TIỂU LUẬN HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ
Chính quyền Nhà nước Singapore và quá trình xây dựng Nhà nước dân
chủ và xã hội công dân
MỞ ĐẦU
Singapore là một quốc gia nhỏ ở châu Á, nằm ở phía Nam bán đảo
Malaysia, là cầu nối châu Á với Châu Đại Dương, trên đường hàng hải nối Thái
Bình Dương với Ấn Độ Dương, gồm 54 đảo nhỏ và 9 bãi đá ngầm. Năm 1963,
để thoát ách thống trị của Anh và để có nền tảng kinh tế vững chắc, Singapore
sáp nhập với Liên bang Malaysia, hai năm sau đó (1965), do căng thẳng giữa
người Hoa và người Mã Lai, Singapore rút ra khỏi Malaysia, trở thành một quốc
gia độc lập trong Khối Thịnh vượng chung (ngày 22/12/1965). Ngày độc lập,
Singapore “ngoài đất đai và con người, gần như không có gì cả”, kinh tế suy
thoái trầm trọng, đời sống nhân dân khó khăn, giáo dục, y tế, văn hóa lạc hậu,
xung đột tôn giáo, dân tộc, phong trào công nhân, học sinh diễn ra không ngừng,
quan hệ quốc tế gặp nhiều trở ngại và quan hệ kinh tế bị cắt đứt. Trải qua 45
năm phấn đầu bền bỉ, trên một mảnh đất nghèo nàn (633 km2), Singapore ngày
nay là một quốc gia đô thị hiện đại của Đông Á với diện tích 697 km 2, số dân
khoảng 5,8 triệu người (số liệu đến năm 2018) - là trung tâm kinh tế, chính trị,
văn hóa, giải trí, nghệ thuật, tri thức của khu vực. Kinh tế Singapore đã tăng
trưởng gấp 189 lần kể từ khi giành độc lập từ năm 1965, có thu nhập bình quân
đầu người đạt 90, 531 USD năm 2017 (tăng 246 lần so với 365 USD/người
trong năm 1965). Chỉ số Tự do kinh tế năm 2015 xếp Singapore là nước có nền
kinh tế tự do thứ 2 thế giới. Hiện tại nền kinh tế của Singapore đứng thứ 5
ASEAN, đứng thứ 15 Châu Á và đứng thứ 40 trên thế giới, GDP đạt 296.642
USD. Đặc biệt, Singapore là một nước đa dân tộc (74,5% là người Hoa, 13.5%
là người gốc Mã Lai, 9% là người Ấn, 1 - 2% là người dân tộc khác), đa tôn
giáo (có 5 tôn giáo lớn là Kito giáo gồm Tin lành và Thiên chúa giáo: 14.6%,
Phật giáo: 42.5%, đạo Lão: 8.5%, Hồi giáo 14.9%, Ấn Độ giáo: 4%, còn lại
0.6% dân số theo các tôn giáo khác là 14.8% dân số không theo tôn giáo, ngoài
ra còn có các loại hình thức tín ngưỡng dân gian) nhưng đất nước Singapore
luôn tồn tại trong một môi trường xã hội hòa hợp, đồng thuận.
Vậy vì sao nước Singapore đạt được sự phát triển kinh tế thần kỳ như
vậy? Ngoài những kinh nghiệm để Singapore đạt được sự phát triển thần kỳ đó
có thể kể đến là: “ý thức hệ sống còn” (ideology of survival), ý thức hệ thực
dụng (pragmatism), ý thức hệ “giá trị châu Á”; là chính sách trọng dụng người
1
tài, tiếng Anh được chọn làm quốc ngữ 1, kiên quyết chống tham nhũng, trả
lương cho công chức xứng đáng…2, thì những thành tựu đó có được phải kể đến
vai trò tích cực của hệ thống chính trị Singapore - Đảng nhân dân hành động và
chính quyền Nhà nước Singapore trực tiếp lãnh đạo đất nước hiệu quả; Nhà
nước dân chủ, tôn trọng dân và chính phủ quản trị tốt, các tổ chức chính trị - xã
hội phát huy được sức mạnh của cộng đồng. Sau đây là khái quát về Nhà nước
dân chủ, tôn trọng nhân dân, chính phủ Singapore quản trị tốt và vai trò của nó
đối với sự phát triển của Singapore.
1 Ông Lý Quang Diệu từng nói: “Nắm vững Tiếng Anh , đó là chìa khóa để giành lấy tri thức, công
nghệ cao của phương Tây”.
22 Hiện nay tiền lương của các bộ trưởng và Thủ tướng Singapore thuộc hàng cao nhất trên thế giới.
Lương của Thủ tướng Singapore cao gấp hai lần Thủ tướng Nhật Bản và gấp khoảng 4 lần Tổng thống Mỹ khoảng 1.7 triệu USD/năm. Singapore không quy định mức lương tối thiểu nhằm giảm khả năng cạnh tranh
của nó.
2
NỘI DUNG
1. Bối cảnh ra đời Hiến pháp hiện hành Singapore
Hiến pháp là một từ xa lạ đối với Singapore cách đây ba thế kỷ. Song đến
nay, hiến pháp được xem là biểu tượng chính trị - pháp lý của Nhà nước. Hiến
pháp Singapore ra đời gắn liền với lịch sử phát triển thăng trầm của xã hội và
Nhà nước Singapore. Trước thế kỷ XIV, Singapore được biết đến dưới tên gọi là
Temasek (“Thành phố Biển”) và là một bộ phận của đế quốc hùng mạnh Sri
Vijayan. Vào thế kỷ XIV, hòn đảo nhỏ nhưng có vị trí chiến lược này được
mang cái tên mới là “Singa Pura” (“Thành phố Sư tử”). Tên Singapore xuất phát
từ Singapura trong tiếng Malaysia (hay tiếng Mã Lai), vốn được lấy từ nguồn
gốc của chữ Phạn là singa (sư tử) và pura (thành phố). Theo truyền thuyết, vị
hoàng tử Sang Nila Utama nhìn thấy một con sư tử là sinh vật sống đầu tiên trên
hòn đảo và do đó đặt tên cho hòn đảo này là Thành phố Sư tử (Singapura). Đến
năm 1819, Singapore thuộc sở hữu của Quốc vương Johore. Năm 1824 theo
Hiệp định hữu nghị và hợp tác giữa Anh và Johore, Singapore được nhượng cho
Anh. Nhà cầm quyền đầu tiên của Singapore là Stamford Raffles đã thiết lập
Singapore đã thiết lập Singapore trở thành một trung tâm thương mại. Chính
sách thương mại tự do đã thu hút các thương nhân đến từ các quốc gia trong khu
vực châu Á và từ các nơi xa xôi như Hoa Kỳ và Trung Đông. Chỉ 5 năm sau khi
sáng lập đất nước Singapore hiện đại, số dân của Singapore với chỉ vài trăm ngư
dân Malay và người Hoa đã tăng lên đến 10.000 người. Vào năm 1832,
Singapore trở thành chính quyền trung ương của những thuộc địa ở các eo biển
Penang, Malacca và Singapore. Sự kiện khánh thành kênh đào Suez vào năm
1869 cùng với sự xuất hiện của nhà máy điện báo và tàu hơi nước đã nâng tầm
quan trọng của Singapore lên như là một trung tâm phát triển thương mại giữa
các quốc gia phương Đông và phương Tây. Singapore trở thành hiện trường của
những trận chiến quan trọng trong Chiến tranh thế giới thứ hai và được xem là
pháo đài bất khả xâm phạm. Tuy nhiên, Singapore đã bị quân đội Nhật chiếm
đóng vào năm 1942. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Singapore vẫn là thuộc địa
của Vương quốc Anh. Sự lớn mạnh của chủ nghĩa dân tộc đã giúp Singapore
giành được quyền tự trị vào năm 1959, trở thành một quốc gia độc lập trong
Khối thịnh vượng chung. Trong những năm 1963 - 1965, Singapore là một bang
trong Liên bang Malaysia. Do những khác biệt lớn về chính trị, Singapore tách
ra khỏi Liên bang từ ngày 9 tháng 8 năm 1965 trở thành một nước Cộng hòa độc
lập.
3
Singapore theo Hiến pháp 1963 là nước Cộng hòa nghị viện với chế độ
chính trị cực quyền. Từ lúc tuyên bố độc lập đến nay, Đảng Nhân dân hành động
liên tục cầm quyền.
Trong lịch sử, Singapore đã bị nhiều đế quốc đô hộ: Bồ Đào Nha (đầu thế
kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVII); Hà Lan (đầu thế kỷ XVII đến năm 1819); năm
1819, Anh giành lại quyền khai thác Singapore. Từ năm 1824, Singapore trở
thành thuộc địa của Anh. Từ đó, Anh dùng Singapore làm cửa biển buôn bán,
chuyển khẩu quan trọng ở Viễn Đông và là căn cứ quân sự chủ yếu của Anh ở
Đông Nam Á. Nhật Bản chiếm đóng Singapore từ năm 1942 đến năm 1945. Sau
chiến tranh thế giới thứ hai, Anh trở lại chiếm Singapore. Trước phong trào đấu
tranh của quần chúng nhân dân Singapore, nhà đương cục Anh sau ba lần đàm
phán với đại diện của chính đảng của Singapore đã phải đồng ý cho Singapore
thành lập bang tự trị vào ngày 3 tháng 6 năm 1959. Tuy nhiên, Singapore chỉ
được tự trị về đối nội, còn Anh vẫn nắm giữ các hoạt động về quốc phòng và
ngoại giao.
- Ngày 16 tháng 9 năm 1963, Singapore gia nhập Liên bang Malaysia.
- Ngày 9 tháng 8 năm 1965, Singapore tách khỏi Malaysia và thành lập
nước Cộng hòa độc lập.
- Ngày 21 tháng 9 năm 1965, Singapore gia nhập Liên Hợp Quốc.
Hiến pháp của Singapore là đạo luật tối cao của Nhà nước Singapore. Nó
có lịch sử phát triển hết sức đặc biệt, phù hợp với lịch sử phát triển của đất
nước, đồng thời tạo cơ sở pháp lý của nhà nước, công dân và xã hội phát triển
một cách toàn diện.
Năm 1946, sau khi kết thúc sự chiếm đóng của Nhật Bản tại Singapore,
các khu định cư Straits đã được giải thể và Singapore đã trở thành một thuộc địa
riêng biệt. Bản Hiến pháp của nhà nước thuộc địa này được thông qua.
Năm 1955, Hiến pháp Rendel, được đề xuất lần đầu vào năm 1953 có hiệu
lực. Bản Hiến pháp này có quy định nhiều quyền lực cho người dân địa phương
nhằm thiết lập quyền lực của nhân dân với chính quyền trung ương. Song thực
tiễn chính quyền thuộc địa vẫn được tổ chức trong các cơ quan trên toàn lãnh
thổ.
Năm 1958, sau khi Lim Yew Hock đàm phán thành công với Chính phủ
Anh, Nghị viện Anh đã thông qua Đạo luật Nhà nước (Hiến pháp) và tình trạng
của Singapore. Singapore đã được thay đổi từ thuộc địa để trở thành một nhà
nước có tư cách và vị trí pháp lý tương đối độc lập.
4
Năm 1963, Singapore gia nhập Liên bang Malaysia. Hiến pháp năm 1963
được ban hành.
Năm 1965, Singapore đã được tách ra từ Malaysia, thực hiện theo ba văn
bản: Hiến pháp của Malaysia (Singapore sửa đổi), Hiến pháp của Singapore
(sửa đổi) và Đạo luật Cộng hòa Singapore độc lập năm 1965 được thông qua.
Năm 1970, để bảo vệ các quyền của ngôn ngữ và tôn giáo thiểu số về
chủng tộc, Hội đồng Tổng thống được thành lập và sau đó đổi tên thành Hội
đồng trực thuộc Tổng thống về quyền thiểu số (Presidential Council for
Minority Rights) từ năm 1973.
Năm 1984, một sửa đổi hiến pháp được thông qua để quy định về thành
viên của Nghị viện có thể không do bầu cử.
Năm 1988, một sửa đổi hiến pháp được thông qua để giới thiệu bầu cử đại
diện nhóm (GRCs). Ít nhất một thành viên của GRC phải được lựa chọn từ một
cuộc đua thiểu số.
Năm 1988, hiến pháp đã được sửa đổi để quy định chế định cho các thành
viên đề cử của Quốc hội.
Năm 1991, hiến pháp đã được sửa đổi để quy định chế định cho việc công
dân bầu chủ tịch.
2. Tổng quan các chế định trong Hiến pháp Singapore
Hiến pháp của Singapore bao gồm 14 phần: Từ phần sơ bộ đến phần
những quy định chuyển tiếp. Trong đó các chế định được sắp xếp theo trình tự
như sau: Chế định chế độ và chính thể; Bảo vệ chủ quyền của nước Cộng hòa
Singapore; Quyền tự do cơ bản; Chính phủ; Cơ quan lập pháp; Hội đồng trực
thuộc Tổng thống về quyền thiểu số; Cơ quan tư pháp; Dịch vụ công cộng;
Quốc tịch; Quy định tài chính; Các quyền đặc biệt chống âm mưu lật đổ và các
quyền trong trường hợp khẩn cấp; Những quy định chung, các điều khoản
chuyển đổi.
Trong phạm vi chuyên đề này chỉ đề cập Chế định quyền và nghĩa vụ cơ
bản của công dân:
Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được Hiến pháp Singapore trang
trọng ghi nhận tại phần 4 của Hiến pháp với tên gọi: Quyền tự do cơ bản và
được sắp xếp sau chế định chế độ và chính thể. Cách thức xác định vị trí của chế
định này trong Hiến pháp cho thấy Nhà nước Singapore luôn chú trọng tới tầm
quan trọng và ý nghĩa của các quyền cơ bản của công dân và khẳng định tính tự
do trong các quyền của công dân và đòi hỏi Nhà nước phải tôn trọng.
5
Điều 9, Hiến pháp Singapore quy định mang tính nguyên tắc về quyền tự
do cơ bản của công dân như sau:
(1). Không ai bị tước đoạt tính mạng hoặc sự tự do cá nhân trừ trường hợp
theo luật định.
(2). Khi có khiếu kiện cho rằng một người đang bị giam giữ trái pháp luật
được gửi đến Tòa án cấp cao hay thẩm phán của tòa án cấp cao, thì Tòa án cấp
cao phải thẩm tra khiếu kiện và ra lệnh đưa người đó ra tòa và trả lại tự do trừ
khi Tòa án cho rằng việc giam giữ đó đúng pháp luật.
(3). Người bị bắt phải được thông báo ngay khi có thể về lý do bị bắt,
được phép tham vấn và được bào chữa bởi hành nghề luật theo sự lựa chọn của
người đó.
(4). Nếu một người bị bắt và không được trả tự do, trong bất cứ trường
hợp nào người đó sẽ phải được đưa đến thẩm phán Tòa án cấp dưới (Magistrate)
trong thời hạn 48 giờ (không bao gồm thời gian đi lại cần thiết) không có việc
trì hoàn vô căn cứ, và sẽ không bị giam giữ thêm nếu không được phép của
thẩm phán này.
(5). Các khoản (3) và (4) sẽ không áp dụng đối với người nước ngoài thù
địch hay bất kỳ người nào bị bắt vì xúc phạm Nghị viện theo lệnh của chủ tịch
Nghị viện.
(6). Điều luật này sẽ không làm mất giá trị pháp lý của bất kỳ đạo luật
nào: a) có hiệu lực trước ngày bắt đầu thực hiện Hiến pháp này, mà đạo luật đó
cho phép bắt và giam giữ bất kỳ ai vì sự an toàn, hòa bình và trật tự tốt đẹp; b)
liên quan tới việc lạm dụng ma túy hoặc chất kích thích mà đạo luật đó cho phép
bắt giữ và giam giữ bất kỳ ai để điều trị và cai nghiện với lý do là đạo luật đó
trái với khoản (3) và (4). Cụ thể, điều luật này sẽ không ảnh hưởng đến giá trị
pháp lý hay hiệu lực của bất kỳ đạo luật nào có quy định như thế trước ngày 10
tháng 3 năm 1978.
Hiến pháp Singapore được đánh giá là có giá trị pháp lý và mang tính hiện
đại bởi chính các quy định về quyền con người mà Hiến pháp ghi nhận đầu tiên
đó là quyền con người trong tố tụng hinh sự. Bên cạnh đó, giá trị pháp lý và ý
nghĩa quan trọng của Hiến pháp Singapore còn được thể hiện trong chế định
Quyền tự do cơ bản của công dân được xác định trong hệ thống các lĩnh vực
như: lao động, hình sự, sự bình đẳng trong việc thực hiện quyền chính trị, cụ
thể:
Về quyền bình đẳng, Hiến pháp Singapore quy định nguyên tắc tất cả mọi
người đều bình đẳng trước pháp luật và được quyền bảo vệ sự bình đẳng của
6
pháp luật trừ trường hợp Hiến pháp này có quy định rõ ràng, sẽ không có sự
phân biệt đối với công dân Singapore chỉ vì lý do tôn giáo, chủng tộc, nguồn
gốc hoặc nơi sinh trong bất kỳ đạo luật nào, khi bổ nhiệm bất kỳ chức vụ nào,
khi tuyển dụng làm việc trong cơ quan công quyền hoặc khi thực thi bất kỳ đạo
luật nào liên quan đến việc thụ đắc (nhận quyền), chiếm hữu hoặc định đoạt tài
sản hay thành lập hoặc thực hiện bất kỳ việc kinh doanh, thương mại, nghề
nghiệp, năng khiếu hay việc làm nào đó.
Về quyền tự do đi lại, Hiến pháp Singapore quy định “không một công
dân nào của Singapore bị trục xuất hay buộc ra khỏi Singapre. Theo bất kỳ đạo
luật nào liên quan đến an ninh của Singapore hoặc bất kỳ khu vực nào của
Singapore, liên quan đến trật tự công cộng, sức khỏe cộng đồng hay việc trừng
trị kẻ phạm tội, mỗi công dân Singapore đều có quyền tự do đi lại trong
Singapore và cư trú tại bất kỳ nơi nào của Singapore” (điều 13, Hiến pháp
Singapore).
Về quyền tự do ngôn luận, hội họp và lập hội, khoản 1, điều 14, Hiến
pháp Singapore quy định: a) mỗi công dân Singapore có quyền tự do phát ngôn
và thể hiện ý kiến; b) tất cả công dân Singapore đều có quyền hội họp một cách
hòa bình và không có vũ khí; và c) tất cả công dân Singapore đều có quyền
thành lập các hội.
Việc hiến pháp quy định về quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội đã khẳng
định tính dân chủ của Hiến pháp. Đồng thời cũng đã chứng minh giá trị của
Hiến pháp đối với việc đảm bảo các quyền con người được thể hiện trong thực
tiễn theo xu hướng nhấn mạnh ưu thế của dân chủ trực tiếp. Tuy nhiên, điều 14,
Hiến pháp Singapore cũng xác định một nguyên tắc bảo đảm rằng có sự kiểm
soát việc thực hiện các quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội và quyền đó thuộc
về Nghị viện.
Cụ thể, khoản 2, điều 14, Hiến pháp Singapore quy định: “Nghị viện có
thể ban hành luật quy định: a) những hạn chế đối với các quyền được quy định
tại khoản (1) (a) khi thấy cần thiết hoặc để phù hợp với lợi ích an ninh của
Singapore hoặc của bất kỳ phần nào trong đó, phù hợp với các mối quan hệ hữu
nghị với các nước khác, trật tự công cộng hoặc đạo đức và những hạn chế để
bảo vệ các đặc quyền của Nghị viện hoặc để chống lại sự coi thường của tòa án,
phỉ báng hay xúi giục bất kỳ hành vi phạm tội nào; b) những hạn chế đối với
quyền được quy định tại khoản (1) (b) khi thấy cần thiết hoặc để phù hợp với lợi
ích an ninh của Singapore hoặc của bất kỳ phần nào trong đó hoặc trật tự công
cộng; và c) những hạn chế đối với quyền được quy định tại khoản (1) (c) khi
thấy cần thiết hoặc để phù hợp với lợi ích an ninh của Singapore hoặc bất kỳ
7
phần nào trong đó, trật tự công cộng hoặc đạo đức; c) Những hạn chế về quyền
lập hội đã được quy định tại khoản (1) (c) cũng có thể được các đạo luật liên
quan đến lao động hay giáo dục quy định.
Về quyền tự do tôn giáo, a) Hiến pháp Singapore ghi nhận về quyền của
con người đối với tôn giáo và nhà nước đứng ra bảo trợ việc thực hiện quyền đó
bằng cách bảo đảm như cho họ có quyền theo, thực hành và truyền bá tôn giáo.
Đồng thời, các hoạt động tôn giáo được nhà nước bảo hộ bằng cách không bắt
đóng thuế và các khoản thu từ thuế đối với các hoạt động nhằm mục đích tôn
giáo. Hơn thế nữa, không chỉ cá nhân được bảo đảm quyền đối với tôn giáo mà
các tổ chức tôn giáo cũng được hưởng quyền của tổ chức tôn giáo của mình như
quyền quản lý các hoạt động tôn giáo; b) thành lập và duy trì các cơ sở vì mục
đích tôn giáo hoặc từ thiện; và c) thủ đắc (nhận quyền) và sở hữu tài sản, chiếm
giữ và quản lý tài sản đó phù hợp với quy định của pháp luật (điều 15, Hiến
pháp Singapore). Tuy nhiên, Hiến pháp cũng khẳng định các quyền con người
về tôn giáo được pháp luật bảo đảm song không có nghĩa là Hiến pháp cho phép
việc thực hiện quyền mà làm ảnh hưởng đến trật tự công cộng, sức khỏe cộng
đồng hay đạo đức.
Về quyền giáo dục, Hiến pháp Singapore quy định một nguyên tắc không
có sự phân biệt đối xử với bất kỳ công dân nào của Singapore chỉ vì lý do tôn
giáo, chủng tộc, nguồn gốc hay nơi sinh. Xuất phát từ nguyên tắc này, việc thụ
hưởng các quyền về giáo dục bao gồm trách nhiệm của Nhà nước khi quản lý
các cơ sở giáo dục, trách nhiệm cung cấp tài chính ngoài các quỹ của cơ quan
nhà nước để chăm sóc hay giáo dục học sinh, sinh viên. Hiến pháp Singapore
còn quy định song song tồn tại hoạt động giáo dục do Nhà nước tổ chức là hoạt
động giáo dục của các tổ chức tôn giáo. Việc giáo dục của các tổ chức tôn giáo
nhằm hiện thực hóa các quyền mà Hiến pháp xác định như quyền thiết lập, duy
trì các cơ sở giáo dục cho trẻ em và giảng dạy trong phạm vi tôn giáo của mình,
sẽ không có sự phân biệt đối xử chỉ vì lý do tôn giáo trong bất kỳ đạo luật nào
liên quan đến cơ sở giáo dục đó hay việc thi hành các đạo luật đó.
Tuy nhiên, quyền giáo dục gắn với tôn giáo cũng được xác định: không ai
bị bắt buộc phải chấp nhận việc giảng dạy hay phải tham gia vào bất kỳ nghi lễ
hay hoạt động nghi lễ của một tôn giáo nào ngoài tôn giáo của mình. Đối với
những người chưa đủ 18 tuổi thì tôn giáo của người dưới 18 tuổi sẽ do bố mẹ
hoặc người giám hộ của người đó quyết định.
Như vậy, mặc dù không dành nhiều điều để quy định về quyền con người,
quyền công dân, song Hiến pháp Singapore cũng đã ghi nhận và khẳng định các
8
quyền con người cơ bản. Việc ghi nhận các quyền đó trong Hiến pháp đã thể
hiện xu hướng dân chủ mạnh mẽ.
3. Tổ chức bộ máy nhà nước trong Hiến pháp Singapore
3.1. Chế định Chính phủ
Chế định Chính phủ được Hiến pháp Singapore quy định ở Phần 4 với
việc bắt đầu từ Chương 1: Tổng thống, Chương 2: Quyền hành pháp.
Về Tổng thống Singapore: Điều 17 Hiến pháp Singapore quy định: Tổng
thống Singapore là người đứng đầu Nhà nước, đồng thời là người sử dụng và
thực hiện các quyền hạn, nhiệm vụ được Hiến pháp này và các luật thành văn
khác trao cho Tổng thống.
Tổng thống được công dân của Singapore bầu ra theo luật do cơ quan lập
pháp ban hành.
Tổng thống được bầu thông qua một cuộc bầu cử tổng thống. Hiến pháp
quy định một cách cụ thể về cách thức chỉ định tổng thống như sau:
- Trong trường hợp khuyết chức vụ tổng thống trước khi kết thúc nhiệm
kỳ của người đang giữ chức vụ và lệnh bầu cử tổng thống chưa được ban hành
trước khi khuyết chức vụ hoặc nếu đã được ban hành mà đã bị hủy bỏ - trong
phạm vi sáu tháng sau này chức vụ tổng thống bị khuyết, hoặc:
- Trong bất kỳ trường hợp nào khác - không quá ba tháng trước ngày
nhiệm kỳ tổng thống kết thúc.
Tiêu chuẩn để trở thành tổng thống cũng được Hiến pháp Singapore quy
định một cách rõ ràng nguyên tắc cũng như các điều kiện cần và đủ về năng lực
đảm nhiệm các chức vụ tổng thống.
Về nguyên tắc, Điều 19, Hiến pháp Singapore quy định: “không ai được
bầu cử là tổng thống trừ khi người đó đủ tiêu chuẩn để bầu cử theo các quy định
của Hiến pháp này”.
Về tiêu chuẩn cứng của ứng viên tổng thống:
Một là công dân Singapore;
Hai là độ tuổi không dưới 45;
Ba là phù hợp với tiêu chuẩn quy định ở Điều 42 khoản 2 về tiêu chuẩn
ứng cử viên nghị viện.
Về các trường hợp không đủ điều kiện ứng cử tổng thống được quy định
tại Điều 45, Hiến pháp Singapore như sau: là hoặc đã bị phát hiện hay bị tuyên
9
bố là bệnh tâm thần; là người bị phá sản chưa được phục quyền; giữ một chức
vụ có hưởng lợi; đã được đề cử để bầu cử vào Nghị viện hoặc chức vụ tổng
thống hoặc đã thực hiện vai trò của người đại diện bầu cử cho một người được
đề cử mà không gửi bất kỳ bản thống kê các chi phí bầu cử nào trong thời hạn
và theo thể thức được pháp luật quy định; đã bị Tòa án Malaysia hay Singapore
kết án và bị phạt tù không dưới một năm hoặc bị phạt tiền không dưới 2000
dollar và chưa được xóa án hoàn toàn.
Về quyền hành pháp: Điều 23, Hiến pháp Singapore quy định: Quyền
hành pháp của Singapore được trao cho tổng thống và có thể được tổng thống,
nội các hoặc bất kỳ bộ trưởng nào được nội các ủy quyền thực hiện theo các quy
định của Hiến pháp này. Cơ quan lập pháp có thể ban hành luật trao các chức
năng hành pháp cho những người khác.
Về nội các, theo Hiến pháp Singapore thì Chính phủ Singapore là chính
phủ có nội các. Ở Singapore, nội các gồm có thủ tướng và các bộ trưởng khác
có thể được bổ nhiệm theo Điều 25. Nội các chịu sự chỉ đạo và điều hành chung
của Chính phủ và sẽ chịu trách nhiệm tập thể trước Nghị viện.
Về thủ tướng và bộ trưởng, Hiến pháp ở Singapore quy định về chế độ bổ
nhiệm thủ tướng tại Điều 25. Cụ thể: “Tổng thống sẽ bổ nhiệm một nghị sĩ làm
thủ tướng mà theo đánh giá của tổng thống người đó có thể đạt được sự tín
nhiệm đa số của các nghị sĩ và theo ý kiến tư vấn của thủ tướng, bổ nhiệm các
bộ trưởng trong số các nghị sĩ.
Việc triệu tập và chủ tọa trong nội các phụ thuộc vào việc triển khai theo
các thẩm quyền và ý chí của thủ tướng. Một trong những nguyên tắc nêu trong
Hiến pháp Singapore về thẩm quyền của thủ tướng rất lớn. Đó là quyền triệu tập
nội các, các quyền tham dự và chủ tọa các phiên họp của nội các. Đồng thời
hiến pháp cũng có quy định hết sức linh hoạt cho thủ tướng. Đó là ủy quyền một
cách chủ động cho một bộ trưởng nào đó thay mặt thủ tướng chủ trì phiên họp.
Việc bầu cử tổng thống, theo ý kiến tư vấn của thủ tướng có thể bằng văn
bản có dấu của nhà nước bổ nhiệm các viên chức cao cấp của nghị viện từ các
nghị viện để trợ giúp các bộ trưởng thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của
họ.
Tổng công tố: chức vụ tổng công tố được xác lập và tổng thống trong
phạm vi thẩm quyền tự quyết định của mình nếu đồng ý với ý kiến tư vấn của
thủ tướng, sẽ bổ nhiệm tổng công tố trong số những người đủ tiêu chuẩn để bổ
nhiệm là thẩm phán của Tòa án tối cao. Trong trường hợp cần bổ nhiệm chức
vụ tổng công tố mà không phải vì lý do người giữ chức vụ đó chết hoặc bị miễn
10
nhiệm theo khoản (6), thủ tướng trước khi tư vấn cho tổng thống theo khoản (1)
phải tham khảo ý kiến người đang giữ chức vụ tổng công tố. Hoặc nếu chức vụ
đó khuyết thì tham khảo ý kiến của người vừa thôi chức vụ đó, và thủ tướng
trong từng trường hợp trước khi tư vấn cho tổng thống, sẽ tham khảo ý kiến của
chánh án Tòa án tối cao và chủ tịch Ủy ban Công vụ. Thủ tướng không bị buộc
phải tham khảo ý kiến của bất kỳ người nào theo khoản 2 (điều 35 Hiến pháp),
nếu thủ tướng có căn cứ cho rằng vì lý do người đó không đủ khả năng về thể
chất hoặc tinh thần, hoặc vì lý do khác nên không thể tham khảo ý kiến của
người đó được. Tổng công tố có thể được bổ nhiệm có thời hạn, và nếu được bổ
nhiệm có thời hạn , theo khoản (6), khi hết thời hạn này tổng công tố sẽ thôi
chức vụ của mình theo quy định trên, nhưng sẽ giữ chức vụ cho đến 60 tuổi.
Tổng thống, trong phạm vi thẩm quyền tự quyết định của mình, nếu đồng ý với
ý kiến tư vấn của thủ tướng, có thể cho phép tổng công tố đã đến 60 tuổi vẫn giữ
chức vụ trong một thời hạn được ấn định mà tổng công tố và chính phủ có thể
đã thỏa thuận. Không có hoạt động nào của tổng công tố bị xem là vô hiệu chỉ
với lý do tổng công tố đã đạt đến độ tuổi mà theo đó tổng công tố đã được yêu
cầu thôi giữ chức vụ của mình theo điều luật này.
Tổng công tố có thể bị tổng thống miễn nhiệm khỏi chức vụ, nếu tổng
thống trong phạm vi thẩm quyền tự quyết định của mình đồng ý với đề nghị của
thủ tướng. Nhưng thủ tướng sẽ không đề nghị miễn nhiệm trừ trường hợp tổng
công tố không thể đảm nhiệm được chức vụ (dù với lý do không đủ khả năng về
thể chất hoặc tinh thần hoặc bất kỳ nguyên nhân nào khác) hoặc vì hạnh kiểm
xấu và trừ trường hợp có sự đồng ý của cơ quan tài phán gồm có chánh án và
hai thẩm phán của Tòa án tối cao được chánh án tòa án tối cao chỉ định nằm
trong mục đích đó.
Nghĩa vụ và thẩm quyền đặc biệt của tổng công tố được Hiến pháp
Singapore quy định:
- Tổng công tố có nghĩa vụ tư vấn cho chính phủ về các vấn đề pháp lý và
các nghĩa vụ có tính chất pháp lý và thực hiện các nghĩa vụ có tính chất pháp lý
khác có thể được tổng thống hoặc nội các tham vấn hoặc giao nhiệm vụ theo
thường lệ và có nghĩa vụ thực hiện các chức năng được Hiến pháp này hoặc bất
kỳ luật thành văn nào khác quy định;
- Tổng công tố có thẩm quyền, có thể thực thi trong phạm vi thẩm quyền
tự quyết định của mình, khởi tố, tiến hành tố tụng hoặc đình chỉ bất kỳ vụ án
nào đối với bất kỳ tội phạm nào. Trong việc thực hiện các nghĩa vụ của mình,
tổng công tố có quyền tham dự và có quyền ưu tiên hơn bất kỳ người nào khác
có mặt tại bất kỳ tòa án hoặc cơ quan tài phán nào ở Singapore;
11
- Tổng công tố sẽ được trả lương và các khoản trợ cấp, có thể được xác
định theo thường lệ, lương và các khoản trợ cấp đó sẽ được thanh toán và chi trả
từ Quỹ ngân khố.
3.2. Chế định cơ quan lập pháp của Singapore
Quyền lập pháp của Singapore được trao cho cơ quan lập pháp gồm có
tổng thống và Nghị viện
Về Nghị viện, Điều 39, Hiến pháp Singapore quy định Nghị viện gồm có:
(a) Các nghị sĩ do bầu cử theo quy định được bầu cử tại cuộc tổng tuyển
cử theo các khu vực bầu cử được cơ quan lập pháp ban hành luật quy định.
(b) Các nghị sĩ khác, không quá sáu người, được gọi là nghị sĩ không theo
khu vực bầu cử có thể được cơ quan lập pháp quy định trong bất kỳ đạo luật nào
về bầu cử nghị viện nhằm bảo đảm số lượng tối thiểu các nghị sĩ của đảng hoặc
các đảng chính trị không thành lập chính phủ có đại diện trong nghị viện.
(c) Các nghị sĩ khác, không quá chín người, gọi là nghị sĩ chỉ định, có thể
được tổng thống bổ nhiệm theo các quy định của Phụ lục thứ tư.
Hiến pháp Singapore khẳng định sự tham gia của các nghị sĩ ngoài khu
vực bầu cử hoặc chỉ định nếu không bỏ phiếu tại khu dân cư. Đó là các vấn đề
liên quan đến dự luật sửa đổi Hiến pháp, dự toán ngân sách nhà nước, dự toán
ngân sách bổ sung. Dự luật thuế theo quy định tại Điều 68.
Điều 58, Hiến pháp Singapore quy định quyền ban hành luật của cơ quan
lập pháp sẽ được thực hiện bằng các dự luật được nghị viện thông qua và được
tổng thống chấp thuận.
Một dự luật sẽ trở thành luật khi được tổng thống chấp thuận và luật đó sẽ
có hiệu lực vào ngày công bố trong công báo, hoặc vào ngày khác nếu được quy
định tại luật đó hay tại một luật khác có hiệu lực ở Singapore.
Theo các quy định của Hiến pháp này và quy chế của Nghị viện, bất kỳ
nghị sĩ nào cũng có thể trình dự luật hoặc đề xuất bất kỳ vấn đề gì để thảo luận ở
Nghị viện hoặc có thể trình bất kỳ kiến nghị nào ra Nghị viện, những dự luật, đề
xuất và kiến nghị này sẽ được thảo luận và xem xét như nhau theo Quy chế của
Nghị viện Dự luật hay bản sửa đổi quy định (trực tiếp hay gián tiếp) đối với việc
áp đặt hoặc tăng bất kỳ loại thuế nào hoặc bãi bỏ, giảm hay miễn bất kỳ một
khoản thuế hiện hành nào; việc vay tiền hay cam kết bất kỳ việc bảo đảm nào
của Chính phủ, hoặc sửa đổi luật liên quan đến các nghĩa vụ tài chính của Chính
phủ; việc lưu giữ của Quỹ Ngân khố, việc chi trả bất kỳ khoản tiền nào của Quỹ
12
Ngân khố hoặc bãi bỏ hay sửa đổi bất kỳ khoản tiền nào mà Quỹ Ngân khố chi
trả.
3.3. Quyền tư pháp
* Điều 94, Hiến pháp Singapore quy định rất cụ thể: “Quyền tư pháp ở
Singapore được trao cho Tòa án tối cao và cho các tòa án cấp dưới có thể được
bất kỳ luật thành văn nào đang có hiệu luật quy định.
Tất cả các khiếu nại liên quan đến cuộc bầu cử tổng thống sẽ được xem
xét và quyết định bởi chánh án hoặc một thẩm phán của Tòa án tối cao do chánh
án chỉ định để giải quyết việc này (trong Hiến pháp này sẽ gọi là thẩm phán về
bầu cử).
Thẩm phán về bầu cử có quyền xem xét, quyết định và ban hành các lệnh
theo quy định của pháp luật về khiếu nại liên quan đến việc bầu cử tổng thống;
quyết định của thẩm phán về bầu cử trong trường hợp này là quyết định cuối
cùng;
Trình tự và việc thực hiện khiếu nại có liên quan đến bầu cử tổng thống sẽ
được điều chỉnh bởi các quy tắc có thể do Ủy ban Quy chế được thành lập và bổ
nhiệm theo Điều 80 Luật tòa án tối cao (Luật số 322) ban hành.
* Tổ chức của Tòa án tối cao:
- Tòa án tối cao gồm có Tòa phúc thẩm và Tòa án cấp cao có thẩm quyền
và quyền hạn được quy định tại Hiến pháp này hoặc bất kỳ luật thành văn nào
khác.
- Chức vụ thẩm phán Tòa án tối cao không bị bãi bỏ trong suốt thời gian
giữ chức vụ.
- Người có đủ điều kiện để bổ nhiệm làm thẩm phán Tòa án tối cao hoặc
người đã thôi giữ chức vụ thẩm phán Tòa án tối cao có thể được bổ nhiệm làm
chánh án theo quy định tại Điều 95, hoặc có thể làm thẩm phán Tòa án cấp cao
hay thẩm phán Tòa án phúc thẩm nếu được cho mục đích đó (khi cần thiết) phù
hợp với Điều 95 và người đó sẽ đảm nhiệm vị trí đó theo một hoặc các nhiệm kỳ
như tổng thống, nếu tổng thống, trong phạm quy thẩm quyền tự quyết định của
mình, đồng ý với ý kiến tư vấn của Thủ tướng Chính phủ sẽ quyết định.
- Để tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án tối cao toàn quyền quyết định
công việc, tổng thống, trong phạm vi thẩm quyền tự quyết định của mình, nếu
đồng ý với ý kiến tư vấn của thủ tướng, có thể bổ nhiệm người có đủ điều kiện
bổ nhiệm thẩm phán Tòa án tối cao trở thành cao ủy tư pháp của Tòa án tối cao
theo quy định của Điều 95 trong một hoặc một số thời gian mà tổng thống thấy
13
thích hợp; và cao ủy tư pháp được bổ nhiệm theo quy định này, trong một hoặc
một số loại vụ việc có thể được chánh án quy định, có thể thực thi các quyền và
thực hiện các chức năng của thẩm phán Tòa án cấp cao. Bất kỳ các công việc gì
do cao ủy tư pháp tiến hành khi thực hiện các chức năng theo các điều kiện bổ
nhiệm sẽ có giá trị pháp lý và hiệu lực giống như do thẩm phán của Tòa án cấp
cao thực hiện và liên quan đến việc thực hiện quyền và nhiệm vụ đó, cao ủy tư
pháp sẽ có các quyền và được hưởng sự miễn trừ như Thẩm phán của Tòa án
cấp cao.
Trong phạm vi khoản (4), tổng thống có thể bổ nhiệm người có đủ điều
kiện bổ nhiệm thẩm phán của Tòa án tối cao làm cao ủy tư pháp để xét xử và
quyết định chỉ đối với một vụ việc cụ thể.
* Bổ nhiệm thẩm phán Tòa án tối cao
- Chánh án, thẩm phán Tòa phúc thẩm và Thẩm phán Tòa án cấp cao sẽ
được tổng thống bổ nhiệm, nếu tổng thống trong phạm vi thẩm quyền tự quyết
định của mình, đồng ý với ý kiến tư vấn của thủ tướng.
- Trước khi tư vấn về việc bổ nhiệm thẩm phán mà không phải là chánh án
theo quy định tại khoản 1, thủ tướng sẽ tham vấn chánh án Tòa án tối cao.
Điều luật này sẽ được áp dụng đối với việc chọn một người làm thẩm
phán Tòa án cấp cao hay thẩm phán Tòa án phúc thẩm theo quy định tại Điều 94
(3) và đối với việc bổ nhiệm cao ủy tư pháp của Tòa án tối cao theo Điều 94 (4)
giống như là điều luật này áp dụng để bổ nhiệm thẩm phán Tòa án cấp cao mà
không phải là chánh án.
* Tiêu chuẩn bổ nhiệm thẩm phán Tòa án tối cao:
Một ngưởi có đủ điều kiện để bổ nhiệm thẩm phán Tòa án tối cao nếu
người đó có tổng thời gian không dưới 10 năm và là người có đủ điều kiện theo
quy định tại Điều 2 của Luật về nghề nghiệp (Luật số 161) hoặc là thành viên
của ngành công vụ pháp luật Singapore, hoặc cả hai.
* Tuyên thệ nhậm chức của thẩm phán và cao ủy tư pháp của Tòa án tối
cao: Chánh án và từng người được bổ nhiệm hoặc được chỉ định làm thẩm phán
của Tòa án cấp cao hoặc thẩm phán Tòa phúc thẩm hoặc được bổ nhiệm là cao
ủy tư pháp của Tòa án tối cao. Trước khi thực hiện nhiệm vụ của mình, phải
tuyên thệ chức vụ trước tổng thống theo hình thức quy định tại Phụ lục thứ nhất.
- Không phụ thuộc vào khoản 1, cao ủy tư pháp được bổ nhiệm theo Điều
94 (5) để xét xử và giải quyết một vụ việc cụ thể không cần phải tuyên thệ nhậm
chức lại nếu kể từ ngày người đó ra phán quyết đối với bất kỳ vụ việc cụ thể
14
nào, mà người đó được bổ nhiệm để xét xử và quyết định vụ việc đó đến thời
điểm bắt đầu xét xử vụ việc cụ thể tiếp theo là khoảng thời gian dưới 12 tháng.
4. Quá trình phát triển xã hội công dân và tiến trình dân chủ của
Singapore
Đã có rất nhiều câu hỏi được đặt ra đối với sự phát triển thần kỳ của
Singapor. Các câu hỏi được đặt ra xung quanh việc bằng cách nào một quốc gia
không có tài nguyên lại có thể trở nên giàu có, thực hiện thành công hiện địa
hóa kinh tế - xã hội, giữ được sự ổn định chính trị lâu dài, bằng cách nào một
quốc gia với các giá trị châu Á làm nền tảng và một chính đảng duy nhất cầm
quyền từ ngày độc lập lại có mức độ dân chủ cao như vậy. Câu trả lời có thể
khác nhau, nhưng đều có một điểm chung, đó là Singapore bắt đầu bằng một
tiêu chí dân chủ không giống như kỳ vọng của phương Tây và con đường đi đến
dân chủ của Singapore cũng không giống với con đường các nước phương Tây
đã trải qua. Lý Quang Diệu đã từng khẳng định ở Singapore tồn tại một nền dân
chủ nhưng không phải là dân chủ tự do. Nhưng người dân của quốc gia này thấy
mình tự do và được tôn trọng. Người ta không thể phủ nhận nhiều yếu tố dân
chủ hiện diện rõ nét ở Singapore là động lực cho quốc gia này phát triển ổn định
và bền vững.
4.1. Xã hội công dân Singapore - một sản phẩn của hoàn cảnh lịch sử
và cơ sở của các nguyên tắc trong dân chủ
a. Xã hội công dân Singapore - một sản phẩm của hoàn cảnh lịch sử
Ngay từ khi còn là thuộc địa của Anh, đời sống của các tổ chức xã hội
công dân ở Singapore đã rất sống động. Nước Anh khi đó đã quan tâm nhiều
hơn đến đời sống và nhu cầu của người Mã Lai. Người Mã Lai nhận được nhiều
ưu đãi từ phía nhà nước, từ việc xây dựng các trường tiểu học đến các ưu tiên
trong việc làm. Trong khi đó, cộng đồng người Hoa lại gần như bị nhà nước
thuộc địa bỏ quên, phải dựa vào chính bản thân mình để tồn tại. Nhưng chính sự
ghẻ lạnh của chính phủ thuộc địa cũng đã làm cho ý thức cộng đồng của người
Hoa hình thành sớm hơn và bền chặt hơn. Hầu hết người Hoa ở Singapore đều
tham gia vào các hoạt động tự quản và được hưởng lợi ích từ các hoạt động tự
quản đó.
Người Hoa ở Singapore bắt đầu sự tự quản bằng việc giải quyết các nhu
cầu về tinh thần cho người sống và người chết: họ xây dựng chùa chiền và lập
các khu nghĩa địa riêng. Hàng loạt các hiệp hội gia tộc và các tổ chức thương
mại được thành lập. Hội Tam hoàng cũng được lập ra để bảo vệ và mở rộng các
quyền lợi và phúc lợi của các thành viên. Tổ chức xã hội công dân chính thức
15
đầu tiên được ghi nhận là Phòng thương mại Trung Quốc, được thành lập với
mục tiêu tham gia vào phúc lợi xã hội và giáo dục cũng như kinh doanh.
Các nhu cầu khác của khu dân cư cũng được cộng đồng đáp ứng, đời sống
và lợi ích cộng đồng là trung tâm trong xã hội công dân của người Hoa ở
Singapore. Các bệnh viện của cộng đồng người Hoa được xây dựng cho người
nghèo và được các hiệp hội gia tộc và các nhà hảo tâm tài trợ. Các trường tiểu
học và trung học của người Hoa cũng được xây dựng và hoàn toàn tự trị. Sự tài
trợ của khu vực tư nhân lên đến đỉnh điểm vào năm 1956 khi Trường Đại học
Nanyang được thành lập. Đây là trường đại học của người Hoa đầu tiên bên
ngoài Trung Quốc. Đại học Nanyang trở thành trung tâm giáo dục Trung Hoa ở
Malaysia và sau này là ở Singapore.
Những người Singapore gốc Hoa đã tìm kiếm một cách thức cho cộng
đồng của mình tồn tại và phát triển, chủ động đáp ứng những nhu cầu chính
đáng về vật chất và tinh thần của mình trong hoàn cảnh chính quyền không cung
cấp đầy đủ các dịch vụ công. Quá trình đó đã làm tăng thêm sự cảnh giác trong
ý thức của người dân về trách nhiệm đối với cộng đồng và tăng thêm sự chủ
động của người dân đối với các vấn đề liên quan đến đời sống của mình. Có thể
nói, sự ra đời của xã hội công dân ở Singapore ban đầu là một sản phẩm tất yếu
của hoàn cảnh lịch sử.
b. Các nguyên tắc trong quá trình dân chủ hóa và xây dựng xã hội công
dân ở Singapore
Chính quyền PAP đã đưa Singapore bước vào thế giới với hai bàn tay
trắng và một lời hứa về tự do. Một lời hứa mà những người Singapore giản dị và
ngoài vòng pháp luật khi đó, thậm chí chưa chắc đã hiểu. Nhưng đó là cái làm
họ vừa khiếp nhược, vừa ngưỡng mộ, vừa khao khát. Nhưng chính quyền PAP
đã thực hiện nghiêm túc lời hứa của mình. Ngay từ những ngày đầu lập nước,
động lực cho sự hình thành các tổ chức xã hội ở Singapore – sự bỏ quên hoặc
những hành động chưa đầy đủ từ phía các nhà cầm quyền – đã được PAP nhìn
nhận một cách nghiêm túc. Đây là điểm quan trọng được PAP đặt làm trọng tâm
trong chiến lược của mình nhằm giành được sự ủng hộ và hỗ trợ từ phía người
dân.
Từ hoàn cảnh đất nước ngày độc lập, từ nền văn hóa phương Đông, đồng
thời nhìn kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới, những nhà lãnh đạo đầu
tiên của Singapore đã nhận thấy quốc đảo này cần phải lựa chọn cho mình một
con đường riêng.. Mục tiêu của PAP không chỉ tìm kiếm sự ủng hộ chính trị mà
là thiết lập nền dân chủ, nhưng không phải là một nền dân chủ tự do như ở Anh
hay Mỹ, vì Lý Quang Diệu nói rằng ông nhìn thấy ở xã hội Mỹ những yếu tố
16
không chấp nhận được như súng ống, ma túy, tội phạm, bạo lực, những hành vi
không thích hợp ở những nơi công cộng… mà ông gọi là tổng hợp tất cả các sự
cố của xã hội công dân.
Để phát huy nền dân chủ, Singapore cần phải xây dựng xã hội công dân.
Nhưng đây lại là một vấn đề nhạy cảm vì ngay cả sau khi giành được độc lập,
xã hội công dân ở Singapore vẫn còn sự phân hóa rất rõ rệt. Một bên là các tổ
chức chịu ảnh hưởng của nền giáo dục Trung Quốc truyền thống, cấu thành
tương tác phi chính trị với nhà nước, thực hiện các mục tiêu cộng đồng, đáp ứng
những nhu cầu của xã hội bị nhà nước bỏ qua và hỗ trợ cho chính quyền PAP
như các câu lạc bộ giải trí, các tổ chức từ thiện, giáo dục, phúc lợi… Chúng có
thể hoạt động tự chủ hoặc hợp tác với nhà nước. Bên kia là các tổ chức chịu ảnh
hưởng của nền giáo dục Anh quốc, với mong muốn tham gia vào các công việc
của nhà nước, các vấn đề chính trị và mong muốn thay đổi những cái mà quan
chức nhà nước đang làm. Đó là một mạng lưới dày đặc các tổ chức vận động phi
chính phủ xem nó là vai trò đối lập của nhà nước như các nhóm lợi ích, các tổ
chức bảo vệ môi trường, các phong trào nữ quyền, nhân quyền, dân chủ… Các
nhóm này đối lập với nhà nước dù có nhận được tiền từ nhà nước hay không.
“Sẽ rất bi thảm nếu Singapore bị chia thành nhiều nhóm lợi ích đặc biệt và mỗi
nhóm khẳng định nhu cầu của nó, và sẽ không thể hình thành một sự đồng thuận
quốc gia” (Lý Hiển Long, 2000). Từ đó, những người đứng đầu Singapore chủ
tâm xây dựng một xã hội công dân Singapore phát triển dựa trên sự phát triển
kinh tế và nhận thức để tránh những vấn đề xã hội mà các nước phương Tây
phải đối mặt.
Nguyên tắc đầu tiên mà PAP đưa ra cho xã hội công dân là lợi ích quốc
gia. Xã hội công dân nghĩa là sự tự chủ của các cá nhân trong không gian chính
trị - xã hội và trách nhiệm của chính phủ đối với dân chúng. Vấn đề đặt ra với
dự án xã hội công dân ở Singapore là các tổ chức xã hội công dân mới nổi
không vượt qua nhiệm vụ của mình và đóng vai trò đối lập chính trị để phá vỡ
sự thống nhất trong quốc gia. Chính phủ khuyến khích các tổ chức phúc lợi xã
hội tự nguyện (VWOs) và các hiệp hội cơ sở tập trung vào các vấn đề địa
phương, chứ không phải là các nhóm xã hội hành động có liên quan đến các vấn
đề quốc gia hoặc ủng hộ các lợi ích cụ thể. Chính phủ sẽ ủng hộ, thậm chí hỗ trợ
các tổ chức xã hội công dân, miễn hành động của họ là thiện chí, có trách nhiệm
và vì lợi ích quốc gia.
Thứ hai, chính phủ là chủ thể duy nhất có chuyên môn về chính trị. Vì
vậy, chính quyền PAP không chấp nhận xã hội công dân đối lập với nhà nước và
sẽ dùng mọi biện pháp để ngăn các lợi ích hoặc các nhóm áp lực đạt được mục
17
tiêu của mình. Trước đây, chính quyền dưới sự lãnh đạo của Goh Chok Tong)
cũng đã cam kết phát triển một phong cách cởi mở hơn về quản trị, nghiêm túc
tư vấn nhiều hơn với nhân dân, lắng nghe nhiều quan điểm đa dạng hơn, cho
phép tổ chức nhiều cuộc tranh luận về chính sách cũng như khuyến khích nhiều
hơn nữa sự tham gia của các tổ chức. Nhưng chính phủ sẽ trừng trị thẳng tay bất
cứ tổ chức đại diện cho phe đối lập chính trị nào đội lốt các tổ chức xã hội công
dân. Những người dân có thể thể hiện những điều mình quan tâm nhưng không
phải thông qua các phương tiện bạo lực hay chiến thuật gây áp lực. Goh Chok
Tong nói rằng trong khi chính phủ sẽ lắng nghe các đề xuất và tư vấn. Các tổ
chức phi chính phủ không được bầu ra và không chịu trách nhiệm, và do đó
không thể mong đợi để thiết lập chương trình nghị sự hay điều hành Singapore
theo cách của họ. Hiện nay, chính quyền (dưới sự lãnh đạo của Lý Hiển Long)
vẫn tiếp tục thực hiện đặc trưng này.
Trên quan điểm đó, PAP từng bước mở rộng không gian và điều chỉnh
hoạt động của xã hội công dân.
4.2. Không gian của xã hội công dân và tiến trình dân chủ giai đoạn
1965 - 1984
Đây là giai đoạn mà xã hội công dân rất trầm lắng và Singapore không nói
nhiều đến dân chủ. Nhưng chính các nhu cầu của xã hội công dân đã vạch ra lộ
trình và hình thành phương pháp hoạt động thực tiễn cho chính quyền PAP.
Chính quyền PAP non trẻ lên nắm quyền, một mặt tập trung quyền lực, mặt khác
cung cấp hiệu quả các dịch vụ công, những điều mà chính quyền thuộc địa đã
không làm. Chính phủ Singapore không chỉ nỗ lực để có được sự ủng hộ về
chính trị từ phía người dân mà còn muốn xây dựng một nền dân chủ thật sự.
Nhưng PAP cũng hiểu rằng không dễ dàng có được một nền dân chủ. Một nền
dân chủ nếu có thể có được, phải trải qua những bước chuẩn bị và tập dượt
nghiêm túc. Vì vậy, Singapore đã xây dựng đồng thời ba thể chế của dân chủ:
cải thiện đời sống vật chất của người dân, nâng cao dân trí, hoàn thiện hệ thống
pháp luật và chuẩn bị các tiền đề cho xã hội công dân ra đời.
Lý Quang Diệu nhận định ngay từ lúc đầu rằng: “Quần chúng nhân dân
không quan tâm đến các hình thức pháp lý và hiến pháp, và sự tinh tế của nó.
Họ không quan tâm đến thuyết phân quyền và mục tiêu, chức năng của các dịch
vụ dân sự trung lập về về chính trị dưới hiến pháp đó. Nếu tương lai không tốt
hơn, do sự kém cỏi của các bộ trưởng được bầu ra hay do sự thiếu hụt của các
dịch vụ dân sự. Vì vậy, cuối mỗi nhiệm kỳ 5 năm, người dân chẳng còn mấy tin
tưởng vào chính đảng mà họ bầu chọn hay hệ thống chính trị mà họ thừa hưởng.
18
Từ đó, ông cho rằng kinh tế phát triển là điều cần thiết cho sự bền vững hệ
thống chính trị, và sự ổn định chính trị là điều cần thiết cho phát triển kinh tế. Vì
vậy, ngay khi lên nắm quyền, việc đầu tiên chính quyền PAP thực hiện là phát
triển kinh tế, cải tạo và nâng cao đời sống vật chất cho người dân. Đây là điều
quan trọng vì khi đa số người dân không có nhiều thì giờ để tìm hiểu một cách
tường tận một hệ thống ý thức hệ, thì sự nhìn nhận một ý thức hệ được gắn liền
với sự thành công về mặt kinh tế là điều dễ hiểu. Người ta lập luận rằng nếu
người nghèo được phép lựa chọn giữa việc có tự do chính trị và việc thỏa mãn
các nhu cầu kinh tế thì họ sẽ luôn chọn điều thứ hai. Vấn đề thực sự không phải
là nhân dân thực tế chọn cái gì mà là họ có lý do để chọn cái gì. Do trước hết và
trên hết, người dân có lý do không muốn xóa bỏ sự thiếu thốn và nghèo khổ về
kinh tế nên họ có đủ lý do để không nhấn mạnh các quyền tự do chính trị. Điều
này sẽ cản trở những ưu tiên thực sự của họ.
Kết quả là vào những năm 1960 – 1970, Singapore là một trong những
nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới. Đến năm 1970, quốc gia
này hầu như không có người thất nghiệp, lực lượng lao động đã tăng lên gấp 6
lần trong giai đoạn 1965 – 1977 và vào thập niên 1970, thu nhập tính theo đầu
người của Singpapore đã tăng gấp đôi. Khi không còn quan tâm nhiều đến tăng
trưởng vật chất, người dân có xu hướng tham gia nhiều hơn trong các hoạt động
trí tuệ khác và các công việc cộng đồng trong xã hội, cũng như các cuộc thảo
luận về chính sách và quá trình ra quyết định. Không chỉ các vấn đề kinh tế, văn
hóa, mà các quyền dân sự và đại diện chính trị cũng được người dân quan tâm
hơn.
Bước đi thứ hai để phát triển dân chủ ở quốc đảo này là nâng cao dân trí.
Singapore không phải không nhận ra vai trò quan trọng của các thể chế trung
gian đối với sự phát triển của đất nước. Bị ảnh hưởng bởi các giá trị truyền
thống phương Đông, khi mới tuyên bố độc lập, bên cạnh giáo dục nam giới, còn
quan tâm đến việc nâng cao trình độ của nữ giới. Tỷ lệ biết chữ đã tăng gấp đôi,
từ 34% năm 1957 lên 65% năm 1965 và lên đến 80% năm 1980. Sự tiến bộ của
phụ nữ trong việc giáo dục đi kèm với việc phụ nữ tham gia nhiều hơn vào lực
lượng lao động, cải thiện tình trạng kinh tế của họ.
Ngoài giáo dục bắt buộc và các cơ chế đào tạo, thu hút nhân tài, PAP còn
xây dựng chính sách nhà ở cho người dân, tạo sự cố kết cộng đồng và sự gắn bó
với quốc gia dân tộc. Năm 1980, 40% dân số trên 25 tuổi không có chứng chỉ
văn hóa, 38% số dân tốt nghiệp cấp I, 15% số dân tốt nghiệp cấp II và chỉ có
3.4% số dân tốt nghiệp cấp III. Nhưng con số này đã thay đổi nhanh chóng. Sự
cạnh tranh mang tính cá nhân chứ không phải là dòng dõi gia đình đã làm cho
19
giáo dục trở thành một hàng hóa được đánh giá cao trong xã hội Singapore và
chính điều này đã làm cho xã hội đi lên.
Trong lúc đó, PAP cũng nhanh chóng kết nối với không gian của các tổ
chức xã hội công dân. Ngay từ những năm 1970, PAP đã phát triển các cơ sở ở
cộng đồng và các cơ sở chính trị nhánh để huy động sự ủng hộ đối với chính
phủ. Nhờ có sự kiểm soát của các chi bộ ở cấp cơ sở, PAP đã tạo ra một số tổ
chức cộng đồng do Đảng lãnh đạo để củng cố sự hiện diện của mình trong từng
khu vực dân cư, và từng bước chiếm lĩnh đời sống có tính chất tự nguyện, hài
hòa ở Singapore. Các cơ sở chính trị nhánh được thiết lập để nối các cộng đồng
dân cư với các trung tâm chính trị và xây dựng sự đồng thuận. Các cơ sở chính
trị nhánh (parapolitical institutions) như: Trung tâm cộng đồng (CC), Ủy ban tư
vấn công dân (CCCs), và Ủy ban địa phương (TC) được đặt dưới sự quản lý của
văn phòng thủ tướng. Các tổ chức này một mặt tạo ra sự kết nối cho các cá nhân
ở địa phương, một mặt đóng vai trò phụ trợ quan trọng trong giao tiếp và cầu
nối chính trị giữa quần chúng và chính phủ, khẳng định sự hiện diện của PAP tại
các khu vực dân cư dù nghèo khó nhất. Kết quả của việc làm này là ở Singapore
đã không tồn tại một xã hội công dân tự phát và không định hướng một cộng
đồng đa sắc tộc, đa tôn giáo. Đồng thời, thiết lập được một sợi dây kết nối hữu
cơ giữa lĩnh vực chính trị và phi chính trị, giúp thiết lập sự hòa hợp giữa các nhà
lãnh đạo chính trị với người dân.
Giải thích rằng việc không để các tổ chức xã hội phát triển lan tràn là một
động thái để bảo vệ sự đồng thuận trong quốc gia vào thời điểm các yếu tố hỗ
trợ cho dân chủ chưa đầy đủ và trình độ phát triển kinh tế cũng như văn hóa
công dân chưa sẵn sàng cho một xã hội công dân phát triển. PAP đã từng bước
thông qua pháp luật để kiểm soát công đoàn và các phong trào hoạt động xã hội
và làm suy yếu các hội Tam hoàng, làm giảm dần ảnh hưởng của các tổ chức
cộng đồng có từ dưới thời nhà nước thuộc địa bằng nhiều cách khác nhau.
Nhưng sự hiện diện của các tổ chức xã hội lâu đời và có ảnh hưởng lớn
như Đại học Nanyang đã khẳng định ảnh hưởng của xã hội công dân vẫn còn rất
lớn. Các tổ chức xã hội công dân ở Singapore vẫn phát triển và giữ độc quyền
trong nhiều hoạt động và chức năng truyền thống , nhất là trong lĩnh vực giáo
dục và y tế. Xã hội công dân, mặc dù không còn sôi động như trước, nhưng vẫn
luôn có các tổ chức chuyển những kiến nghị đến chính phủ như Ủy ban Quốc
gia nhà thờ (National Church Committee – NCC), Văn học Thương mại Trung
Quốc, Hiệp hội Ô tô, trên 300 hội các dòng họ…, và một số tổ chức khác ít
mang tính truyền thống hơn như Cộng đồng tự nhiên (NSS) hay Hiệp hội Phụ
20
nữ hành động và nghiên cứu (AWARE). Nhiều kiến nghị về đề xuất của các tổ
chức này đã được chính quyền ghi nhận thực hiện do tính chuyên nghiệp cao.
4.3. Xã hội công dân và từng bước tiến của dân chủ
Trong một thời gian dài, xã hội công dân ở Singapore không được phát
triển vì chính quyền sợ không thể đưa vị thần trở lại cái chai. Nhưng vào cuối
những năm 1980, trước vô số những áp lực từ bên trong và bên ngoài. Chính
quyền Singapore buộc phải nới lỏng các hạn chế về xã hội công dân dù rất chậm
rãi và thận trọng.
Bước đi đầu tiên là việc Goh Chok Tong công bố thành lập Viện Nghiên
cứu chính sách (IPS) vào năm 1988. Về mặt hình thức, đó là một trung tâm
nghiên cứu, nhưng thực chất đó là nơi diễn ra các cuộc thảo luận về các vấn đề
trong giới trí thức và nghiên cứu chính sách. Từ đây, xã hội công dân Singapore
có những bước phát triển mới. Sự thay đổi được đề xuất trong nghị trình về xã
hội công dân có thể được giải thích là một động thái thận trọng theo hướng trao
quyền cho các cấu trúc trung gian.
a. Các bước chuẩn bị cho sự phát triển của xã hội công dân và trao quyền
Vào cuối những năm 1980, Singapore phải đối mặt với nhiều vấn đề phát
triển. Trước hết là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa toàn cầu. Vấn
đề thứ hai là sự mâu thuẫn giữa dân chủ và tập trung. Trong khi truyền thống
dân chủ đã cắm rễ sâu ở Singapore để tạo ra được sự đồng thuận, quá trình ra
quyết định vẫn phải luôn vận hành trong khuôn khổ của tập trung. Sự đồng
thuận, nếu có thể đạt được hẳn phải rất khó khăn. Nhưng nếu không có sự đồng
thuận việc mở rộng dân chủ dù theo hướng nào cũng sẽ đem đến rất nhiều xung
đột. Trong điều kiện đó, những người đứng đầu quốc đảo này đã giải quyết vấn
đề này bằng cách viện đến văn hóa để làm nên sự cố kết cộng đồng.
Ngày 6 tháng 1 năm 1991, chính quyền PAP đã công bố Sách trắng về giá
trị, đề cập các giá trị chung, là những yếu tố gắn kết người Singapore thành một
quốc gia. Mục đích Sách trắng là nhằm tìm kiếm các giá trị chung mà tất cả đều
có thể chia sẻ, bảo tồn các di sản của các cộng đồng khác nhau và bảo đảm mỗi
cộng đồng đều được đánh giá cao và cảm nhận được các phong tục của các cộng
đồng khác. Năm giá trị chung được công bố trong Sách trắng gồm:
- Quốc gia có trước cộng đồng và xã hội cao hơn cá nhân;
- Gia đình là cơ sở của xã hội;
- Cộng đồng hỗ trợ và tôn trọng cá nhân;
- Đồng thuận, không xung đột;
21
- Hòa hợp sắc tộc và tôn giáo.
Ngoài các giá trị chung này, mỗi cộng đồng có thể thực hành các giá trị
khác miễn là không xung đột với các giá trị của quốc gia.
Tuyên bố về các giá trị chung cốt lõi là nhằm khẳng định sự khác biệt của
Singapore và nhờ đó làm nản lòng sự cạnh tranh của các hệ thống chính trị
phương Tây – nhất là chủ nghĩa đa nguyên. Tầm quan trọng về chính trị của văn
kiện này là nó đã mở ra khả năng cho PAP phác họa những thách thức đối với sự
đồng thuận dân tộc hay các giá trị chung của người Singapore.
Bên cạnh việc công bố các giá trị chung, xây dựng văn hóa công dân là
một trong những trọng tâm của Tầm nhìn Singapore thế kỷ XXI (S21), trong đó
nhấn mạnh cần phải có những công dân hoạt động tích cực để xây dựng đất
nước và cộng đồng. Quyền công dân là sự thực hành chứ không phải là một
trạng thái. Bản chất của “các công dân năng động”, theo S21, chính là tư tưởng
về các nhóm công dân chủ động tham gia hợp tác với lĩnh vực tư và công để hỗ
trợ việc thực hiện chính sách công.
Trong bài phát biểu nhân ngày Quốc khánh năm 1997, Goh Chok Tong đã
rất quan tâm đến ý kiến của người dân Singapore về một tương lai mà họ kỳ
vọng đối với đất nước. Và ngay sau đó, Ủy ban S21 được thành lập do Teo Chee
Hean đứng đầu với nhiệm vụ tìm hiểu quan điểm của người Singapore. Ủy ban
này gồm năm tiểu ban đã dành 18 tháng để tham khảo ý kiến của 6,000 công
dân thông qua các cuộc hội thảo, thảo luận nhóm, khảo sát và thư điện tử. Y
tưởng quan trọng nhất được ủy ban trình lên Quốc hội chính là khuyến khích
các ý tưởng phong phú, đa dạng của các công dân, đồng thời thúc đẩy sự tham
gia của công dân nhiều hơn nhằm tăng cường sự ràng buộc của công dân trong
hệ thống và ý thức của họ về việc mình thuộc về một cộng đồng. PAP coi sự
tham gia của người dân có nghĩa là sự đối thoại hai chiều với các nhà hoạch
định chính sách và yêu cầu các bộ, ngành và đơn vị thông tin được yêu cầu phải
có cơ chế tự phản hồi, phải cởi mở và tiếp thu những ý tưởng và quan điểm của
công dân, tăng cường chia sẻ thông tin. Công dân về phần mình sẽ được cung
cấp đầy đủ thông tin, khuyến khích tham gia tích cực, đặc biệt là ở cấp địa
phương.
Kết quả là PAP đã thành công trong việc tạo ra các thế hệ công dân có
trình độ, năng lực và bản lĩnh, tôn trọng các giá trị chung và phấn đấu vì sự phát
triển chung của đất nước. Đồng thời phấn đấu xây dựng PAP đáp ứng nhu cầu
của các công dân với học vấn ngày càng cao. Các tổ chức xã hội xuất hiện từ
cuối những năm 1980 đến nay đã tránh được sự đối đầu. Họ đã thành công trong
22
việc chỉ ra khe hở chính trị đồng thời nỗ lực tạo ra sự đồng thuận chính trị thay
cho sự đối đầu công khai.
b. Sự trưởng thành của xã hội công dân và quá trình từng bước trao
quyền cho người dân
Ngay khi Sách trắng về giá trị được công bố, xã hội công dân đã trở thành
tâm điểm của nhiều cuộc đấu tranh luận giữa các nhà báo, các chính trị gia, các
nhà nghiên cứu. Vào thời điểm này, Singapore tập trung vào hai sự kiện quốc tế
lớn: sự sụp đổ của phong trào xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và việc Trung Quốc
tiếp tục duy trì mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Cùng với nó là sự phát triển của xã
hội công dân trong quá trình chuyển đổi ở các nước Đông Âu và những bất cập
của xã hội công dân Trung Quốc. Cuối cùng, Singapore thừa nhận rằng nhiệm
vụ ban đầu trong việc xây dựng đất nước là tạo ra một nhà nước mạnh mẽ.
Nhiệm vụ quan trọng tiếp theo là tạo ra một xã hội công dân mạnh mẽ. Mặc dù
xác định rõ ràng phải chuyển giao một phần trách nhiệm cho người dân, nhưng
trong hoàn cảnh cụ thể của Singapore, câu hỏi đặt ra là vai trò của nhà nước nên
đến đâu và vai trò của các chủ thể phi nhà nước hay xã hội công dân nên ở mức
độ nào. Liệu chính phủ có thể làm ít đi và liệu người dân có thể làm nhiều hơn?
Và liệu chính phủ có làm ít đi và liệu người dân có muốn làm nhiều hơn?
Về mặt lợi ích, hẳn không chính phủ nào muốn làm ít đi trong khi người
dân hoàn toàn có thể và muốn làm nhiều hơn. Nhưng Singapore, với trình độ
phát triển hiện có không còn sự lựa chọn. Mặc dù Goh Chok Tong và nhóm của
ông khi đó nói đến mong muốn có một Singaore “tốt hơn và nhẹ nhàng hơn”,
nhưng đằng sau lý do đó là một hiện thực quan trọng rằng ngày càng nhiều
người Singapore có giáo dục đã nhận thấy những hạn chế chính trị – xã hội của
đất nước đang trở nên rất ngột ngạt. Người Singapore khi đó đã đi khắp thế giới,
đã làm việc dài hạn ở nhiều quốc gia phát triển khác và cũng đã có người cảm
thấy gắn bó nhiều hơn một cộng đồng. Những người Singapore có thể rời bỏ đất
nước này nếu thấy mình không được tham gia. Thiếu sự gắn kết, các công dân
chỉ coi nước mình như một khách sạn chứ không phải gia đình, nhưng
Singapore không thể biến khách sạn thành gia đình chỉ đơn giản bằng cách ngăn
cản không cho những người khách rời đi.
Công nghệ truyền thông phát triển mạnh, người Singapore cầu toàn hơn,
trình độ giáo dục cao hơn, đi lại nhiều hơn và nhận thức vấn đề tốt hơn. Các hộ
gia đình, các doanh nghiệp, trường học, thư viện cơ quan chính phủ và chính
quyền theo luật định được tất cả các trang điện tử liên kết với nhau để tạo điều
kiện thuận lợi cho kinh doanh, mua sắm và các giao dịch thương mại khác, cũng
như các dịch vụ truyền hình cáp và Internet. Mạng lưới Singapore ONE đã được
23
bổ sung bởi một mạng lưới thông tin liên lạc không dây để truy cập máy tính di
động với các dịch vụ minh bạch thông tin. Internet là một cơ chế xã hội công
dân ngày càng quan trọng trong việc cung cấp thông tin và thúc đẩy các quan
điểm và ý kiến khác nhau. Mức độ sử dụng trang web của chính phủ cũng
không ngừng tăng lên. Trong tháng 6 – 2001, internet gov.sg đã thu hút 58 018
người tham gia, với 683 750 lượt truy cập. Đến cuối năm 2012, các cổng thông
tin của chính phủ (www.citizen.gov.sg) đã nhận được 4.2 triệu lượt truy cập
trung bình mỗi tháng và theo cuộc khảo sát toàn cầu trong cùng năm. Singapore
đứng thứ ba, sau Thụy Điển và Na Uy về chính phủ điện tử.
Bên cạnh đó, một vấn đề không kém phần quan trọng là chính phủ nhận ra
rằng nó đã tự mở rộng quá mức trong nỗ lực quản lý tất cả khía cạnh của xã hội,
và điều này là không khả thi trong bối cảnh toàn cầu hóa phức tạp và thay đổi
nhanh chóng, Bên cạnh đó, Singapore muốn được tư vấn thêm về chính sách
công, đặc biệt trước khi chính sách được công bố công khai, chứ không chỉ là
thông tin phản hồi sau khi thực hiện. Việc mở rộng không gian cho xã hội công
dân chỉ còn là chuyện sớm muộn.
Chính phủ PAP đã cố gắng thay đổi thái độ của mình về xã hội công dân.
B.G. Lee giải thích rằng “Chính phủ đang thay đổi cách tiếp cận của các bộ,
ngành. Chúng tôi muốn cởi mở hơn trong việc chấp nhận và thu hút các thông
tin từ phía công chúng… Câu hỏi là chính phủ nên làm gì nếu một thách thức
chính trị xuất phát từ một nơi nào đó khác chứ không phải từ chính đảng đối lập,
mà đôi khi sẽ là như vậy. Đây là vấn đề phán xét – nếu phản ứng là quá khắc
nghiệt và mang tính phòng thủ, chính phủ có nguy cơ bị xa lánh và mất đi sự
ủng hộ. Mặt khác, chấp nhận tất cả những lời chỉ trích như là những phản hồi
mang tính xây dựng sẽ là ngây thơ.”
Trong điều kiện như vậy, chính phủ hẳn sẽ không muốn làm nhiều hơn,
mặc dù có thể có động cơ để làm nhiều hơn. Và xã hội công dân ở Singapore bắt
đầu có những cơ hội để phát triển.
Về Dự án xã hội công dân, PAP khởi động dự án xã hội công dân bằng
việc nới lỏng sự kiểm soát trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, giảm bớt các
kiểm duyệt trong các ấn phẩm văn hóa và trông mong sự cởi mở đó sẽ dần sang
các hoạt động khác. Nhưng các cuộc tranh luận chính trị lại không cởi mở bao
nhiêu, bầu không khí sợ hãi vẫn bao trùm lên tự do ngôn luận do hàng loạt các
đạo luật kiểm soát dân chủ như Luật an ninh nội địa hay Luật đăng ký, đến mức
PAP đã từng băn khoăn không biết những việc đang làm có phải là sai lầm hay
không. Tuy nhiên, mức độ khắt khe của PAP đối với các tổ chức xã hội công dân
24
có giảm đi và nó đồng nghĩa với việc không gian của xã hội công dân được mở
rộng hơn.
Mặc dù sự phát triển của xã hội công dân ở Singapore không thuận buồm
xuôi gió trong khi cuộc tổng tuyển cử diễn ra sau bài phát biểu của Yeo hai
tháng, PAP đã không giành được kết quả như mong đợi. Và một kết luận được
rút ra là sự cởi mở về văn hóa và chính trị không mang về số phiếu cao hơn.
Thực tế là những người theo nền giáo dục Trung Quốc truyền thống đã không
mấy hào hứng với việc mở rộng không gian cho các tổ chức xã hội công dân và
hướng sự ủng hộ của mình sang phía khác. Xã hội công dân lại một lần nữa bị
bỏ rơi.
Nhưng sau thành công của PAP trong cuộc tổng tuyển cử năm 1997, trong
S21, xã hội công dân được xác định là một yếu tố quan trọng để khai thác tài
năng và năng lượng của nhân dân, điều này đã mang lại cho Singapore ý nghĩa
lớn hơn của sự tham gia và tăng cường trách nhiệm đối với hệ thống. Thiện chí
của PAP đối với xã hội công dân không phải là không có bằng chứng. Tại cuộc
Tổng tuyển cử năm 1997, Bàn tròn – một trong hai tổ chức xã hội công dân lớn
nhất vào thời điểm đó, đã vạch trần các chiến thuật của PAP nhằm liên kết lợi
thế trong HDB để nâng cao số phiếu. Đó là một đòn đau đối với PAP, nhưng
thực tế là không có hậu quả nghiêm trọng nào xảy ra đối với Bàn tròn.
Một bước tiến tượng trưng quan trọng của xã hội công dân Singapore là
việc chính phủ quyết định cho phép thành lập Góc người phát ngôn (Speaker
Coner) tại Công viên Hong Lim tháng 9 – 2000. Người phát ngôn có thể nói
chuyện về bất kỳ chủ đề nào, nhưng không khơi dậy cảm giác thù địch chủng
tộc hoặc tôn giáo. Thời gian mỗi ngày từ 7 giờ sáng đến 7 giờ tối. Người phát
ngôn có thể công bố công khai các tài liệu trước đó, không giới hạn về số lượng
người tham gia phát ngôn (ngay cả cùng một thời điểm), thời lượng bài phát
biểu, và người phát ngôn có thể tranh luận với khán, thính giả bằng một trong
bốn ngôn ngữ chính thức. Mặc dù sau cuộc biểu tình, của khoảng 50 người
thuộc phe đối lập (Trung tâm Singapore mở và Trung tâm tư tưởng) tháng 12
năm 2000 nhân ngày Quốc tế Nhân quyền và việc một tổ chức đã lợi dụng Góc
người phát ngôn để phản đối Luật an ninh nội địa, hoạt động của Góc người
phát ngôn bị hạn chế hơn. Góc người phát ngôn vẫn là một thành công của các
nhà hoạt động xã hội công dân và thành công của chính phủ trong việc mở rộng
ranh giới tự do ngôn luận mà không có sự hỗn loạn.
Hàng loạt các tổ chức xã hội công dân mới được lập ra và ít nhiều có ảnh
hưởng đến các quyết định của chính phủ. Báo cáo S21 đề cập việc thiết lập
Trung tâm tình nguyện quốc gia để tăng cường phong trào tình nguyện ở
25