Tải bản đầy đủ (.doc) (11 trang)

Dien an dan su ho so 13 2020 cong ty kim lan nhat linh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (129 KB, 11 trang )

BỘ TƯ PHÁP
HỌC VIỆN TƯ PHÁP

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Môn học: Kỹ năng cơ bản của Luật sư khi tham gia giải quyết vụ, việc dân sự
Hồ sơ tình huống: Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa (Nguyên đơn:
Công ty TNHH Kim Lân; Bị đơn: Công ty TNHH Nhật Linh)
Mã số hồ sơ: LS.DS 13/ B5.TH2-DA3/KDTM
Ngày diễn án:

Học viên:
Mã số:
Lớp:

1


PHẦN 1: TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ KIỆN
Ngày 02/01/2015 Công ty TNHH Kim Lân (Công ty Kim Lân) và Công ty
TNHH Nhật Linh (Công ty Nhật Linh), cùng địa chỉ: Cụm công nghiệp Thanh
Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh ký hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN –
KL. Theo đó Công ty Kim Lân đồng ý cung cấp hàng hóa cho Công ty Nhật
Linh (chi tiết mặt hàng, đơn giá, số lượng, chất lượng, quy cách theo từng đơn
hàng cụ thể). Hiệu lực hợp đồng là 12 tháng kể từ ngày ký.
Ngày 25/02/2016, hai bên đối chiếu công nợ và xác định tính đến hết ngày
31/12/2015 Công ty Nhật Linh còn nợ Công ty Kim Lân số tiền là:
3.250.319.430 đồng. Ngày 08/5/2016, hai bên tiếp tục đối chiếu công nợ và xác
định tính đến hết ngày 30/4/2016 Công ty Nhật Linh còn nợ Công ty Kim Lân
số tiền là 3.177.970.970 đồng.
Ngày 17/5/2016 các bên đã có buổi làm việc để giải quyết các tranh chấp.
Tuy nhiên, các bên không thực hiện đúng các nội dung đã cam kết, không hòa


giải được.
Ngày 10/7/2016, Công ty Kim Lân có đơn khởi kiện Công ty Nhật Linh tại
Tòa án nhân dân Huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh yêu cầu Công ty Nhật Linh
trả nợ tiền hàng số tiền 3.270.212.570 đồng và nợ lãi phát sinh do chậm thanh
toán theo lãi suất pháp luật quy định.
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ngày 17/11/2016, Công ty Nhật
Linh có Đơn phản tố yêu cầu Công ty Kim Lân ký và hoàn trả tài sản của Công
ty Nhật Linh trên đất của Công ty Kim Lân.
Ngày 26/12/2016, Tòa án nhân dân Huyện Thuận Thành ban hành Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 12/2016/QĐXXST - KDTM
PHẦN 2: NHẬN XÉT MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỐ TỤNG
1. Về quyền khởi kiện, người khởi kiện
Công ty Kim Lân là pháp nhân, đang hoạt động, có đầy đủ năng lực hành
vi dân sự, năng lực hành vi tố tụng dân sự. Công ty đã thực hiện cung cấp hàng

2


hóa cho Công ty Nhật Linh nhưng không được thanh toán theo cam kết, cho
rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, Công ty Kim Lân có
quyền khởi kiện Công ty Nhật Linh ra tòa án nhân dân có thẩm quyền.
2. Về thẩm quyền Tòa án
Căn cứ Điều 5 Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL giữa Công ty
Kim Lân và Công ty Nhật Linh, tranh chấp phát sinh giữa hai công ty nếu không
thể được giải quyết bằng con đường thỏa thuận, đàm phán thì “Trọng tài kinh tế
thành phố Hà Nội” sẽ là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp này.
Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay không tồn tại cơ quan tài phán mang tên
“Trọng tài kinh tế thành phố Hà Nội” như trong thỏa thuận trọng tài giữa hai
bên. Như vậy, thỏa thuận trọng tài này giữa hai bên không thể thực hiện được;
Đồng thời, trong quá trình giải quyết tranh chấp, hai Công ty không có thỏa

thuận nào khác về trọng tài. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 4 Nghị quyết
01/2014/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày
20/3/2014 hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Trọng tài thương mại, tranh
chấp phát sinh giữa hai công ty thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về thẩm quyền theo cấp Tòa: Căn cứ tại Điểm b, Khoản 1, Điều 35 Bộ
Luật TTDS 2015 quy định: “Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tranh chấp về Kinh
doanh, thương mại.” Như vậy, Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp này.
Về thẩm quyền theo lãnh thổ: Căn cứ tại Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ
Luật TTDS 2015 quy định: “Tòa án nơi bị đơn có trụ sở nếu bị đơn là cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm”. Qua nội dung hồ sơ thì
bị đơn là Công ty TNHH Nhật Linh có địa chỉ trụ sở tại Cụm công nghiệp Thanh
Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh. Do đó thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ
thẩm thuộc Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh như hồ sơ thể
hiện là đúng quy định của pháp luật.
3. Về thời hiệu khởi kiện
Theo qui định tại Điều 319 Luật thương mại năm 2005 thì thời hiệu khởi
kiện đối với các tranh chấp thương mại là 02 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích bị
xâm phạm.
3


Đối chiếu tại hồ sơ vụ án thì ngày quyền và lợi của Công ty Kim Lân bị
xâm phạm là từ ngày 07/6/2016 khi Công ty nhận được công văn số 87/CV-NL
của Công ty Nhật Linh thể hiện nội dung Công ty Nhật Linh sẽ không thực hiện
trả nợ như đã thỏa thuận. Ngày 10/7/2016 Công ty Kim Lân khởi kiện Công ty
TNHH Nhật Linh ra Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành là còn thời hiệu khởi
kiện.
4. Về quan hệ pháp luật và văn bản pháp luật áp dụng

Về quan hệ pháp luật
Theo nội dung hồ sơ vụ án, Công ty Kim Lân kiện đòi Công ty Nhật Linh
trả tiền hàng hóa còn nợ phát sinh từ Hợp đồng nguyên tắc ký ngày 02/01/2015.
Cho nên đây là tranh chấp về nghĩa vụ trả tiền theo hợp đồng trong hoạt động
kinh doanh, thương mại theo quy định tại Khoản 1, Điều 30 Bộ Luật TTDS
2015.
Về văn bản pháp luật áp dụng
- Bộ luật dân sự năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Luật doanh nghiệp năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Luật thương mại năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
5. Xác định tư cách đương sự
Nguyên đơn: Công ty TNHH Kim Lân, Đại diện theo pháp luật: Ông Hàn
Anh Tuấn – Giám đốc; đại diện ủy quyền: Luật sư Kiều Thị Hải Vân – Văn
Phòng Luật sư Kiều Vân và cộng sự, Đoàn Luật sư TP. Hà Nội;
Bị đơn: Công ty TNHH Nhật Linh, Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn
Chí Linh, Tổng Giám đốc; đại diện theo ủy quyền Ông Nguyễn Tiến Công, Phó
giám đốc.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Không có
6. Nhận xét về một số nội dung khác
Về việc thụ lý Đơn phản tố
- Ngày 17/11/2016, Công ty Nhật Linh có Đơn phản tố (BL69) với nội
dung yêu cầu Công ty Kim Lân ký và hoàn trả toàn bộ tài sản của Công ty Nhật
4


Linh trên đất của Công ty Kim Lân. Ngày 29/10/2016, TAND huyện Thuận
Thành có Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí (BL71), sau đó, ngày 19/11/2016
có Thông báo về việc yêu cầu phản tố (BL73); trong nội dung Thông báo thể
hiện Đơn phản tố của Công ty Nhật Linh đề ngày 23/10/2016.

- Nội dung Đơn phản tố của Công ty Nhật Linh có thể được chấp nhận do
thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 200 Bộ Luật TTDS
2015; tuy nhiên, thời điểm nộp Đơn phản tố của Công ty Nhật Linh lại sau thời
điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa
giải (BL55-56). Điều này trái với quy định tại Khoản 3 Điều 200 Bộ Luật TTDS
2015, theo đó Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên
họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Từ những lý do trên, việc thụ lý giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn
trong cùng vụ án là vi phạm về trình tự tố tụng theo quy định của pháp luật hiện
hành.
Về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Trên cơ sở đề nghị của Công ty Nhật Linh (bị đơn có yêu cầu phản tố),
ngày 22/11/2016, TAND huyện Thuận Thành ban hành Quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2016/QĐ-BPKCTT áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời bằng hình thức “phong tỏa tài sản” tại Công ty Kim Lân. Tuy nhiên, nội
dung quyết định này có một số vấn đề trái quy định hiện hành của pháp luật, cụ
thể như sau:
Theo quy định tại Điều 114 Bộ Luật TTDS 2015, không có biện pháp
khẩn cấp tạm thời nào có tên “Phong tỏa tài sản”. Tại khoản 11 Điều 114 có quy
định về biện pháp “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ”, theo đó, đối tượng
bị phong tỏa được xác định là tài sản thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ. Tuy
nhiên, nội dung hồ sơ vụ án thì các tài sản bị phong tỏa theo quyết định số
01/2016/QĐ-BPKCTT là các tài sản đang tranh chấp giữa Công ty Nhật Linh và
Công ty Kim Lân. Bên cạnh đó, theo hồ sơ vụ án, Công ty Kim Lân đang khởi
kiện để yêu cầu Công ty Nhật Linh trả nợ tiền chưa thanh toán, số tiền
3.270.212.570 đồng và lãi phát sinh; mặc dù Công ty Nhật Linh cũng đã có yêu
5


cầu phản tố để yêu cầu Công ty Kim Lân hoàn trả tài sản của Công ty Nhật

Linh. Nhưng trong hồ sơ vụ án chưa có bất kỳ tài liệu nào thể hiện giá trị tài sản
Công ty Nhật Linh yêu cầu hoàn trả để làm cơ sở cho việc bù trừ nghĩa vụ (nếu
có), qua đó xác định sau khi bù trừ Công ty Kim Lân hay Công ty Nhật Linh là
đơn vị có nghĩa vụ.
Tóm lại, Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số
01/2016/QĐ-BPKCTT của TAND huyện Thuận Thành vi phạm về tố tụng theo
quy định của pháp luật hiện hành.
PHẦN 3: TRÌNH BÀY Ý KIẾN CỦA NGUYÊN ĐƠN
Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh đã có truyền thống hợp tác với
nhau trong lĩnh vực sản xuất hàng hóa, linh kiện, thiết bị điện từ năm 2008 đến
tháng 4/2016. Trong quá trình hợp tác theo hợp đồng nguyên tắc số
01/2015/NLBN-KL, Công ty Nhật Linh còn nợ tiền hàng chưa thanh toán cho
Công ty Kim Lân. Nay Công ty Kim Lân khởi kiện yêu cầu Công ty Nhật Linh
trả số tiền: 3.250.319.430 đồng (Ba tỷ, hai trăm năm mươi triệu, ba trăm mười
chin nghìn, bốn trăm ba mươi đồng) và nợ lãi phát sinh, tạm tính 250.000.000
đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng). Đồng thời, Công ty Kim Lân bác toàn bộ
yêu cầu phản tố của Công ty Nhật Linh về yêu cầu Công ty Kim Lân hoàn trả tài
sản do giữa Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh không có tranh chấp về tài
sản, Công ty Nhật Linh có trách nhiệm tự tháo dỡ các tài sản đã xây dựng trái
phép trên đất của Công ty Kim Lân.
PHẦN 4: KẾ HOẠCH HỎI CỦA LUẬT SƯ
Câu hỏi

Vấn đề cần chứng minh

Hỏi nguyên Sau khi đối chiếu công nợ ngày
đơn
8/5/2016, Công ty Nhật Linh đã đủ
số nợ chưa?


6


1.

Công ty Nhật Linh còn nợ
Công ty Kim Lân có đồng ý bằng
tiền hàng của Công ty
văn bản về việc cho Công ty Nhật
Nhật Linh, không được gia
Linh gia hạn nợ không?
hạn thanh toán.

1. Theo Bản tự khai (BL45-47) và
Biên bản lấy lời khai (BL81-82),
2.
Công ty Nhật Linh đã thừa nhận
đang còn nợ tiền của Công ty Kim
Lân theo HĐ nguyên tắc số
01/2015, số tiền cụ thể là bao
nhiêu?
Hỏi bị đơn
Ngoài lý do không trả tiền Công ty3.

Công ty Nhật Linh còn nợ
tiền của Công ty Kim Lân
theo HĐ nguyên tắc số
01/2015

Lý do không trả nợ của

Nhật Linh đang để lại tài sản đã Công ty Nhật Linh không
liên quan đến việc thực
đầu tư trên đất của Công ty Kim
hiện nghĩa vụ của Công ty
Lân (BL81), còn lý do nào khác Kim Lân theo HĐ nguyên
tắc số 01/2015
không?

PHẦN 5: LUẬN CỨ BẢO VỆ NGUYÊN ĐƠN
Kính thưa Hội đồng xét xử,
Thưa vị đại diện Viện Kiểm sát,
Thưa tất cả các vị luật sư đồng nghiệp và mọi người có mặt tại phiên
tòa hôm nay!
Tôi là

, luật sư của Công ty Luật TNHH ABC - Đoàn Luật sư Thành

phố Hà Nội, tôi đến phiên tòa hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của Công ty Kim Lân trong vụ án dân sự Tranh chấp đòi nợ tiền
hàng giữa Nguyên đơn là Công ty Kim Lân và Bị đơn là Công ty Nhật Linh
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và căn cứ kết quả phần tranh tụng tại
phiên tòa hôm nay, tôi trân trọng gửi tới Hội đồng xét xử những quan điểm để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty Kim Lân như sau:
Kính thưa Hội đồng xét xử!

7


Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh đã có quan hệ hợp tác truyền
thống từ năm 2008 đến trước khi diễn ra phiên tòa này. Trong năm 2015, hai bên

ký hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL ngày 02/01/2015 về việc Công
ty Kim Lân sẽ cung cấp hàng hóa cho Công ty Nhật Linh. Hợp đồng này quy
định cụ thể về thời gian giao hàng, phương thức thanh toán và các điều khoản
khác. Chi tiết hàng hóa, số lượng, quy cách và đơn giá căn cứ vào từng đơn hàng
cụ thể. Bên mua là Công ty Nhật Linh có nghĩa vụ thanh toán trong vòng 6
tháng kể từ khi bên bán cung cấp đầy đủ các giấy tờ. Trong quá trình thực hiện
hợp đồng, với tinh thần thiện chí và mong mong muốn hợp tác lâu dài, Công ty
Kim Lân đã giao hàng và cho Công ty Nhật Linh chậm thanh toán. Tại bản đối
chiếu công nợ ngày 25/2/2016 các bên đã thống nhất số liệu đến ngày
31/12/2015 Công ty Nhật Linh còn nợ Công ty Kim Lân số tiền là:
3.250.319.430 (Ba tỷ, hai trăm năm mươi triệu, ba trăm mười chín nghìn, bốn
trăm ba mươi đồng); tại bản đối chiếu công nợ ngày 08/5/2016 Công ty Nhật
Linh xác nhận còn nợ Công ty Kim Lân số tiền 3.177.970.970 đồng (Ba tỷ một
trăm bảy mươi bảy triệu chín trăm bảy mươi nghìn chín trăm bảy mươi đồng).
Trong quá trình làm việc, các bên đã phát sinh mâu thuẫn và đã có buổi làm việc
thống nhất ngày 17/5/2016. Đồng thời, tại công văn số 77/CV-NL ngày
27/5/2016 Công ty Nhật Linh đã thông báo với Công ty Kim Lân về lộ trình và
phương thức thanh toán nợ mỗi tuần 1 lần với số tiền 300 triệu đồng vào ngày
thứ 6 hàng tuần cho đến khi hết, thanh toán xong toàn bộ vào ngày 30/7/2016.
Tuy nhiên đến nay Công ty Nhật Linh không thực hiện theo cam kết và không
thanh toán tiền hàng cho Công ty Kim Lân.
Tại phiên tòa hôm nay, Công ty Nhật Linh tiếp tục thừa nhận đang còn nợ
tiền của Công ty Kim Lân (số tiền 3.177.970.970 đồng) và lý do cho việc không
trả nợ là Công ty Nhật Linh đang còn tài sản trên đất của Công ty Kim Lân (về
việc này Công ty Nhật Linh cũng đã có yêu cầu phản tố, chúng tôi sẽ trình bày ở
phần sau); ngoài lý do trên, Công ty Nhật Linh khẳng định không còn lý do nào
khác.

8



Từ các căn cứ trên cho thấy, Công ty Nhật Linh và Công ty Kim Lân có
quan hệ mua bán hàng hóa, hiện Công ty Nhật Linh còn nợ Công ty Kim Lân số
tiền là 3.177.970.970 đồng (Ba tỷ một trăm bảy mươi bảy triệu chín trăm bảy
mươi nghìn chín trăm bảy mươi đồng); lý do không trả nợ của Công ty Nhật
Linh không liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ của Công ty Kim Lân theo
HĐ nguyên tắc số 01/2015.
Về đơn yêu cầu phản tố theo đơn ngày 17/11/2016 của Công ty Nhật Linh,
Luật sư của Công ty Kim Lân có ý kiến như sau: Theo quy định tại Khoản 3
Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: “3. Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu
phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ và hòa giải.”. Ngày 03/9/2016, tại phiên họp kiểm tra việc giao
nhận, tiếp cận, công khai chứng cứ, Công ty Nhật Linh đã không đưa yêu cầu
phản tố, vì vậy, việc thụ lý đơn yêu cầu phản tố Công ty Nhật Linh là trái với
quy định của pháp luật, vi phạm nghiêm trọng về trình tự tố tụng. Ngoài ra, từ
khi thụ lý đến nay, Công ty Nhật Linh không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ
nào để chứng minh cho yêu cầu phản tố của mình. Vì vậy, các nội dung yêu cầu
phản tố của Công ty Nhật Linh là không có cơ sở.
Căn cứ vào những tài liệu chứng cứ trong vụ án và các nội dung đã nêu ở
trên, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty Kim Lân, chúng tôi đề
nghị Hội đồng xét xử tuyên:
1. Buộc Công ty Nhật Linh phải trả Công ty Kim Lân số tiền
3.177.970.970 đồng (Ba tỷ một trăm bảy mươi bảy triệu chín trăm bảy mươi
nghìn chín trăm bảy mươi đồng) nợ gốc và tiền lãi phát sinh do chậm trả theo
quy định của pháp luật.
2. Bác yêu cầu phản tố của Công ty Nhật Linh.

Tôi xin cảm ơn Hội đồng xét xử và những người có mặt trong phiên tòa
đã chú ý lắng nghe!


9


PHẦN 6: NHẬN XÉT DIỄN ÁN THEO YÊU CẦU CỦA GIẢNG VIÊN
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………

10



……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………

11




×