BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
BÙI THỊ THẮM
ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG TRÊN
TUẦN HOÀN NÃO VÀ SA SÚT TRÍ NHỚ
THỰC NGHIỆM CỦA HỖN HỢP CAO
ĐINH LĂNG - BẠCH QUẢ
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
HÀ NỘI 2020
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
BÙI THỊ THẮM
ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG TRÊN
TUẦN HOÀN NÃO VÀ SA SÚT TRÍ NHỚ
THỰC NGHIỆM CỦA HỖN HỢP CAO
ĐINH LĂNG - BẠCH QUẢ
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
CHUYÊN NGÀNH: DƯỢC LÝ – DƯỢC LÂM SÀNG
MÃ SỐ: 8720205
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đào Thị Vui
HÀ NỘI 2020
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian nghiên cứu thực nghiệm, được sự quan tâm giúp đỡ tận
tình của các thầy cô, anh chị, gia đình và bạn bè, tôi đã hoàn thành luận văn: “Đánh
giá tác dụng trên tuần hoàn não và sa sút trí nhớ thực nghiệm của hỗn hợp cao đinh
lăng – bạch quả”.
Tôi xin chân thành cảm ơn quý công ty TPC đã cung cấp mẫu nghiên cứu và tài
trợ kinh phí thực hiện đề tài này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn trân trọng tới PGS.TS. Đào Thị Vui – trưởng bộ môn
Dược lực học, Th.S. Trần Hồng Linh – bộ môn Dược lực học, trường đại học Dược
Hà Nội, là người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, quan tâm động viên, khích lệ và
cho tôi những lời nhận xét quý báu trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận
văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Phạm Thị Nguyệt Hằng và các anh chị khoa
Dược lý – Hóa sinh, viện Dược liệu đã góp phần giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi
trong suốt thời gian thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô giáo, các anh chị kỹ thuật viên bộ
môn Dược lực học, trường đại học Dược Hà Nội đã san sẻ công việc và giúp đỡ tôi
trong quá trình học tập và làm thực nghiệm để hoàn thành luận văn.
Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô phòng Sau đại học; Ban
giám hiệu, trường đại học Dược Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học
tập và hoàn thành khóa học.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã luôn bên cạnh quan
tâm động viên, giúp đỡ và tạo động lực tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện
luận văn này.
Hà Nội, ngày
tháng
Học viên
năm 2020
MỤC LỤC
DANH MỤC KÍ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT ..................................................................
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU .............................................................................
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ ....................................................................
ĐẶT VẤN ĐỀ......................................................................................................... 1
Chương 1. TỔNG QUAN ........................................................................................ 3
1.1. Tổng quan về hệ thống tuần hoàn não và thiểu năng tuần hoàn não .................. 3
1.1.1. Tuần hoàn não ............................................................................................... 3
1.1.2. Nguyên nhân gây thiểu năng tuần hoàn não................................................... 4
1.1.3. Triệu chứng lâm sàng của thiểu năng tuần hoàn não ..................................... 4
1.2. Một số thể sa sút trí tuệ và mối liên quan với thiểu năng tuần hoàn não ............ 6
1.2.1. Sa sút trí tuệ thể mạch máu ............................................................................ 6
1.2.2. Sa sút trí tuệ thể Alzheimer ............................................................................ 8
1.2.3. Liên quan giữa thiểu năng tuần hoàn não và sa sút trí tuệ ............................. 9
1.3. Tổng quan về cây đinh lăng và cây bạch quả .................................................. 11
1.3.1. Cây đinh lăng .............................................................................................. 11
1.3.2. Cây bạch quả ............................................................................................... 14
1.3.3. Các chế phẩm kết hợp cao đinh lăng và cao bạch quả ................................. 18
1.4. Các mô hình gây thiếu máu não cục bộ trên động vật thí nghiệm và các thử
nghiệm đánh giá về trí nhớ của động vật thí nghiệm .............................................. 19
1.4.1. Các mô hình gây thiếu máu não cục bộ trên động vật thí nghiệm ................. 19
1.4.2. Một số thử nghiệm đánh giá về trí nhớ của động vật .................................... 22
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................... 25
2.1. Đối tượng và nguyên vật liệu nghiên cứu ........................................................ 25
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu .................................................................................. 25
2.1.2. Nguyên vật liệu nghiên cứu .......................................................................... 25
2.2. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................ 26
2.2.1. Đánh giá tác dụng của hỗn hợp cao đinh lăng - bạch quả trên lưu lượng tuần
hoàn não chuột cống trắng .................................................................................... 27
2.2.2. Đánh giá tác dụng của hỗn hợp cao đinh lăng - bạch quả trên chuột gây suy
giảm trí nhớ bằng thắt động mạch cảnh ................................................................ 29
2.2.2.1. Thử nghiệm mê lộ chữ Y............................................................................ 31
2.2.2.2. Thử nghiệm nhận diện đồ vật .................................................................... 33
2.2.2.3. Định lượng hàm lượng malonyl dialdehyd trong não chuột....................... 35
2.3. Xử lí số liệu .................................................................................................... 36
Chương 3. KẾT QUẢ ............................................................................................ 37
3.1. Đánh giá tác dụng của hỗn hợp cao đinh lăng – bạch quả trên lưu lượng tuần
hoàn não chuột cống trắng ..................................................................................... 37
3.2. Đánh giá tác dụng của hỗn hợp cao đinh lăng - cao bạch quả trên chuột gây suy
giảm trí nhớ bằng thắt động mạch cảnh ................................................................. 39
3.2.1. Thử nghiệm mê lộ chữ Y .............................................................................. 39
3.2.2. Thử nghiệm nhận diện đồ vật ....................................................................... 40
3.2.3. Định lượng hàm lượng Malonyl dialdehyd trong não chuột ......................... 43
Chương 4. BÀN LUẬN ......................................................................................... 44
4.1.
Đánh giá tác dụng của hỗn hợp cao đinh lăng – bạch quả trên lưu lượng tuần
hoàn não chuột cống trắng ..................................................................................... 44
4.2. Đánh giá tác dụng của hỗn hợp đinh lăng – bạch quả trên chuột gây suy giảm trí
nhớ bằng thắt động mạch cảnh .............................................................................. 47
4.2.1. Về việc lựa chọn mô hình thắt mạch gây suy giảm trí nhớ trên chuột nhắt trắng
.............................................................................................................................. 48
4.2.2. Về tác dụng cải thiện trí nhớ trên mô hình gây thiếu máu não cục bộ tạm
thời ........................................................................................................................ 50
4.2.2.1. Về tác dụng cải thiện trí nhớ trên thử nghiệm hành vi ............................... 50
4.2.2.2. Về tác dụng ức chế quá trình peroxy hóa lipid màng tế bào não chuột ...... 55
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ............................................................................... 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC KÍ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
Tên viết đầy đủ
Chữ viết tắt
2VO
2 vessel occlusion - thắt hai động mạch cảnh chung
4VO
4 vessel occlusion - thắt 4 động mạch
5-HT
5-hydroxytryptamine – serotonin
AchE
Acetylcholinesterase
AD
Alzheimer disease – Bệnh Alzheimer
BCCAO
Bilateral common carotid artery occlusion - thắt hai động mạch cảnh
chung
ĐLBQ
Hỗn hợp cao đinh lăng – bạch quả
EGb 761
Dịch chiết lá cao bạch quả tiêu chuẩn
GABA
Gamma Aminobutyric Acid
GBE
Gingko biloba extract – dịch chiết bạch quả
MDA
Malonyl dialdehyd
NMDA
N-methyl- D- aspartat
ORT
Object recognition test - Thử nghiệm nhận diện đồ vật
PBS
8g NaCl; 2,9g Na2HPO4; 0,2g KCl; 0,2g KH2PO4
PFE
Polyscias fruticosa extract - dịch chiết đinh lăng
SOD
Superoxide dismutase
T2VO
Transient 2 vessel occlusion - thắt hai động mạch cảnh chung tạm
thời
TBA
Acid thiobarbituric
TMP
1,1,3,3 – tetramethoxypropan
TNTHN
Thiểu năng tuần hoàn não
VaD
Vascular dementia - Sa sút trí tuệ thể mạch máu
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
STT
1
Bảng
Tên Bảng
Bảng 1.1. Một số chế phẩm trên thị trường kết hợp cao đinh lăng
Trang
18
và cao bạch quả
2
Bảng 3.1. Lưu lượng máu qua động mạch cảnh chuột ở các thời
37
điểm nghiên cứu
3
Bảng 3.2. Lưu lượng máu qua động mạch cảnh trung bình trong
38
60 phút
4
Bảng 3.3. Tỷ lệ % thời gian khám phá cánh mới của chuột ở giai
39
đoạn kiểm tra
5
Bảng 3.4. Thời gian khám phá đồ vật của chuột trong thử
40
nghiệm nhận diện đồ vật
6
Bảng 3.5. Hàm lượng MDA trong não chuột
43
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
STT
1
Hình
Tên Hình
Hình 1.1. Sơ đồ tóm tắt các cơ chế liên quan đến sinh bệnh học
Trang
6
VaD
2
Hình 1.2. Cấu trúc hóa học của một số hoạt chất chính trong lá
15
cây bạch quả
3
Hình 2.1. Sơ đồ nội dung nghiên cứu
27
4
Hình 2.2. Sơ đồ quy trình tiến hành thí nghiệm đánh giá tác dụng
28
trên lưu lượng tuần hoàn não chuột cống trắng
5
Hình 2.3. Sơ đồ quy trình tiến hành thí nghiệm đánh giá tác dụng
31
trên chuột gây suy giảm trí nhớ bằng thắt mạch
6
Hình 2.4. Mô hình thử nghiệm mê lộ chữ Y
32
7
Hình 2.5. Mô hình thử nghiệm nhận diện đồ vật
33
8
Hình 3.1. Tỷ lệ % thời gian khám phá cánh mới trong thử nghiệm
39
mê lộ chữ Y
9
Hình 3.2. Thời gian khám phá hai vật giống nhau O1 và O2 trong
41
giai đoạn mẫu
10
Hình 3.3. Thời gian khám phá hai vật khác nhau O1 và O3 trong
giai đoạn kiểm tra
41
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thiểu năng tuần hoàn não thường gặp ở người trung niên và cao tuổi. Nguyên
nhân chính là do các bệnh lý nội tại trong lòng mạch như xơ vữa động mạch làm hẹp
lòng ống chứa và vận chuyển máu, tắc ở các động mạch cảnh, động mạch đốt sốngthân nền hoặc các nhánh của chúng dẫn đến giảm tưới máu tới não [7]. Thiểu năng
tuần hoàn não ở mức độ nhẹ gây chóng mặt, mất sức lực, suy giảm trí nhớ, kém tập
trung và không khống chế được cảm xúc làm ảnh hưởng đến công việc, học tập và
các mối quan hệ xã hội. Khi bệnh tiến triển nặng hơn có thể dẫn tới mất trí nhớ, sa
sút trí tuệ và có khả năng bị đột quỵ [6] [7].
Sa sút trí tuệ thường gặp phổ biến ở người cao tuổi, gây ảnh hưởng đến trí nhớ,
khả năng nhận thức và hành vi mà có tác động lớn đến các hoạt động thường ngày
của người mắc bệnh. Alzheimer (AD) và sa sút trí tuệ thể mạch máu (VaD) là hai thể
chủ yếu của sa sút trí tuệ. Hiện nay, dân số thế giới đang có xu hướng già hóa nên tỉ
lệ người mắc sa sút trí tuệ ngày càng tăng lên. Theo thống kê của WHO năm 2015,
có 46,8 triệu người mắc sa sút trí tuệ trên toàn thế giới, con số này có xu hướng tăng
lên 74,7 triệu người vào năm 2030 và tăng gấp 3 lần vào năm 2050. Hiện nay vẫn
chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, các thuốc chủ yếu có tác dụng làm giảm triệu chứng
[55].
Các nghiên cứu gần đây đã cho thấy có mối liên quan giữa giảm tưới máu não
mạn tính và suy giảm nhận thức nhẹ, bệnh Alzheimer (AD). Theo đó, giảm tưới máu
não mạn tính dẫn đến suy giảm nhận thức nhanh hơn trên đối tượng được chẩn đoán
sa sút trí tuệ và giảm tưới máu não mạn tính là một trong những nguyên nhân chính
gây ra tình trạng suy giảm trí nhớ, sa sút trí tuệ [24], [ 54], [58], [93].
Hai dược liệu Đinh lăng và Bạch quả đã được sử dụng từ lâu trong các bài thuốc
dân gian với tác dụng như cải thiện tuần hoàn não, tăng cường trí nhớ. Hiện nay, trên
thị trường có những chế phẩm kết hợp cao rễ đinh lăng và cao lá bạch quả với hàm
lượng khác nhau. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có nghiên cứu đánh giá tác dụng trên
tuần hoàn não và sa sút trí nhớ của hỗn hợp cao rễ đinh lăng và cao lá bạch quả. Do
đó, để nghiên cứu, phát triển các chế phẩm an toàn, hiệu quả và đáp ứng nhu cầu về
thuốc và chế phẩm đông dược phòng và điều trị các bệnh lý thiểu năng tuần hoàn não,
1
suy giảm trí nhớ, sa sút trí tuệ nhóm nghiên cứu đã quyết định thực hiện nghiên cứu
nhằm đánh giá tác dụng của hỗn hợp cao đinh lăng – bạch quả trên lưu lượng tuần
hoàn não và sa sút trí nhớ trên động vật thực nghiệm với tên đề tài: “Đánh giá tác
dụng trên tuần hoàn não và sa sút trí nhớ thực nghiệm của hỗn hợp cao đinh lăng –
bạch quả” với hai mục tiêu:
1. Đánh giá tác dụng của hỗn hợp cao đinh lăng - bạch quả trên lưu lượng tuần
hoàn não chuột cống trắng
2. Đánh giá tác dụng của hỗn hợp cao đinh lăng - bạch quả trên chuột gây suy
giảm trí nhớ bằng thắt động mạch cảnh
2
Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về hệ thống tuần hoàn não và thiểu năng tuần hoàn não
Thiểu năng tuần hoàn não là trạng thái bệnh lý có nhiều biểu hiện lâm sàng khác
nhau nhưng có chung một cơ chế bệnh sinh đó là thiếu máu nuôi não [7].
1.1.1. Tuần hoàn não
Tuần hoàn não được cung cấp bởi 4 động mạch lớn: hai động mạch cảnh trong
xuất phát từ hai động mạch cảnh gốc và hai động mạch đốt sống - thân nền ở hai bên
cổ. Các cặp mạch máu não có sự tiếp nối phong phú. Người ta chia hệ thống nối của
tuần hoàn não ở 3 mức:
Hệ thống nối thông mức 1: giữa các động mạch lớn (động mạch cảnh trong,
động mạch cảnh ngoài và động mạch đốt sống).
Hệ thống nối thông mức 2: giữa các động mạch nằm ở nền sọ, qua đa giác willis.
Đây là vùng nối quan trọng nhất trong việc lưu thông máu giữa giữa hai bán cầu.
Hệ thống nối thông mức 3: (giữa các nhánh động mạch ở vỏ não). Đây là sự tiếp
nối giữa các nhánh nông của mỗi động mạch (động mạch não giữa, động mạch não
trước và động mạch não sau) với nhau. Bình thường hệ thống nối thông này không
hoạt động, chỉ khi có biến cố tắc mạch mới hoạt động.
Mặc dù các vòng nối phong phú như vậy nhưng máu theo hệ thống này không
chảy lẫn lộn từ khu vực của mạch máu này sang khu vực của mạch máu khác. Khi có
biến cố tắc mạch, xảy ra sự chênh lệch huyết áp giữa hai bên, lúc này bên lành có
huyết áp cao hơn sẽ dồn cho bên liệt.
Tuần hoàn máu được chia làm hai khu vực tưới máu:
Tuần hoàn ngoại vi: do các nhánh nông của các nhánh tận của động mạch não
giữa, não trước, não sau tạo thành, tưới máu cho vỏ não và lớp chất trắng dưới vỏ.
Tuần hoàn trung tâm: do các nhánh sau của các nhánh tận đi sâu vào trung tâm
não, tưới máu cho các nhân xám trung ương sau đó đi ra nhánh nông và nhánh tận
cùng ở lớp chất trắng dưới vỏ.
Giữa hai khu vực ngoại vi và trung tâm (khu vực nông, sâu, vùng chất trắng
dưới vỏ) là khu vô khự giáp ranh, không có mạch nối quan trọng được gọi là vùng tới
3
hạn. Tuần hoàn ngoại vi có áp lực thấp do có sự phân chia nhánh và nối với nhau
phong phú, khu vực trung tâm là những nhánh tận do đó chịu áp lực cao [6] [7].
1.1.2. Nguyên nhân gây thiểu năng tuần hoàn não
Các nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng thiểu năng tuần hoàn não:
-
Bệnh nội tại trong lòng mạch: xơ vữa động mạch làm hẹp lòng ống chứa và vận
chuyển máu, tắc ở các động mạch cảnh trong, động mạch đốt sống- thân nền hoặc các
nhánh của chúng. Đồng thời các mảng xơ vữa gây loét, lớp áo trong mạch trở nên thô
ráp tạo điều kiện thuận lợi cho tiểu cầu bám vào làm hẹp dần lòng mạch và gây rối
loạn huyết động gây thiếu máu cục bộ ở não. Ngoài ra viêm động mạch hoặc dị dạng
mạch não cũng có thể gây thiếu máu nuôi não.
-
Bệnh gây chèn ép mạch máu bên ngoài: thoái hóa xương, khớp, đĩa đệm cột
sống cổ có thể gây thiểu năng tuần hoàn động mạch sống nền. Ngoài ra khi đốt sống
cổ chèn ép do u, ung thư cũng dẫn đến thiểu năng tuần hoàn não.
-
Tim: lưu lượng tim giảm
-
Các bệnh toàn thân: huyết áp thấp, thiếu máu [6] [7].
1.1.3. Triệu chứng lâm sàng của thiểu năng tuần hoàn não
Thiểu năng tuần hoàn não có nhiều triệu chứng lâm sàng khác nhau tùy theo
mức độ và giai đoạn bệnh. Giai đoạn đầu không có các triệu chứng báo trước, sau này
bệnh nhân sẽ bị thiểu năng tuần hoàn não rõ. Bệnh nhân chỉ có cảm giác mơ hồ là
mình có thay đổi khác trước từ thể chất đến tinh thần như người trông có vẻ già hơn,
da dẻ giảm dần đàn hổi, nếp nhăn nhiều hơn, tóc rụng nhiều, chậm chạp.
Khi có những triệu chứng dưới đây thì thì bệnh đã tương đối rõ hơn:
-
Nhức đầu: gặp trên 91% trường hợp thiểu năng tuần hoàn não và cũng là triệu
chứng xuất hiện sớm nhất. Nhức đầu có tính chất lan tỏa, nhiều nhất ở vùng trán, có
cảm giác nặng trong đầu, căng nhất là khi phải suy nghĩ nhiều.
-
Chóng mặt: gặp trên 87% bệnh nhân thiểu năng tuần hoàn não. Bệnh nhân có
cảm giác hơi loạng choạng khi đi hoặc đứng, bước đi không vững chãi. Có cảm giác
bập bềnh như say sóng, hoa mắt, mọi vật tối sầm lại khi chuyển tư thế đột ngột.
4
-
Dị cảm: là một triệu chứng rất sớm. Bệnh nhân có cảm giác tê bì, kiến bò, đau
mỏi chi, nặng ở chân, tê cóng. Về giác quan hay gặp cảm giác như có tiếng ve kêu,
còi, cối xay.
-
Rối loạn về giấc ngủ: hay gặp, dai dẳng và làm bệnh nhân khó chịu nhất. Biểu
hiện đa dạng: rối loạn nhịp ngủ, ngủ không sâu, chập chờn, thời gian ngủ ngắn.
-
Rối loạn về sự chú ý: khả năng tập trung tư tưởng kém. Bệnh nhân khó chuyển
từ sự chú ý này sang sự chú ý khác. Lúc đầu chỉ hạn chế khả năng làm việc, về sau
trở nặng hơn và cuối cùng có thể dẫn đến sa sút trí tuệ. Có thể coi hai trạng thái rối
loạn sự chú ý tồn tại trên bệnh nhân TNTHN. Một là trạng thái giảm khả năng chú ý,
hay đãng trí. Hai là trạng thái cứng đờ tâm thần, chỉ chú ý được một việc, suy nghĩ
chậm chạp.
-
Rối loạn về trí nhớ: là một trong những biểu hiện sớm nhất của TNTHN. Đặc
biệt rối loạn trí nhớ của TNTHN là giảm sút rõ rệt trí nhớ gần với những việc mới
xảy ra, khả năng sắp xếp lại theo đúng trình tự xuất hiện, khó nhớ tên người, sự vật,
việc mới xảy ra.
-
Giảm sút khả năng tư duy và trí tuệ: với biểu hiện sớm là giảm khả năng sáng
tạo, cũng như rối loạn cảm xúc như dễ cảm động, phản ứng quá mức không phù hợp
với tính chất sự việc.
-
Rối loạn về cảm xúc: dễ xúc động, cáu gắt vô cớ.
-
Thay đổi về nhân cách và tính tình: ở người bị mạn tính phụ thuộc vào trạng
thái tâm lý, sinh lý và bệnh lý trước đó của người bệnh. Tiến triển trong rối loạn nhân
cách chia ra làm 3 loại: loại sảng khoái, loại thờ ở vô cảm và loại tính tình thất thường
dễ kích động hay gây gổ.
-
Hội chứng giả suy nhược thần kinh thường hay gặp ở những người có TNTHN
mạn tính với những biểu hiện chính như đau đầu, chóng mặt, ù tai, giảm trí nhớ. Có
thể chia những biểu hiện này thành 2 nhóm chính: một nhóm thiên về hưng phấn, dễ
bị kích thích, mất ngủ, thường xuyên căng thẳng, lo lắng. Nhóm khác lại thiên về dễ
bị ức chế, mau mệt, giảm sút trí nhớ và khả năng làm việc, tiến triển nhanh tới sa sút
trí tuệ [6] [7].
5
1.2. Một số thể sa sút trí tuệ và mối liên quan với thiểu năng tuần hoàn não
1.2.1. Sa sút trí tuệ thể mạch máu
Định nghĩa:
Sa sút trí tuệ thể mạch máu (VaD) là một bệnh tiến triển mà có ảnh hưởng đến
nhận thức và được gây ra bởi sự giảm lưu lượng máu tới não. Bệnh nhân có biểu hiện
suy nghĩ chậm chạp, hay quên, trầm cảm và lo lắng, mất phương hướng và mất các
chức năng điều hành như giải quyết vấn đề, làm việc, suy nghĩ suy luận và phán đoán.
Thể bệnh chiếm 17-20% trong các trường hợp bị sa sút trí tuệ đứng thứ 2 sau
Alzheimer [85].
Sinh lý bệnh và cơ chế phân tử của sa sút trí tuệ thể mạch máu:
Hiểu được sinh lý bệnh và cơ chế phân tử của bệnh trước khi thiết lập một mô
hình dược lý giúp cho việc tìm ra các đích điều trị và đánh giá tác dụng điều trị là rất
quan trọng. Tuy nhiên, sinh lý bệnh và cơ chế của sa sút trí tuệ thể mạch máu vẫn
chưa được hiểu rõ. Dưới đây là sơ đồ tóm tắt sinh bệnh học của VaD.
Hình 1.1. Sơ đồ tóm tắt các cơ chế liên quan đến sinh bệnh học VaD
6
Trong VaD, giảm tưới máu mạn tính và huyết khối dẫn đến giảm lưu lượng tuần
hoàn não, thiếu oxy cung cấp cho não, stress oxy hóa và kích hoạt phản ứng viêm.
Chất trắng quanh não thất, hạch nền và hồi hải mã rất dễ bị tổn thương do giảm tưới
máu. Sự gián đoạn của mạch hạch nền trước trán gây ra sự thiếu hụt nhận thức, điển
hình trong VaD.
Stress oxy hóa làm mất cân bằng tỷ lệ các chất chống oxy hóa và các gốc oxy
dẫn đến tổn thương tế bào nội mô mạch máu, tế bào thần kinh đệm và tế bào thần
kinh, dẫn đến hủy kết nối thần kinh và giảm lưu lượng tuần hoàn máu hơn nữa.
Thiếu oxy não có thể dẫn đến chết tế bào và rối loạn chức năng vi mạch được
đánh dấu bằng sự gia tăng các yếu tố viêm mạch máu cũng như gây ra rối loạn chức
năng nội mô, rò rỉ mạch máu và tăng phản ứng viêm thần kinh. Thiếu oxy não có thể
gây ra stress oxy hóa dẫn đến rối loạn chức năng ty thể, tổn thương tế bào thần kinh
và chết tế bào thông qua con đường tăng tổng hợp NO (NOs), lượng
malondialdehyde, giải phóng các gốc tự do và các gốc tự do oxy hóa.
Các yếu gây viêm như Matrix Metalloproteinases (MMPs) và rối loạn chức năng
vi mạch làm suy giảm chức năng hàng rào máu não (BBB) và tăng tính thấm hàng
rào máu não với các yếu tố gây viêm như interleukin (IL-1, IL-6), MMPs, TNFα (yếu
tố hoại tử khối u) và protein phản ứng C. Khi vào não, các yếu tố gây viêm này làm
trầm trọng thêm tổn thương nhân trắng WM, gây thoái hóa thần kinh và chết tế bào
cũng như tăng cường viêm thần kinh. Nhân trắng trong não rất nhạy cảm với thiếu
oxy gây các tổn thương do giảm tưới máu não. Trong VaD, tổn thương nhân trắng
chủ yếu do mất myelin mà gây ra bởi thiếu oxy mà mất myelin làm chậm dẫn truyền
tín hiệu thần kinh và dẫn đến suy giảm trí nhớ.
Vòng luẩn quẩn của stress oxy hóa, rối loạn chức năng nội mô, vi mạch và các
phản ứng viêm gây ra tổn thương não. Một mô hình mô tả các tương tác chức năng
và tín hiệu giữa các tế bào thần kinh, mao mạch và tế bào đệm thần kinh trong não bị
rối loạn chủ yếu do sự tương tác giữa stress oxy hóa và viêm dẫn đến tăng sự gián
đoạn hàng rào máu não, phù nề, hủy kết nối thần kinh, và tổn thương tế bào thần kinh
[38], [85].
7
1.2.2. Sa sút trí tuệ thể Alzheimer
Cho đến nay người ta thừa nhận Alzheimer là một bệnh thoái hóa não do nhiều
nguyên nhân gây ra, không đồng nhất về mặt di truyền, phát sinh và tiến triển theo
những cơ chế không hoàn toàn giống nhau giữa các bệnh nhân. Tuy nhiên người ta
đưa ra một số giả thuyết để liên kết vai trò của tất cả các thành tố cơ bản trong bệnh
nguyên.
Giả thuyết kết tập β amyloid (Aβ) đóng vai trò cốt lõi. Các yếu tố căn nguyên
tuy rất đa dạng xong đều có một tác động đồng quy vào quá trình chuyển hóa của
amyloid beta precursor protein (APP) để tạo ra một sản phẩm là protein Aβ 42 acid
amin. Do đó dẫn đến sự mất cân bằng giữa sản xuất và thanh thải các peptide Aβ dẫn
đến sự kết tụ của Aβ cuối cùng dẫn đến AD. Sự lắng đọng, kết tập Aβ 42 sẽ tạo ra
các mảng, các đám rối sợi thầnkinh… dẫn đến chết nơron, mất synap và các phản ứng
viêm tổ chức thần kinh [62].
Đám rối sợi thần kinh (NFTs): NFTs thường được tìm thấy trong các tế bào của
hồi hải mã và vỏ não ở những người bị AD và được cấu tạo từ sự tăng phosphoryl
hóa bất thường protein Tau. Protein Tau cung cấp hỗ trợ cấu trúc cho các vi ống, hệ
thống vận chuyển tế bào và hỗ trợ xương. Khi các sợi Tau trải qua quá trình
phosphoryl hóa bất thường tại một vị trí cụ thể, chúng không thể liên kết hiệu quả với
các vi ống và các vi ống bị sụp đổ. Nếu không có một hệ thống vi ống nguyên vẹn, tế
bào không thể hoạt động bình thường và cuối cùng sẽ chết. Mật độ của NFT tương
quan với mức độ nghiêm trọng của chứng mất trí nhớ [62].
Giả thuyết cholinergic: nhiều con đường dẫn truyền thần kinh bị phá hủy trong
AD. Tổn thương thần kinh có thể được nhìn thấy cùng với các cấu trúc mảng bám.
Rối loạn chức năng tế bào hoặc thoái hóa lan rộng dẫn đến một loạt các thiếu hụt dẫn
truyền thần kinh, với các bất thường cholinergic là nổi bật nhất. Mất hoạt động
cholinergic tương quan với mức độ nghiêm trọng của AD. Trong giai đoạn cuối của
AD, số lượng tế bào thần kinh cholinergic bị giảm và mất các thụ thể nicotinic ở vùng
đồi thị và vỏ não. Các thụ thể nicotinic kiểm soát việc giải phóng acetylcholine, cũng
như các chất dẫn truyền thần kinh khác quan trọng đối với trí nhớ và tâm trạng, bao
8
gồm glutamate, serotonin và norepinephrine. Do đó, người ta cho rằng việc tăng chức
năng cholinergic sẽ cải thiện các triệu chứng mất trí nhớ [62].
1.2.3. Liên quan giữa thiểu năng tuần hoàn não và sa sút trí tuệ
Hiện nay, có rất nhiều các nghiên cứu về nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của
sa sút trí tuệ đặc biệt là với hai thể sa sút trí tuệ thể mạch máu và Alzheimer. Các
nghiên cứu này đã cho thấy có mối liên quan của giảm tưới máu não và suy giảm
nhận thức nhẹ, bệnh Alzheimer (AD). Theo đó, các nghiên cứu chỉ ra rằng giảm tưới
máu đến não có thể là nguyên nhân chính gây ra tình trạng suy giảm trí nhớ, sa sút trí
tuệ [24], [ 54], [58], [93].
Thiếu máu tuần hoàn não mạn tính không chỉ là cơ sở gây ra bệnh đột quỵ do
thiếu máu cục bộ và các cơn thiếu máu não thoáng qua mà còn là một liên kết quan
trọng trong sự xuất hiện và phát triển của các rối loạn liên quan đến suy giảm nhận
thức, như sa sút trí tuệ thể mạch máu và bệnh Alzheimer. Trong những năm gần đây,
nhiều nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những bệnh nhân ở giai đoạn đầu của chứng
mất trí nhớ tuổi già thường có thiểu năng tuần hoàn não mạn tính [22].
Giảm tưới máu não toàn bộ gây ra bởi ngừng tim, loạn nhịp tim, suy tim hoặc
hạ huyết áp có thể gây ra rối loạn chức năng não và làm suy giảm nhận thức tạm thời
hoặc vĩnh viễn. Hẹp hoặc tắc động mạch cảnh chung có thể gây ra thiếu máu não mạn
tính và có thể dẫn đến suy giảm trí nhớ mặc dù không có các tổn thương do thiếu máu
cục bộ. Nếu thiếu máu tuần hoàn não kéo dài và nghiêm trọng thì có thể xảy ra đột
quỵ thiếu máu cục bộ, đột quỵ làm tăng gấp đôi nguy cơ mắc sa sút trí tuệ và khoảng
30% bệnh nhân đột quỵ xuất hiện các rối loạn chức năng ghi nhớ trong vòng 3 năm.
Chức năng mạch máu não suy giảm ở những bệnh nhân giai đoạn sớm hoặc có nguy
cơ mắc Alzheimer đã được quan sát thấy ở rất nhiều nghiên cứu, liên quan với giảm
tưới máu não trong sinh bệnh học của bệnh [38].
Các cơ chế phân tử liên quan giữa bệnh lý mạch máu và AD đã được liên kết
theo nhiều cách và có thể hoạt động hiệp đồng để tăng khả năng chết nơ-ron thần kinh
quan sát được trong nguyên nhân hỗn hợp. Giảm lưu lượng máu não trước khi lắng
đọng beta-amyloid (Aβ) đã được quan sát thấy trong não của cả mô hình chuột AD
và ở những người mắc AD, giảm lưu lượng máu não được đề xuất rằng đã đóng góp
9
trực tiếp vào các triệu chứng nhận thức. Một số nghiên cứu cho thấy những thay đổi
trong việc suy giảm thải trừ Aβ của mạch máu có thể đẩy nhanh tiến trình của AD.
Thêm vào đó, bằng chứng đáng quan tâm rằng đái tháo đường tuyp 2 và kháng insulin
đều liên kết với việc tăng nguy cơ các bệnh mạch máu, AD, và sa sút trí tuệ [77]. Bên
cạnh đó, các nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng sự thay đổi trong chức năng mạch máu
thần kinh đóng vai trò quan trọng không chỉ trong sinh lý bệnh của sa sút trí tuệ thể
mạch máu mà còn cả AD, các yếu tố nguy cơ mạch máu gây tác hại đến các đơn vị
mạch máu thần kinh thúc đẩy gây suy giảm trí nhớ thể mạch máu và AD. Việc rối
loạn mạch máu thần kinh tăng độ nhạy cảm của não với tổn thương gây ra do thay
đổi cung cấp máu cho não, phá vỡ chức năng của hàng rào máu não và làm giảm khả
năng hỗ trợ, sửa chữa vùng não bị tổn thương. Đặc biệt hiện nay các nghiên cứu đã
chỉ ra rằng các yếu tố nguy cơ mạch máu cũng đã được biết đến như là yếu tố nguy
cơ chính của bệnh Alzheimer [25].
Sự chồng lấp giữa VaD và AD được nhìn thấy ở nhiều khía cạnh như: các dấu
hiệu và triệu chứng lâm sàng (trí nhớ, chức năng và hành vi…), cơ chế bệnh lý (sự
hiện diện của đám rối sợi thần kinh (NFT), amyloid hoặc các mảng, tổn thương chất
trắng và bệnh lý amyloid não) và các yếu tố nguy cơ (bệnh về mạch máu và gen).
Gần đây các nghiên cứu cũng cho thấy rằng cũng như đối với AD sự suy giảm dẫn
truyền hệ cholinergic cũng góp phần làm suy giảm trí nhớ trong VaD. Và như đã biết
apolipoprotein E (apoE) là đa hình di truyền với các isoform apoE2, apoE3 và apoE4.
ApoE đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển cholesterol ra và vào hệ thần
kinh trung ương nên nó giống như một yếu tố nguy cơ gây bệnh VaD. Các nghiên
cứu đã chỉ ra mối liên quan giữa apoE với AD rằng nếu mang đột biến gen apoE4
làm tăng nguy cơ mắc AD lên 10 lần. Tuy nhiên, liệu apoE4 có gây ra rủi ro tương tự
cho VaD hay không vẫn chưa rõ ràng và mặc dù số lượng lớn các nghiên cứu cho
thấy việc chứa apoE4 làm tăng nguy cơ mắc VaD nhưng thấp hơn so với những gì
được tìm thấy đối với AD [40], [68], [75].
Mặc dù có sự chồng chéo đáng kể giữa các đặc điểm của sa sút trí tuệ thể mạch
máu (VaD) và bệnh Alzheimer (AD), nhưng có vẻ như giảm tưới máu não là cơ chế
sinh lý bệnh cơ bản phổ biến, là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến suy
10
giảm nhận thức và quá trình thoái hóa mà dẫn đến sa sút trí tuệ. Thiếu những hiểu
biết về cơ chế bệnh sinh và sự tiến triển của sa sút trí tuệ thể mạch máu dẫn đến thiếu
các mô hình để đánh giá nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh. Do vậy, việc sử dụng các
mô hình động vật để nghiên cứu các yếu tố liên quan đến lưu lượng máu não, viêm
mạch máu nhỏ và chức năng của hàng rào máu não với tổn thương chất trắng và thiếu
hụt trong nhận thức có thể cung cấp cái nhìn sâu hơn về cơ chế và phương pháp chữa
trị [29], [33].
1.3. Tổng quan về cây đinh lăng và cây bạch quả
1.3.1. Cây đinh lăng
Tên khoa học
Tên khoa học: Polyscias fruticosa (L.) Harms (đồng nghĩa: Panax fruticosum,
Panax fruticosus) thuộc chi Đinh lăng (Polyscias) của Họ Nhân sâm (Araliaceae).
Đinh lăng hay còn gọi là cây gỏi cá, nam dương sâm [4], [8].
Mô tả đặc điểm thực vật
Cây Đinh lăng là một loại cây nhỏ, thân nhẵn, không có gai, thường cao 0,8-1,5
m. Lá kép 3 lần, xẻ lông chim dài 20-40 cm, không có lá kèm rõ. Lá chét chia thùy
nhọn không đều, màu xanh, bóng mặt dưới nhiều hơn, gốc lá và phiến lá thuôn nhọn
dài 3-5 cm, rộng 0,5-1,5 cm; gân lá hình lông chim, gân chính nổi rõ, 3-4 cặp gân
phụ. Lá chét có cuống gầy dài 3-10 mm, lá có mùi thơm. Cụm hoa hình chùy ngắn 718 mm gồm nhiều tán, tán tụ thành chùm ở ngọn cành mang nhiều hoa nhỏ. Tràng 5,
nhị 5 và chi nhị gầy, bầu hạ 2 ngăn có rìa trắng nhạt. Quả bẹt dài 3-4 mm, dày 1 mm
có vòi tồn tại. Rễ cong queo dài khoảng 30 cm, rộng khoảng 2,5 cm, đầu trên to đầu
dưới thuôn. Mặt ngoài màu trắng xám, có nhiều nếp nhăn dọc, nhiều lỗ bì nằm ngang,
nhiều vết tích của rễ con và các đoạn rễ con còn sót lại, dễ bẻ gãy, mặt bé lởm chởm.
Mặt cắt ngang màu vàng nhạt, gỗ sắp xếp thành tia từ giữa tỏa ra [4], [8].
Phân bố, thu hái, chế biến
Cây được trồng phổ biến làm cảnh ở khắp cả nước, Lào và miền nam Trung
Quốc. Bộ phận dùng: rễ, thân, cành, lá.
Thu hái: rễ, thu hái vào mùa thu ở cây đã trồng từ 3 năm trở lên; thái lát phơi
hoặc sấy khô [8].
11
Thành phần hóa học
Trong đinh lăng đã tìm thấy có các alcaloid, glucosid, saponin, flavonoid, tanin,
vitamin B1 các axit amin trong đó có lysin, methionin… là những axit amin không
thể thay thế được. Các tác giả trong nước đã nghiên cứu về thành phần và hàm lượng
của các saponin triterpen là thành phần chính tạo ra các tác dụng dược lý trong các
bộ phận của cây Đinh Lăng [9], [27], [99].
Tác dụng dược lý
Đinh Lăng được sử dụng trong dân gian với nhiều công dụng như chữa mệt mỏi,
thông tia sữa, căng vú sữa, sốt lâu ngày, nhức đầu, háo khát, ho đau tức ngực, nước
tiểu vàng, thiếu máu, viêm gan mạn tính, liệt dương, sốt rét, ho suyễn lâu năm, phong
thấp thấp khớp [2]. Đinh lăng ít độc, liều độc tiêm phúc mạc của cao đinh lăng LD50
là 32,9 g/kg, cho chuột uống 50 g/kg chuột vẫn sống bình thường [8].
Hiện nay đã có các công trình nghiên cứu trong nước và trên thế giới về tác
dụng của Đinh Lăng. Đinh lăng có tác dụng trên thần kinh trung ương như cải thiện
trí nhớ và chống trầm cảm, cùng các tác dụng khác cũng đã được nghiên cứu là tác
dụng chống đái tháo đường và tác dụng chống hen.
Tác dụng cải thiện trí nhớ: nhiều nghiên cứu trên các mô hình gây suy giảm trí
nhớ khác nhau cho thấy cao rễ đinh lăng có tác dụng cải thiện trí nhớ. Mẫu đinh lăng
liều 100 và 200 mg/kg trong mô hình gây suy giảm trí nhớ bằng scopolamin, thử
nghiệm cho thấy liều 100 mg/kg làm tăng thời gian bơi trong vùng có phao [5]. Một
nghiên cứu tác dụng của viên đinh lăng và trà đinh lăng trên chuột gây suy giảm trí
nhớ bằng tiêm phúc mạc scopolamin (1 mg/kg) cho thấy đinh lăng có tác dụng tăng
cường khả năng học tập và ghi nhớ trên mô hình mê lộ nước Morris [1]. Nghiên cứu
đánh giá tác dụng cải thiện trí nhớ của cao chiết rễ đinh lăng trên mô hình thiếu máu
não cục bộ thoáng qua cho kết quả cao cồn rễ đinh lăng liều 300mg/kg làm tăng phần
trăm khám phá nhánh mới Y3 trên thử nghiệm mê lộ chữ Y và tăng thời gian khám
phá vật thể mới trên thử nghiệm nhận diện đồ vật [11]. Nghiên cứu đánh giá tác dụng
cải thiện trí nhớ của cao chiết cồn rễ đinh lăng trên chuột nhắt trắng gây suy giảm trí
nhớ bằng trimethyltin cho thấy liều 300mg/kg làm tăng phần trăm khám phá nhánh
12
mới Y3 trên thử nghiệm mê lộ chữ Y và tăng thời gian khám phá vật thể mới trên thử
nghiệm nhận diện đồ vật [3].
Tác dụng chống đái tháo đường: Hai nghiên cứu của Trần Hồng Hạnh và cộng
sự nghiên cứu tác dụng chống đái tháo đường và đã phân lập được 3 saponin trong lá
đinh lăng gồm hai chất đã biết và một chất mới (polysciosid I). Các chất cho thấy tác
dụng ức chế α-amylase tuyến tụy, men 𝛼-glucosidase và có tác dụng hiệp đồng với
acarbose ức chế 𝛼-amylase. Chất này còn cho thấy có tác dụng hạ đường huyết sau
ăn ở mô hình trên chuột [36], [53].
Tác dụng chống trầm cảm: các nghiên cứu cho thấy tác dụng chống trầm cảm
của cao đinh lăng trong thực nghiệm của Porsolt. Cao đinh lăng ở 3 liều thử nghiệm
đường uống 45, 90, 180 mg/kg, cao đinh lăng liều 180 mg/kg cân nặng có tác dụng
làm giảm thời gian bất động của động vật thử và đạt ý nghĩa thống kê so với chứng.
Kết quả cho thấy liều 45 mg/kg cân nặng không có tác dụng chống trầm cảm khi sử
dụng một liều duy nhất nhưng khi cho uống trong thời gian 3-7 ngày thể hiện tác
dụng chống trầm cảm. Ngoài ra còn có các nghiên cứu cho thấy cao đinh lăng có tác
dụng chống stress, bảo vệ gan và kích thích miễn dịch [2].
Tác dụng ức chế co thắt phế quản: theo nghiên cứu của George trên tác dụng
chống hen cho thấy PFE (100 - 500 mg/kg) đã kéo dài thời gian xuất hiện chứng khó
thở trước co giật 76,1 - 180,2 % (p ≤ 0,01 - 0,001) và giảm thời gian phục hồi xuống
71,9 % - 78,5 % (p ≤ 0,01). Nó cũng tăng cường bảo vệ tỷ lệ phần trăm chống lại co
thắt phế quản do histamin 15,8 - 80,1 lần (p ≤ 0,05 - 0,01) và giảm thời gian phục hồi
2,5 - 3 lần (p ≤ 0,05-0,01). PFE ức chế đáng kể (60,4 ± 8,3 %) đáp ứng hợp đồng của
histamin và tạo ra sự ức chế đáng kể (56 – 79 %, p < 0,001) thoái hóa tế bào mast.
Vậy PFE có tác dụng chống hen, chống dị ứng và ổn định tế bào mast làm cho nó hữu
ích trong điều trị hen suyễn [13]. Nghiên cứu chỉ ra rằng dịch chiết cồn lá đinh lăng
có làm giảm số lượng bạch cầu trên chuột lang gây hen bằng albumin, do PFE có tác
dụng chống viêm một đặc tính trong điều trị hen [45].
Tác dụng kiểu nội tiết tố sinh dục: cao đinh lăng còn thể hiện tác dụng nội tiết
tố sinh dục (hiệu lực androgen và hiệu lực estrogen) trên cơ địa động vật bình thường
13
và cơ địa động vật bị gây thiểu năng sinh dục. PFE cải thiện số lượng tinh trùng mào
tinh hoàn và có tác dụng tăng cường khả năng sinh sản của chuột đực [17].
1.3.2. Cây bạch quả
Tên khoa học
Tên khoa học: Ginkgo biloba L. thuộc họ Bạch quả Ginkgoaceae.
Còn gọi là ngân hạnh, áp cước tử, công tôn thụ [8].
Mô tả đặc điểm thực vật
Bạch quả là một cây to, cao 20-30m, thân phân thành cành dài, gần như mọc
vòng, trên cành có những cành nhánh ngắn, mang lá có cuống. Phiến lá hình quạt,
mép lá phía trên tròn, nhẵn giữa hơi lõm, chia phiến lá thành hai thùy. Gân lá phân
nhánh theo hướng rẽ đôi. Quả hạch, kích thước bằng quả mận, thịt màu vàng, có mùi
bơ khét rất khó chịu [8].
Phân bố, thu hái và chế biến
Nguồn gốc ở Trung Quốc và chỉ thấy trồng ở Trung Quốc và một ít ở Nhật Bản,
Việt Nam mọc rải rác trong một số vườn hoa và quanh ngôi chùa để làm cảnh [8].
Thành phần hóa học
Lá bạch quả chứa hai loại hoạt chất các hợp chất flavonoic và các tecpen. Các
hợp chất flavonoic (ginkgo - flavonol glucosid) là những hợp chất trong đó phần
aglycon là một flavonol (quercetin, kaempferol và isorhamnetin), phần đường là
glucoza và rhamnose. Nhóm các tecpen gồm ginkgolide (là những ditecpen) và
bilobalide (một sesquitecpen) có vị đắng. Ngoài hai loại hoạt chất trên, lá bạch quả
còn chứa một số axit hữu cơ như hydroxykinurenic, kinurenic, parahydroxybenzoic,
vanillic [8].
Thành phần chính trong dịch chiết lá cây bạch quả gồm biflavonoid, flavonoid,
terpenoid, polyprenol, and acid hữu cơ, các ginkgolid là các terpenoid chính thể hiện
hoạt tính sinh học và dược lý trong các chế phẩm cao chiết lá bạch quả, các flavonoid
như quercetin, kaempferol và isorhamnetin là các flavonoid chủ yếu dưới dạng dẫn
xuất glycosid trong lá cây bạch quả [16]. Trong những năm gần đây, dịch chiết lá
bạch quả được tiêu chuẩn hóa (EGb761) được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu
14
chứa 24 % flavonoid glycosid, 6% terpenoid, 5 %-10 % axit hữu cơ và các thành phần
khác [16], [26], [44], [83].
Hình 1.2. Cấu trúc hóa học của một số hoạt chất chính trong lá cây bạch quả:
(A) ginkgolid; (B) bilobalid; (C) quercetin; (D) kaempferol; (E) isorhamnetin [16]
Tác dụng dược lý
Bạch quả được sử dụng trong dân gian với các tác dụng ích khí (ích phổi, tiêu
đờm, dẹp ho), tiêu độc sát trùng. Hiện nay có rất nhiều các nghiên cứu trong và ngoài
nước về tác dụng dược lý của cao chiết lá bạch quả đã chỉ ra rằng cao chiết lá bạch
quả có tác dụng trên cả ngoại vi và trung ương với các tác dụng chính là: tác dụng
trên chuyển hóa, hoạt hóa yếu tố kích hoạt tiểu cầu, chống oxy hóa, trên tuần hoàn
não, tác dụng trên chất dẫn truyền và receptor, tác dụng trên trí nhớ, chống viêm.
Tác dụng trên chuyển hóa: GBE gây ra tăng hấp thu glucose và tổng hợp
glycogen ở tế bào cơ trơn phụ thuộc nồng độ [18], [19]. Trong một nghiên cứu ngẫu
nhiên, đa trung tâm và mù đôi ở 60 đối tượng đái thóa đường typ 2, bệnh nhân được
phân ngẫu nhiên thành hai nhóm (GBE 120 mg/ngày hoặc giả dược (tinh bột) 120
mg/ngày) trong 3 tháng, ở nhóm dùng GBE cho thấy rằng giúp giảm rõ rệt glucose
lúc đói, nồng độ insulin, HbA1c trong máu, chu vi vòng eo, BMI và chỉ số mỡ nội
tạng [14]. Nhiều nghiên cứu còn chỉ ra rằng GBE còn có tác dụng điều chỉnh mức
LDL (lipoprotein tỷ trọng thấp), HDL (lipoprotein tỷ trọng cao), TG (triglycerid).
15
Hoạt hóa yếu tố kích hoạt tiểu cầu: GBE dường như ức chế sự kết tập tiểu cầu
bằng cách tăng nồng độ NO và prostacyclin. Thành phần hóa học ginkgolid B (một
terpen) cho thấy các đặc tính chống kết tập tiểu cầu [18], [ 19], [ 63].
Tác dụng chống oxy hóa: GBE đã được chứng minh là gây ra diệt rất nhiều các
nhóm gốc tự do bao gồm OH, O2-, gốc diphenylpicrylhydrazyl và adriamycyl. Nó có
thể dọn gốc NOs và giảm lượng nitrate phụ thuộc liều dùng. Các nghiên cứu in vitro
và in vivo chứng minh rằng thành phần flavonoid của GBE có thể ức chế peroxy hóa
lipid và ức chế kết tập tiểu cầu. Thành phần flavonoid có thể làm trung gian về khả
năng của cao bạch quả để bảo vệ hệ thống sinh lý khỏi các gốc oxy hóa hoạt động.
Điều này có thể hữu ích trong điều trị ảnh hưởng của oxy hóa lipoprotein mà dẫn đến
lắng đọng và kết tụ các mảng xơ vữa dẫn đến thiếu máu và oxy [18], [19].
Tuần hoàn não: terpen lacton (ginkgolid) ức chế các yếu tố kết tập tiểu cầu và
làm thuận tiện cho dòng máu. Dự phòng với liều cao cao bạch quả có thể làm giảm
tổn thương tái tưới máu, cải thiện chỉ số tim mạch và đột quỵ thất trái sau thay van
động mạch chủ mặc dù các kết quả lâm sàng có thể không khác [82]. Cao bạch quả
gây ra thay đổi vận mạch động mạch và tĩnh mạch liên quan với việc tăng lưu lượng
máu tới các mô, lưu lượng máu ngoại vi và não, lưu lượng máu mắt và vi tuần hoàn
[65]. Phân tích tổng hợp cho thấy tác dụng tích cực của bạch quả đối với tưới máu,
cung cấp hỗ trợ cho việc sử dụng nó trong bệnh tắc động mạch ngoại biên cũng như
ù tai và chóng mặt có nguồn gốc mạch máu [18], [19], [43].
Tác dụng trên chất dẫn truyền và receptor: những thay đổi liên quan đến GBE
trong chất dẫn truyền ở não, thụ thể và hoạt động của enzyme được mô tả. GBE đã
gây ra tăng norepinephrin ở chuột [20], mật độ thụ thể alpha-2 [37], acetycholin
muscarinic (mACh) và mật độ thụ thể serotonin (5HT) và giảm mật độ betaadrenoceptor [67]. Tác dụng này là một trong các tác dụng mà có thể làm trung gian
cho các tác dụng của GBE trong đảo ngược sự suy giảm trí nhớ liên quan đến tuổi.
Các nghiên cứu cũng đã chứng minh rằng sau 4 tuần điều trị bằng GBE, xảy ra sự
tăng đáng kể ở số lượng của mACh receptor ở chuột già 24 tháng tuổi [39].
Tác dụng bảo vệ thần kinh: dịch chiết cao bạch quả ngăn ngừa tổn thương thần
kinh và là một trong những thực phẩm chức năng được sử dụng phổ biến được báo
16
cáo tăng cường trí nhớ. Dịch chiết lá bạch quả (EGb761) được báo cáo có hiệu quả
chống lại Alzheimer ở liều 240 mg/kg/ngày. [16] Bên cạnh đó các nghiên cứu cũng
chứng minh được rằng EGb 761 có thể cho tác dụng bảo vệ và hồi phục thần kinh
chống lại những tổn thương các neuron dopamin não giữa trên mô hình động vật gây
Parkinson và EGb 761 còn cho thấy tác dụng làm giảm sự suy giảm vận động, tăng
dopamin và các thông số sinh hóa khác liên quan đến tác dụng chống oxy hóa của nó
trên mô hình động vật gây Parkinson [69].
Tác dụng chống viêm: tác dụng này của dịch chiết cây bạch quả được ghi nhận
do sự điều hòa sự sản xuất NO và PGE2 (prostaglandin E2) cùng với biểu hiện mARN
của iNOS (inducible nitric oxide synthase) và enzym COX-2 (Cyclohexogenase
enzyme) và cytokinin tiền viêm (IL-1β, IL-6 và TNF-α) và điều chỉnh giảm kích hoạt
yếu tố NF-kB (nuclear factor-kappa B) trong đại thực bào [57].
Tác dụng cải thiện trí nhớ: nghiên cứu tổng quan về tác dụng cải thiện trí nhớ
của cao chiết lá bạch quả trên bệnh nhân Alzheimer chỉ ra rằng điều trị bằng cao chiết
bạch quả có thể cải thiện chức năng trí nhớ ở bệnh nhân bị sa sút trí tuệ từ nhẹ khi
điều trị dài ngày (24 tuần) và khoảng liều 240 mg/kg/ngày [51]. Một nghiên cứu tổng
quan hệ thống và phân tích gộp các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng
trên các bệnh nhân được chuẩn đoán Alzheimer và sa sút trí tuệ thể mạch máu hoặc
cả hai dùng cao chiết bạch quả EGb 761 điều trị ít nhất 20 tuần và được đánh giá về
nhận thức, các hoạt động hàng ngày… phân tích meta đã chỉ ra rằng điều trị với EGb
761 làm cải thiện trí nhớ và các hoạt động thường ngày có ý nghĩa thống kê so với
nhóm dùng giả dược. Đồng thời phân tích meta cũng chỉ ra rằng tác dụng của EGb
phụ thuộc liều và ở liều 240 mg/ngày cho hiệu quả lâm sàng, an toàn và dung nạp
trên bệnh nhân sa sút trí tuệ [31].
Các nghiên cứu trên các mô hình động vật gây suy giảm trí nhớ cũng chỉ ra rằng
dịch chiết bạch quả có tác dụng cải thiện trí nhớ. Nghiên cứu của El Tabaa trên chuột
gây suy giảm trí nhớ bằng bisphenol A cho thấy nhóm dùng EGb 761 liều 4 mg/kg
cho thấy tác dụng cải thiện trí nhớ trên các thử nghiệm mê lộ nước Morris, mê lộ chữ
Y và mô hình nhận diện đồ vật và đồng thời tăng đáng kể hoạt tính SOD và giảm
đáng kể NO và MDA ở vùng hồi hải mã của chuột [30]. Nghiên cứu của Wei Zu Li
17