệnh nhân phân loại đủ dinh
dưỡng SGA A, 171 (58,5%) phân loại suy dinh dưỡng (SGA B và SGA
C).chúng tôi theo phân loại SGA cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có tình trạng dinh
dưỡng tốt chiếm tỷ lệ 42,4% và có đến 58,6% có nguy cơ suy dinh dưỡng
(SDD) hoặc suy dinh dưỡng vừa và nặng (SGA B và C). Trong đó, tỷ lệ bệnh
nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng nặng chiếm 11% [8].
Theo các nghiên cứu từ 2010 đến 2015 tại các bệnh viện tuyến tỉnh và
một số bệnh viện tuyến Trung ương như Bạch Mai, Chợ Rẫy, tỷ lệ suy dinh
dưỡng của người bệnh nằm viện khoảng 40% - 50% theo thang đánh giá
SGA. Một số trường hợp bệnh lý nặng như người bệnh phẫu thuật gan mật
tụy, người bệnh ăn qua sonde dạ dày, tỷ lệ suy dinh dưỡng có thể chiếm tới
70%. Theo nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng có tới 60% người bệnh ở Việt
Nam bị suy dinh dưỡng khi nằm viện. Đặc biệt, nghiên cứu tại Bệnh viện
Bạch Mai, trong số 308 người bệnh điều trị ở khoa Tiêu hóa và khoa Nội tiết,
thì có đến 71,9% bị suy dinh dưỡng. Thời gian nằm viện kéo dài có liên quan
chặt chẽ với tình trạng dinh dưỡng. Đặc biệt hiện nay số người cao tuổi điều
trị các bệnh mãn tính liên quan đến dinh dưỡng ngày càng gia tăng. Tuy
13
nhiên, vấn đề dinh dưỡng cho người bệnh chưa được nhìn nhận đúng vai trò
trong thực tế hiện nay [6].
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đỗ Huy, khoảng 50% người bệnh đã có
biểu hiện suy dinh dưỡng ngay khi nhập viện nhưng chỉ 12,5% người bệnh
được phát hiện. Suy dinh dưỡng làm cho các vết thương, tổn thương lâu lành,
suy giảm khả năng miễn dịch của cơ thể, kéo dài thời gian nằm viện, tăng tỷ
lệ biến chứng, tử vong và chi phí điều trị. Ngoài ra, hậu quả của việc suy dinh
dưỡng ở người bệnh còn làm thay đổi chức năng đường tiêu hóa, giảm mức
lọc cầu thận, thay đổi chức năng hệ tim mạch, thay đổi dược động học của
thuốc, tỷ lệ tái nhập viện cao, chất lượng cuộc sống giảm. Trên người bệnh
suy dinh dưỡng, tỉ lệ xuất hiện biến chứng nhiều hơn từ 2 đến 20 lần [10].
Nghiên cứu của Trần Văn Vũ thực hiện đánh giá tình trạng dinh dưỡng
ở người bệnh suy thận mạn các giai đoạn khác nhau, chưa có chỉ định lọc
máu. Kết quả cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng từ khoảng 20% đến trên 70% tùy
theo giai đoạn bệnh và phương pháp đánh giá [24].
Theo kết quả nghiên cứu của Phùng Trọng Nghị và các cộng sự thực
hiện tại Bệnh Viện Quân Y 103, theo chỉ số BMI có 106/414 bệnh nhân được
đánh giá là suy dinh dưỡng (SDD), trong đó suy dinh dưỡng nhẹ chiếm tỷ lệ
cao nhất 64/106 bệnh nhân (60,4%) và SDD nặng chiếm tỷ lệ thấp nhất
14/106 bệnh nhân (13,2%) [12].
Trong một nghiên cứu khác tại Trung tâm chống độc Bệnh viện Bạch Mai,
Tỷ lệ bệnh nhân nhập viện bị suy dinh dưỡng cao, ở cả 2 nhóm hồi sức tích cực
và nội khoa, tỷ lệ suy dinh dưỡng theo Prealbumin lên tới trên 60% [6].
Tỷ lệ suy dinh dưỡng người bệnh nằm viện theo BMI năm 2014; 2015
trong nghiên cứu của tác giả Trần Khánh Thu lần lượt là 23,0%; 21,0%. Tỷ lệ
suy dinh dưỡng nặng đánh giá qua công cụ SGA (đối với nhóm ≤ 65 tuổi) và
MNA (đối với nhóm trên 65 tuổi) là 29,0%; 28,2% lần lượt ở năm 2014;
2015. Suy dinh dưỡng vừa, nhẹ là 21% năm 2014 và 17% năm 2015 [21].
14
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thư và cộng sự năm 2017 tại
Bệnh viên Trung ương quân đội 108, tỷ lệ bệnh nhân suy dinh dưỡng lúc nhập
viện theo BMI là 16,7%; theo SGA là 35,7%; theo protein máu là 31,0% và
theo albumin là 73,8%; có 47,6% bệnh nhân ăn sonde có trào ngược, 14,3%
bệnh nhân bị tiêu chảy. Sau 1 tuần điều trị tình trạng dinh dưỡng của các bệnh
nhân nặng ngày càng xấu đi, tỷ lệ % bị suy dinh dưỡng theo thang SGA (>11
điểm) sau 1 tuần điều trị tăng từ 35,7% lên 78,6%, OR =2,03; p<0,05; hàm
lượng protein, albumin máu và số lượng hồng cầu, huyết sắc tố đều giảm rõ
rệt: mức giảm tương đối từ 6,9% đến 10,3% (p<0,05) [22].
Nghiên cứu cắt ngang trên 124 bệnh nhân (69 nam và 55 nữ) trong đó độ
tuổi từ 18 - 80 tại khoa Ngoại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 3 năm 2013 đến
tháng 8 năm 2013 của Chu Thị Tuyết nhằm xác định tình trạng dinh dưỡng
của bệnh nhân lúc nhập viện để phẫu thuật đường tiêu hóa (đánh giá theo
phương pháp tổng thể chủ quan SGA và chỉ số khối cơ thể BMI). Kết quả
nghiên cứu cho thấy: Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu theo
chỉ số BMI và giới: BMI dưới 18,5 chiếm tỷ lệ 33,87%. Nguy cơ dinh dưỡng
theo phương pháp đánh giá tổng thể chủ quan (SGA): nguy cơ dinh dưỡng
mức độ vừa (SGA – B) 39,52%, nguy cơ mức độ nặng (SGA – C) 6,45%.
SGA-B ở phẫu thuật dạ dày là 40,82%, đại/trực tràng là 38,78%, gan mật là
12,24% và tụy là 8,16%. SGA- C ở các nhóm phẫu thuật dạ dày, đại/trực
tràng, gan mật và tụy lần lượt là (62,5%, 25%, 12,5%, 0%). Suy dinh dưỡng
thường gặp ở bệnh nhân phẫu thuật đường tiêu hóa, theo phương pháp đánh
giá SGA: nguy cơ B và C lần lượt là: 39,52% và 6,45%. Đánh giá theo chỉ số
khối cơ thể: BMI dưới 18,5 (kg/m2) là 33,87% [23].
1.3. Một số nghiên cứu về chất lƣợng cuộc sống của bệnh nhân ung thƣ gan
Đối với ung thư gan, một bệnh không chữa khỏi được và điều trị chủ yếu
để giảm tốc độ tiến triển bệnh, kéo dài thời gian sống và duy trì cho bệnh
nhân không bị khó chịu bởi các triệu chứng, chất lượng cuộc sống (CLCS)
15
được xem là yếu tố quan trọng, cũng như thời gian sống không bệnh và tổng
thời gian sống. Ở bệnh nhân ung thư gan, các triệu chứng được phản ánh là đủ
nặng để ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân là rối loạn giấc
ngủ, giảm chức năng tình dục, cổ chướng, ngứa, mệt mỏi, hay chuột rút. Các
chỉ điểm về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe được sử dụng trong
các thử nghiệm cũng là dựa trên các triệu chứng này. Trong ung thư gan,
ngoài triệu chứng bệnh, chính các biện pháp điều trị cũng có thể gây suy
nhược nghiêm trọng và cần thiết phải xem xét tác động của phương pháp điều
trị lên chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân [34].
Năm 2005, Steel và cộng sự tiến hành nghiên cứu giá trị của FACTHep trong đánh giá chất lượng cuộc sống bệnh nhân ung thư gan mật với
cỡ mẫu 158 bệnh nhân. Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe được
đánh giá ở thời điểm bắt đầu (trước khi điều trị), 3 tháng (n= 55), 6 tháng
(n= 27) sau đó. Kết quả, độ ổn định nội tại của tất cả các phần trong thang
điểm FACT - Hep đều đủ ở tất cả các thời điểm. FACT - Hep đủ nhạy để
phát hiện các thay đổi trong các chỉ điểm lâm sàng (alkaline phosphatase,
alpha- fetoprotein, hemoglobin và thời gian sống), cái phản ánh tiển triển
của bệnh cũng như đáp ứng với điều trị. Kết luận, FACT- Hep là công cụ
đáng tin cậy, tương quan với các chỉ điểm lâm sàng của tiến triển bệnh và
đáp ứng với điều trị [36]
Năm 2006, Jenifer L.Steel nghiên cứu sự khác biệt về chất lượng cuộc
sống (CLCS) của bệnh nhân ung thư gan, bệnh gan mạn tính và nhóm chứng.
272 bệnh nhân gồm 83 bệnh nhân ung thư gan, 51 bệnh nhân bệnh gan mạn
tính và 138 bệnh nhân thuộc nhóm chứng. Sự thay đổi về chất lượng cuộc
sống vừa có ý nghĩa thống kê, vừa có ý nghĩa lâm sàng. Nghiên cứu đã rút ra
kết luận bệnh nhân ung thư gan có chất lượng cuộc sống liên quan đến sức
khỏe kém hơn nhóm bệnh nhân bệnh gan mạn hay nhóm dân số chung. Tuy
16
nhiên, bệnh nhân ung thư gan hay nhóm bệnh gan mạn tính lại có chỉ số hài
lòng về gia đình và xã hội tốt hơn nhóm dân số chung [37].
Một nghiên cứu của tác giả Cui-Xia Qiao năm 2012 tiến hành trên 140
bệnh nhân ung thư gan đã chỉ ra chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe
của bệnh nhân bị ung thư gan xấu đi dần dần với sự tiến triển của các giai đoạn
di căn hạch. Theo nghiên cứu này, điểm FACT- Hep trung bình giảm có ý
nghĩa thống kê theo giai đoạn di căn hạch khối u giai đoạn 1 đến giai đoạn 2,
giai đoạn 3A, giai đoạn 3B (687 ± 39,69 so với 547 ± 42,57 so với 387 ± 51,24
so với 177 ± 71,44, P = 0,001). Xem xét riêng phần tình cảm và thể chất thì
điểm cũng giảm dần từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 3B. Riêng phần quan hệ gia
đình, xã hội, chỉ có giai đoạn IIIB thì điểm thấp hơn hẳn so với giai đoạn I [31].
Theo kết quả nghiên cứu của Jonathan Klein, mất cảm giác ngon miệng
và mệt mỏi được đo bằng QLQ-C30 về mặt lâm sàng và thống kê xấu đi sau 1
tháng điều trị nhưng đã hồi phục sau 3 tháng. Vào lúc 3 và 12 tháng sau khi
điều trị, điểm số FACT-Hep đã được cải thiện so với mức cơ bản ở mức 13%
/ 19%, xấu đi ở mức 36% / 27% và vẫn ổn định ở mức 51% / 54%. Sử dụng
điểm số Sức khỏe toàn cầu QLQ-C30, chất lượng cuộc sống đã cải thiện 16%
/ 23%, xấu đi 34% / 39% và duy trì ổn định ở mức 50% / 38% sau 3 và 12
tháng. Thời gian sống trung bình là 17,0 tháng (khoảng tin cậy 95% CI, 12,319,8 tháng). Điểm số cơ bản cao hơn trên cả sức khỏe toàn cầu FACT-Hep và
QLQ-C30 có liên quan đến khả năng sống sót được cải thiện. Tỷ lệ nguy hiểm
tử vong giảm 10 đơn vị chất lượng cuộc sống (CLCS), lần lượt là 0,90 và
0,88. Kích thước khối u tương quan nghịch với tỷ lệ sống [39].
Riad Salem nghiên cứu 29 bệnh nhân nút mạch xạ trị (Y90) và 27 bệnh
nhân nút mạch hóa chất tại Chicago, Illinois nhằm so sánh sự cải thiện chất
lượng cuộc sống (CLCS) của bệnh nhân ung thư gan điều trị bằng 2 phương
pháp trên. Sử dụng FACT- Hep đánh giá ở thời điểm trước điều trị, sau điều
trị 2 tuần. Ở thời điểm bắt đầu (trước khi điều trị), các nhóm được so sánh về