Tải bản đầy đủ (.doc) (48 trang)

PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG ĐÒN BẨY LÊN LỢI NHUẬN RỦI RO CỦA CÔNG TY MÔN TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (411.51 KB, 48 trang )

TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời kì hội nhập kinh tế thị trường ngày nay, bất kì doanh nghiệp
nào đều mong muốn có được vốn lợi nhuận cao nhất từ số vốn mà họ đã bỏ ra.
Muốn được vậy thì tiềm lực tài chính là vô cùng quan trọng để các doanh
nghiệp đưa ra các chính sách hợp lý và thành công. Đòn bẩy như là công cụ để
khuếch đại lực, biến một lực nhỏ thành lực lớn hơn tác động vào vật thể cần
dịch chuyển. trong vật lý người ta dựa vào điểm tựa cố định để khuếch đại lực
nhằm mục tiêu di chuyển một vật thể nào đó. Thuật ngữ “đòn bẩy” trong tài
chính ám chỉ việc sử dụng chi phí cố định để gia tăng khả năng sinh lợi của
doanh nghiệp. Tuy nhiên, đòn bẩy trong tài chính là con dao hai lưỡi. Nếu hoặt
động của doanh nghiệp tốt, đòn bẩy sẽ khuếch đại cái tốt lên gấp bội lần và
ngược lại. Chính vì vậy việc nghiên cứu tác động của đòn bẩy hoạt động, đòn
bẩy tài chính và đòn bẩy tổng hợp tới lợi nhuận và rủi ro của doanh nghiệp sẽ
giúp doanh nghiệp hoặc định chính xác hay đưa ra các biện pháp phù hợp.

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.

Khái niệm đòn bẩy và một số khái niệm cơ bản liên quan
1.1 Khái niệm đòn bẩy

Đòn bẩy liên quan đến việc sử dụng các chi phí hoạt động cố định và các
chi phí tài chính cố định của một doanh nghiệp.
Đòn bẩy hoạt động là mức độ sử dụng chi phí hoạt động cố định, công ty
đầu tư chi phí cố định với hy vọng số lượng tiêu thụ sẽ tạo ra doanh thu đủ lớn để
trang trải chi phí cố định và chi phí biến đổi. Giống như chiếc đòn bẩy trong cơ
học, sự hiện diện của chi phí hoạt động cố định gây ra sự thay đổi trong số lượng
tiêu thụ để khuếch đại sự thay đổi lợi nhuận (lỗ). Ảnh hưởng của đòn bẩy thể
hiện ở chỗ sự biến đổi nhỏ về doanh thu (hoặc sản lượng) sẽ làm phát sinh sự


biến đổi lớn về lợi nhuận (lỗ).
Đòn bẩy tài chính liên quan đến việc sử dụng các nguồn tài trợ có chi phí cố
định. Đòn bẩy tài chính được định nghĩa như là mức độ theo đó các chứng khoán
có thu nhập cố định (nợ và cổ phiếu ưu đãi) được sử dụng trong cấu trúc nguồn
vốn của công ty.
Cấu trúc vốn được định nghĩa là tất cả các nguồn vốn trung và dài hạn có
sẵn cho một doanh nghiệp, bao gồm nợ trung, dài hạn; cổ phần ưu đãi và vốn cổ
phần thường.
Bảng báo cáo thu nhập - Hình thức điều chỉnh

Page |1


TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Doanh số
Trừ Chi phí hoạt động biến đổi
Đòn bẩy hoạt
động

Chi phí hoạt động cố định
Tổng chi phí hoạt động
Lãi trước thuế và lãi vay (EBIT)
Trừ Chi phí tài chính cố định (lãi vay)
Lãi trước thuế (EBT)
Trừ thuế thu nhập doanh nghiệp

Đòn bẩy tài chính Lãi sau thuế (EAT)
Lãi ròng phân phối cho cổ phần
thường
Thu nhập mỗi cổ phần (EPS)


1.2 Các khái niệm cơ bản liên quan

Chi phí khả biến là những chi phí mà giá trị của nó sẽ thay đổi theo sự thay
đổi về mức độ hoạt động. Tổng số của chi phí khả biến sẽ tăng khi mức độ hoạt
động tăng, và ngược lại. Tuy nhiên nếu tính trên một đơn vị của mức độ hoạt
động thì chi phí khả biến lại không đổi trong phạm vi phù hợp. Chi phí khả biến
gồm: chi phí nguyên liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí giá vốn
hàng bán, chi phí bao bì đóng gói, chi phí hoa hồng bán hàng…
Chi phí bất biến là những chi phí mà tổng số của nó không thay đổi khi mức
độ hoạt động thay đổi. Vì tổng số không thay đổi nên khi mức độ hoạt động tăng
thì chi phí bất biến tính trên một đơn vị hoạt động sẽ giảm đi, và ngược lại.
Thông thường trên các báo cáo, chi phí bất biến được thể hiện dưới dạng tổng số.
Chi phí bất biến gồm những chi phí có liên quan đến những máy móc thiết bị,
nhà xưởng, cơ sở hạ tầng, chi phí quản lý, chi phí lương văn phòng, chi phí khấu
hao, thuê tài chính dài hạn, chi phí bảo trì, bảo hiểm, chi phí quảng cáo, chi phí
đào tạo, bồi dưỡng nghiên cứu…

Page |2


TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Chi phí hỗn hợp là chi phí mà thành phần của nó bao gồm cả yếu tố bất biến
và yếu tố khả biến. Ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thường thể
hiện các đặc điểm của chi phí bất biến, ở mức độ hoạt động vượt quá mức căn
bản nó thể hiện đặc điểm của yếu tố khả biến. Sự pha trộn giữa phần bất biến và
khả biến có thể theo những tỷ lệ nhất định.
Ở đây chỉ phân tích trong ngắn hạn bởi vì trong dài hạn tất cả chi phí đều có
thể biến đổi. Qua thời gian, một doanh nghiệp có thể thay đổi quy mô các cơ sở
vật chất và số nhân viên điều hành để đáp ứng với các thay đổi trong doanh thu.

2.

Đòn bẩy hoạt động (Operating Leverage)
2.1 Đo lường tác động của đòn bẩy hoạt động

Dưới tác động của đòn bẩy hoạt động, một sự thay đổi trong số lượng hàng
bán đưa đến kết quả lợi nhuận (lỗ) gia tăng với tốc độ lớn hơn. Để đo lường mức
độ tác động của đòn bẩy hoạt động, người ta sử dụng chỉ tiêu độ bẩy hoạt động
(degree of operating leverage - DOL). Độ bẩy hoạt động được định nghĩa là phần
trăm thay đổi của lợi nhuận hoạt động so với phần trăm thay đổi của sản lượng
(hoặc doanh thu).
Phần trăm thay
Độ bẩy hoạt động
đổi
=
(DOL)
lợi nhuận
hoạt đổi
(1)
Phần
trăm thay
ở mức sản lượng Q
động
sản lượng (hoặc doanh
(doanh thu S)
thu)

DOL 

EBIT / EBIT

Q / Q

Cần lưu ý rằng độ bẩy có thể khác nhau ở những mức sản lượng (hoặc
doanh thu) khác nhau. Do đó, khi nói đến độ bẩy phải chỉ rõ độ bẩy ở mức sản
lượng Q, doanh thu S nào đó. Chúng ta thực hiện thêm một số biến đổi công thức
(1) để có thể dễ dàng tính DOL theo cách khác:
Lợi nhuận hoạt động EBIT = PQ – VQ – F = Q(P-V) – F
Bởi vì đơn giá P, định phí F, và biến phí đơn vị V là cố định nên:
∆EBIT = ∆Q(P-V). Thay vào công thức (1) ta được:

Page |3


TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Q( P  V )
Q( P  V )  F
Q ( P  V )
Q
Q( P  V )
DOLQ 

x

Q
Q( P  V )  F Q ( P  V )Q  F
Q
Q( P  V )
DOLQ 
( P  V )Q  F


(2)

Công thức (2) dùng để tính độ bẩy hoạt động theo sản lượng Q, công thức
này chỉ thích hợp đối với những công ty mà sản phẩm có tính đơn chiếc. Đối với
công ty sản xuất sản phẩm đa dạng và không thể tính thành đơn vị, chúng ta sử
dụng chỉ tiêu độ bẩy theo doanh thu. Công thức tính độ bẩy theo doanh thu như
sau:
DOLS 

SV
EBIT  F

SV F
EBIT

S: doanh thu, V: tổng chi phí khả biến
Số dư đảm
Độ bẩy hoạt
= phí
Lợi
động
nhuận
Giả định có hai công ty cùng doanh thu và lợi nhuận, nếu tăng cùng một
lượng doanh thu như nhau, thì những công ty có tỷ lệ số dư đảm phí lớn, lợi
nhuận tăng lên càng nhiều, vì vậy tốc độ tăng lợi nhuận lớn hơn và độ bẩy hoạt
động sẽ lớn hơn. Điều này cho thấy những công ty mà tỷ trọng chi phí bất biến
lớn hơn khả biến thì tỷ lệ số dư đảm phí lớn, từ đó đòn bẩy hoạt động sẽ lớn và
lợi nhuận sẽ rất nhạy cảm với sự thay đổi doanh thu, sản lượng bán.
2.2 Yếu tố tác động đòn bẩy hoạt động


Yếu tố tác động đến đòn bẩy hoạt động có ý nghĩa quan trọng và quyết định
nhất chính là kết cấu chi phí.
Những công ty có chi phí bất biến chiếm tỷ trọng lớn, chi phí khả biến
chiếm tỷ trọng nhỏ thì tỷ lệ số dư đảm phí lớn nên nếu tăng (giảm) doanh thu thì
lợi nhuận tăng (giảm) nhiều hơn. Những công ty có chi phí bất biến chiếm tỷ
trọng lớn là những công ty có mức đầu tư lớn, nếu gặp thuận lợi tốc độ phát triển
nhanh. Ngược lại nếu gặp rủi ro sản phẩm không tiêu thụ được, doanh thu giảm
thì lợi nhuận giảm nhanh, sự phá sản diễn ra nhanh chóng.
Những công ty có chi phí bất biến chiếm tỷ trọng nhỏ, chi phí khả biến
chiếm tỷ trọng lớn thì tỷ lệ số dư đảm phí nhỏ nên nếu tăng (giảm) doanh thu thì
lợi nhuận tăng (giảm) ít hơn. Những công ty có chi phí bất biến chiếm tỷ trọng
nhỏ là những công ty có mức đầu tư thấp vì vậy tốc độ phát triển chậm, nhưng
nếu gặp rủi ro sản phẩm không tiêu thụ được thì sự thiệt hại cũng sẽ thấp hơn.

Page |4


TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Có thể hiểu theo cách khác, độ bẩy kinh doanh cao có thể giúp doanh
nghiệp tạo ra nhiều lợi nhuận hơn từ mỗi doanh số tăng thêm (doanh số biên tế)
nếu việc bán một sản phẩm tăng thêm đó chỉ làm gia tăng chi phí khả biến đơn vị
nhỏ. Vì hầu hết các chi phí đã là chi phí cố định. Do vậy, lợi nhuận biên tế được
tăng lên và thu nhập cũng tăng nhanh hơn.
Trong khoảng thời gian kinh doanh thuận lợi, một đòn bẩy hoạt động cao có
thể tạo thêm lợi ích cho công ty. Nhưng các công ty có các chi phí “cột
chặt" trong máy móc, nhà xưởng, nhà đất và hệ thống kênh phân phối sẽ không
thể dễ dàng cắt giảm chi phí khi muốn điểu chỉnh theo sự thay đổi trong lượng
cầu. Vì vậy, nếu nền kinh tế có sự sụt giảm mạnh, thu nhập có thể “rơi tự do”.
Rủi ro kinh doanh tùy thuộc một phần vào phạm vi định phí của công ty,
định phí của công ty càng cao thì rủi ro kinh doanh càng lớn. Nếu mức cầu sụt

giảm, một công ty với các biến phí có thể điều chỉnh dễ dàng, trong khi công ty
với các định phí lớn sẽ mất tiền.
2.3 Vai trò của đòn bẩy hoạt động đối với rủi ro của doanh nghiệp

Rủi ro doanh nghiệp là rủi ro do những bất ổn phát sinh trong hoạt động của
doanh nghiệp khiến cho lợi nhuận hoạt động giảm. Cần chú ý rằng độ bẩy hoạt
động chỉ là một bộ phận của rủi ro doanh nghiệp. Yếu tố chính của rủi ro doanh
nghiệp là sự thay đổi hay sự bất ổn của doanh thu và chi phí sản xuất, còn đòn
bẩy hoạt động làm khuếch đại sự ảnh hưởng của các yếu tố này lên lợi nhuận
hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên bản thân đòn bẩy hoạt động không phải
là nguồn gốc của rủi ro, bởi lẽ độ bẩy cao cũng chẳng có ý nghĩa gì cả nếu doanh
thu và cơ cấu chi phí cố định, bởi vì cái gốc là sự thay đổi doanh thu và chi phí
sản xuất. Các nhà đầu tư khôn ngoan đều hiểu rằng dù một doanh nghiệp có mở
rộng phạm vi thay đổi doanh số nhiều hơn mức cho trước cũng không có nghĩa là
đầu tư nhiều hơn đã làm gia tăng chi phí cố định và sau đó là gia tăng đòn bẩy
hoạt động. Do đó sẽ sai lầm nếu như đồng nghĩa độ bẩy hoạt động với rủi ro
doanh nghiệp. Tuy nhiên, độ bẩy hoạt động có tác dụng khuếch đại sự thay đổi
lợi nhuận và do đó khuếch đại rủi ro của doanh nghiệp.
Từ giác độ này, có thể xem độ bẩy hoạt động như là một dạng rủi ro tiềm
ẩn, nó chỉ trở thành rủi ro hoạt động khi nào xuất hiện sự biến động doanh thu và
chi phí sản xuất.
2.4 Ý nghĩa và tác dụng của đòn bẩy hoạt động

Sau khi nghiên cứu về đòn bẩy hoạt động, chúng ta đặt ra câu hỏi: Hiểu biết
về đòn bẩy hoạt động của công ty có ích lợi thế nào đối với giám đốc tài chính?
Là giám đốc tài chính, bạn cần biết trước xem ở một mức định phí nào đó, sự
thay đổi doanh thu sẽ ảnh hưởng thế nào đến lợi nhuận hoạt động. Độ bẩy hoạt
động chính là công cụ giúp bạn trả lời câu hỏi này. Khi doanh thu tăng hay giảm
X % thì EBIT có chiều hướng tăng hay giảm X %×DOL. Nếu doanh nghiệp có
độ bẩy hoạt động cao, chỉ có biến động nhỏ trên doanh thu sẽ gây ảnh hưởng lớn

đến lợi nhuận.
Page |5


TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Đôi khi biết trước độ bẩy hoạt động, công ty có thể dễ dàng hơn trong việc
quyết định chính sách doanh thu và chi phí của mình. Nhưng nhìn chung, công ty
không thích hoạt động dưới điều kiện độ bẩy hoạt động cao, bởi vì trong tình
huống như vậy chỉ cần một sự sụt giảm nhỏ của doanh thu cũng dễ dẫn đến sụt
giảm lớn lợi nhuận.
Trái lại, một số doanh nghiệp dự đoán kinh tế sẽ phát triển tốt, thị phần và
doanh số ngày càng khả quan hơn, sẽ trang bị thêm cơ sở vật chất và máy móc
hiện đại, độ bẩy hoạt động lớn sẽ đẩy mạnh mức gia tăng lợi nhuận.
Sử dụng đòn bẩy hoạt động hợp lý có tác dụng khuếch đại gia tăng EBIT.
Tuy nhiên sự khuếch đại này không phải tuyến tính mà theo quy luật giảm dần.
3.

Đòn bẩy tài chính (Financial Leverage)

Có một điều khác biệt lý thú giữa đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính là
công ty có thể lựa chọn đòn bẩy tài chính trong khi không thể lựa chọn đòn bẩy
hoạt động. Đòn bẩy hoạt động phụ thuộc phần lớn vào đặc điểm hoạt động của
công ty quyết định, chẳng hạn công ty hoạt động trong ngành hàng không và
luyện thép có đòn bẩy hoạt động cao trong khi công ty hoạt động trong ngành
dịch vụ như tư vấn và du lịch có đòn bẩy hoạt động thấp. Đòn bẩy tài chính thì
khác, công ty có quyền lựa chọn những hình thức tài trợ khác nhau như nợ vay,
cổ phiếu ưu đãi hay cổ phiếu thường. Thế nhưng trên thực tế ít khi có công ty
nào không sử dụng đòn bẩy tài chính, vậy lý do gì khiến công ty sử dụng đòn bẩy
tài chính?
Trước hết, nợ vay có những lợi thế sau:

 Chi phí trả lãi vay được tính trừ vào lợi nhuận trước khi tính thuế, hạ thấp
chi phí thực của lãi vay.
 Phân tán rủi ro cho vốn chủ sở hữu.
 Không phải lo sợ vấn đề hiệu ứng pha loãng quyền sở hữu nếu phát hành
bổ sung cổ phiếu gọi vốn.
 Công ty có thể chủ động điều chỉnh cơ cấu vốn tuỳ theo từng thời kỳ.
Tuy nhiên, sức ép vận hành đảm bảo lợi suất cao hơn lãi suất, đảm bảo điểm
rơi lợi nhuận tích lũy đủ thanh toán nợ gốc. Nếu công ty gặp khó khăn tài chính
và lợi tức kinh doanh không đủ bù đắp chi phí về lãi suất, các cổ đông của công
ty sẽ phải bù vào chỗ sụt giảm đó.
Cổ phiếu ưu đãi không phải trả vốn gốc nhưng không được khấu trừ thuế
khi tính thu nhập chịu thuế.
Khi hoạt động kinh doanh hiệu quả, công ty thường quyết định tài trợ vốn
từ những nguồn có chi phí cố định (nợ vay và cổ phiếu ưu đãi), bởi vì người nắm
giữ nợ có được lợi nhuận cố định nên các cổ đông không phải chia sẻ lợi nhuận

Page |6


TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
của họ nếu công ty rất thành công, có thể tận dụng lợi thế đòn bẩy tài chính để
gia tăng lợi nhuận cho cổ đông.
Cổ phiếu ưu đãi không được khấu trừ thuế khi tính thu nhập chịu thuế làm
cho chi phí sử dụng vốn cổ phần ưu đãi cao hơn chi phí sử dụng nợ, vì thế công
ty thích sử dụng đòn bẩy tài chính bằng nợ hơn cổ phiếu ưu đãi.
3.1 Đo lường tác động của đòn bẩy tài chính
3.1.1 Độ bẩy tài chính (DFL)

Độ bẩy tài chính (degree of financial leverage – DFL) là một chỉ tiêu định
lượng dùng để đo lường mức độ biến động của EPS khi EBIT thay đổi. Độ bẩy

tài chính ở một mức độ EBIT nào đó được xác định như là phần trăm thay đổi
của EPS khi EBIT thay đổi 1 phần trăm.
Độ bẩy tài chính
(DFL)
ở mức EBIT
 DFLEBIT 

=

Phần trăm thay đổi
EPS
Phần trăm thay đổi
EBIT

EBIT
EBIT  I   PD /(1  t )

Độ bẩy tài chính là công cụ để biết trước xem ở một mức định phí tài trợ
nào đó, sự thay đổi lợi nhuận trước thuế và lãi vay sẽ ảnh hưởng thế nào đến lợi
nhuận trên mỗi cổ phần. Khi EBIT tăng hay giảm X % thì EPS có chiều hướng
tăng hay giảm X %×DFL. Nếu doanh nghiệp có độ bẩy tài chính cao, chỉ có biến
động nhỏ của EBIT sẽ gây ảnh hưởng lớn đến EPS.
EPS được xác định theo công thức sau:
EPS 

( EBIT  I )(1  t )  PD
NS

Trong đó:
I: lãi suất phải trả.

PD: cổ tức cổ phiếu ưu đãi.
t: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp.
NS: số lượng cổ phần thông thường.
Sự phối hợp các phương án tài trợ sẽ làm thay đổi lãi vay, cổ tức và số
lượng cổ phần dẫn đến thay đổi EPS kỳ vọng. Công thức tính EPS được xác định
trong mối quan hệ EBIT và các yếu tố trên là cơ sở phối hợp các phương án tài
trợ để đem lại lợi nhuận trên vốn cổ phần cao nhất.
3.1.2 Các tỷ số đòn bẩy tài chính (Financial leverage ratios)

Page |7


TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Các nhà cung cấp tín dụng căn cứ vào tỷ số đòn bẩy tài chính để đánh giá
xem công ty có vay quá nhiều hay không? Từ đó đưa ra quyết định cho vay vì
công ty càng có nhiều nợ vay thì rủi ro về mặt tài chính càng lớn.
Đối với công ty, tỷ số đòn bẩy tài chính sẽ giúp nhà quản trị tài chính lựa
chọn cấu trúc vốn hợp lý cho công ty mình. Các tỷ số đòn bẩy tài chính thông
thường là:
 Tỷ số nợ trên tài sản (Debt ratio): tỷ số này cho thấy bao nhiêu phần trăm
tài sản của công ty được tài trợ bằng vốn vay.
Tỷ số nợ
=

Tổng nợ

Tổng tài
sản
Tổng nợ: bao gồm toàn bộ khoản nợ ngắn hạn và dài hạn như: các khoản
phải trả, vay ngắn hạn, nợ dài hạn do đi vay hay phát hành trái phiếu dài hạn.

 Tỷ số nợ trên vốn cổ phần (Debt to equity ratio)
Tổng nợ
Tỷ số nợ trên vốn cổ
Vốn cổ
phần =
phần
Tỷ số lớn hơn 100% chứng tỏ nhà cho vay đã tài trợ nhiều hơn vốn cổ phần.
Tuy nhiên, hầu hết các khoản vốn vay này lại là tín dụng thương mại phi lãi suất
và những khoản phải trả ngắn hạn. Vì vậy, để thấy được mức độ tài trợ vốn vay
một cách thường xuyên (qua đó thấy được rủi ro về mặt tài chính mà công ty
đang chịu), người ta dùng tỷ số nợ dài hạn trên vốn cổ phần.
Nợ dài
Tỷ số nợ dài
=
hạn
hạn
Vốn cổ
trên vốn cổ
phần
phần
 Tỷ số tổng tài sản trên vốn cổ phần (Equity multiplier ratio): đây cũng là
chỉ số để tính toán mức độ đi vay (rủi ro về tài chính) mà công ty đang gánh chịu.
Tổng tài sản
trên vốn cổ
phần

=

Tổng tài
sản

Vốn cổ
phần

 Khả năng thanh toán lãi vay (Times interest earned ratio): chúng ta
muốn biết rằng liệu số vốn đi vay có thể sử dụng tốt đến mức nào, có thể đem lại
khoản lợi nhuận bao nhiêu và đủ bù đắp lãi vay hay không. Tỷ số này dùng để đo
mức độ mà lợi nhuận phát sinh do sử dụng vốn để đảm bảo trả lãi vay như thế

Khả năng
Page |8
thanh toán lãi
vay

Lợi nhuận trước thuế & lãi
= vay
Lãi
vay


TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
nào. Nếu tỷ số này nhỏ hơn 1 hoặc âm, các chủ nợ có thể đi đến kiện tụng và
tuyên bố phá sản.

Kết luận: Các chỉ số nợ thể hiện năng lực tiếp nhận các nguồn tài chính từ
bên ngoài đáp ứng nhu cầu đầu tư và phát triển của doanh nghiệp, đồng thời cung
cấp thông tin bảo vệ chủ nợ tình huống doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.
3.1.3 Phương thức đo lường rủi ro tài chính khác

Rủi ro được đề cập ở đây là khả năng xảy ra khác biệt giữa lợi nhuận thực tế
so với lợi nhuận kỳ vọng. Để đo lường rủi ro người ta dùng phân phối xác suất

với hai tham số đo lường phổ biến là lợi nhuận kỳ vọng và độ lệch chuẩn.
a.

Lợi nhuận kỳ vọng và độ lệch chuẩn

Lợi nhuận kỳ vọng, ký hiệu là E(R) được định nghĩa như sau:
( ∑Pi = 1 )

n

E ( R )  ( Ri )( Pi )
i 1

Ri: lợi nhuận ứng với biến cố i
Pi: xác suất xảy ra biến cố i
n: số biến cố có thể xảy ra
Như vậy, lợi nhuận kỳ vọng chẳng qua là trung bình gia quyền của các lợi
nhuận có thể xảy ra với trọng số chính là xác suất xảy ra.
Để đo lường độ phân tán hay sai biệt giữa lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận
kỳ vọng, người ta dùng độ lệch chuẩn (). Độ lệch chuẩn chính là căn bậc hai
của phương sai:
n

 

R

 E ( R) ( Pi )
2


i

i 1

b. Hệ số biến đổi (Coefficient of variation - CV)

Độ lệch chuẩn đôi khi cho chúng ta những kết luận không chính xác khi so
sánh rủi ro nếu như quy mô lợi nhuận kỳ vọng khác nhau. Để khắc phục tình
trạng này, chúng ta dùng chỉ tiêu hệ số biến đổi:
CV 

Page |9


E (R )


TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Rủi ro tài chính là rủi ro biến động lợi nhuận trên vốn cổ phần kết hợp với
rủi ro mất khả năng chi trả phát sinh do doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính.
Khi doanh nghiệp gia tăng tỷ trọng nguồn tài trợ có chi phí cố định trong cơ cấu
nguồn vốn thì dòng tiền tệ cố định chi ra để trả lãi hoặc cổ tức cũng gia tăng. Kết
quả là xác suất mất khả năng chi trả tăng theo.
Nhiều doanh nghiệp trong những ngành khác nhau (có cấp độ khác nhau về
đòn cân định phí) có thể khác nhau về đòn cân nợ. Nhìn chung, các doanh nghiệp
lệ thuộc vào rủi ro kinh doanh cao có khuynh hướng sử dụng tương đối ít nợ hơn
những doanh nghiệp chỉ có mức rủi ro kinh doanh hạn chế. Nhưng những doanh
nghiệp sử dụng nhiều nợ vay sẽ có mức rủi ro tài chính cao hơn doanh nghiệp sử
dụng ít nợ vay. Tuy nhiên, những khuynh hướng vừa nêu trên là bình thường.


Các chỉ số để đo lường rủi ro tài chính là:
 Hệ số biến đổi của EBIT (CVEBIT = EBIT/ E(EBIT))
 Độ bẩy tài chính (DFL)
 Độ lệch chuẩn của lợi nhuận trên cổ phần (EPS)
 Hệ số biến đổi của EPS ( CVEPS = EPS/ E(EPS))
Cần lưu ý cách tính độ lệch chuẩn của EPS như sau:
( EBIT  I )(1  t )  PD (1  t )
I (1  t ) PD

EBIT 

NS
NS
NS
NS
(1  t )

 EBIT
NS

EPS 

 EPS

Các chỉ số trên càng lớn thể hiện tác động của đòn bẩy tài chính càng lớn thì
rủi ro càng cao. Tuy nhiên, công ty sử dụng đòn bẩy tài chính với hy vọng là sẽ
gia tăng được lợi nhuận cho cổ đông thường. Nếu sử dụng phù hợp, công ty có
thể dùng các nguồn vốn có chi phí cố định để tạo ra lợi nhuận lớn hơn chi phí trả
cho việc huy động vốn có lợi tức cố định, phần lợi nhuận còn lại sẽ thuộc về cổ
đông thường. Điều này thể hiện rõ hơn khi phân tích tác động nợ vay lên tỷ suất

lợi nhuận trên vốn cổ phần; quan hệ giữa lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT)
với lợi nhuận trên cổ phần (EPS).
3.2 Tác động đòn bẩy tài chính lên lợi nhuận và rủi ro
3.2.1 Tác động nợ vay lên tỷ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần

Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (Return on total assets ratio – ROA): chỉ
tiêu này đo lường khả năng sinh lợi trên 1 đồng vốn đầu tư vào công ty.

P a g e | 10

Tỷ suất sinh
lợi trên tổng
tài sản

=

Lợi nhuận
ròng
Tổng tài
sản


TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần (Return on equity ratio – ROE): đây là chỉ
tiêu mà nhà đầu tư rất quan tâm vì nó cho thấy khả năng tạo lãi của 1 đồng vốn
họ bỏ ra để đầu tư vào công ty.
Lợi nhuận
Tỷ suất sinh
=

ròng
lợi trên vốn
Vốn CSH
CSH
Sự khác nhau giữa tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lợi trên
vốn cổ phần là do công ty có sử dụng nợ. Nếu công ty không có nợ thì hai tỷ số
này sẽ bằng nhau.
 Tác động nợ vay lên tỷ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần thể hiện qua
việc so sánh giữa tỷ suất doanh lợi chung và lãi suất vay nợ. Sự chênh lệch giữa
tỷ lệ lợi nhuận đạt được và chi phí sử dụng vốn vay giúp doanh nghiệp biết được
khả năng chi trả lãi vay để có thể đưa ra quyết định tài trợ từ nợ vay hợp lý,
quyết định này tác động lên tỷ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần như thế nào? Đây
là vấn đề rất được cổ đông quan tâm.
Gọi NV: nợ vay, i: lãi suất vay, VCSH: vốn chủ sở hữu, TS: tổng tài sản
(bằng vốn cổ phần và nợ vay).
Công ty đầu tư tổng tài sản bằng vốn cổ phần thì toàn bộ lợi nhuận hoạt
động sẽ thuộc về cổ đông. Nếu đầu tư tổng tài sản bằng cả vốn cổ phần lẫn vốn
vay thì lợi nhuận hoạt động sẽ trừ đi chi phí lãi vay trước khi cổ đông nhận được
lợi nhuận của mình.
Khi tỷ suất sinh lợi chung lớn hơn lãi suất cho vay:
EBIT
i
TS
EBIT (TS  VCP )

 NV .i  0
TS
EBIT .VCP
 EBIT  NV .i 
TS

EBIT  NV .i EBIT


i
VCP
TS

Ngược lại, khi tỷ suất sinh lợi chung nhỏ hơn lãi suất cho vay thì:

P a g e | 11


TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
EBIT
i
TS
EBIT (TS  VCP )

 NV .i  0
TS
EBIT .VCP
 EBIT  NV .i 
TS
EBIT  NV .i EBIT


i
VCP
TS


=> Kết luận: đòn cân nợ có tiềm năng làm tăng tỷ suất doanh lợi trên vốn cổ
phần nhưng đồng thời cũng đem lại cho vốn cổ phần một nguy cơ rất lớn: nếu tỷ
suất doanh lợi chung cao hơn lãi suất vay nợ, thì tỷ suất doanh lợi trên vốn cổ
phần sẽ trở nên cao hơn. Trái lại, nếu tỷ suất doanh lợi chung thấp hơn lãi suất
vay nợ, tỷ suất doanh lợi trên vốn cổ phần sẽ trở nên thấp hơn cả chi phí trả lãi
vay.
3.2.2 Phân tích mối quan hệ EBIT (Earnings before interest and taxs) – EPS
(Earnings per share)

Phân tích mối quan hệ EBIT – EPS là phân tích sự ảnh hưởng của những
phương án tài trợ khác nhau đối với lợi nhuận trên cổ phần. Từ sự phân tích này,
chúng ta sẽ tìm ra một điểm bàng quan (indifferent point). Dù phối hợp các
phương án tài trợ thế nào thì công ty cũng kỳ vọng EPS cao, tuy nhiên tại EBIT
bàng quan thì phương án tài trợ nào cũng đều mang lại EPS như nhau.
Dựa vào công thức trên đây, chúng ta có thể xác định điểm bàng quan bằng
một trong hai phương pháp: phương pháp đại số và phương pháp hình học.

Xác định điểm bàng quan bằng phương pháp đại số
Áp dụng công thức tính EPS theo EBIT cho mỗi phuơng án, sau đó thiết lập
phương trình cân bằng như sau:
( EBIT1, 2  I 1 )(1  t )  PD1
NS1



( EBIT1, 2  I 2 )(1  t )  PD2
NS 2

Trong đó:
EBIT1,2: EBIT bàng quan giữa 2 phương án tài trợ 1 và 2.

I1, I2: lãi phải trả ứng với phương án 1 và 2.
PD1, PD2: cổ tức cổ phiếu ưu đãi theo phương án 1 và 2.
NS1, NS2: số cổ phần thông thường ứng với phương án 1 và 2.
Xác định điểm bàng quan bằng phương pháp hình học

P a g e | 12


TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Sử dụng đồ thị biểu diễn quan hệ giữa EBIT và EPS để có thể tìm ra được
điểm bàng quan, tức là điểm giao nhau giữa các phương án tài trợ ở đó EBIT
theo bất kỳ phương án nào cũng mang lại EPS như nhau. Để làm điều này, chúng
ta xây dựng đồ thị xác định điểm bàng quan theo ba phương án như hình vẽ sau:
EPS

Nợ

CP ưu đãi
CP thường

Điểm bàng quan
EBIT

Đối với mỗi phương án, lần lượt vẽ đường thẳng phản ánh quan hệ giữa
EPS với tất cả các điểm của EBIT. Tìm điểm thứ nhất bằng cách lần lượt cho
EPS = 0 để tìm ra EBIT tương ứng. Điểm thứ hai, cho EBIT bất kỳ để tìm ra EPS
tương ứng. Mỗi phương án đều xác định được hai điểm, nối hai điểm đó lại sẽ
tạo thành đường thẳng phản ánh quan hệ giữa EBIT và EPS của phương án đó.
Ý nghĩa điểm bàng quan
Từ phương pháp hình học cũng như phương pháp đại số, chúng ta tìm thấy

điểm bàng quan giữa hai phương án tài trợ bằng nợ và cổ phiếu thường là X.
Điều này có nghĩa là nếu EBIT thấp hơn điểm bàng quan X thì phương án tài trợ
bằng cổ phiếu thường tạo ra được EPS cao hơn phương án tài trợ bằng nợ, nhưng
nếu EBIT vượt qua X thì phương án tài trợ bằng nợ mang lại EPS cao hơn
phương án tài trợ bằng cổ phiếu thường.
Sau khi phân tích quan hệ EBIT – EPS. Các công ty có thể lựa chọn tài trợ
hoạt động kinh doanh của mình hoặc bằng nợ vay, cổ phần ưu đãi hay vốn cổ
phần để tận dụng tối đa lợi ích từ đòn bẩy tài chính.
Nếu như thế, các công ty phải được tài trợ hoặc là toàn bộ nợ vay, cổ phiếu
ưu đãi hay toàn bộ vốn cổ phần. Nhưng nếu giải pháp tốt nhất là kết hợp tất cả
các phương án tài trợ, vậy tỷ lệ mỗi loại là bao nhiêu là tốt nhất? Chúng ta sẽ
thảo luận các khía cạnh chủ yếu của nợ vay so với vốn cổ phần hay cơ cấu vốn
(chỉ xem xét nợ vay đại diện cho nguồn tài trợ có chi phí cố định và vốn cổ phần)
như thế nào để mang lại lợi nhuận trên mỗi cổ phần cao nhất.
EPS

P a g e | 13

Hình vẽ mối quan hệ giữa EBIT, EPS và đòn cân nợ


TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Nợ vay nhiều
∆EPSA

Nợ vay ít

∆EPSB


Vốn cổ phần

0
∆EBIT

EBIT

Hình trên thể hiện quan hệ giữa EBIT – EPS trong những kế hoạch tài trợ
khác nhau. Tỷ lệ nợ càng cao độ dốc các đường biểu diễn càng lớn, điều này ngụ
ý rằng độ nhạy cảm của EPS đối với sự thay đổi của EBIT là rất lớn. Sử dụng
đòn bẩy tài chính phóng đại thu nhập cả dương và âm cho cổ đông, khi EBIT
vượt qua điểm hòa vốn sự gia tăng EBIT làm EPS tăng cao hơn đối với phương
án sử dụng nhiều nợ vay hơn. Ngược lại, khi chưa đạt đến EBIT hòa vốn, thậm
chí bằng 0 thì phương án có đòn bẩy tài chính lớn hơn làm EPS âm càng nhiều.
Các thay đổi về sử dụng nợ sẽ tạo nên các thay đổi EPS. Khi tỷ lệ nợ trên tài
sản càng cao làm EPS kỳ vọng gia tăng. Mặc dù các chi phí lãi suất tăng, nhưng
tác động này được bù trừ nhiều hơn do số lượng cổ phiếu đã phát hành sụt giảm
khi nợ vay được thay thế cho vốn cổ phần, đồng thời nó cũng làm tăng rủi ro.
4.

Tổng hợp đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính

Khi đòn bẩy tài chính được sử dụng kết hợp với đòn bẩy hoạt động, sẽ tạo
ra đòn bẩy tổng hợp (Combined or total leverage). Như vậy, đòn bẩy tổng hợp là
việc công ty sử dụng kết hợp cả chi phí hoạt động và chi phí tài trợ cố định. Khi
sử dụng kết hợp, đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính có tác động đến EPS
khi số lượng tiêu thụ thay đổi qua hai bước.Bước thứ nhất, số lượng tiêu thụ thay
đổi làm thay đổi EBIT (tác động của đòn bẩy hoạt động). Bước thứ hai, EBIT
thay đổi làm thay đổi EPS (tác động của đòn bẩy tài chính). Để đo lường mức độ
biến động của EPS khi số lượng tiêu thụ thay đổi người ta dùng chỉ tiêu độ bẩy

tổng hợp (degree of total leverage – DTL).
Độ bẩy tổng hợp của công ty ở mức sản lượng (hoặc doanh thu) nào đó
bằng phần trăm thay đổi của EPS trên phần trăm thay đổi của sản lượng (hoặc
doanh thu).
Độ bẩy tổng hợp (DTL)
ở mức Q đơn vị (hoặc S
đồng)
P a g e | 14

=

Phần trăm thay đổi
EPS
Phần trăm thay đổi sản
lượng
(hoặc doanh thu)


TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Về mặt tính toán, độ bẩy tổng hợp (DTL) chính là tích số của độ bẩy hoạt
động với độ bẩy tài chính:
Phần trăm thay đổi
Phần trăm thay đổi
DTL =

EBIT
EPS trăm thay đổi
Phần
Phần trăm thay đổi sản

EBIT
lượng
(hoặc doanh thu)
DTLQ đơn vị hoặc S đồng = DOL × DFL
Thay vào công thức tính DOL, DFL ta có được:
DTLS 

SV
EBIT  I   PD /(1  t )

(V: tổng biến phí)

Tóm lại: Đòn bẩy tổng hợp liên quan đến việc sử dụng chi phí cố định nhằm
nổ lực gia tăng EPS cho cổ đông khi sản lượng tiêu thụ hoặc doanh thu tăng. Tác
động của đòn bẩy tổng hợp được đo lường bằng chỉ tiêu độ bẩy tổng hợp (DTL).
Tác động này tổng hợp từ tác động của đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính.
Đòn bẩy hoạt động liên quan đến việc sử dụng chi phí hoạt động cố định nhằm
nổ lực gia tăng lợi nhuận hoạt động trước thuế và lãi (EBIT). Tác động của đòn
bẩy hoạt động được đo lường bằng chỉ tiêu độ bẩy hoạt động (DOL). Đòn bẩy tài
chính liên quan đến việc sử dụng chi phí tài trợ cố định nhằm nổ lực gia tăng
EPS cho cổ đông. Tác động của đòn bẩy tài chính được đo lường bằng chỉ tiêu
độ bẩy tài chính (DFL). Giám đốc tài chính cần lưu ý rằng đòn bẩy trong tài
chính là con dao hai lưỡi. Nếu doanh nghiệp đạt được EBIT ít hơn định phí hoạt
động và chi phí tài trợ cố định thì sử dụng đòn bẩy có thể làm giảm lợi nhuận của
các cổ đông, khái niệm đòn bẩy làm sáng tỏ các đánh đổi rủi ro – lợi nhuận của
nhiều loại quyết định tài chính khác nhau.

 

P a g e | 15





TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Chương 3: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG ĐÒN BẨY LÊN LỢI NHUẬN & RỦI
RO CỦA CÔNG TY
1.

Giới thiệu chung về công ty cổ phần tập đoàn FLC

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển công ty FLC
Năm 2001, luật sư Trịnh Văn Quyết cùng hai cộng sự thành lập Công ty
Cổ phần Vietnam Trade Corp, hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh
thương mại - dịch vụ.
Đây là dấu mốc đầu tiên trong sự nghiệp của vị luật sư trẻ 26 tuổi, người mà sau
này là sáng lập viên của FLC, đồng thời là một tên tuổi lớn trong làng luật và
giới doanh nhân nước nhà.
Năm 2001 cũng chứng kiến một sự kiện quan trọng mà sau này sẽ có ảnh hưởng
lớn đến hoạt động của FLC. Sau khi đánh giá tiềm năng lâu dài trong lĩnh vực
tư vấn đầu tư, ông Quyết cùng các cộng sự tiếp tục cho ra đời Công ty Cổ phần
Tư vấn quản lý và Giám sát đầu tư (viết tắt là SMiC).
Ngã rẽ
Tiếp theo, trước yêu cầu của sự chuyên nghiệp hóa và các nhu cầu tư vấn về
chính sách của thị trường, bộ phận tư vấn chuyên sâu về luật của Công ty được
tách ra thành Văn phòng Luật SMiC. Bộ phận tư vấn này đóng vai trò tư vấn
pháp luật và chính sách cho khách hàng, đồng thời hỗ trợ pháp lý cho các hoạt
động kinh doanh khác của VIC.
Đến năm 2006, Văn phòng Luật SMiC chuyển đổi thành Công ty TNHH Luật
SMiC.

Sự ra đời của SMiC đã đánh dấu một mô hình tiên phong lần đầu tiên xuất hiện
tại Việt Nam vào thời điểm đó: công ty kinh doanh có sự tương hỗ từ một công
ty luật.
Và cũng chính điều này đã tạo nên một bản sắc độc đáo nhưng hiệu quả của Tập
đoàn FLC trong tương lai: bộ phận kinh doanh, thương mại đầu tư và pháp lý
cùng song hành và bổ trợ cho nhau để cùng phát triển, như một cỗ xe song mã.
Tăng tốc
Giai đoạn 2005 - 2006, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu ghi nhận những chuyển
động đáng chú ý trong các lĩnh vực ngân hàng, đầu tư tài chính, bất động sản…
Trong bối cảnh đó, như nhiều “đại gia” khác, ý tưởng mở rộng sang lĩnh vực
đầu tư tài chính, đầu tư bất động sản - thay vì chỉ hoạt động trong lĩnh vực
thương mại và tư vấn như trước đây.
Năm 2007, ông và các cộng sự quyết định thành lập Công ty Cổ phần Chứng
khoán FLCS (tiền thân là Công ty Cổ phần Chứng khoán Artex). FLCS chính
thức hoạt động năm 2008.

P a g e | 16


TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Tiếp đến, năm 2008, hàng loạt các công ty đầu tư tài chính và đầu tư như Công
ty TNHH Đầu tư Trường Phú (đổi tên là Công ty Cổ phần FLC từ tháng
1/2010), Công ty TNHH SG Invest và đặc biệt là Công ty Cổ phần Đầu tư tài
chính Ninh Bắc (tiền thân của Công ty Cổ phần FLC Land) - chủ đầu tư của dự
án FLC Landmark Tower - được thành lập.
Gia tăng mạnh mẽ đầu tư tài chính và đầu tư bất động sản, nhưng vẫn đi đều cả
“hai chân”. SMiC, sau khi khẳng định sự thành công trên lĩnh vực tư vấn pháp
luật và trở thành một thương hiệu lớn - với nhiều danh hiệu, giải thưởng, bằng
khen từ Bộ Tư pháp và Thủ tướng - tiếp tục ghi dấu một cột mốc nữa. Sau khi
có Luật Công chứng năm 2006, Văn phòng Công chứng Hà Nội trực thuộc

SMiC ra đời năm 2008, và đây là văn phòng công chứng tư nhân đầu tiên của
Hà Nội.
Năm 2009, SMiC mở chi nhánh tại Tp.HCM và Singapore. Cùng năm, tòa nhà
FLC Landmark Tower được khởi công trong tháng 10.
Đến giai đoạn này, trước yêu cầu bức thiết phải tập hợp sức mạnh và thống nhất
về mặt quản trị, ông Trịnh Văn Quyết cùng các đồng sự chủ chốt - ông Lê Đình
Vinh, ông Doãn Văn Phương, ông Nguyễn Thanh Bình – đã nhất trí chủ trương
hợp nhất các công ty thành viên dưới mô hình Công ty Cổ phần Tập đoàn FLC.
Định hình và khẳng định thương hiệu
Từ một công ty nhỏ thành lập năm 2008, tháng 11/2010, Công ty Cổ phần FLC
chính thức được đổi tên thành Công ty Cổ phần Tập đoàn FLC - sự hội tụ của
các công ty con và công ty liên kết.
Hai chữ “tập đoàn” không chỉ tiếp nối một giai đoạn phát triển sôi động trước
đó, mà còn là một bước phát triển mới về chất, được đánh dấu trên 5 phương
diện chính: giá trị thương hiệu, quy mô vốn và tài sản, đội ngũ nhân lực, chất
lượng quản trị và văn hóa doanh nghiệp.
Với ba mảng hoạt động mũi nhọn (đầu tư tài chính, bất động sản, khai khoáng),
FLC đồng thời vẫn mở ra các lĩnh vực kinh doanh mới cho tập đoàn.
Sau sự kiện FLC chính thức niêm yết trên sàn chứng khoán, ngày 5/10/2011,
mở ra kênh huy động vốn lớn cho công ty để thực hiện các chiến lược đầu tư
lớn trung và dài hạn, vốn điều lệ của toàn bộ tập đoàn và các công ty thành viên
cũng tăng rất mạnh, lên 1.000 tỷ đồng. Tổng tài sản tăng lên hàng nghìn tỉ đồng.
Tháng 12/2011, toàn bộ Tập đoàn chuyển về hoạt động tại tòa nhà FLC
Landmark Tower, nằm tại tâm điểm của phía Tây Hà Nội, khu vực có tốc độ
phát triển mạnh nhất ở Hà Nội trong nhiều năm qua. Đáng chú ý là trong giai
đoạn này, khi thị trường bất động sản gặp tình trạng khó khăn chung thì tòa nhà
FLC Landmark Tower vẫn thực hiện đúng cam kết đảm bảo đúng tiến độ.
Cũng trong năm 2011, SMiC nhận được bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.
Đây là công ty luật Việt Nam đầu tiên nhận được bằng khen này. Tháng 8/2012,


P a g e | 17


TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
SMiC vinh dự nhận danh hiệu Hãng luật tiêu biểu của năm và ông Trịnh Văn
Quyết Quyết nhận danh hiệu Luật sư tiêu biểu năm 2012.
Từ năm 2011 và đặc biệt năm 2012, trong định hướng thực hiện việc mua bán,
sáp nhập các công ty có tiềm năng phát triển, tái cơ cấu và sắp xếp lại tổ chức
các công ty nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, FLC bắt đầu mở rộng rất nhiều
các mảng kinh doanh khác, đặc biệt là mảng dịch vụ, như du lịch, đại lý vé máy
bay, công nghệ, truyền thông, dịch vụ golf... và hàng loạt các công ty ra đời.
Đồng thời, các công ty thành viên trong tập đoàn được tái cơ cấu như FLC
Global (tiền thân là FLC Travel) và FLC Tech & Media (tiền thân là FLC Media
và Phòng Kinh doanh Công nghệ của Tập đoàn).
Một hướng đầu tư mới cũng được khai phá trong năm 2012, nhằm nâng cao sự
gắn kết với cộng đồng của Tập đoàn. Trường Cao đẳng nghề FLC được hình
thành và bắt đầu đi vào hoạt động tại tầng 4, tòa nhà FLC Landmark Tower, với
vốn đầu tư ban đầu là 60 tỉ đồng.
Năm 2012 cũng tiếp tục ghi nhận các dấu ấn của FLC trong các hoạt động đóng
góp cho cộng đồng, thể hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (xây nhà tình
nghĩa, hoạt động tài trợ)…
Cho đến hiện tại, FLC đã trở thành một thương hiệu có sức phát triển lan tỏa
đáng ngạc nhiên tại Việt Nam khi được công chúng quan tâm chú ý chỉ trong
một thời gian ngắn. Mở rộng hoạt động với tốc độ nhanh và quy mô lớn, nhưng
có thể thấy trong mỗi bước đi, FLC vẫn giữ được sự tỉnh táo và cẩn trọng.
Có lẽ, chính tư duy này của những nhà lãnh đạo chủ chốt tại FLC đã giúp Tập
đoàn tiếp tục phát triển vững chắc trong giai đoạn bất động sản suy thoái, giữa
lúc hàng loạt “đại gia” khác lâm vào cảnh khó khăn.
1.2.Những giải thưởng chứng nhận tiêu biểu của công ty.
 Tháng 8 năm 2012, đón nhận chứng chỉ "Hệ thống quản lý chất lượng ISO

9001:2008" được trao bởi Direct Assessment Services (DAS).
 Ngày 6 tháng 4 năm 2013, Tập đoàn FLC nhận giải thưởng "Doanh nghiệp
Hội nhập và Phát triển" [cần dẫn nguồn].
Cúp "Doanh nghiệp Hội nhập và Phát triển" 2013, 2014, 2015[cần dẫn
nguồn].
 Ngày 24 tháng 5 năm 2013, FLC Group được Bộ Xây dựng và Hiệp hội Bất
động sản trao tặng Bằng khen vì những thành tích xuất sắc trong năm 2012 và
những đóng góp tích cực cho sự phát triển của Hiệp hội Bất động sản nói
riêng, ngành bất động sản Việt Nam nói chung.
 Bằng khen của Bộ Xây dựng 2013, 2014, 2015
 Giải thưởng Sao Vàng Đất Việt 2013[6][7], và năm 2015[8].
 Ngày 6 tháng 8 năm 2015, giành giải Chiến lược M&A tiêu biểu 2014 - 2015
P a g e | 18


TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
tại Diễn đàn M&A 2015 [9] với chủ đề "Chờ đón sự bùng nổ".
 FLC được bình chọn vào Top 50 "Công ty kinh doanh hiệu quả nhất Việt
Nam" do tạp chí Nhịp cầu đầu tư bình chọn năm 2015 [10].
1.3.Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý của công ty
1.3.1. Cơ cấu tổ chức của công ty.
























Tiền thân của FLC là Công ty TNHH Đầu tư Trường phú Fortune được thành
lập với số vốn ban đầu là 18 tỷ đồng [1]
.Năm 2001, thành lập Công ty Cổ phần Việt Nam Trade Corp, hoạt động trong
lĩnh vực kinh doanh thương mại - dịch vụ. Sau đó, Công ty cổ phần Tư vấn quản
lý và Giám sát đầu tư (viết tắt là SMiC) ra đời.
Năm 2006, văn phòng Luật SMiC chuyển đổi thành Công ty TNHH Luật
SMiC.
Năm 2007, thành lập Công ty cỏ phần Chứng khoán FLCS (tiền thân là Công
ty cổ phần chứng khoán Artex). FLCS chính thức đi vào hoạt động năm 2008.
Năm 2008, các công ty đầu tư tài chính và đầu tư như Công ty TNHH Đầu tư
Trường Phú (đổi tên là Công ty cổ phần FLC từ tháng 1 năm 2010), Công ty
TNHH SG Invest và đặc biệt là Công ty cổ phần Đầu tư tài chính Ninh Bắc (tiền
thân của Công ty cổ phần FLC Land) - chủ đầu tư của dự án FLC Landmark
Tower - được thành lập.
Năm 2009, SMiC mở chi nhánh tại Thành phố HCM và Singapore.
Ngày 9/12 năm 2009 Công ty TNHH Đầu tư Trường phú Fortune được chuyển

đổi thành Công ty cổ phần với tên gọi là Cong ty cổ phần Đầu tư tổng hợp CRV,
sau đó đổi tên thành Công ty cổ phần vào ngày 20/1 năm 2010.
Đầu năm 2010, sàn giao dịch bất động sản FLC ra đời . Ngày 20/11năm
2010, Công ty cổ phần FLC được đổi tên thành Công ty cổ phần tập đoàn FLC.
Trong năm 2011, SMiC nhận được bằng khen của Thủ tướng chính phủ Tháng
10 năm 2011, cổ phiếu FLC chính thức niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán
Hà Nội. Từ năm 2011-2012, FLC bắt đầu mở rộng kinh doanh khác như du lịch,
đại lý vé máy bay, công nghệ, truyền thông, dịch vụ golf... và đẻ ra hàng loạt các
công ty. Đồng thời, các công ty thành viên trong tập đoàn được tái cơ cấu như FLC
Global (tiền thân là FLC Travel) và FLC Tech & Media.
Tháng 8 năm 2012 SMiC nhận danh hiệu Hãng luật tiêu biểu của nămTháng 11
năm 2012, khánh thành Sân tập Golfnet 2 - một trong những sân tập golf hiện đại
bậc nhất tại Việt Nam
Tháng 8 năm 2013, cổ phiếu FLC chính thức chuyển sang niêm yết tại Sở giao
dịch chứng khoán thành phố HCM với mã giao dịch: FLC.
Tháng 7 năm 2014, cổ phiếu FLC có mặt tại sàn VN30 với mã giao dịch:
FLC và FLC tăng vốn điều lệ lên mức 3.150 tỷ đồng

P a g e | 19


TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP




Năm 2014, FLC triển khai hàng loạt dự án quy mô lớn như Khu Công nghiệp
Tam Dương II, Khu Công nghiệp Hòn La II, Quần thể du lịch nghỉ dưỡng sinh
tháiSầm Sơn, FLC Complex 36 Phạm Hùng, FLC Complex Thanh Hóa, Khu Công
nghiệp Chấn Hưng, Khu Trung tâm hành chính mới Khánh Hòa, FLC Star

Tower Hà Đông.
Tháng 7 năm 2015, khánh thành Quần thể du lịch nghỉ dưỡng sinh thái
FLC Sầm Sơn Năm 2015, tăng vốn điều lệ lên gần 8.400 tỷ đồng và lợi nhuận
trước thuế trên 1.000 tỷ đồng.,đồng thời khởi công Dự án Quần thể sân golf, resort,
biệt thự nghỉ dưỡng và giải trí cao cấp FLC Quy Nhơn và FLC Twin Tower tại
265 Cầu Giấy,Hà Nội.

Công ty thành viên liên kết[


Công ty cổ phần Liên doanh Đầu tư Quốc tế KLF (KLF Global)



Công ty Luật TNHH SMiC



Công ty cổ phần Công Nghệ OTP FLC Việt Nam



Công ty TNHH Một thành viên FLC Land



Công ty cổ phần FLC Golf & Resort




Công ty cổ phần Đầu tư tài chính & Địa ốc Alaska



Trường cao đẳng Nghề FLC



Công ty cổ phần FLC Travel



Công ty TNHH Đầu tư & Phát triển FLC Vĩnh Phúc



Công ty TNHH Dịch vụ trực thăng & du thuyền FLC



Công ty TNHHThương Mại & Nhân lực Quốc tế FLC



Công ty cổ phần Địa ốc Star Hà Nội



Công tyTNHH Đầu tư & Quản lý tòa nhà Ion Complex




Công ty TNHH FLC Land Tanh Hóa



Công tyTNHH Đầu tư & Phát triển Địa ốc Khánh Hòa



Công ty TNHH FLC Samson Golf & Resort

FLC GROUP ORGANIZATION CHART

P a g e | 20


TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN FLC

FLC GROUP
CÔNG TY MẸ
CÔNG TY CỔ
PHẦN TẬP
ĐOÀN FLC

Công ty
con

Công ty

TNHH
MTV
FLC
LAND

Công ty
cổ phần
công
nghệ
OTP
FLC

Công ty
liên kết

Trường
cao đẳng
nghề
FLC

Công ty
cổ phần
đầu tư
địa ốc
ALAS

Trườn
g mầm
non
FLC


Công ty
cổ phần
FLC
golf and
resort

Công ty
cổ phần
lien
doanh
đầu tư

Công ty TNHH HẢI
CHÂU
Công ty cổ phần
TRAVEL VĨNH

Đại Hội đồng cổ đông
Ban kiểm
soát

Hội đồng quản trị

P a g e | 21
đốc
Đầu
tư vàhành
kinh Tổng giám Pháp
Tổ

chức
chếdự
Tài
chính
kế
Phó
tổng
giám
BLQ
các
án
Phát triển
dự
án
Sàn bấtkhoáng
động
doanh
chính
toán
đốc

Công ty cổ phần giải
trí green bell

Thư kí HĐQT
Kinh doanh
tổng
Trung
Đào
tạo

Chitổng
nhánh
thiết
bịtâm
dạy Thư Phó
Phó
Đoàn
thể
Đối
ngoại

TGĐ
giám
đốc
xuất
khẩu
dạy nghề
TP HCM
nghề
giám
đốc


TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

1.4. Nhận xét chung
Nhận xet chung ve FLC
FLC Group gây chú ý với hai dự án lớn. Đầu tháng 5, công ty niêm yết trên sàn chứng
khoán TP.HCM này khởi công khu phức hợp sân golf 18 lỗ và khu nghỉ dưỡng FLC
Samson Golf Links tại Sầm Sơn (Thanh Hóa), với vốn đầu tư 5.500 tỷ đồng. Một

tháng sau, FLC Group công bố dự án FLC Complex 36 Phạm Hùng (Hà Nội) do họ
làm chủ đầu tư trên khu đất gần 5.000 m2, ở vị trí đắc địa, khu vực Mỹ Đình - Hà Nội.
FLC Group là tập đoàn nào và ông chủ của nó là ai, mà chỉ trong vòng vài năm vốn
điều lệ đã tăng 73 lần từ mức 18 tỷ đồng năm 2008, và tổng tài sản tăng lên đến 112

P a g e | 22


TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
lần? Năm 2013 doanh thu của tập đoàn này đạt trên 1.744 tỷ đồng, lợi nhuận thuần đạt
144,8 tỷ đồng, tăng khoảng 400% so với cùng kỳ năm trước.
FLC là câu chuyện hiếm trong giới đầu tư bất động sản, nhất là trong bối cảnh thị
trường suy sụp thời gian qua, nhiều công ty kinh doanh bất động sản thua lỗ, nợ xấu
làm trì trệ hệ thống ngân hàng, nhiều dự án dở dang, nhiều người trốn chạy bị khách
hàng khiếu kiện... thì tập đoàn này đang tung ra nhiều dự án mới với những kế hoạch
gọi vốn lớn.
Năm 2012, sau khi đầu tư, nhanh chóng thi công, hoàn thiện công trình FLC The
Landmark Tower, nhìn thấy thị trường khó khăn, tôi quyết định dừng, không đầu tư,
khởi công thêm một dự án nào nữa, chuyển qua kinh doanh, đầu tư các mảng khác,
làm thủ tục, âm thầm tích lũy các dự án khác vào quỹ đất của mình, với giá hợp lý để
chờ thời cơ khởi công khi thị trường có dấu hiệu phục hồi,” ông Quyết cho biết.
Dự án FLC Landmark được ông Quyết cho là “đánh dấu sự đi lên của tập đoàn FLC.”
Khu đất rộng 4.500m2 này nằm ở đường Lê Đức Thọ (Mỹ Đình II, Hà Nội), ông
Quyết kể: “Năm 2008, khi còn là vùng đất trũng, đầy cỏ dại, tôi quyết định mua bằng
tất cả vốn liếng tích lũy được từ kinh doanh dịch vụ tư vấn pháp lý, vay mượn để có
vài chục tỷ đồng. Hồi đó, kêu gọi góp vốn, mãi không ai góp, có người góp một triệu
đồng rồi đòi lại nhưng tôi vẫn quyết mua vì có cảm nhận, suy đoán rằng, nó sẽ là dự
án sinh lợi cao, ở khu vực phát triển.”
Dự án FLC Landmark Tower được xây dựng thành một tòa nhà phức hợp, 32 tầng,
gồm cả khu căn hộ và văn phòng cho thuê. Riêng tiền bán căn hộ tại đây, FLC thu về

575 tỷ đồng vào năm 2012.
Một dự án khác cũng được họ mua lại, theo FLC Group với giá rẻ, là dự án khu đô thị
FLC Garden City Hà Nội. Dự án này nằm trên khu vực có diện tích tám héc ta ở Đại
Mỗ - Từ Liêm, trước đó do công ty cổ phần Địa ốc Alaska quản lý. Do hoạt động kém
hiệu quả, tháng 8/2013, công ty Alaska đã nhượng lại dự án cho FLC Group chỉ với
giá 200 tỷ đồng, mức giá mà nhiều chuyên gia bất động sản cho là quá thấp so với giá
trị thật. Ngay sau khi tiếp nhận dự án, FLC Group tuyên bố sẽ đầu tư 3.500 tỷ đồng để
khởi công, đầu tư trong quý III năm 2014.
FLC cho biết cùng với các hoạt động cho thuê, sang nhượng, hoạt động kinh doanh,
dịch vụ, tư vấn pháp lý ở các công ty thành viên khác, đến đầu năm 2014, sau vài lần
huy động vốn, FLC Group có vốn điều lệ 1.544 tỷ đồng, tổng giá trị tài sản được định
giá 2.581 tỷ đồng và vốn chủ sở hữu đạt 1.823 tỷ đồng.
Theo các báo cáo của công ty, sự tăng trưởng nhanh chóng về doanh thu, vốn điều lệ
của tập đoàn FLC trong các năm 2010 - 2013 còn nhờ vào doanh thu bán hàng từ kinh
doanh thép xây dựng và inox cho nhiều công ty lớn. “Việc mở rộng hoạt động thương
mại đã giúp FLC Group có tiềm lực thực hiện những đơn hàng có giá trị lớn, khiến

P a g e | 23


TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
doanh thu của tập đoàn này tăng nhanh,” báo cáo phân tích gần nhất của công ty
chứng khoán ngân hàng Đông Á nhận định.
Tập đoàn FLC biết cách tồn tại và khi cơ hội đến, phải biết chớp lấy, ngay cả khi thị
trường còn đang khó khăn, để vươn lên. FLC Group đang nuôi tham vọng trở thành
tập đoàn lớn. Tại đại hội cổ đông đầu tháng 6, tập đoàn FLC công bố, quỹ đầu tư The
Global Emerging Markets Group (GEM) đã cam kết góp 40 triệu đô la Mỹ để đầu tư
vào các dự án của FLC Group. Cổ đông FLC cũng đã thông qua kế hoạch phát hành
thêm cổ phiếu, trái phiếu, chào bán riêng lẻ 600 tỷ đồng cổ phần cho nhà đầu tư chiến
lược, phát hành trái phiếu quốc tế... để tăng vốn điều lệ lên 3.700 tỷ đồng vào cuối

năm 2014 và tăng lên 4.500 tỷ đồng vào năm 2015.
Tập đoàn FLC là tập đoàn có chiến lược và tầm nhìn vươn xa và hứa hẹn sẽ mang đến
những công trình hoàn hảo nhất cho mọi người và cùng thúc đẩy phát triển nền kinh tế
nhước nhà.
1.5. NHững thuận lợi và khó khăn

Thuận lợi và khó khăn của tập đoàn FLC:
Thuận Lợi:
Đội ngũ nhân viên được đào tạo chuyên sâu và hoạt động lâu năm trong
lĩnh vực luật , thấu hiểu môi trường pháp lý của Việt Nam.Cũng nhờ nắm
chắc hệ thống văn bản pháp lý, FLC có thể dự báo được các thay đổi về
cơ chế, chính sách, từ đó nắm bắt được các cơ hội đầu tư, kinh doanh,
hạn chế tối đa các rủi ro pháp lý. Đây là một trong những nhân tố đã góp
phần tạo nên thành công của Tập đoàn thời gian qua”.
trường.
Thuận lợi về hạ tầng giao thông, kết nối với các khu kinh tế, công nghiệp
lớn, lại không quá xa khu dân cư… đã giúp FLC thu hút khách ký hợp đồng
đặt thuê diện tích lớn ngay từ khi khởi công.

P a g e | 24


TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Tháng 4/2011, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã chấp thuận cho Công ty
cổ phần Tập đoàn FLC trở thành công ty đại chúng. Sự kiện này là điều
kiện thuận lợi để FLC mở ra kênh huy động vốn lớn nhằm thực hiện các
chiến lược đầu tư lớn trung và dài hạn, theo đó, vốn điều lệ của toàn bộ
tập đoàn và các công ty thành viên cũng tăng rất mạnh, lên 1.000 tỷ đồng.
Tổng tài sản tăng lên hàng nghìn tỉ đồng.
Bước đột phá đầu tiên của FLC trên thị trường bất động sản là vào năm

2011, khi thị trường bất động sản Hà Nội đang trầm lắng, nhiều doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này lâm vào tình thế “tiến thoái lương nan”
thì FLC vẫn thực hiện đúng cam kết với khách hàng, bảo đảm đúng tiến độ
dự án FLC Landmark Tower.Bỗng dưng, vào đầu năm 2014, FLC liên tục
gây “sóng gió” trên thị trường .
Giai đoạn 2010 – 2014, khi thị trường bất động sản đóng băng, lúc công
chúng đầu tư nhìn thị trường như… mắc bệnh truyền nhiễm, thì cũng là lúc
FLC bắt tay vào kế hoạch M&A các dự án, với thuận lợi lớn nhất là có tài
sản và chưa vay nợ gì, cùng kinh nghiệm tư vấn lâu năm và am hiểu thị
trường.
Ngoài ra, năm 2014, FLC cũng đã ghi dấu ấn mạnh mẽ tại thị trường
chứng khoán trong nước, bên cạnh một số cổ phiếu gần như không có
giao dịch thì cổ phiếu của FLC lại “lội ngược dòng” với khối lượng giao
dịch khủng trong mỗi phiên.
Khó khăn:
Sự cạnh tranh mạnh mẽ của các chủ đầu tư bất động sản, đặc biệt là các chủ đầu
tư đang giải quyết số hàng tồn kho rất lớn trên thị trường.

P a g e | 25


×