ĐIỀU DƯỠNG - CHĂM SÓC GIẢM NHẸ
KIẾN THỨC VÀ THÁI ĐỘ CỦA ĐIỀU DƯỠNG
VỀ CHĂM SÓC GIẢM NHẸ CHO NGƯỜI BỆNH UNG THƯ
TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU TP. HCM THÁNG 3/2018 - 4/2018
HOÀNG THỊ MỘNG HUYỀN1, ĐẶNG HUY QUỐC THỊNH2, QUÁCH THANH KHÁNH3,TRỊNH HỒNG GẤM4,
NGUYỄN THỊ TUYẾT NGA4, TRẦN KIM NGUYÊN4, NGUYỄN THỊ HỒNG YẾN4,
NGUYỄN NGỌC HƯƠNG THẢO5, PHAN ĐỖ PHƯƠNG THẢO5, ĐẶNG TRẦN NGỌC THANH6
TÓM TẮT
Mục tiêu: Khảo sát kiến thức và thái độ của Điều dưỡng (ĐD) về Chăm sóc giảm nhẹ (CSGN) cho người
bệnh ung thư (UT).
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 196 ĐD đang công tác tại 15 khoa lâm sàng tại BVUB,
Tp.HCM năm 2018. Phương pháp chọn mẫu phân tầng. Sử dụng bộ câu hỏi (BCH) để thu thập số liệu. Thống
kê mô tả được sử dụng để phân tích số liệu.
Kết quả: 61.2% ĐD có kiến thức về CSGN ở mức trung bình, 4.1% ĐD có kiến thức tốt về CSGN và 34.7%
ĐD có kiến thức kém về CSGN; điểm trung bình thái độ của ĐD về CSGN đạt ở mức trung bình
= 3.32, SD= 0.46).
Kết luận/Kiến nghị: Tỷ lệ ĐD có kiến thức đúng về CSGN thấp và thái độ ĐD về CSGN ở mức trung bình.
Bệnh viện cần tăng cường các chương trình đào tạo liên tục về CSGN cho đội ngũ ĐD lâm sàng tại bệnh viện
nhằm cải thiện hiệu quả chăm sóc, nâng cao chất lượng sống người bệnh, đặc biệt là các BN giai đoạn cuối.
Từ khóa: Kiến thức, thái độ, chăm sóc giảm nhẹ, Điều dưỡng.
ABSTRACT
Knowledge and attitude of oncology nurses toward palliative care for cancer patients
at Oncology Hospital In Ho Chi Minh City
Objective: To investigate knowledge and attitude among nurses toward palliative care for cancer patients
Method: A cross – sectional study conducted in 196 nurses working in 15 wards of Oncology hospital in
Ho Chi Minh City. Questionaire was used for data collection. Descriptive statistic were used for data analysis.
Results: Of the total participants, 61.2% nurses had moderate knowledge, 4.1% nurses had good
knowledge and 34.7% nurses had poor knowledge toward palliative care; Attitude of nurses towards pallative
care is at moderate level (
= 3.32, SD= 0.46).
Conclusion/implication: The hospital need to increase the number of continuing medical education (CME)
for nurses in order to improve health care efficiency and quality of life, especially in the end of life patients.
Keyword: Knowledge, Attitude, Palliative Care, Nurse.
ĐDKI. Điều dưỡng Trưởng Khoa Chăm sóc giảm nhẹ - Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM
TS.BS. Phó Giám đốc Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM
3 ThS.BSCKII. Trưởng Phòng Kế hoạch Tổng hợp, kiêm Trưởng Khoa Chăm sóc giảm nhẹ – Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM
4 CNĐD. Điều dưỡng Khoa Chăm sóc giảm nhẹ - Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM
5 ThS.BS. Bác sĩ Điều trị Khoa Chăm sóc giảm nhẹ - Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM
6 TS.ĐD. Phó Trưởng Bộ môn Điều dưỡng Trường Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch
1
2
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM
379
ĐIỀU DƯỠNG - CHĂM SÓC GIẢM NHẸ
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăm sóc giảm nhẹ (Palliative care, CSGN) là
một lĩnh vực y học mới rất được quan tâm hiện nay,
và đặc biệt cần thiết trong lĩnh vực điều trị UT [1].Theo
Tổ chức y tế thế giới (WHO), CSGN là một phần
thiết yếu của việc chăm sóc điều dưỡng (ĐD)
góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của BN
đang đối mặt với vấn đề sức khỏe đe doạ đến tính
mạng. ĐD có thể ngăn ngừa và làm giảm gánh nặng
mà người bệnh chịu đựng bằng cách nhận biết sớm,
đánh giá toàn diện, điều trị đau và các vấn đề khác
bao gồm thể lực, tâm lý xã hội và tinh thần. Việc
phát triển CSGN có hiệu quả, chi phí thấp, dễ tiếp
cận sẽ giúp cho người bệnh những chăm sóc cần
thiết cuối đời[2].
Nhận thức được tầm quan trọng của CSGN,
Bệnh viện Ung Bướu (BVUB) Thành phố Hồ Chí
Minh (TP.HCM) đã thành lập Khoa CSGN từ tháng
1/2011 nhằm cung cấp dịch vụ CSGN một cách
chuyên nghiệp và rộng khắp từ bệnh viện đến các
cơ sở chăm sóc sức khỏe tuyến cơ sở và tại nhà.
Trong thời gian qua, với sự giúp đỡ của chuyên gia
quốc tế, một số đợt hội thảo đã được tiến hành
nhằm nâng cao kiến thức của các nhân viên y tế về
CSGN như tiến trình chết bình thường, chăm sóc
cận tử và cách kiểm soát triệu chứng, dùng thuốc và
các can thiệp xâm lấn. ĐD đóng vai trò quan trọng
trong CSGN cho người bệnh UT và gia đình, tuy
nhiên cho đến hiện tại chưa có một nghiên cứu nào
được tiến hành một cách hệ thống nhằm đánh giá
kiến thức và thái độ của ĐD về vấn đề này. Chính vì
thế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đánh giá kiến
thức và thái độ của ĐD về chăm sóc giảm nhẹ tại
các khoa lâm sàng của BVUB TP. HCM”.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Khảo sát tỷ lệ ĐD có kiến thức và thái độ đúng
về CSGN tại các khoa lâm sàng của BVUB,
Tp.HCM.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang.
Đối tượng nghiên cứu
196 ĐD đang công tác tại 15 khoa lâm sàng của
BVUB, Tp.HCM trong thời gian nghiên cứu.
Tiêu chí chọn mẫu:
ĐD trực tiếp chăm sóc BN tại 15 khoa lâm
sàng; Có trình độ trung cấp trở lên; Đồng ý tham gia
nghiên cứu; Hoàn tất bộ câu hỏi.
380
Công cụ thu thập số liệu
Tham khảo BCH “The palliative care quiz for
nursing (PCQN)”, đánh giá kiến thức ĐD về CSGN
được hình thành và phát triển bởi ROSS MM,
McDonald B và McGuinness J. thông qua một hội
nghị do Hiệp hội ĐD Đại học Ottawa[3]; tham khảo
BCH “ Frommel Attitude Toward Care of the Dying,
FATCOD” được phát triển bởi Frommel[4]; Sử dụng
và cải tiến BCH của Nguyễn Thúy Ly qua nghiên
cứu trên Điều dưỡng tại Hà Nội[5]. BCH gồm 3 phần.
Phần 1.Thông tin đối tượng tham gia
khảo sát các đặc điểm nhân khẩu học của ĐD
gồm có 06 câu hỏi tìm hiểu về tuổi, giới, đơn vị công
tác, trình độ chuyên môn, thời gian thực hành lâm
sàng, mức độ tiếp cận CSGN
Phần 2. Bộ câu hỏi Kiến thức ĐD về CSGN
Gồm 20 câu hỏi, đánh giá kiến thức ĐD trên
các nội dung (a) triết học và nguyên tắc của CSGN
(4 câu), (b) quản lý đau và các triệu chứng khác (13
câu), và (c) các khía cạnh tâm lý xã hội của chăm
sóc (3 câu). Mỗi câu hỏi có ba ý kiến trả lời: Đúng”,
“Sai”, hoặc “Không biết câu trả lời”. Câu trả lời
“Đúng” được 1 điểm; “Sai”, hoặc “Không biết câu trả
lời” là điểm 0. Điểm số càng cao cho biết kiến thức
tốt hơn như kiến thức kém (<50%), kiến thức trung
bình (50 - <75%), kiến thức tốt(≥75%). Độ tin cậy
của bộ câu hỏi trong nghiên cứu này là 0.93[3].
Phần 3. Bộ câu hỏi thái độ ĐD về CSGN
Gồm 30 câu hỏi, hai phần ba các mục liên quan
trực tiếp đến thái độ của ĐD đối với bệnh nhân đang
hấp hối và một phần ba các hạng mục liên quan trực
tiếp đến thái độ đối với các thành viên trong gia đình
bệnh nhân với lĩnh vực: nhận thức (12 câu), tình
cảm (9 câu); sự chết và gia đình bệnh nhân (9 câu).
Công cụ này sử dụng thang điểm Likert 5 điểm;
nghĩa là 1 (Rất không đồng ý), 2 (Không đồng ý), 3
(Không chắc chắn), 4 (Đồng ý) đến 5 (Rất đồng ý).
Điểm số cao hơn thể hiện thái độ tích cực hơn đối
với việc chăm sóc cho bệnh nhân sắp chết. Điểm
thái độ được tính như sau: thái độ không thích hợp
(<50%); thái độ trung bình (50 - <75%) và thái độ tốt
(≥75%) trên tổng số điểm. Độ tin cậy của bộ câu hỏi
trong nghiên cứu này là 0.716[5].
Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu này được tiến hành sau khi Hội
đồng Khoa học kỹ thuật và công nghệ, Hội đồng
đạo đức bệnh viện đồng ý. Trong phiếu nghiên cứu
không thu thập họ và tên của người tham gia nghiên
cứu, đảm bảo tính bảo mật của người tham gia.
Phân tích số liệu
Sử dụng phần mềm SPSS 22.0.
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM
ĐIỀU DƯỠNG - CHĂM SÓC GIẢM NHẸ
Thống kê mô tả: Sử dụng tần số, tỷ lệ %, giá trị
trung bình cộng và độ lệch chuẩn (SD), được sử
dụng để mô tả các biến số nhân khẩu học, kiến thức,
thái độ của của Điều dưỡng về CSGN.
Bảng 1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu về
giới tính, tuổi, trình độ chuyên môn và thời gian
thực hành lâm sàng và tập huấn (n = 196)
Biến số
KẾT QUẢ
Thông tin của đối tượng nghiên cứu
Nhận xét: Bảng 1 cho thấy độ tuổi trung bình
SD =
của đối tượng nghiên cứu là 33 (
9.17), 86.2% đối tượng là nữ; 70.4% là ĐD trung
cấp; 25.5% CNĐD và sau đại học 4.1%. 65.3% đối
tượng có thời gian làm việc trên 5 năm. Về kinh
nghiệm tham gia các lớp tập huấn, 67.9% ĐD chưa
được tập huấn về CSGN; 63.8% chưa được tập
huấn về đau và 50.5% ĐD không biết về bậc thang
giảm đau của WHO chiếm 5%.
Tần số
Tỷ lệ (% )
Nam
27
13.8
Nữ
169
86.2
Trung cấp
138
70.4
CNDD
50
25.5
Sau đại học
8
4.1
< 1 năm
6
3.1
Từ 1-5 năm
62
31.6
> 5 năm
128
65.3
Có
62
32.1
Không
134
67.9
Có
71
36.2
Không
125
63.8
Có
97
49.4
Không
99
50.5
Giới
Tuổi (33.6 , SD =
9.17)
Trình độ chuyên
môn
Thời gian thực
hành lâm sàng
Tập huấn về CSGN
Tập huấn về đau
Tập huấn bậc
thang giảm đau của
WHO
Kiến thức đúng của ĐD về CSGN
4.1%
Có kiến thức tốt
trả lời đúng ≥75% số câu hỏi
34,7%
Có kiến thức trung bình
trả lời đúng 50% - ≤75% số câu hỏi
Có kiến thức kém
trả lời đúng <50% số câu hỏi
61.2%
Hình 1. Biểu đồ tỷ lệ kiến thức về CSGN của ĐD
Nhận xét: Biểu đồ 1 và Bảng 2 cho thấy kiến thức ĐD về CSGN ở mức độ trung bình (10.3 ± 2.3 trên tổng
số điểm 20). Trong đó, có 61.2% ĐD có kiến thức về CSGN ở mức trung bình, 4.1% ĐD có kiến thức tốt về
CSGN và 34.7% ĐD có kiến thức kém về CSGN. Ngoài ra, Bảng 2 cho thấy có 88.8% ĐD trả lời đúng “điều
quan trọng nhất của gia đình là ở bên cạnh bệnh khi BN hấp hối tử vong”; 87.8% ĐD biết điều trị bỗ trợ đóng
vai trò quan trọng trong kiểm soát đau; 86.2% ĐD biết các biểu hiện đau mạn tính khác với những cơn đau cấp
tính; 79.1% ĐD biết đau khổ và đau cơ thể thì giống nhau; 78.1% ĐD biết “Sự tích tụ các mất mát khiến không
tránh khỏi cảm thấy kiệt sức”; 77.6% ĐD biết “Mức độ tiến triển của bệnh quyết định phương pháp kiểm soát
đau” và “lo lắng hoặc mệt mỏi sẽ làm giảm ngưỡng chịu đựng đau”. Ngược lại, một số nội dung ĐD chưa có
trả lời đúng (<30%) gồm “Nghiện thuốc khi morphine được sử dụng lâu dài”; “sử dụng giả dược là phù hợp
trong điều trị một số loại đau”, “Sự mất mát của một quan hệ họ hàng xa sẽ dễ giải quyết hơn”
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM
381
ĐIỀU DƯỠNG - CHĂM SÓC GIẢM NHẸ
Bảng 2. Kiến thức đúng của ĐD về CSGN (n = 196)
Đúng
Kiến Thức
Tần số
Tỉ lệ
1. Chăm sóc giảm nhẹ chỉ thích hợp trong những tình huống có bằng chứng chuyển biến xấu
121
61.7
2. Morphine là tiêu chuẩn được sử dụng để so sánh tác dụng giảm đau của các opioid khác
152
77.6
3. Mức độ tiến triển của bệnh quyết định phương pháp kiểm soát đau.
49
25
4. Điều trị bỗ trợ đóng vai trò quan trọng trong kiểm soát đau.
172
87.8
5. Điều quan trọng nhất của gia đình là ở bên cạnh bệnh khi bệnh nhân hấp hối tử vong
174
88.8
6. Sử dụng opioid nên theo một chế độ sử dụng thuốc nhuận tràng
135
68.9
7.Trong những ngày cuối đời, lơ mơ do rối loạn điên giải có thể làm giảm nhu cầu sử dụng
thuốc an thần
122
62.2
8. Nghiện thuốc là một vấn đề chính khi morphine được sử dụng lâu dài để quản lý cơn đau
47
24
9. Việc cung cấp dịch vụ CSGNđòi hỏi sự tách rời cảm xúc
33
16.8
10. Trong giai đoạn cuối của bệnh, những loại thuốc có thể gây ức chế hô hấp vẫn có thể được
sử dụng để điều trị khó thở nặng
103
52.6
11.Đàn ông thường chấp nhận sự mất mát nhanh hơn phụ nữ
87
44.4
12. Triết lý của CSGN phù hợp với triết lý điều trị tích cực
66
33.7
13. Việc sử dụng giả dược là phù hợp trong điều trị một số loại đau
50
25.5
14. Khi sử dụng liều cao, codeine gây buồn nôn và nôn nhiều hơn morphine
108
55.1
15. Đau khổ và đau cơ thể thì giống nhau
155
79.1
16. Demerol không phải là một thuốc giảm đau hiệu quả trong việc kiểm soát đau mạn tính
82
41.8
17. Sự tích tụ các mất mát khiến cho nhân viên CSGN không tránh khỏi cảm thấy kiệt sức
153
78.1
18. Các biểu hiện đau mạn tính khác với những cơn đau cấp tính
169
86.2
19. Sự mất mát của một quan hệ họ hàng xa sẽ dễ giải quyết hơn mất sự mất mát của một
quan hệ họ hàng gần, thân thiết
44
22.4
20. Lo lắng hoặc mệt mỏi sẽ làm giảm ngưỡng chịu đựng đau
152
77.6
Tổng kiến thức (10.3 ± 2.3)
Thái độ về CGGN của ĐD
Tổng điểm thái độ
về CSGN
Bảng 3.Thái độ về CGGN của ĐD (n=196)
Trung bình
Nhận xét: Bảng 3 cho thấy thái độ của ĐD về
Thái độ về CSGN
Min-Max
Thái độ liên quan
đến nhận thức
1.10 – 4.50
3.35 + 0.51
Trung bình
Thái độ liên quan
đến tình cảm
1.22 – 4.44
3.12 + 0.61
Trung bình
quan đến nhận thức (
Thái độ liên quan
đến sự chết
1.44 – 4.56
3.50 + 0.47
Trung bình
nhất là thái độ liên quan đến tình cảm ( = 3.12, SD
= 0.61). Trong đó ý thức được “Gia đình nên quan
382
+ SD
Mức độ
3.32 + 0.46
CSGN ở mức độ trung bình ( = 3.32, SD= 0.46).
Trong đó thái độ liên quan đến sự chết đạt điểm cao
nhất (
= 3.50, SD = 0.47); kế đến là thái độ liên
= 3.35, SD = 0.51), và thấp
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM
ĐIỀU DƯỠNG - CHĂM SÓC GIẢM NHẸ
tâm tới việc giúp người sắp mất có được thời gian
còn lại tốt đẹp nhất” là cao nhất ( = 4.20, SD =
0.99); Thái độ “muốn trốn chạy khi người bệnh đã
mất” và không muốn liên can đến BN “Khi một BN
gần mất, những người chăm sóc ngoài gia đình
nên ngừng liên can tới BN” là thấp nhất (
SD = 1).
= 2.33,
BÀN LUẬN
Đặc điểm đối tượng tham gia nghiên cứu
Thái độ liên quan đến việc chăm sóc BN cận tử
Thái độ của ĐD về CSGN ở mức độ trung bình
( = 3.32, SD = 0.46). Trong đó thái độ liên quan
đến sự chết đạt điểm cao nhất; kế đến là thái độ liên
quan đến nhận thức, và thấp nhất là thái độ liên
quan đến tình cảm. Kết quả của nghiên cứu này
khác với nghiên cứu của Youssef và cộng sự thực
hiện trên 100 điều dưỡng làm việc tại một số bệnh
viện tại thành phố Taif, Ả-rập Xê-út năm 2015 với
83% có thái độ tích cực về chăm sóc cận tử[9].
Độ tuổi trung bình của nhóm đối tượng tham gia
nghiên cứu là 33.5 (+ 9.1), cao nhất là 58 tuổi và
thấp nhất là 23 tuổi, tương đồng với nghiên cứu của
tác giả Nguyễn Thúy Ly, Hà Nội (từ 21-55 tuổi), với
251 ĐD làm việc tại 3 Bệnh viện điều trị ung bướu tại
Hà Nội là BV. K Hà Nội, BVUB Hà Nội và Bệnh viện
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Bạch Mai nghiên cứu (
61.2% ĐD có kiến thức về CSGN ở mức trung
bình, 4.1% ĐD có kiến thức tốt về CSGN và 34.7%
ĐD có kiến thức kém về CSGN.
=30.98, SD= 7.09)[5].
Tỷ lệ nữ trong nghiên cứu này nhiều hơn nam
khoảng 6 lần, với trình độ chuyên môn ĐD trung cấp
chiếm đa số 70.4%. Kết quả này có cao hơn so với
nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thúy Ly, Hà Nội tại 3
bệnh viện ở Hà Nội, Việt Nam với 251 đối tượng
tham gia nghiên cứu (60.8%)[5]. Thời gian làm việc
trên 5 năm tại BVUB chiếm tỉ lệ cao nhất 65.3%.
Điều này cho thấy các ĐD tham gia trong nghiên cứu
cũng có kinh nghiệm chăm sóc trong lãnh vực ung
thư nhưng nghiên cứu cũng chỉ ra việc tập huấn về
CSGN nói chung (32.1%) và tập huấn về đau nói
riêng rất khiêm tốn (36.2%). Kết quả này cho thấy sự
quan tâm cập nhật về kiến thức CSGN cơ bản chưa
đúng mức, ĐD biết và không biết về bậc thang giảm
đau của WHO thì tương đương nhau (49.5% và
50.5%).
Kiến thức của ĐD về CSGN
Kết quả nghiên cứu cho thấy kiến thức ĐD về
CSGN đạt mức độ tốt chỉ có 4% và 61% đạt mức độ
trung bình. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu
của Fernandes thực hiện tại Mangalore, Ấn Độ trên
sinh viên ĐD về CSGN; với 4% đạt mức độ tốt và
đạt mức độ trung bình 68%[6]. Tuy vậy, kết quả của
nghiên cứu này thấp hơn với 1 số nghiên cứu của
Ayed năm 2015 khảo sát trên ĐD tại phía Bắc,
Palestine và tìm ra rằng 33,3% ĐD có kiến thức
trung bình và 20.8% ĐD có kiến thức tốt về CSGN [7].
Tuy nhiên, cao hơn kết quả nghiên cứu của Sorifa
và Mosphea (2014) trên 100 ĐD tại bệnh viện của
thành phố Guwahati, Assam với 79% không đủ kiến
thức, 21% có kiến thức vừa đủ và không có ĐD nào
có kiến thức đầy đủ về CSGN[8].
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM
Kết luận
Qua khảo sát kiến thức, thái độ về CSGN cho
BN Ung thư của 196 ĐD tại 15 Khoa lâm sàng tại
BVUB TP.HCM, chúng tôi có một số nhận xét sau:
Thái độ về CSGN đạt mức độ trung bình
(
= 3.32, SD= 0.46).
Kiến nghị:
Cần thiết phát triển nghiên cứu này với cỡ mẫu
lớn hơn nhằm đưa ra kết quả có tính thuyết phục
cao hơn mang tính đại diện cho bệnh viện.
Bệnh viện cần tăng cường các chương trình
đào tạo liên tục về CSGN cho đội ngũ ĐD lâm sàng
tại bệnh viện nhằm cải thiện hiệu quả chăm sóc,
nâng cao chất lượng sống người bệnh, đặc biệt là
các BN giai đoạn cuối.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. WHO. Cancer. 2017 [07/07/2017]; Available
from:
/>en/.
2. Andershed B. Relatives in end‐of‐life care–part
1: A systematic review of the literature the five
last years, January 1999–February 2004.
Journal of clinical nursing. 2006; 15 (9):1158-69.
3. M Ross M, McDonald B, McGuinness J. The
palliative care quiz for nursing (PCQN): the
development of an instrument to measure
nurses' knowledge of palliative care. Journal of
advanced nursing. 1996; 23 (1):126-37.
4. Frommelt KH (2003) Attitudes toward care of the
terminally
ill
(1):13-22,
doi:10.1177/104990910302000108 Gama G,
Barbosa F, Vieira M (2012) Factors influencing
383
ĐIỀU DƯỠNG - CHĂM SÓC GIẢM NHẸ
nurses ' attitudes toward death. Int Palliat Nurs
18(6): 267-73
towards the Palliative Care. Journal of Education
and Practice. 2015; 6 (4):91-9.
5. Nguyen LT, Yates P, Osborne Y. Palliative care
knowledge, attitudes and perceived selfcompetence of nurses working in Vietnam. Int J
Palliat Nurs. 2014; 20 (9):448-56.
8. Sorifa B, Mosphea K. Knowledge and Practice of
Staff Nurses on Palliative Care. 2014.
6. Kulkarni VR, Kulkarni RV. Awareness of
palliative care medicine among medical and
health care students. International Journal of
Advances in Medicine. 2017.
9. Youssef H, Mansour M, Al-Zahrani S, Ayasreh I,
Abd El-Karim R. Prioritizing Palliative Care:
Assess Undergraduate Nursing Curriculum,
knowledge and Attitude among Nurses Caring
End-of-Life Patients. European Journal of
Academic Essays. 2015; 2 (2): 90-101.
7. Ayed A, Sayej S, Harazneh L, Fashafsheh I,
Eqtait F. The Nurses' Knowledge and Attitudes
384
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM