XẠ TRỊ - KỸ THUẬT PHÓNG XẠ
GIÁ TRỊ CỦA FDG-PET/CT TRONG LẬP KẾ HOẠCH XẠ TRỊ
ĐIỀU BIẾN LIỀU Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ THỰC QUẢN 1/3 TRÊN
NGUYỄN ĐÌNH CHÂU1, BÙI QUANG BIỂU2
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá ảnh hưởng của FDG - PET/CT trong lập kế hoạch xạ trị điều biến liều (XTĐBL) và đáp
ứng điều trị ở bệnh nhân ung thư thực quản (UTTQ) 1/3 trên.
Phương pháp: Nghiên cứu can thiệp trên 25 bệnh nhân UTTQ 1/3 trên được chỉ định chụp CT và FDGPET/CT mô phỏng xạ trị từ năm 2014 đến 2017. So sánh các thể tích điều trị xác định trên CT và FDG PET/CT. Đánh giá đáp ứng sau điều trị 3 tháng theo tiêu chuẩn RECIST 1.1.
Kết quả: FDG-PET/CT làm thay đổi thể tích điều trị của khối u ở 88,0% bệnh nhân (tăng ở 16,0%, giảm ở
72,0%) và hạch ở 36,0% bệnh nhân (tăng ở 8,0%, giảm ở 28,0%). Chiều dài khối u trung bình xác định trên
FDG-PET/CT và CT là 5,6 ± 1,8cm và 6,3 ± 1,7cm (p<0,05); số lượng hạch trung bình phát hiện trên FDGPET/CT và CT là 3,0 ± 2,5 và 3,3 ± 2,9 (p>0,05). Thể tích bia lập kế hoạch trung bình nhận liều 50,4Gy
(PTV50,4) và 60Gy (PTV60) trên FDG-PET/CT và CT tương ứng là 389,9 ± 79,7cm3 và 387,8 ± 82,2cm3
(p>0,05); 83,5 ± 37,5cm3 và 86,2 ± 37,1cm3 (p<0,05). Tỉ lệ đáp ứng sau điều trị: hoàn toàn 60,0%, một phần
32,0% và không đáp ứng 8,0%.
Kết luận: FDG-PET/CT giúp xác định chính xác thể tích khối u và hạch hơn CT. Phương pháp này nên
được áp dụng chuẩn hóa trong xạ trị ung thư thực quản.
Từ khóa: FDG-PET/CT, ung thư thực quản 1/3 trên, lập kế hoạch xạ trị điều biến liều.
ABSTRACT
The values of FDG-PET/CT in intensity modulated radiation therapy treatment planning for upper third
esophageal cancer patients
Purposes: To determine the impact of FDG-PET/CT in intensity modulated radiation therapy (IMRT)
treatment planning for upper third esophageal cancer patients and treatment response.
Methods: An interventional study of 25 upper third esophageal cancer patients underwent CT and FDGPET/CT simulation for IMRT treatment planning from 2014 to 2017. Treatment volumes delineated on CT and
FDG-PET/CT were compared. Treatment response was evaluated at 3 months after radiation therapy.
Results: FDG-PET/CT altered tumor volume in 88.0% patients (increased 16.0%, decreased 72.0%) and
lymphnode volume in 36.0% patients (increased 8.0%, decreased 28.0%). The mean tumor length on FDGPET/CT was 5.6 ± 1.8cm and CT was 6.3 ± 1.7cm (p<0.05); the mean number of lymphnode on FDG-PET/CT
and CT was 3.0 ± 2.5 and 3.3 ± 2.9 (p>0.05). The mean volume of planning target volume recieved 50.4Gy and
60Gy on FDG-PET/CT and CT was 389.9 ± 79.7cm3 and 387.8 ± 82.2cm3 (p>0.05); 83.5 ± 37.5cm3 and
86.2±37.1cm3 (p<0.05), respectively. Post treatment response rates were as follow: complete response 60.0%,
partial response 32.0% and non response 8.0%.
Conclusion: FDG-PET/CT altered the radiation treatment volumes sinificantly when compared to CT. It
should be a standardisation in radiation treatment planning for esophageal cancer.
Key words: FDG-PET/CT, upper third esophageal cancer, IMRT treatment planning.
1
2
BS. Khoa Xạ trị - Xạ phẫu, Viện Ung thư – Bệnh viện Trung Ương Quân đội 108
ThS.BS. Chủ nhiệm Khoa Xạ trị - Xạ phẫu, Viện Ung thư - Bệnh viện Trung Ương Quân đội 108
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM
357
XẠ TRỊ - KỸ THUẬT PHÓNG XẠ
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư thực quản (UTTQ) là bệnh lý ác tính có
tiên lượng xấu. UTTQ 1/3 trên chiếm khoảng 10%
các bệnh nhân (BN) UTTQ. Thể giải phẫu bệnh
thường gặp là ung thư biểu mô vảy, tương đối nhạy
cảm với tia xạ. Hóa - xạ trị triệt căn được coi là
phương pháp điều trị chuẩn cho các bệnh nhân
UTTQ 1/3 trên do can thiệp ngoại khoa ở vùng này
hết sức khó khăn. Xung quanh thực quản đoạn 1/3
trên có rất nhiều cơ quan quan trọng như thanh
quản, tuyến giáp, đám rối thần kinh cánh tay, tủy
sống, phổi, tim. Hơn nữa, tính chất các mô vùng này
không đồng nhất, bề mặt da không bằng phẳng. Do
đó, các kỹ thuật xạ trị thông thường không thể đảm
bảo được tiêu chí vừa đảm bảo đủ liều tại u (tổng
liều 60 - 66Gy) vừa không để vượt quá liều giới hạn
của mô lành trong điều trị triệt căn UTTQ 1/3 trên.
Xạ trị điều biến liều (XTĐBL) là kỹ thuật xạ trị hiện
đại có ưu điểm cho phép điều trị liều cao, tạo phân
bố liều theo hình dạng khối u, giảm liều tại cơ quan
lành nên được khuyến cáo ưu tiên trong điều trị triệt
căn UTTQ 1/3 trên.
Trong lập kế hoạch XTĐBL, việc xác định chính
xác các thể tích điều trị là ưu tiên hàng đầu nhằm
đảm bảo điều trị chính xác tổn thương và hạn chế
tác dụng phụ trên cơ quan lành. Tại nhiều trung tâm
xạ trị hện nay, việc xác định các thể tích điều trị cũng
như theo dõi sau điều trị UTTQ vẫn dựa chủ yếu trên
hình ảnh giải phẫu như nội soi, CT scanner. Các
phương pháp này có nhược điểm là rất khó đánh giá
được thâm nhiễm của khối u theo chiều dọc thành
thực quản cũng như phân biệt hạch di căn. FDGPET/CT là phương pháp chẩn đoán rất có giá trị,
được mạng lưới ung thư toàn diện Mỹ khuyến cáo
sử dụng trong chẩn đoán giai đoạn ban đầu, đánh
giá đáp ứng cũng như theo dõi sau điều trị trong
UTTQ. Tại các trung tâm xạ trị có nhiều kinh nghiệm,
FDG-PET/CT còn được ứng dụng trong lập kế
hoạch xạ trị, giúp xác định chính xác các thể tích
điều trị. Việc sử dụng FDG-PET/CT trong lập kế
hoạch XTĐBL giúp phát huy tối đa ưu điểm của kỹ
thuật này. Đây là xu hướng chung không những
trong UTTQ mà còn nhiều bệnh khác như ung thư
phổi, ung thư đầu – cổ.
Ở Việt Nam, FDG-PET/CT đã được ứng dụng
rộng rãi trong chẩn đoán và điều trị ung thư. Tuy
nhiên, kỹ thuật XTĐBL mới được triển khai ở số ít
trung tâm xạ trị nhưng không đồng bộ về trang thiết
bị và kỹ thuật. Hiện nay, chưa có công trình khoa
học nào trong nước nghiên cứu vai trò FDG-PET/CT
trong lập kế hoạch XTĐBL UTTQ 1/3 trên. Vì vậy,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục tiêu: “Đánh
giá ảnh hưởng của FDG - PET/CT trong lập kế
358
hoạch XTĐBL và đáp ứng sau điều trị ở BN UTTQ
1/3 trên”.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP:
Nghiên cứu can thiệp gồm 25 bệnh nhân UTTQ
1/3 trên được sử dụng FDG-PET/CT kết hợp với CT
mô phỏng để lập kế hoạch XTĐBL và theo dõi sau
điều trị trong khoảng thời gian từ 2014 đến 2017 tại
Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.
Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
Bệnh nhân UTTQ 1/3 trên giai đoạn cT1-4N0-3M0.
Giải phẫu bệnh là ung thư biểu mô vảy.
Điểm toàn trạng ECOG 0-2.
Tuổi 18-75.
Đồng ý tham gia vào nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ
Giải phẫu bệnh không phải ung thư biểu mô vảy.
Di căn hạch ổ bụng.
Điều trị hóa chất hoặc xạ trị trước đó.
Có bệnh ác tính khác trong vòng 5 năm.
Có bệnh lý nặng toàn thân.
Không đồng ý tham gia nghiên cứu.
Quy trình điều trị
Các BN UTTQ 1/3 trên có chỉ định hóa – xạ triệt
căn được chụp CT mô phỏng (CT 580RT 16 dãy của
hãng GE) và FDG-PET/CT ở tư thế mô phỏng
(PET/CT discovery lightpeed của hãng GE). Hai bác
sỹ xạ trị vẽ các thể tích xạ trị trên từng chuỗi ảnh CT
và FDG-PET/CT. So sánh các thể tích này bằng test
so sánh ghép cặp. Tiến hành lập kế hoạch XTĐBL
và điều trị dựa vào các thể tích xạ trị xác định bằng
hình ảnh FDG-PET/CT. Đánh giá đáp ứng sau điều
trị 3 tháng theo tiêu chuẩn RECIST 1.1.
Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0.
Kết quả và bàn luận
Đặc điểm chung của BN nghiên cứu được
trình bày trong Bảng 1. Tuổi trung bình của BN là
54,8 ± 7,0. Nam giới chiếm 96,0%, chỉ có 1 BN nữ.
100% BN có kết quả sinh thiết qua nội soi là ung thư
biểu mô vảy. Điều này cũng phù hợp với phân bố
dịch tễ của ung thư thực quản: Thể biểu mô vảy
chiếm trên 90,0% và phân bố chủ yếu ở các nước
châu Á và Đông Âu. 92% BN có điểm toàn trạng tốt
(ECOG 0-1).
Phần lớn các tổn thương thực quản đều có kích
thước lớn, tỉ lệ tổn thương có chiều dài trên 5cm
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM
XẠ TRỊ - KỸ THUẬT PHÓNG XẠ
chiếm 72%. BN có tổn thương thực quản dài nhất là
10cm. Bệnh chủ yếu ở giai đoạn III-IVA chiếm 92%,
chỉ có 2 BN ở giai đoạn II. Các BN được chỉ định xạ
triệt căn với phân liều 60Gy/28 buổi. Hầu hết BN
được điều trị hóa chất kết hợp với phác đồ
Cisplatin/5FU, có 2 BN do điểm ECOG 2 nên được
chỉ định phác đồ Paclitaxel/Carboplatin. Hóa chất có
vai trò làm tăng nhạy cảm của khối u với tia xạ.
Về phân loại giai đoạn bệnh theo AJCC 7[1],
FDG-PET/CT làm thay đổi giai đoạn ở 3 BN (12,0%).
Trong đó, 2 BN giảm giai đoạn và 1 BN tăng
giai đoạn so với CT. Những thay đổi này là do biến
đổi số lượng hạch phát hiện trên FDG-PET/CT.
Tuy nhiên, sự thay đổi này không ảnh hưởng tới
chiến thuật điều trị hóa – xạ đồng thời triệt căn.
Bảng 1. Đặc điểm chung
Tuổi
Giới
54,8 ± 7,0 (39-68)
chỉ dựa vào hình ảnh giải phẫu là mức độ dày thành
thực quản. FDG-PET/CT thể hiện hình ảnh chuyển
hóa nên giúp đánh giá rõ hơn các giới hạn của khối
u, nhờ đó các bác sỹ xạ trị có thể xác định khối u
theo trục dọc một cách dễ dàng hơn.
Bảng 2. So sánh FDG-PET/CT và CT về chiều dài u
và số lượng hạch
Chiều dài u trung bình
CT
6,3 ± 1,7cm
FDG-PET/CT
5,6 ± 1,8cm
Số lượng hạch trung bình
CT
3,3 ± 2,9 hạch
FDG-PET/CT
3,0 ± 2,5 hạch
Trong nghiên cứu của chúng tôi (Bảng 2), chiều
dài khối u trung bình xác định trên FDG-PET/CT và
CT tương ứng là 5,6 ± 1,8cm và 6,3 ± 1,7cm
(p<0,05). Số lượng hạch trung bình xác định trên
FDG-PET/CT là 3,0 ± 2,5 ít hơn so với trên CT là
3,3 ± 2,9; tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa
thống kê với p>0,05.
n
%
Nam
24
96
Nữ
1
4
25
100
G1
3
12
G2
11
44
G3
9
36
Gx
2
8
0
1
4
1
22
88
2
2
8
>5cm
18
72
≤ 5cm
7
28
Bảng 3. So sánh các thể tích xạ trị trên CT
và FDG - PET/CT
II
2
8
Thể tích xạ trị
III
15
60
GTV T ct
30,8 ± 18,1cm3
IVA
8
32
GTV T pet
29,4 ± 17,6cm3
GTV N ct
5,3 ± 6,7cm3
GTV N pet
5,2 + 6,7cm3
PTV 50,4 ct
387,8 ± 82,2cm3
Giải phẫu bệnh
SCC
ECOG
Chiều dài u
Giai đoạn
Liều xạ
60Gy/28fx
25
100
Hóa chất
Trong lập kế hoạch xạ trị điều biến liều sử dụng
kỹ thuật nâng liều đồng thời, việc xác định các thể
tích khối u và hạch di căn đòi hỏi độ chính xác cao.
Trên hình ảnh CT, các nghiên cứu thường sử dụng
các tiêu chí độ dày thành thực quản ≥5mm để xác
định khối u và đường kính trục ngắn ≥10mm để xác
định hạch. Đối với hình ảnh FDG – PET/CT, các tác
giả khuyến cáo có thể vẽ các thể tích trên dựa vào
ngưỡng SUV hoặc dựa vào tín hiệu của gan. Theo
các nghiên cứu, ngưỡng SUV = 2,5 là tối ưu để xác
định ranh giới tổn thương[2],[3]. Trong nghiên cứu
này, chúng tôi cũng sử dụng ngưỡng SUV = 2,5 để
vẽ tự động khối u và hạch trên hình ảnh FDG PET/CT.
Giá trị trung bình
Cis/5Fu
23
92
PTV 50,4 pet
389,9 ± 79,7cm3
PC
2
8
PTV 60 ct
86,2 ± 37,1cm3
PTV 60 pet
83,5 ± 37,5cm3
Ảnh hưởng rõ ràng nhất của FDG-PET/CT so
với CT trong UTTQ là đánh giá chính xác hơn chiều
dài khối u. Trên hình ảnh CT, việc xác định giới hạn
trên và dưới của khối u thực quản là rất khó khăn do
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM
p
p = 0,02
p = 0,14
p = 0,72
p = 0,04
Trong nghiên cứu của chúng tôi, các tổn
thương u nguyên phát và hạch có giá trị SUVmax
359
XẠ TRỊ - KỸ THUẬT PHÓNG XẠ
trung bình là 13,6 ± 5,8 và 7,2 ± 4,2. Theo Bảng 3,
thể tích khối u thô (GTV T) trung bình xác định trên
FDG – PET/CT thấp hơn khi xác định trên CT tương
ứng là 29,4 ± 17,6cm3 và 30,8 ± 18,1cm3 (p<0,05).
Không thấy sự khác biệt có ý nghĩa về thể tích hạch
(GTV N) trên CT và FDG - PET/CT. Trên hình ảnh
CT hay gặp các tình huống dương tính giả như các
tổn thương viêm niêm mạc ở hai đầu khối u thực
quản, dày thành do nhu động thành thực quản.
Chính vì vậy khi xác định ranh giới khối u nguyên
phát, các bác sỹ xạ trị thường rất đắn đo khi vẽ các
lát biên trên và biên dưới của tổn thương. FDG PET/CT có thể loại trừ dương tính giả trên CT, nhờ
đó giúp xác định giới hạn trên và dưới khối u rõ ràng
hơn. Do đó, thể tích khối u thường nhỏ hơn khi
xác định trên FGD - PET/CT.
Trong xạ trị điều biến liều UTTQ, chúng tôi
sử dụng hai thể tích lập kế hoạch là PTV 50,4 và
PTV 60. Thể tích PTV 50,4 tương ứng với điều trị dự
phòng di căn hạch cổ thấp và hạch trung thất chịu
liều 50,4Gy; thể tích PTV 60 tương ứng u và hạch di
căn đại thể chịu liều 60Gy. Kết quả nghiên cứu cho
thấy thể tích PTV 60 trung bình xác định trên FDG PET/CT nhỏ hơn khi xác định trên CT tương ứng là
83,5 ± 37,5cm3 và 86,2 ± 37,1cm3 (p<0,05); không có
sự khác biệt rõ rệt về thể tích PTV 50,4 giữa hai
phương pháp (p>0,05). Như vậy, mặc dù FDG PET/CT không làm thay đổi đáng kể thể tích điều trị
hạch dự phòng nhưng giúp giảm rõ rệt thể tích điều
trị liều cao 60Gy mà cụ thể ở đây là thể tích khối u.
Các kỹ thuật xạ trị hiện đại hiện nay đều nhằm mục
đích điều trị liều cao, chính xác tại khối u, nhờ đó
tăng khả năng kiểm soát tổn thương và hạn chế liều
cho mô lành xung quanh. Xạ trị điều biến liều có sử
dụng FDG - PET/CT chính là một ví dụ cụ thể của
kỹ thuật xạ trị dưới hướng dẫn hình ảnh.
Bảng 4. Ảnh hưởng của FDG - PET/CT đối với các
thể tích khối u, hạch
Tăng
Thể tích khối u
(GTV T)
Thể tích hạch
(GTV N)
360
Giảm
Không đổi
n
%
n
%
n
%
4
16,0
18
72,0
3
12,0
2
8,0
7
28,0
16
64,0
Bảng 4 so sánh sự thay đổi thể tích khối u và
hạch của FDG - PET/CT so với CT. FDG - PET/CT
làm thay đổi thể tích khối u ở 88,0% BN (giảm thể
tích ở 72,0%, tăng thể tích ở 16.0,0%). FDG –
PET/CT thay đổi thể tích hạch ở 36,0% BN (giảm thể
tích ở 28,0%, tăng thể tích ở 8,0%). Kết quả này
cũng tương tự như một số bài báo đã được công bố.
Khi sử dụng FDG-PET/CT trong UTTQ, các nghiên
cứu cho thấy 75-86% BN có thay đổi về chiều dài
khối u và 59-100% BN có thay đổi thể tích khối u
(GTV) so với hình ảnh CT[4],[5],[6]. Theo tác giả Leong,
PET/CT làm thay đổi thể tích điều trị ở 38% bệnh
nhân[6]. Nghiên cứu khác của Moureau chỉ ra FDGPET làm tăng thể tích u nguyên phát ở 21% và giảm
thể tích ở 35% bệnh nhân so với CT [4]. Nghiên cứu
hồi cứu của Vrieze trên 30 bệnh nhân so sánh giá trị
của PET/CT với CT và siêu âm nội soi trong vẽ thể
tích điều trị. FDG-PET làm tăng thể tích điều trị ở
10% BN và giảm thể tích điều trị ở 10% BN. Tác giả
khuyến cáo rằng với những tổn thương có đặc điểm
di căn trên CT mà không phát hiện được trên FDGPET hoặc có đặc điểm di căn trên PET mà không rõ
trên CT/siêu âm nội soi đều nên được bao gồm
trong thể tích điều trị[5].
Bảng 5. Các tiêu chí lập kế hoạch xạ trị
trên cơ quan lành
Lập kế hoạch
Giá trị giới
hạn
Liều tủy cực đại (cGy)
4162,6 ± 285,2
4500
Liều phổi trung bình (cGy)
960,0 ± 252,2
1200
19,1 ± 5,4
30
197,6 ± 220,9
2600
7,7 ± 13,3
40
Tiêu chí
V20 phổi (%)
Liều tim trung bình (cGy)
V30 tim (%)
Các kế hoạch xạ trị dựa trên các thể tích xác
định theo hình ảnh FDG – PET/CT đều được chúng
tôi tối ưu hóa. Ngoài các chỉ tiêu bắt buộc cho các
thể tích điều trị, các tiêu chí cho cơ quan lành cũng
hết sức quan trọng. Theo bảng 5, liều giới hạn cho
tất cả cơ quan lành đều trong giới hạn cho phép.
Đặc biệt, liều phổi và tim đều ở ngưỡng thấp. Đây là
một trong những ưu điểm của kỹ thuật xạ trị điều
biến liều mà kỹ thuật xạ trị 3D thường quy khó có thể
đạt được.
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM
XẠ TRỊ - KỸ THUẬT PHÓNG XẠ
Biểu đồ 1. Đánh giá đáp ứng sau điều trị
Sau điều trị 3 tháng, các BN được đánh giá đáp
ứng điều trị bằng CT theo tiêu chuẩn RECIST 1.1.
Tại nhiều trung tâm trên thế giới, FDG - PET/CT
được chỉ định đánh giá đáp ứng sau điều trị UTTQ.
Tuy nhiên, do quy định về thanh toán bảo hiểm nên
chúng tôi không chỉ định FDG - PET/CT sau điều trị
cho các BN trong nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu
cho thấy tỉ lệ đáp ứng hoàn toàn là 60,0%, đáp ứng
một phần là 32,0% (Biểu đồ 1). Cho đến nay, các
nghiên cứu về FDG - PET/CT trong lập kế hoạch xạ
trị UTTQ trên thế giới đều chưa đề cập tới vấn đề
đánh giá đáp ứng sau điều trị. Các nghiên cứu theo
dõi dài trên nhóm đối tượng bệnh nhân này cũng
không nhiều. Năm 2017, tác giả Trevor Long và
cộng sự đã công bố kết quả theo dõi 4 năm BN
UTTQ sử dụng FDG – PET/CT lập kế hoạch xạ trị, tỉ
lệ kiểm soát vùng là 65%, tỉ lệ sống thêm toàn bộ là
37%[7]. Đây cũng là hướng nghiên cứu đang được
quan tâm hiện nay.
KẾT LUẬN
FDG - PET/CT giúp xác định chính xác các thể
tích điều trị hơn CT trong xạ trị UTTQ, đặc biệt là
ranh giới theo trục dọc u và các hạch < 10mm. Tuy
nhiên, nghiên cứu cần bổ sung thêm số lượng BN
cũng như thời gian theo dõi dài hơn để có đánh giá
khách quan hơn về hiệu quả của FDG - PET/CT
trong xạ trị UTTQ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
2. Christina T. Muijs et al. (2010), A systematic
review on the role of FDG-PET/CT in tumour
delineation and radiotherapy planning in patients
with esophageal cancer. Radiotherapy and
Oncology 97: 165–171.
3. Gabriel Sai Man Cheung (2013), Contribution of
PETeCT
in
radiotherapy
planning
of
oesophageal carcinoma: A review Radiography
19: 259-269
4. Moureau-Zabotto L et al. (2005), Impact of CT
and 18F-deoxyglucose positron emission
tomography image fusion for conformal
radiotherapy in esophageal carcinoma. Int J
Radiat Oncol Biol Phys; 63(2):340–5.
5. O. Vrieze et al.(2004), Is there a role for FDGPET in radiotherapy planning in esophageal
carcinoma? Radiother Oncol, 73: 269-75.
6. T. Leong et al. (2006), A prospective study to
evaluate the impact of FDG-PET on CT-based
radiotherapy treatment planning for oesophageal
cancer. Radiother Oncol, 78: 254-61.
7. T. Leong et al.(2017), Follow up results of a
prospective study to evaluate the impact of FDGPET on CT-based radiotherapy treatment
planning for oesophageal cancer, Clinical and
Translational Radiation Oncology 2:76-82
1. AJCC cancer staging manual (2010), Esophagus
and
esophagogastric
junction
staging
form.Springer, 103-240
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM
361