ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NH ÂN VĂN
NG UYỄN THỊ KIM DUNG
CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ CHÊ LAN VIÊN
SAU CÁCH MẠNG 1945
LUẬN VĂN TH ẠC s ỉ KHOA H Ọ C N G Ữ VÃN
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số: 5.04.33
Người hướng dẫn khoa học:
PG S-TS N G U Y Ễ N BÁ T H À N H
Hà Nội 2005
M ò i h â n tt'Otiij o ẩ m ơn
^7d ì ,tin
('hàn
th à n h
etítit
ott
r/ )C ịS
— lỹJẴ Q(íỊttijễit
(8 «
Cĩhtnth, nạtiời thầiẬ đã tận tình luiótitị dẫn tồi trout/ suôt
quá trìu li hoàn ỉ hành luận từín. £7i5/
oúo ơô trottíL Uliúu (V àn học ^ĩrtiồntL rĐ íù họo DCLioa họe rẦ )ã
%
h ò i t)à Q íítâ tt o ả n it ã cho t ô i ễ th ữ n ạ
%
ý
%
•
U iê ti đ ó n (Ị tịó p q u í
ạiá.
Qiíuìn đây., tôi eũníị jrin etỉtn ơ’tt eáe itètiíị nụhìệp, ọJa
đ ìn h , f>ạn bè th ă n th iê í đ ã (Tộttí/ lừ ên , íịìú p đõ’ tồ i trcm ạ họe
tiịp từỉ nạhiêtt eúu.
IHjii nội, tháng. 4 năm 2005
MỤC LỤC
Trang
A. PH Ầ N M Ỏ Đ Ẩ U .................................................................................................................................... ]
1. Lý do chọn đề tài.....................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề.........................................................................................................2
3. Đối tượng phạm vi nghiên cứu.............................................................................9
4. Phương pháp nghiên cứu...................................................................................... 9
5. Bố cục của luận văn..............................................................................................10
B. PH ẦN NỘI D U N G .............................................................................................................................11
C h ư ơ n g l . KHÁI NIỆM CÁI TÔI VÀ CÁ! TÔI TRONG THƠ TR Ử TÌN H ........................... 1 1
1.1. Cái tỏ i...................................................................................................................... 11
1.1.1. Từ góc độ triết học và tâm lý học.................................................................. 11
1.1.2. Từ góc độ sáng tạo văn học nghệ thuật........................................................ 14
1.2. Cái tôi trong thơ trữ tình................................................................................. 17
1.2.1. Khái niệm cái tôi trữ tình............................................................................... i 7
1.2.2. Nhà thơ và cái tôi trữ tình trong thơ............................................................. 19
C h ư ư n g 2 . s ự PHÁT TRIỂN CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THO
CHÊ LAN VIÊN TỪ “ĐIÊU TÀN” ĐẾN “ HÁI THEO MÙA”...................................2 6
2.1. Cái tỏi cò đơn, cái tỏi hiệp sĩ.............................................................................26
2.1.1. Cái tôi cô đơn buồn đau................................................................................. 26
2.1.2. Cái tôi hiệp sĩ.......................................................................................................31
2.2. Cái tòi chiến s ĩ, cái tôi nhãn danh............................................................ 38
2.2.1. Từ thung lũng đau thương ra cánh đổng vui................................................. 38
2.2.2. Cái tôi trữ tình ẩn khuất sau cái ta................................................................ 48
2.2.3. Cái tôi đời thường, cái tôi riêng tư.................................................................. 56
C h ư ơ n g 3. s ự VẬN ĐỘNG VÀ BIẾN ĐỔI CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THO
CHÊ LAN VIÊN T Ừ “ HOA TRÊN ĐÁ” ĐẾN “ DI CẢO THƠ”........................ 6 5
3.1. H ành trình tìm lại chính mình: Ta là ai?.....................................................65
3.1.1. Cái tôi đa cảm, hoài nghi và hi quan............................................................ 66
3.1.2. Trớ lại câu hỏi: Ta là ai?.................................................................................73
3.2. Khát vọng sông, khát vọnịỉ sáng tạo............................................................80
3.2.1. Khát vọng sống................................................................................................81
3.2.2. Khát vọng sáng tạo............................................................................................ 86
C h ư ư il g 4: MỘT CÁ TÍNH SÁNG TẠO ĐỘC ĐÁO...................................................................... 9 5
4.1. Tư duy thơ đặc sác........................................................................................... 96
4.1.1. Liên tưởng, tưởng tượng................................................................................ 96
4.1.2. Đôi lập............................................................................................................ 100
4.2. Hình ảnh thơ đa dạng, phong phú...........................................................102
4.2.1. Hình ảnh tượng trưng siêu thực...................................................................102
4.2.2. Sự liên kết giữa các hình ảnh thơ................................................................109
4.3.
(ỉiọ n g điệu thơ vừa hùng tráng vừa bi thương...................................... 114
4.3.1. Giọng điệu hùng tráng mang tính sử thi.................................................... 114
4.3.2. Giọng điệu bi thương trầm buồn với nhiều cung bậc...............................116
c . PHẨN KẾT LUẬN............................................................................................................. 120
* Danh mục tài liệu tham khảo....................................................................... 123
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO C H Ọ N ĐỂ TÀI.
1.1. Cái tôi là trung tâm tinh thán của con người, của cá tính người. Cái tôi
làm nên muôn mặt của đời sống, cái tôi cũng làm giàu cho thi ca. Xem thơ trữ
tình như một biểu hiện của chủ thể cụ thể, Hêghen cho rằng:“Cứ/ỉ phải khẳng
íỉịnh một chủ th ể cụ th ể - nhà thơ như là điểm trung tâm và nội dung đích thực
của tlìơ trữ tình". ở thơ trữ tình ‘Vá nhân là trung tâm trong quan niệm và tình
cảm nội tại của /ỉó”[36,105]. Như vậy, tìm hiểu cái tôi trữ tình là tìm hiểu một
phương diện chính yếu của thơ trữ tình.
1.2. Vai trò của cái tôi trữ tình trong thơ rất quan trọng: Là tiền đề tạo nên
phonti cách thơ. Cái tôi càng rõ, càng lớn thì phong cách càng độc đáo. Có thể
nói cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên ỉà một nhân vật trữ tình to lớn, đổ sộ
bậc nhất trong so sánh với một cái tôi trữ tình cùng thế hệ: Tố Hữu, Huy Cận,
Xuân Diệu...
1.3.Chế Lan Viên là nhà thơ lớn của dân tộc ta. Trong tiến trình thơ Việt Nam
hiện đại, ở giai đoạn nào Chế Lan Viên cũng là một trong những người đi tiên
phong và là một trong những đại biểu xuất sắc. Mỗi một chặng đường lịch sử,
Chế Lan Viên lại đánh dấu một đính cao trong sự nghiệp sáng tác của mình.
Mười bảy tuổi, với tập Điêu tò/i(1937), nhà thơ đã làm “sửng sốt ” cả thi đàn
Việt Nam như “mộ/ niềm kinh dị" (Hoài Thanh). Hơn hai mươi năm sau, Chế
Lan Vicn lại làm chấn động văn đàn bởi Ánh sáng và phù sa. Sau khi giã từ
cõi thế, nhà thơ còn để lại cho đời Di cảo thơ với hơn 500 bài gây xôn xao dư
luận, khẳng định một tài năng chưa bao giờ chịu hạ cánh trước bất cứ một trở
lực nào của cuộc sống. Chê Lan Viên xứng đáng là nhà thơ số một ở Việt Nam
có năng lực sáng tạo phi thường. Người ta gọi ông ìằ“nhà thơ của th ế
Ả.ỵ”(Nguyễn Văn Hạnh), “Nhủ thơ không th ể lấy kích tấc thường mà đo
iỉược \H oài Thanh). Thơ Chế Lan Viên là nguồn sáng mãnh liệt, ngay cả khi
tác giá của nó đã về với cỏ cây. đi vko“xứ không màu" thì nguồn sáng kỳ diệu
đó vẫn toa rạng.
Thơ Chế Lan Viên là đối tượng quy tụ của nhiều cây hút nghiên cứu, phê
hình, nhiều bài báo, tạp chí, tuyên tập, tiểu luận, luận án, luận văn... với tất cả
niềm say mê và lòng ngưỡng mộ. Tuy nhiên, chưa một công trình nào nghiên
cứu trực tiếp, có hệ thống về cái tôi trừ tình trong thơ ông.
Tim hiểu cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên sau Cách mạng 1945 là một
cơ hội để người viết hiểu hơn thư Chế Lan Viên, cũng là để bày tỏ lòng trân
trọng, ngưỡng mộ đối với một tài năng, một nhân cách lớn. Mặt khác, thơ Chế
Lan Viên đã được tuyển chọn vào chương trình văn học THCS -THPT và cả bậc
Đại học. Vì vậy, việc triển khai đề tài này sẽ có tác dụng thiết thực đối với việc
giảng dạy ở nhà trường sau này của chúng tôi.
Trên đây là những lý do khiến chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: Cái tói trữ
tình trong thơ Chê Lan Vièn sau Cách mạng 1945. Hy vọng rằng đề tài này
sẽ đem lại một điều gì đó hữu ích cho những ai quan tâm đến Chế Lan Viên và
thơ của ông.
Tuy nhiên, đây là một vấn đề lớn và khó, hơn nữa do những hạn chế về khả
năng, trình độ, thời gian nên chắc chắn luận văn này không tránh khỏi những
thiếu sót. Chúng tôi mong được các chuyên gia và đổng nghiệp góp ý thêm.
2. LỊCH SỬ VÂN ĐỂ.
2 .1.Ban chất chủ quan của thơ trữ tình đã được chú ý từ rất sớm(Arixtôt).
Hèghen, Biêlinki,... đã đi sâu vào bản chất chủ quan của thơ trữ tình bằng các
khái niệm: “chủ th ế ', “cái tôi”, “/âm hồn" và cho rằng đây chính là “nguồn gốc
và điểm tựa"của thơ trữ tình[ 12,160]. Các nhà lý luận văn học cổ điển Trung
Quốc như Lưu Hiệp, Bạch Cư Dị, Viên Mai... cũng đã có nhiều kiến giải sâu
sắc về vấn đề này bàng các khái niệm: “tâm”, “tình”, “ vợ/”, “c7zf\ “hứng”,
“línli lin ir...[23]. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khái niệm cái tôi trữ tình
mới được vận dụng trong nghiên cứu thơ trữ tình. Các nhà lý luận văn học hiện
đại đều thống nhất ràng cái tôi trong mọi thời đại đều là “nguồn gốc cốt lõi của
thơ ca"[42,10], Ớ Việt Nam, bán chất chủ quan của thơ trữ tình cũng đã được
nói đến từ xưa(Nguyễn Cir Trinh và Ngô Thì Nhậm đều cho thơ phát ra của
“(■///” ở trong lòng; Lê Quý Đôn nói về mối quan hệ giữa “tình" , “cảnh" và
“.V//’; Nguyễn Quýnh bàn về “/ííw” và “hứng"', Nhữ Bá Sỹ coi văn chương“/?ậ/
rư tựcíúy lòng"; Cao Bá Quát cho thư là thê hiện “tính tình", “phẩm chất ’’)[4ì ].
Khái niệm cái tôi, cái tôi trữ tình được các nhà lý luận văn học hiện đại vận
dụng vào việc nghiên cứu thơ trữ tình, tiêu biểu là các công trình nghiên cứu
của Hoài Thanh[47], Lê Đình Kỵ[ 15], Hà Minh Đức[8],[9], Nguyễn Xuân
Nam[30],Trần Đình Sử[46], Lê Lưu Oanh[42], Mã Giang Lân[ 17], Nguyễn Bấ
Thành[49], Phan Cự Đệ... Chúng tôi đã tiếp thu một số ý kiến về cái tôi trữ tình
trcng các công trình trên để tìm hiểu, nghiên cứu cái tôi Irữ tình irong ỉhư Chế
Lan Viên.
2.2.Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Chế Lan Viên gắn liền với sự vận
động và biến đổi của lịch sử dân tộc Việt Nam. Trên những chặng đường ấy,
thơ Chế Lan Viên đã đi từ niềm kinh dị này đến niềm kinh dị khác. Hơn 50
năm sáng tác, với sức sáng tạo bển bỉ, nhà thơ đã để lại cho các thế hệ độc giả
hôm nay và mai sau một khối lượng tác phẩm đổ sộ với một phong cách thơ đa
dạng, giàu cảm xúc vừa giàu chất trí tuệ ở nhiều chặng đường sáng tác khác
nhau. Do vậy, những bài viết nghiên cứu về thơ Chế Lan Viên là rất nhiều.
Theo thống kê của chúng tôi, tính từ khi Chế Lan Viên xuất bản tập Điêu tàn
đến nay đã có hơn 200 công trình nghiên cứu, bài viết về thơông[33],[34]. Các
tác giả hoặc tập trung vào một tập thơ, hoặc thiên về tổng kết một giai đoạn
thơ, một đời thơ...
2.2.1. G iai đoạn trước Cách mạng 1945.
Trước 1945, Chế Lan Viên có tập thơ Điêu tàn và tập văn xuôi Vàng sao,
cùng một số tác phẩm vẫn chưa được in thành tập. Đánh giá về Điêu tàn thời
kỳ này, các tác giả: Nguyễn Minh Vỹ, Quách Tấn, Bích Khê, Hoàng Diệp, Yến
Lan, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu... đều nhất trí cho ràng Điêu tàn là một tác phám
kỳ lạ, đánh dấu một cái nhìn nghệ thuật mới mẻ của Chế Lan Viên. Công phu
nhất có bài của Hoài Thanh in trong Thỉ nhàn Việt Nam. Ông coi Điêu tàn là
"một niềm kình di". Nguyễn Vỹ có bài Cltê Lơn Viên sau in trong Việt N am thỉ
nhân tiền chiến cũng cho ràng: Thư Chế Lan Viên độc đáo, nhiều bài cảm
3
động, “Tập Điêu tàn của anh còn dè lại một clìiếc bóng trong văn học sử Việt
Nam, giống như những tháp Cliủni trên dứt nước Đồ Bàn, cỏn văng vảng tiếng
nức nà nghìn thu chiêm nữ liận"[34,28].
2.2.2. Sau 1945 đến những năm 80 của thê kỷ XX.
Ớ giai đoạn này, Chế Lan Viên có 9 tập thơ, thể hiện những vấn đề lớn lao
của thời đại và những quan niệm mới về thi pháp thơ. Đã có rất nhiều bài viết
về Chê Lan Viên từ các góc độ tiếp cận khác nhau: Có bài viết về từng tập thơ;
có bài viết về nhiều tập; có bài nghiên cứu về ngôn ngữ, hình ảnh, thể loại; có
hài nhận xét tống quan, chân dung; có những công trình viết về tác giả đặt
trong phong trào, trường phái, trào lun...
Các bộ giáo trình Lịch sử ván học Việt Nam của các tác giả ở Trường Đại
học Tổng hợp Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm I Hà Nội, các công trình của
Viện Văn học: Nhà thơ Việt Nam hiện đại, Văn học Việt Nam chống M ỹ cứu
nước, các bộ lý luận văn học của nhiều tác giả và nhiều công trình nghiên cứu
thơ có đề cập đến Chế Lan Viên. Đặc biệt là các công trình nghiên cứu của
Phan Cự Độ[7], Hà Minh Đức[9], Mã Giang Lân[17], Trần Đình Sử[44],
Nguyễn Bá Thành[48], [49],... Hầu hết các công trình này đều khẳng định, Chế
Lan Viên đã đi từ “thung lũng chiu thương ra cánh đồng vui”, đi từ cái tôi nhỏ
bé đến cái ta rộng lớn.
Một số bài nghiên cứu về từng phương diện cụ thể của thơ Chế Lan Viên qua
các tập: Gửi các anh, Ánh sáng và phù sa, Hoa ngày thường - Chìm báo bão
như:“Đọc Ánli sáng và phù sa" của Xuân Diệu, “Đợc Ánh sáng và phù sa"của
Hà Minh Đức, '‘'‘Những biển cồn hãy mang đến trong tlĩ(f 'của Lê Đình Kỵ,
“C hếLan Viên và những tìm tòi trong nghệ thuật tluf'cua Nguyễn Lộc... Tất cả
đều nhận xét bước chuyển biến đáng kê của Chế Lan Viên:“7ợ/? Ánh sáng và
phù sa cống liiến vào nền thơ cliuníỊ của chúng ta hiện nay một tâm hồn C h ế
Lan Viên - Một tâm hồn nặng những su Vnghĩ, phấn đấu trên hoàn cảnh cụ thê
của mình dê tín dược cái lớn của niềm vui cliung'XXuân Diệu)[34, 40].“C/ỉé
Lan Viên dã có nhiều c ố gắng trên dịu liụt tưởng tượng, sáng tạo"( Hà Minh
4
Đức)[34,55]. Hoặc “//o a ngày thường - Chim báo bão là một chuyển hướng
mạnlì bạo trong phong cách của Chê Lan Viêrì\L ê Đình Kỵ)[34,65],“/V/ỉ/?//i>
hình ánh Chê Lan Viên sử clụniỊ thường bao giờ cũng độc đáo và rất
Những năm 1970, Chế Lan Viên có các tập thơ: Những bài thơ đánh giặc
(1972), Đôi thoại mới( 1973), Ngày vĩ đại(\916), Hoa trước láng Người
(1976), Hái theo mùa( 1977). Đây là những tập thơ mang khí thế chiến đấu hào
hùng và nặng lòng ân nghĩa với quê hương, với nhân dân, với Đảng, với Bác
Hồ. Viết về thơ Chế Lan Viên giai đoạn này có các bhi:“Những bài thơ (lánh
giặc của Chế Lan V/e/j’XNguyen Xuân Nam),‘T/2<7 C h ế Lan ^ / / ’’(Nguyễn
Vãn Hạnh), “ Thơ đánh Mỹ của C hế Lan V iêrì\V ũ Tuấn Anh), “Đôi thoại mới
của C h ế Lơn K/V/j’XHoang Lan), “Cơ/Í đường và tấm vóc thơ Chê Lan
V7í 7/”(Phạm Hổ)... Các bài viết này tiếp tục khẳng định bước tiến của Chê Lan
Viên về tư duy thơ, khuynh hướng khái quát, tổng hợp, triết lý trong thơ. “C h ế
Lan Viên trước sau vẫn là nhà thơ băn khoăn về triết lý nhân sinh'XNguyễn
Văn Hạnh)[34,95].
2.2.3. Từ sau năm 80 của thê kỷ XX.
Đây là giai đoạn thơ cuối cùng của C hế Lan Viên. Nhà thơ trăn trở, tìm tòi
nghĩ suy và chạy đua với “thời gian nước xiết” để sáng tác. Những tập thơ tiêu
biểu: Hoa trên ếtó( 1984), Ta gửi cho m ình(ỉ986), D i cảo í/iơ {I,II,III)
(1992,1993,1996) ra đời, đánh dấu một đỉnh cao mới trên hành trình thơ của
ông. Ông được dư luận đặc biệt chú ý và có hàng loạt bài viết đi vào các mặt
mạnh của thơ ông. Những bài nghiên cứu về thơ Chế Lan Viên giai đoạn này
thường đánh giá tổng quát đời thơ, những đặc sắc của phong cách thơ ông từ
Điêu tàn đến D i cảo , từ truyền thống đến cách tân, từ thể loại đến thể tài... Các
bài viết của Nguyễn Xuân Nam[28]; Vĩnh Quang Lê[33,372]; Vũ Quần
Phương[43]; Ngô Văn Phú[33,378]; Tế Hanh [11]... đã đi vào các mặt mạnh
của thơ Chế Lan Viên qua tập Hoa trên đá. Lê Đình K ỵ[16], Nguyễn Xuân
5
Nam[31], Trần Thanh Đạm [33,389], Đoàn Trọng Huy[33,398], Nguyễn
BáThànhl33,405].
Hổ Thế Hà[ 10]; Trần Mạnh Hảo[33,222];
Võ Tấn
Cường[33,419]; Vũ Quần PhươngỊ 33,434]... đã tập trung sự chú ý vào những
đóng góp của Chê Lan Viên qua Di cảo tho giúp người đọc thấy được bước
chuyển trong từng chặng đường và sự đóng góp đặc sắc của một nhà thơ đa
dạng, luôn phát triển và vận động, mới mẻ: “Diện mạo thơ, chán dung thơ của
Chê Lan Viên trước tỉủ V sác sào dến mảy, thần sắc đến mảy cũng mới chỉ ở
trên một mặt phang, còn thơ chưa in vù thơ sau khi nhà thơ từ trần đã tạo nén
một diện mạo cỏ chiều kích khác. Đó lủ phù diêu. Đó lù tượng tròn. Đó là
tượng d/i/f’(Nguyễn Thái Sơn)[34,145] “vé thể tài vẫn là trữ tình chính trị
n/uOiíỊ C liế Lan Viên dã từ khai thác lịch s ử - d â n tộc đi về hướng th ế sự - đạo
íiức; từ sự chú ỷ “ khía cạnh anh hùng ” chuyển sang “ khiu cạnh đời thường”
(Đoàn Trọng H uy)[34,l 17]. Trần Mạnh Hảo hết lời ca ngợi thi tài Chế Lan
Viên “củng gần cái chết, thơ ông viết càng hay, càng bớt chất luận đề, chính
luận, củng thêm cám xúc và sâu đọng”, “ Chê Lan Viên vẫn cất lên tiếng trông,
tiếng từ và báo hiệu một ngày mới trên cánh đồng vĩnh cửu của thi ca ”
[34,228-230].
Trong tất cả các bài viết, các công trình nghiên cứu về thơ Chế Lan Viên, các
luận án, luận văn... tuy chưa có bài viết nào trực tiếp nghiên cứu từ góc độ cái
tôi trừ tình một cách toàn diện, có hệ thống nhưng một số các tác giả cũng có
đề cập ít nhiều về cái tôi trữ tình trong thơ ông. Nhìn chung, điểm thống nhất
cơ bản trong những nhận định của các nhà nghiên cứu là sự chuyển biến của
cái tôi trữ tình Chế Lan Viên theo chặng đường lịch s ử.“Nó dã có một chặng
cíườnq phát triển và thay đổi liên tục tử Điêu tàn đến H ái theo mùa (Nguyễn
Bá Thành)[48,146].
Nguyễn Văn Long nhận ra phần lắng lại của hồn thơ Chế Lan Viên “một hồn
thơ d ã có nliiều tửng trải, dược thanh lọc qua nhiều thử thácir[ 19,84]. Nguyễn
Xuân Nam nhận ra trong Di cảo thơ “một C h ế Lan Viên không lioàn toàn
I>iốni> trước", “ có một chút cô lĩơn, một chút khó hiểu”, “ có những mảnh suy
6
hìịIũ về nỗi thủniị trầm", “vừ có cái bình tĩnh của một triết nhân”[31 Ị.Vũ Quần
Phương cho ràng: “C hế Lan Viên quay vê bản thể, nghiền ngầm chiêm nghiệm
lụi chính mình... xót đau mù dây bân lũ ìi r [7)3,434], Đoàn Trọng Huy không
chí nhận ra sự chuyển biến giọng điệu thơ, tư duy thơ mà còn phát hiện ra một
cái tôi‘V/7// nặng suy t ứ ' “hiện lên rõ một triết nhân đầy suy tư chiêm
m >hiệnr[33,ỉ01]“cái tôi riêu ạ tư đích thực xuất hiện ngày càng rõ
W;/”[33,398J. Nguyễn Bá Thành nhận thấy:“cớ/ mặc
cảm là quỹ thời gian
sông đang v ơ i cíi một cách đáng sự, những cảm xúc và nghĩ suy hướng mạnh vê
phía vò cực, vô biền, ông dật bàn thân mình trước vã trụ bao la và thấy sự
sống cũng nliỏ bé, mong /Wứrt/j”[33,406]. Tác giả cho rằng: “Di cảo mang nặng
dấu vết Điêu tàn. ô n g thấy ở đó sự hoài nghi cô dơn, chua chát ảm đạm não
nùng. Bao nhiêu dũng khí của Chê Lan Viên thuở Ánh sáng và phù sa dường
như d ã tiêu tan. Tliay vào đó là sự chán nản, b ế tắc của người bất dắc chí với
thái đ ộ “treo ấn", “vê v/tó>ỉ”[72,433]... Các tác giả khác: Vũ Tuấn Anh[33,20],
Vĩnh Quang Lê[33,372], Trần Thanh Đạm [33,389],Trần Mạnh Hảo[33,212],
Võ Tấn Cường [33,419], Lê Đình Kỵ[16]... Đều có những nhận định tương tự.
Đây cũng chính là những định hướng quan trọng cho chúng tôi trong quá trình
nghiên cứu.
Tuy nhiên, bên cạnh việc khẳng định những thành tựu lớn của thơ Chế Lan
Viên, vẫn còn có một số ý kiến chưa thật thống nhất giữa các nhà nghiên cứu.
Đặc biệt là ở ba tập D i cảo thơ. Có lẽ, do quy mô đồ sộ của ba tập thơ và sự đa
dạng, phức tạp của cái tôi trữ tình trong thơ mà ý kiến của các nhà nghiên cứu
có sự trái ngược nhau, nhưng không phải để hạ thấp mà để hiểu thêm một Chế
Lan Viên đa dạng.‘V ào những năm cuối đời, Chê Lan Viên dã thay đổi khá
nliiều vê giọng thơ, hình ảnh thơ, âm điệu thơ, và cả phương pháp tư duy. Đó
không phái lừ sự cách tân, mà cliủ yếu lủ sự phục hồi cách cảm, cách nghĩ của
nhà thơ thời trước Cách mạng tháng Tám. Phương pháp tư duy ấy được C h ế
Lan Viên đúc kết thành phươiìq pháp lộn trái hay bề thêu trái”. ‘Trong thơ,
Chè Lan Viên bộc lộ một sự lioài niịhi có tính triết /j{>r”(Nguyễn Bá Thành)
7
133,410]. Hoặc “Chê Lan Viên - người dấu mặt. Và Di cảo thơ lả hành trình đi
tìm mặt của C h ế Lan Viên à cõi dời khi ông đã về cõi trời. Điều này tăng thêm
kícli lấc cho ỏng và cho cái nạày hôm n a \ không còn ô/zg”(Phạm Xuân
Nguyên)[34,168].
Nguyền Thái Sơn và một số nhà nghiên cứu khác đánh giá cao Di cảo thơ
Chế Lan Viên. Các tác giả dùng hình tượng“ phù điêu”? tượng tròn ”, “tượng
í)/”đê hình dung diện mạo cái tôi trữ tình Chế Lan Viên trong Di cảo thơ khác
với trước đây:“c/ỉ/ ở trên một mặt phảng". Phạm Quang Trung cho rằng:
“Không nên quá đề cao Di cảo thơ C h ế Lan Viên đến mức đối lập Di cảo thơ
vái những sáng tác trước đây của nhà ih d \ Tác giả khẳng định:“có một C h ế
Lan Viên khác mà không lạ hiện lên trong Di cảơ”[33,414j. Trần Mạnh Hảo,
Võ Tấn Cường, Nguyễn Bá Thành đẩy cái ''''không /ạ” của cái tôi trữ tình Chế
Lan Viên trong Di cảo thơ lên và cho rằng đã gặp lại một Chế Lan Viên thời
tìiêu tàn trong Di cảo thơ[ 33,222;419;405]... Các tác giả: Lê Đình Kỵ, Đoàn
Trọng Huy, Nguyễn Xuân Nam, Hồ Thế Hà, Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Văn Hạnh,
Trần Thanh Đạm... khi nhận định về Di cảo thơ , đặc biệt là cái tôi Chế Lan
Viên trước những vấn đề bản ngã, hư vô, cái chết... đều thống nhất cho rằng:
Tuy có buồn đau, xót xa... nhưng cơ bản là ''''thanh thản phảng phất vị thiền ”,
“thấp thoáng nụ cười... nụ cười thiên... nụ cười của một trí tuệ hiền mitih'XTrần
Thanh Đạm )[33,389],“o w
rộng, minh triết, thấm đẫm tình đời, tình
người'XNguyễn Văn Hạnh)[33,239]... Trong khi đó, Nguyễn Bá Thành lại cho
rằng: “do luôn bị “ ám ảnh ” bởi cái chết, sự h u ỷ diệt... C h ế Lan Viên coi đó là
“điều kliủng khiếp ” nên “ buồn thâm ảo não và chua jcớ/”[48, 172] .
Chúng tôi đặc biệt lưu ý công trình nghiên cứu quan trọng của Nguyễn Bá
Thành: Thơ Chê ỈMìi Viên với phong cách suy tưởng và Thơ trữ tình Việt
Nam của Vũ Tuấn Anh. Trong đó các nhà nghiên cứu đã đánh giá: Cái tôi trữ
tình Chế Lan Viên là một cái tôi độc đáo mang đậm dấu ấn của nhà thơ. Sự vận
động của cái tôi Chế Lan Viên là sự vận động có tính tiêu biểu nhất, phản ánh
những bước tiến của thơ ca Cách mạng.
8
Bt'n cạnh đó còn có nhiều luận vãn, luận án Thạc sĩ, Tiến sĩ nghicn cứu Chế
Lan Viên ở nhiều khía cạnh của các tác giả: Ngô Bích Thu, Hổ Thế Hà... Tác
giá Vũ Tuấn Anh(Viện Văn học) cũng đã biên soạn, tập hợp các bài viết về thơ
Chế Lan Viên trong một cuốn sách khá công phu giúp chúng tôi có thêm
những tư liệu tham khao quý giá để thấy rõ hơn cái tôi trữ tình Chế Lan Viên
qua các thời kỳ.
3. ĐỐI TƯỢNG, P H Ạ M VI NGHIÊN c ứ u .
3.1.Trên cơ sở íìni hiểu cái tôi trừ tình, luận vãn đi vào nghiên cứu những
điểm Iiổi bật, đặc sắc của thơ Chế Lan Viên sau Cách mạng 1945, đề cập đến
một sô phương diện nghệ thuật tiêu biểu đã làm bộc lộ rõ nét cái tôi trữ tình
trong thơ Chế Lan Viên sau Cách mạng 1945.
3.2.Phạm vi nghiên cứu của đề tài này chủ yếu là các tập thơ được xuất bản từ
sau Cách mạng 1945. Cụ thể luận văn đi vào 14 tập thơ chính, những sáng tác
trước 1945, các tập bút ký, tiểu luận, phê bình của Chế Lan Viên được coi là
những tư liệu quan trọng dùng để tham khảo.
4.P H Ư Ơ N G PH ÁP N G H IÊ N
cứ u.
4.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp trên cơ sở s ố liệu thống kê.
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát 14 tập thơ của Chế Lan Viên xuất bản sau
Cách mạng 1945. Dựa trên cơ sở thống kê theo từng nhóm tác phẩm, chúng tôi
sẽ tìm ra những biểu hiện của cái tôi trữ tình. Với khối lượng đổ sộ của thơ Chế
Lan Viên sau Cách mạng 1945, phương pháp tổng hợp sẽ giúp người nghiên
cứu tránh được cảm giác bị choáng ngợp, có điều kiện đi sâu nhiều vấn đề.
4.2. Pliương pháp so sánh.
Chúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu trên hai bình diện:
-
So sánh, đối chiếu giữa cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên với cái tôi
trữ tình của một số nhà thơ khác để tìm ra những nét chung mang tính thời đại
vù những nét riêng mang phong cách cá nhân, độc đáo.
9
-
So sánh, đối chiếu cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên sau Cách mạng
1945 với cái tôi trữ tình trước Cách mạng để thấy được sự vậnđộng, biến đổi
của cái tôi trữ tình trong thơ Chê Lan Viên qua các thời kỳ.
5.
BỐ CỤC C Ủ A LUẬN VÃN.
Ngoài phẩn mở đầu và kết luận, luận văn được chúng tôi triển khai thành bốn
chương:
Chương I. Khái niệm cái tôi và cái tôi trong thư trữ tình.
Chương II. Sự phát triển của cái tôi trữ tình trong thơ Chế LanViên từĐiêu
tàn đến Hái theo mùa
Chương III. Sự vận động và biến đổi của cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan
Viên từ Hoa trên đá đến D i cảo thơ.
Chưưng IV. Một cá tính sáng tạo độc đáo.
*Danh mục tài liệu tham khảo.
10
NỘI DUNG
CH Ư Ơ NG 1
K HÁI NIỆM CÁI TÔI VÀ CÁI TỎI TRO NG TH Ơ TR Ữ TÌNH .
1.1.CÁI TÔ I.
1.1.1. T ừ góc độ triết học và tâm lý học.
Cái tôi là gì? Vai trò của nó như thê nào trong quan hệ chủ thể và khách thể?
Ngay từ thời cố đại, nhiều nhà khoa học, triết học đã trãn trớ tìm lời giải đáp.
Nhưng ý thức về cá nhân, về cái tôi chỉ thực sự được khẳng định khi nhận thức
của con người thoát khỏi sự ngự trị của tôn giáo. Sự nhận thức duy lý về cái tôi
là một bước ngoặt quan trọng của nhân loại về bản thể sinh tổn. Trong quá
trình phát triển lịch sử của loài người, cái tôi đã dần định hình và tự khẳng định
tính độc lập của mình, trở thành chủ thể tư duy, chủ thể nhận thức thế giới.
Khái niệm cái tôi, được hình thành bởi một quá trình lâu dài, mang trong mình
tính phức tạp nhiều khi tưởng như thần bí. Cái tôi có nội hàm rộng đến nỗi khó
xác định được toàn bộ ý nghĩa của nó cũng như tìm cho nó một định nghĩa
hoàn chính, thống nhất.
Các triết thuyết tôn giáo: Cơ đốc giáo, Phật giáo, Nho giáo...về cơ bản,
“không thừa nhận cái tôi cá nhân, hoặc giả có thừa nhận nhưng rồi cuối cùng
cũng quy về những quan niệm siêu hình, duy tâm, thần bí, xoá bỏ cái
/ớ/'”[36,l 1]. Các học thuyết tôn giáo bằng cách này hay cách khác, đều hướng
con người đến đấng tối cao, quên đi cái tôi của mình. Song, để đạt được điều
đó, tôn giáo đòi hỏi mỗi cá nhản phải có một nghị lực phi thường để vượt qua
chính mình. Để chế ngự cái tôi, vượt qua cái tôi, quên đi cái tôi, suy cho cùng
lại phải thực sự nhận biết tường tận về cái tôi. Chính vì vậy mà chủ trương diệt
ngã, vô ngã, xoá cái tôi cá nhân, tôn giáo cũng đã gián tiếp thừa nhận có cái tôi
tổn tại trong mỗi cá nhàn. Duy có điều, quá trình sống của con người là quá
trình kháng định cái tôi thì tôn giáo lại đi ngược lại- xoá bỏ cái tối.
11
Các triết thuyết duy tâm khác cũng rất quan tâm đến cái tồi. Các nhà triết
học: Đêcactơ, Phichtê, Cantơ, Hèiịhen, Becxông, Ph
như lủ căn nguyên có tính chất quan ///fAN”[40,66], và từ những quan niệm này
mà xây dựng thành hệ thống triết học duy tâm của mình.
Đêcactơi 1595-1650) đưa ra định nghĩa duy lý nổi tiếng: ‘T ô i tư duy vậy là
tôi tồn tụi". Ông quan niệm cái tỏi thể hiện ra như một cái thuộc về thực thê
biết tư duy, như là căn nguyên của nhận thức duy lý, do đó khảng định tính độc
lạp của mình[40,67-171], [36(11),68],
C a/Itiiịl724-1804) cho rằng: Cái tôi bao gổm hai phương diện:
Thứ nhất, cái tôi với tư cách chủ thể tư duy, chủ thể nhận thức thế giới.
Thứ hai, cái tôi với tư cách là khách thể của chính nhận thức.
Theo Cantơ, cái tôi cũng bắt đầu từ sự tự kỷ ý thức, bản thân nó cũng chính là
một đối tượng để khám phá, tìm hiểu. Đây chính là một bước tiến quan trọng
trong quan niệm về cái tôi[36(II),165-166], [40,72].
//< ^/^(1770-1831)0)1 cái tôi như là sự tha hoá của“ ỷ niệm tuyệt đối” đồng
thời nhấn mạnh vai trò to lớn của cái tôi. Cái tôi như là trung tâm của tổn tại,
cái tôi có khả năng, khát vọng và sức mạnh để thể hiện mình trong hiện thực.
Mọi cái đều tổn tại nhờ có cái tôi và cái tôi có thể chi phối toàn bộ sự tổn tại và
tiêu diệt của thế giới[36(II), 195-200], [40,67].
Hai nhà triết học cổ điển Đức(Cantơ và Hêghen)âà có những đóng góp lớn
không chỉ cho triết học mà cho cả hoạt động nghiên cứu văn học nghệ thuật,
đặc biệt trong việc khảng định vai trò to lớn của chủ thể sáng tạo.
Bec xôfig( 1859-1941) cho rằng trong con người có “ cái tôi bề mặt” và “cái
tôi bề sâu”, chỉ có “ cái tôi bề sâu" thuộc về sâu thẳm của ý thức mới chính là
đối tượng của nghệ thuật[40,31], [24,141].
Pliơrơti 1856-1939) coi cái tôi là sự hiện diện động cơ bên trong của ý thức
con người. Cái tôi là trung tâm của ý thức[40,553], [24,198- 203],
Như vậy, cái tôi là một phạm trù thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần và thực
chất là khái niệm thuộc về cấu trúc nhân cách. Vì vậy, các nhà tâm lý học khi
bàn về nhân cách đã phân tích rất kỹ cái tôi: Phân tâm học của Phơ rớt; thuyết
12
hiên sinh của Husserl; Sartre; thuyết phát triển trí tuệ của J. Piagic;... Các công
trình lý luận về nhân cách của các nhà tâm lý học Mác xit: A.N.Lêônchiep;
A.G.Côvaliôp... đều coi cái tôi là yếu tố cơ bản nhất, quan trọng nhất cấu thành
ý thức, nhân cách. Đáng chú ý nhất là quan niệm của hai nhà tâm lý học: A.G
Xpirkin và A.N.Lêonchiep. Trong Triết học x ã hội A.G.Xpirkin đã nêu lên:
“Cái tôi chính là câu trúc phần tự giác, tự ỷ thức của nhân cách, có th ể coi đó
lù truníỊ tủm tinh thần - ỷ nghĩa, diều chỉnh - dự báo của nhân cách, mang tính
íĩịr.h hướng vê động cơ, niêm tin, lợi ích, thê giới quan, tà cơ sở hình thành
n/iĩng tình cảm x ã hội của COIÌ ngườiịỷ thức về phẩm giá, nghĩa vụ, trách
nhiệm, nguyên tắc đạo đức) vù xác định mặt cá tí nhị đơn nhất) của nhân
rớí7ỉ”[42,17].
A.N.Lêonchiep cũng bàn nhiều đến nhân cách trong đó có vấn đề con người
tự V thức mình là một nhân cách. Theo A.N.Lêonchiep“ ỷ thức vê' cái tôi, là kết
quả, lù sản phẩm sinh thành của một con người với tư cách là một nhân cách.
Cái tôi của con người như đan quyện vào hệ thống tổng quát của những mối
quan hệ giữa con người và x ã hội"[ 18].
Trên cơ sở những thành tựu khoa học về con người, đạc biệt là thành tựu triết
học, tâm lý học, triết học Mác đã đưa ra một định nghĩa đầy đủ và hoàn chỉnh
về cái tôi: “ Cái tôi là trung tâm tinh thần của con người, của cá tính người có
quan hệ tích cực đối với th ế giới và đối với chính bản thân mình. C hỉ có con
Iigiỉời ăộc lập kiểm soát những hành vi của mình và có khả năng th ể hiện tính
chù cíộiiiỊ toàn diện mới có cái tôi của m ìn/r[ 40,66]. Việc khẳng định cái tôi là
trung tâm tinh thần, cá tính con người cho thấy đời sống tinh thần con người
khóng phải do một đấng siêu nhiên nào thổi vào mà được hình thành và phát
triển cùng với quá trình sống của con người, do con người định đoạt. Mặt khác,
cái tôi “quan hệ tích cực với th ế giới và với chính bản thân mình", có nghĩa là
cái tôi vừa mang bản chất xã hội, có quan hệ gắn bó, khăng khít với hoàn cảnh,
vừa mang bản chất cá nhân độc đáo. Câu trúc của cái tôi gồm hai phần: Cái cá
nhân và cái xã hội nhưng không phải là phép cộng, cũng không phải là một sự
13
gắn kết cơ giới, máy móc mà hoà hợp, xuycn thấm lẫn nhau như một hợp chất
hữu cơ vậy. Như vậy, không thê có một cái tối hoàn toàn duy lý đến mức cực
đoan, cũng không thể chấp nhận một cái tôi thụ động, buông xuôi m a ‘chỉ có
con Hí>ười dộc lập kiểm soát nliữniỊ hành vi của mình và cỏ khả năng thê hiện
lính cliít
ÍỈỘI1
ÍỊ toàn diện mới có cúi tỏi của mìnlĩ"(Cảc M ác)[40,66]. Cái tôi đòi
hỏi con người phải ý thức và tự ý thức cùng với những khả năng quan sát, phân
tích, tổng hợp ... để tự điều chỉnh sao cho phù hợp với quy luật đời sống.
Trên cơ sở, quan niệm của các nhà triết học, tâm lý học nhân cách, đạc biệt
dựa vào quan điểm của chủ nghĩa Mác, chúng tôi tạm thời có một vài kết luận
về cái tôi:
Thứ nhất: Cái tôi là trung tâm tinh thần của con người, là trung tâm làm nên
cấu trúc nhân cách, hình thành cá tính, phẩm chất, năng lực, sự năng động của
ý thức... của con người.
Thứ hai: Cái tôi vừa mang bản chất xã hội, lịch sử vừa mang bản chất cá nhân
riêng biệt, độc đáo... Con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội. Do vậy,
cái tôi vừa là chủ thể, vừa là khách thể của hoạt động nhận thức.
Thứ ba: Cái tôi tự ý thức, tự điều khiển, điều chỉnh, tái tạo lại thế giới và tái
tạo lại chính mình để hướng tới cái hoàn thiện.
Tóm lại, các tư tưởng triết học, tâm lý học về cái tôi đã nói về bản chất của
chủ thể trong đó có vấn đề nhận thức, sáng tạo. Cái tôi chính là nền tảng của sự
sáng tạo, có ảnh hưởng lớn đến nghệ thuật nói chung và thơ ca trữ tình nói
riêng.
1.1.2.TỪ góc độ sáng tạo vần học nghệ thuật.
Cái tôi nhà văn với tư cách là trung tâm tinh thần, tham gia vào toàn bộ quá
trình sáng tạo, đã trở thành một đối tượng của lý luận văn học, văn học sử và
nghiên cứu văn học. Cái tôi nhà văn có mặt ở mọi khâu, trong mọi yếu tố của
quá trình sáng tạo. Vai trò chủ thể trong sáng tạo nghệ thuật rất quan trọng.
“Ní>hệ thuật là tỏi, khoa học lù chúng /í/”(Claud-Berna).
14
ơ đây, cần phải nói tới sự can thiệp của cái tôi nhà văn vào tư duy hình
tượng- kiêu tư duy đặc thù của sáng tạo nghệ thuật, v ề điểm này, các nhà lý
luận đã đi đến thống nhất là nếu không có tư duy hình tượng, không có hư cấu,
tưởng tượng sáng tạo thì không có văn học nghệ thuật. Người nghệ sĩ, bằng
kiêu tư duy hình tượng, bàng tưưng tượng sáng tạo đã tạo ra một cuộc sống thứ
hai(thống nhất mà không đổng nhất với cuộc sống hiện thực vốn có). Ở đó, thế
giới được cấu tạo lại theo ước vọng. Người nghệ sĩ khám phá cuộc sống theo
qui luật phản ánh và sáng tạo. Những sự vật, hiện tượng diễn ra hàng ngày,
dưới con mắt của người nghệ sĩ, đã không còn giữ nguyên cái thuần tuý vốn có
của nó nữa. Như vậy, cái tôi nhà văn tham gia vào tư duy hình tượng cũng có
nghĩa là tham gia vào toàn bộ quá trình sáng tạo ngay từ khi bắt đầu hình thành
ý đổ sáng tác. Tài năng của nghệ sĩ, tư duy hình tượng ở nghệ sĩ không phải là
cái gì có tính đột biến mà phải được nuôi dưỡng từ thời thơ ấu. Nhà văn quan
sát thế giới(kể cả tự quan sát), hướng tất cả sự chú ý vào những gì tác động
mạnh mẽ đến cái tôi của mình. Với khả năng nhạy cảm đặc biệt, cái tôi, trung
tàm tinh thần diễn ra một quá trình phân tích, tổng hợp. Những gì được giữ lại
trong trí nhớ sẽ trở thành các ấn tượng có sức sống lâu bền. Quá trình này diễn
ra hết sức chủ quan và từ ấn tượng đến sáng tạo có một khoảng cách, ở đó cái
chủ quan có thế thay đổi. Sự thay đổi này làm cải biến các ấn tượng. Các ấn
tượng tổn tại trong trí nhớ ở dạng rời rạc, khi đi vào tư duy hình tượng, sáng tạo
chúng được tổ hợp nhờ liên tưởng thành một chỉnh thể phức hợp, hoàn chỉnh.
Từ góc độ cái tôi tác giả, cái tôi nghệ sĩ tham gia vào toàn bộ quá trình này với
chức năng điều chỉnh, điều khiển tư duy đi đúng với quy luật nhận thức và đặc
trưng sáng tạo nghệ thuật. Cái tôi nghệ sĩ nội cảm hoá thế giới thực tại và tự
biêu hiện mình qua hình tượng. Khi cái tôi biểu hiện dưới dạng cảm xúc trực
tiếp, ta có các hình tượng của một cái tôi trữ tình. Độc giả đến với tác phẩm văn
học do nhu cầu của đời sống tinh thần. Câu chuyện văn chương là câu chuyện
của tâm hổn. Cho nên, không phải không có lý khi có người đặt nhà thơ ngang
với nmrừi mộng du, có thiên hướng phóng chiếu cái tôi của mình ra ngoài, còn
độc giá có thiên hướng chủ quan hoá xúc động của người khác. A.rnauđôp gọi
15
"(Ịitá trìn h SÚIÌỊỊ tạo của ngưỉH nghệ s ĩ lù quá trìn h “ g iả i thoát n ộ i tâm ” và ông
quan niệm, những đau khổ bất hạnh s ẽ làm cho nghệ s ĩ “nâng sản ” hơn là
những Ịịì Hịịhệ sĩ cảm thấy liạnli pliúc"[4,223]. Tônxtôi, Puskin, Lamactin,
Banzãc, Gơt... đều cho như vậy.
Chính nhờ có sự đồng cám trong sáng tạo mà ở nghệ sĩ thường có sự nhập
thân vào đối tượng nhung mức độ khác nhau. Song, nhờ có cái tôi tự ý thức,
nhà văn luôn có sự tỉnh táo nhất định. Sự nhạy cảm, cảm xúc khi dâng lên
mãnh liệt, thì lý trí có nguy cơ làm nô lệ cho trí tưởng tượng, khi đó nhà văn sẽ
rơi vào“ do mộng", không còn ý thức về cái tôi của bản thân nữa. Nhà vãn phải
dùng đến một cái tôi tinh táo, luôn íự ý thức, tự quan sát, biết phân tích và dùng
lý sự can thiệp vào quá trình sáng tạo. Một sự nhập thân hoàn hảo là vừa phải
biết quên mình đi vừa biết ẩn mình một cách kín đáo. Nhập thân vào nhân vật
nhưng luôn tự biết mình là một nhà văn.
Như vậy, hình tượng nghệ thuật là kết quả của những gì mà cái tôi nhà vãn
hoàn toàn tâm huyết, là sự thống nhất hài hoà giữa tình cảm và lý trí, giữa tư
duy hình tượng cảm tính và sự phân tích lý tính, giữa khách quan và chủ quan.
Cũng cần phải đề cập đến sự ảnh hưởng của cái tôi nhà văn đối với cá tính
sáng tạo. Không có cá tính sáng tạo thì tác phẩm chỉ là một sự sao chép. Không
có phong cách, không có cái riêng là hành động “tự sát ” trong nghệ thuật.
Khrapchencô khẳng định: “sự đối lập giữa cá tính sáng tạo và con người thực
của nạ/lệ s ĩ cũng kliông hợp lý như sự đồng nhất chúng hoàn toàn"[ 14,104]. Cá
tính nhà văn và cá tính sáng tạo, cái tôi nhà vãn trong cuộc đời và cái tôi nhà
văn trong nghệ thuật(gọi tắt là cái tôi nghệ thuật) không bao giờ đổng nhất.
Trong quan hệ giữa cái tôi và cá tính, giữa cái tôi nghệ thuật và cá tính sáng tạo
cũng vậy. Giống như cái tôi nghệ thuật, cá tính sáng tạo mang bản chất cá
nhân, bản chất xã hội và bản chất thẩm mĩ. Nhưng nếu như cá tính sáng tạo với
những phẩm chất tương đối ổn định, bển vững là nét đặc thù thì cái tôi nghệ
thuật nét đặc thù là tính chất tự ý thức, tự điểu chinh, thậm chí điều chính cả cá
tính sáng tạo. Khi giữa cái tôi nghệ thuật và cá tính sáng tạo có được sự thông
nhất cao độ thì sáng tạo của nhà văn mới thật sự mang phong cách và có giá trị.
16
Bởi lẽ, cá tính sáng tạo và cái tôi nghệ thuật đều có xu hướng tự biểu hiện nên
trong tác phám chúng luôn có mặt ở mọi cấp độ, mọi bình diện, làm nên một
hình tượng tác giả thống nhất mà không đồng nhất với con người nhà văn ngoài
đời. Thi pháp học hiện đại khảng định hình tượng tác giả trong tác phẩm cũng
là một hình thức nghệ thuật và cũng là một tín hiệu thẩm mĩ. Nhà vãn sáng tạo
ra hình tượng của mình vừa chân thực vừa hư cấu tưởng tượng. Như vậy, xét ở
hình diện tác giả, ta có thể khẳng định: Cuộc sống trong văn học(cuộc sống thứ
hai) thống nhất nhưng không đổng nhất với cuộc sống hiện thực vốn có(cuộc
sống thứ nhất). Tác giả tiểu sử, cá tính tiểu sử và cái tôi tiểu sử íhuộe về cuộc
sống thứ nhất. Hình tượng tác già trong tác phẩm với cá tính sáng tạo và cái tỏi
nghệ thuật thuộc về cuộc sống thứ hai.
Nhìn chung, cái tôi tác giả(cái tôi nhà văn) và cái tôi nghệ thuật của nhà văn
thống nhất với nhau nhưng không đồng nhất. Quan sát và tự quan sát, cảm xúc
và lý trí, tư duy hình tượng, trí tưởng tượng cũng như cá tính sáng tạo đều có
mối quan hệ nội tại khăng khít, hữu cơ với nhau và có quan hệ với cái tôi. Một
cái tôi mạnh mẽ sẽ hoạt động tích cực và tham gia vào quá trình sáng tạo từ khi
nó được hình thành.
1.2. CÁI TÔ I T R O N G T H Ơ T R Ữ TÌNH.
1.2.1. Khái niệm cái tôi trữ tình.
Thơ trữ tình“/ừ thuật ngữ chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình, trong đó,
những cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện
tượng (lời sống được th ể hiện một cách trực tiếp. Tính chất cá th ể hoá của cảm
nghĩ và tính chất chủ quan hoá của sự th ể hiện là những dấu hiệu tiêu biểu của
thơ trữ tình. Lù tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng th ể hiện những
biển hiện phức tạp của th ế giới nội tâm từ các cung bậc của tình cảm cho tới
nhữníỊ cliính kiến, những tư tưởng triết //(«’”[39,216].
Về thơ trữ tình, cũng có rất nhiều quan niệm khác nhau nhưng xu hướng
chung có tính thống nhất và được đa số chấp nhận là quan niệm cho rằng thơ
trữ tình phản ánh thế giới theo phương thức nghệ thuật trữ tình(thế giới bao
17
ĐAI H O C Q U Õ C G ia ha IV
ỈRUNG TÁM THÒNG TIN ÌHƯ VIẺN
gồm cá thế giới chủ quan lẫn thế giới khách quan) nghĩa là thơ trữ tình chiếm
lĩnh thế giới theo nguyên tắc chủ quan và hiểu hiện trực tiếp(điển hình là các ý
kiến của Viên Mai, Lê Quí Đôn, Cao Bá Quát, Hêghen, Biêlinxki...). Thế giới
khách quan vô cùng phong phú và phức tạp với tất cả những biến thái của nó
trong tự nhiên, lịch sử, xã hội. Thê giới chủ quan lại càng phong phú và phức
tạp hơn gấp nhiều lần với đời sống tinh thần: tâm hồn, tình cảm, những suy
Iighĩ trải nghiệm...Thơ trữ tình luôn vươn tới khát vọng khám phá tất cả những
gì bí ẩn trong cuộc sống, đặc biệt là cuộc sống tinh thần của con người.
Như vấy “thơ trữ tình là phương tiện đ ể con người tự khẳng định bản chất
tinh thần của mình so với tồn tại vật chất, lù phương tiện đ ể tự đồng nhất mình,
xây dựng hình tượng về mình, xác íiịnh ý chí, chí hướng, lập trường giá trị trước
cuộc sống, đồng thời là phương tiện đ ể xây dựng thê giới tinh thần phong phú
cho con người"[44,112]. Thơ trữ tình luôn gắn với cái tôi trữ tình, v ề khái niệm
cái tôi trữ tình tuy có rất nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau nhưng cơ bản vẫn
gặp nhau ở nội hàm là tính trữ tình và tính chủ thể. Vũ Tuấn Anh quan niệm,
cái tôi trữ tình '"'‘chính là sự tự ý thức của cái tôi được biểu hiện trong nghệ thuật
và bằng nghệ thuật, cái tôi của hành vi sáng tạo, là quan niệm về cái tôi được
th ể hiện thông qua các phương tiện trữ tin ti'l 1,26], Lê Lưu Oanh cho rằng:
“Cứ/ tôi trữ tình là th ế giới chủ quan, th ế giới tinh thẩn của người được thể
liiện trong tác phẩm trữ tình bằng các phương tiện cùa thơ trữ /ìaỉ/z”[42, 18-19].
“Có th ể quan niệm rằng, cái tôi trữ tình là nội dung, đối tượng cũng nlut bản
chất của tác phẩm trữtình”[42,18-19]. Hêghen trong M ỹ học tuy không dùng
khái niệm cái tôi, song ông đã nhấn mạnh đến vai trò chủ thể. Ông nói:
“Nẹuồn gốc và điểm tựa của thơ trữ tình lủ â chủ th ể và chủ th ể là người duy
nhất, dộc nhất mang nội dung”[ 12,162]. Chủ thể mà Hêghen nói đến ở đây
chính là cái tôi trữ tình. Cái tôi trữ tình vừa thể hiện cách cảm, cách nghĩ của
chủ thê vừa đóng vai trò sáng tạo, tổ chức các phương tiện nghệ thuật. Như vậy,
cái tôi trữ tình vừa là nội dung(duy nhất, độc nhất), vừa là điểm xuất
phát(nguồn gốc) vừa là cơ sở vững chắc(điểm tựa)của thơ trữ tình. Bản chất của
thư trừ tình chính là cái tôi trữ tình. Biêlinxki cho rằng: ‘T oàn bộ hiện thực đều
18
có thè lủ nội (luniỊ của thơ trữ lìnli nliưniỊ với điều kiện nó phái trở tliành sà
hữu máu tlìịt của chủ tỉìể"[42,26].Tất cả các quan niệm cho thơ bắt nguồn từ
tình cam, tâm hổn, cảm xúc chính là nhằm khắng định bản chất chủ quan của
thơ trữ tình, khảng định vị thế của cái tôi trữ tình trong thơ(tiêu biểu là các ý
kiến của Bạch Cư Dị, Viên Mai, Lê Quý Đôn, Cao Bá Quát, Ngô Thì
Nhậm...)[4],[41]. Chúng tôi tán thành các quan điểm về cái tôi trữ tình của các
nhà nghiên cứu đã nêu trên.
Thơ trữ tình nào cũng dựa trên sự rung động của cái tôi cá nhân mang số
phận, cá tính riêng tư trong các tỉnh huống trữ tình. Sự khác biệt của các thời
đại thi ca suy cho cùng chính là ở quan niệm về cái tôi và các dạng thức biểu
hiện của cái tôi trữ tình. Thế giới của cái tôi trữ tình là thế giới không cùng. Vì
thế, ý thức về cái tôi trữ tình, phát triển cái tôi là tiền đề thực tế cho sự phát
triển của thơ.
Tóm lại, cái tôi trữ tình chính là điểm bất đầu cũng là điểm kết thúc của quá
trình sáng tạo thơ trữ tình, là linh hổn của thơ trữ tình.
1.2.2. Nhà thơ và cái tôi trữ tình trong thơ.
Vấn đề chủ thể, cái tôi trữ tình có một vị trí, vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan
trọng trong thơ. Ở mỗi thời đại, mối liên hệ giữa khách thể và chủ thể luôn là
vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm. Bên cạnh cái tôi nhà thơ, ta có cái
tôi trữ tình. Bản chất của cái tôi trữ tình là bản chất chủ quan, cá nhân, bản chất
xã hội nhân loại. Cái tôi trừ tình càng tự ý thức sâu sắc thì thơ trữ tình càng đặc
sắc. Nhưng cái tôi trữ tình không hoàn toàn đổng nhất và trùng khít với cái tôi
nhà thơ mà là sự thể hiện đời sống tinh thần và tư duy sáng tạo nghệ thuật của
nhà thư. Đó là phiên bản mới mẻ, chọn lọc, kết tinh và thăng hoa những suy tư,
cảm xúc và trải nghiệm của cái tôi nhà thơ.“CỚ nhiều cuộc đời thi s ĩ gắn liền
với dời thơ như hình với bóng. Nhà thơ lù nhân vật chính, là hình bóng trung
tâm, lủ cái tôi bao quát trong toàn bộ sáng tác. Những sự kiện, hành dộng và
tủm lình trong cuộc đời riêng cũng in lại đậm nét trong thrf'(Hà Minh Đức)
[9,62], Viên Mai cho rằng:‘TỚ/ cà mọi người lùm thơ đều cỏ thán phận của
19
mình". Mỗi nhà thơ đều có một phong cách riêng, độc đáo mang dâu ấn chủ
quan trong thơ. Hàn Mặc Tử viếv.^Người thơ phong vận như thơ ấy". Chính cái
tôi trừ tình đã tạo nên sự khác biệt giữa các phong cách thơ. Phong trào Thơ
Mới( 1932- 1945) là một thời đại thi ca mà trong đó những cái tôi trữ tình hiện
lên rõ nét phong cách: Trong sáng và ẩn chứa một nụ cười có duyên là thơ
Nguyền Nhược Pháp; hào hùng với đầy tráng khí là thơ Huy Thông; chân quê
mộc mạc là thơ Nguyễn Bính. Còn Chế Lan Viên thì dường như sinh ra đã
uống nguồn nước “sông Linh" từ thời dâu bể tang thương để rồi cất tiếng khóc
trong Điêu tàn bằng những vần thơ như tiếng gọi hồn khóc than cho một xứ sở
Chiêm Thành hoang tàn trong tưởng tượng. Thơ Hàn Mặc Tử là lời xưng tội, lời
sám hối, lời cầu nguyện vang lên giữa hai bờ hư thực, có lúc trong trẻo đến
trinh nguyên, lắm khi cuồng điên đầy máu lệ. Huy Cận thì suối buồn thương
chảy ra lai láng thành thơ. Xuân Diệu lúc nào cũng khát khao giao cảm với đời,
nhưng đời quá đỗi vô tình nên lòng người yêu thơ mà vẫn trống trải cô đơn... Sự
khác biệt về phong cách thơ suy cho cùng chính là sự khác biệt của cái tôi trữ
tình với bản chất cá nhân- chủ quan độc đáo.
Tuy nhiên, không thể đổng nhất cái tôi trữ tình với cái tôi nhà thơ nhưng cũng
không thể tách bạch mối quan hệ này. Có thể xem cái tôi nhà thơ như gốc gác,
như ngọn nguồn từ đó toả ra rất nhiều dạng thức của cái tôi trữ tình. Cái tôi nhà
thơ không phải hiện tượng bất biến. Trong sự vận động của thời gian, sự biến
động của lịch sử, khi hoàn cảnh, thời đại thay đổi thì cái tôi nhà thơ và cái tôi
trữ tình cũng thay đổi. Những nhà Thơ Mới đến với Cách mạng tháng Tám đã
làm một cuộc “/ộ/ xác" đê đi từ “c/ìân trời của một người đến chân trời của mọi
nẹi(ời'\Paul Éluard). Trước Cách mạng, Xuân Diệu càng khát khao giao cảm
với đời, với người, với thiên nhiên bao nhiêu càng cảm thấy mình trơ trọi, cô
độc bấy nhiêu. Nhưng hơn mười nãm sau, đứng giữa mảnh đất Tuyên Quang,
nơi từng che chở cho mình suốt thời kháng chiến, Xuân Diệu thấy như được trở
về với mảnh đất của lòng mình:
20
Đất nước ơi, tu quyện với mình chặt lắm
Nên di rồi không th ể gỡ ra
( Vé Tuyên).
Cũng vậy, Chế Lan Viên trước Cách mạng tháng Tám chí biết than thở và
đắm chìm trong cõi siêu hình, khóc than cho đất nước Chiêm Thành đổ nát.
Đến với Cách mạng, Chế Lan Viên đã phải trải qua một hành trình vất vả. Nhà
thơ thật sự thấy mình được hổi sinh khi hoà mình vào mạch sống của nhân dân,
của dân tộc.
Con gặp lại nhân dân như nai vê suối rũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa
N hư dứa trẻ thơ đói lỏng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỏng gặp cánh tay dưa.
( Tiếng hát con tàu - Á n h sán g và p h ù sa).
Ở phần lớn các nhà thơ, cái tôi trữ tình dù có đổi thay, biến hoá phong phú thì
dưới bé sâu vẫn thấp thoáng cái tôi nhà thơ, một cái tôi chung thuỷ và nhất
quán trong bản chất của nó.
Giữa cái tôi nhà thơ và cái tôi trữ tình trong thơ không đồng nhất nhưng hoàn
toàn thống nhất. Cái tôi trữ tình trong thơ cũng không phải là cái tôi nhà thơ
trong đời mà cái tôi nhà thơ đã được nghệ thuật hoá. Cho nên, sự thống nhất
giữa cái tôi nhà thơ và cái tôi trữ tình trong thơ là hiện tượng thường gặp. Thơ
trữ tình từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, đến Hồ Xuân Hương, Cao Bá
Quát, Phan Bội Châu, Tố Hữu... đều biểu hiện rõ nét sự thống nhất đó. Đọc thơ
Nguyễn Trãi, ta bắt gặp cuộc đời của một người có khí tiết thanh cao, suốt đời
vì nước, vì dân. Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào Nguyễn Trãi cũng luôn là một
cày trúc hiên ngang, cương trực giữa chốn “vườn Quỳnh” đầy rẫy những kẻ xu
nịnh, hiểm độc. Đọc thơ Hồ Xuân Hương, ta lại thấy một cái tối duyên phận
hám hiu, cuộc đời lận đận, bảy nổi ba chìm, luôn khao khát hạnh phúc, tình
yêu nhưng chưa bao giờ được như ý nguyện. Cái tôi ấy phóng túng, táo bạo,
quyết liệt, đầy bản lĩnh, nghị lực, sấn sàng lên án những bậc “hiền nhân quân
lử" và cá những lễ nghĩa, lể lối đạo đức giả; lớn tiếng bênh vực, đòi quyền sống
21