Tải bản đầy đủ (.pdf) (123 trang)

Tính cộng đồng của doanh nhân trẻ Hà Nội : Luận văn ThS. Tâm lý học: 60 31 80

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.28 MB, 123 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN DIỆU HƯƠNG

Ơ

TÍNH CỘNG ĐỒNG
CỦA DOANH NHÂN TRẺ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Hà Nội - 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN DIỆU HƯƠNG

Ơ

TÍNH CỘNG ĐỒNG
CỦA DOANH NHÂN TRẺ HÀ NỘI

Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Tâm lý học
Mã số: 60.31.80

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hữu Thụ

Hà Nội - 2013


2


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU

3

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN TÍNH CỘNG ĐỒNG CỦA DOANH

7

NHÂN TRẺ HÀ NỘI

1.

Tổng quan nghiên cứu tính cộng đồng của doanh nhân

7

1.1.

Một số nghiên cứu tính cộng đồng của các nhà tâm lý học

7

ngoài nƣớc
1.1.1. Nghiên cứu tính cộng đồng của các nhà tâm lý học phƣơng


7

Tây
1.1.2. Nghiên cứu tính cộng đồng của các nhà tâm lý học Xô Viết
1.2.

Một số nghiên cứu tính cộng đồng của các nhà tâm lý học

8
9

trong nƣớc
2.

Một số vấn đề lý luận tính cộng đồng và tính cộng đồng của

19

doanh nhân trẻ
2.1.

Khái niệm cộng đồng

19

2.2.

Khái niệm tính cộng đồng

19


2.3.

Khái niệm doanh nhân

21

2.4.

Khái niệm tính cộng đồng của doanh nhân trẻ Hà Nội

23

2.5.

Một số đặc điểm tâm lý - xã hội của doanh nhân trẻ Hà Nội

24

2.6.

Cơ sở pháp lý của việc xây dựng tính cộng đồng của doanh

26

nhân trẻ Hà Nội
3.

Biểu hiện tính cộng đồng của doanh nhân trẻ Hà Nội


32

4.

Các yếu tố ảnh hƣởng tới tính cộng đồng của doanh nhân trẻ

36

Hà Nội
Tiểu kết chƣơng 1

44

CHƢƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5

45


1.

Một vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu

45

2.

Tổ chức nghiên cứu


51

3.

Phƣơng pháp nghiên cứu

52

4.

Tiêu chí và thang đo tính cộng đồng của doanh nhân trẻ Hà

58

Nội
Tiểu kết chƣơng 2

60

CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN

61

1.

Thực trạng tính cộng đồng của doanh nhân trẻ

61

1.1.


Tính cộng đồng của doanh nhân trẻ biểu hiện qua nhận thức

61

1.2.

Tính cộng đồng của doanh nhân trẻ biểu hiện qua xúc cảm,

70

tình cảm
1.3.

Tính cộng đồng của doanh nhân trẻ biểu hiện qua hành động

76

2.

Thực trạng mức độ tính cộng đồng của doanh nhân trẻ

80

3.

Các yếu tố ảnh hƣởng tới tính cộng đồng của doanh nhân trẻ

87


4.

Một số biện pháp tâm lý - xã hội nhằm tăng cƣờng tính cộng

88

đồng của doanh nhân trẻ
5.

Phân tích chân dung tâm lý của một số doanh nhân trẻ điển

88

hình
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

94

1.

Kết luận

94

2.

Kiến nghị

95


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

97

Phụ lục 1: Bộ công cụ nghiên cứu

100

Phụ lục 2: Câu hỏi phỏng vấn sâu về hợp tác tƣơng trợ

110

Phụ lục 3: Số liệu thống kê chi tiết (chọn lọc)

111

Phụ lục 4: Biên bản quan sát

120

6


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang

Bảng 1.1

Đặc điểm của khách thể nghiên cứu


62

Bảng 1.2.

Đánh giá của doanh nhân về trách nhiệm xã hội

63

Bảng 1.3.

Nhận thức của doanh nhân về nghề kinh doanh và hoạt

67

động kinh doanh tư nhân
Bảng 1.4.

Mối tương quan trong đánh giá nhận thức của doanh

69

nhân trẻ theo tiêu chí nhân khẩu và doanh nghiệp
Bảng 1.5.

Tính cộng đồng của doanh nhân trẻ Hà Nội thể hiện

71

qua tình cảm, xúc cảm đối với đồng nghiệp, với xã hội
Bảng 1.6.


Tình cảm, xúc cảm của doanh nhân trẻ Hà Nội đối với

72

khách hàng
Bảng 1.7.

Mối tương quan trong đánh giá tình cảm, xúc cảm của

74

doanh nhân trẻ theo tiêu chí nhân khẩu và doanh
nghiệp
Bảng 1.8.

Tính cộng đồng của doanh nhân trẻ Hà Nội thể hiện

77

qua hành động đối với tập thể, cộng đồng
Bảng 1.9.

Tính cộng đồng của doanh nhân trẻ Hà Nội thể hiện

78

qua hành động đối với cá nhân
Bảng 1.10.


Mối tương quan trong đánh giá hành động của doanh

79

nhân trẻ theo tiêu chí nhân khẩu và doanh nghiệp
Bảng 1.11.

Tính cộng đồng của doanh nhân trẻ Hà Nội biểu hiện
qua nhận thức, xúc cảm/tình cảm và hành động

4

80


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong năm năm trở lại đây, với hàng loạt khó khăn của nền kinh tế như
lạm phát cao (2007 - 2008), ảnh hưởng khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh
tế thế giới (2009), đã có nhiều dự báo không sáng sủa về khu vực kinh tế tư
nhân: hàng loạt doanh nghiệp sẽ phá sản, khối doanh nghiệp tư nhân mới hình
thành có thể tan rã… nhưng thực tế chứng minh doanh nghiệp tư nhân có một
sức sống rất dẻo dai, mãnh liệt.
Theo bản báo cáo “đánh giá nhanh chất lượng của khu vực kinh tế tư
nhân Việt Nam qua quá trình mười năm thực hiện luật doanh nghiệp”của tổ
công tác thi hành luật doanh nghiệp và đầu tư thì số lượng doanh nghiệp đăng
ký thành lập hàng năm tăng nhanh. Tuy nhiên, số doanh nghiệp tồn tại được
trên thực tế được ước tính xấp xỉ 50% và tỷ lệ này là thấp so với mức trung
bình trên thế giới.
Tại hội nghị sơ kết thực hiện nghị quyết Trung ương 5 (khóa 5) về “tiếp

tục đổi mới cơ chế, chính sách khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh
tế tư nhân” diễn ra tại Hà Nội, ủy viên Bộ chính trị, Thường trực Ban Bí thư
Trương Tấn Sang đã đánh giá cao về sức tăng trưởng của khu vực kinh tế tư
nhân: “Kinh tế tư nhân đã phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Đã
thu hút được các nguồn lực vào sản xuất, kinh doanh tạo thêm việc làm, tăng
thu cho ngân sách nhà nước, góp phần tích cực vào tăng trưởng nhanh của
nền kinh tế” Không có nhiều doanh nghiệp tư nhân bị phá sản trong suy thoái
như dự báo, trái lại, số lượng doanh nghiệp đăng ký, thành lập mới vẫn đạt
mức tăng trưởng trung bình 22%/năm.
Những con số do ông Ngô Văn Dụ, chánh văn phòng Trung ương Đảng
nêu tóm tắt về tình hình phát triển khu vực kinh tế tư nhân trong bảy năm qua
đã cho thấy những hiệu quả to lớn của khu vực này: nộp ngân sách tăng từ 6%
7


năm 2002 lên trên 11% năm 2008; đóng góp 46,9% vào GDP cả nước, tạo
việc làm cho trên 50% số lao động cả nước. Chỉ riêng 3 năm 2007 - 2009, số
doanh nghiệp tư nhân thành lập mới tăng 1,5 lần về số lượng và gấp 5 lần về
vốn đăng ký so với giai đoạn 2000 - 2005. Tổng số vốn đăng ký giai đoạn
2000 - 2008 của khu vực kinh tế tư nhân là 2.110 ngàn tỷ đồng, lớn hơn cả
tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng trong giai đoạn này. Một thống kê
khác của bộ Kế hoạch và đầu tư cho thấy, trong tổng số 500 doanh nghiệp lớn
nhất Việt Nam, số lượng doanh nghiệp tư nhân chiếm 24% năm 2008 và tăng
rất nhanh lên 30% năm 2009.
Trong điều kiện sản xuất, kinh doanh rất khó khăn trong 3 năm qua, và
so với những lợi thế của khu vực kinh tế nhà nước thì sự tăng trưởng đó rất có
ý nghĩa. Rõ ràng, trong điều kiện thuận lợi hơn, và nếu được đối xử công
bằng hơn khu vực kinh tế tư nhân sẽ còn phát triển rất mạnh mẽ và đóng góp
hơn rất nhiều vào sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Chỉ nói về vấn đề
giải quyết việc làm thôi, theo phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng,

hiện nay đã có gần nửa triệu doanh nghiệp tư nhân và nếu đến năm 2015 tăng
lên 1,2 triệu, mỗi doanh nghiệp chỉ cần tuyển dụng từ 12 đến 15 lao động
thôi, thì đã tạo việc làm cho khoảng 15 triệu - 20 triệu lao động. Chỉ riêng con
số này đã cho thấy tầm quan trọng lớn đến thế nào của khu vực kinh tế tư
nhân.
Với khu vực kinh tế ngoài như nước hầu như không có hội nghị, hội thảo
nào để lắng nghe và giải quyết vướng mắc cho các doanh nghiệp khu vực này.
Chính vì vậy rất cần những nghiên cứu mang tính khoa học về tính cộng
đồng của doanh nhân, đặc biệt là doanh nhân trẻ tại Hà Nội trong giai đoạn
khủng hoảng kinh tế hiện nay.

8


2. Đối tƣợng, khách thể nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu: Tính cộng đồng của doanh nhân thể hiện qua nhận
thức, xúc cảm và hành động của họ.
2.2. Khách thể nghiên cứu: 100 doanh nhân trẻ trong các doanh nghiệp tư
nhân nhỏ và vừa tại Hà Nội và chuyên gia kinh tế, lãnh đạo Hội doanh nghiệp
trẻ Hà Nội.
3. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn nội dung: khảo sát thực trạng, biểu hiện tính cộng đồng của
doanh nhân trẻ thông qua thông qua nhận thức, xúc cảm, tình cảm và hành
động của doanh nhân.
- Giới hạn địa bàn nghiên cứu: nghiên cứu được thực hiện với doanh
nhân trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa có độ tuổi từ 18 đến 45 tuổi
tại Hà Nội.
4. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận, thực trạng tính cộng đồng của doanh nhân trẻ Hà
Nội, các yếu tố ảnh hưởng đến tính cộng đồng này. Từ đó, đề xuất các biện

pháp tâm lý - xã hội nhằm nâng cao tính cộng đồng của doanh nhân trẻ Hà
Nội hiện nay.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một số vấn đề về lý luận về tính cộng đồng của doanh nhân
trẻ Hà Nội. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính cộng đồng này.
- Khảo sát thực trạng tính cộng đồng trong doanh nhân trẻ Hà Nội.
- Đề xuất biện pháp tâm lý - xã hội nhằm nâng cao tính cộng đồng của
doanh nhân trẻ tại Hà Nội.
6. Giả thuyết khoa học
Tính cộng đồng của doanh nhân trẻ Hà Nội hiện nay khá thấp. Tính cộng
đồng này phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan, trong
9


đó yếu tố chủ quan (như là: phẩm chất con người trong môi trường kinh
doanh: năng lực, tư duy, sự kiên trì, khả năng sáng tạo, thông minh, sắc
sảo…; doanh nhân được đào tạo bài bản về kinh doanh: kỹ năng đàm phán thuyết phục, quản lý nhân sự, quản lý tài chính, kỹ năng lập kế hoạch, kỹ
năng giao tiếp, kỹ năng bán hàng…) là quan trọng nhất. Nguyên nhân là do
phần lớn các doanh nhân trẻ Hà Nội đều xuất thân từ nông dân, mang nặng
tâm lý tiểu nông, tư duy manh mún, cục bộ, ảnh hưởng rất nhiều đến tính
cộng đồng của họ.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản.
- Phương pháp chuyên gia.
- Phương pháp điều tra viết bằng bảng hỏi.
- Phương pháp phỏng vấn sâu.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp phân tích chân dung tâm lý
- Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học.


10


Chƣơng 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH CỘNG ĐỒNG
CỦA DOANH NHÂN TRẺ TẠI HÀ NỘI

1. Tổng quan nghiên cứu tính cộng đồng của doanh nhân
1.1. Một số nghiên cứu tính cộng đồng của các nhà tâm lý học ngoài nước
1.1.1. Nghiên cứu tính cộng đồng của các nhà tâm lý học phương Tây
G.Hofstede (1980) (người Hà Lan) trong nghiên cứu tới hơn một trăm
nghìn nhân viên của hàng IBM ở 66 quốc gia, đã phát hiện ra bốn khía cạnh
của các biến thể văn hóa: khoảng cách quyền lực, né tránh bất định, tính cá
nhân và nam tính. Dựa vào kết quả nghiên cứu, tác giả lập một “bản đồ” có
hai cực đối nhau về tính cộng đồng và tính cá nhân. Cách tiếp cận này của
Hofstede thể hiện lối tư duy phương Tây và tỏ ra hạn chế, giản lược, xem
cộng đồng/cá nhân như một khía cạnh mang tính đối lập. Theo ông, các xã
hội theo xu hướng cộng đồng nhấn mạnh ý thức về cái “chúng ta”, sự đồng
nhất tập thể, cộng đồng, sự phụ thuộc về mặt cảm xúc, đoàn kết trong nhóm,
chia sẻ, trách nhiệm và bổn phận, nhu cầu về tình bạn ổn dịnh, quyết định
nhóm và có tính đặc thù.
Schwartz cho rằng trong những điều kiện nhất định thì tính cộng đồng
thể hiện qua các mối quan hệ là rất quan trọng (như trong gia đình), còn trên
thương trường chẳng hạn, thì các nguyên tắc theo xu hướng cá nhân có thể
được chấp nhận.
Nghiên cứu của W.Gudykunst, Y.Yoon và T.Nishida (1987) cho thấy
rằng những người theo xu hướng cộng đồng chú ý nhiều hơn tới sự khác biệt
giữa nhóm nội và nhóm ngoại. Một số tác giả khác cũng tranh luận rằng
những người theo xu hướng cộng đồng thường hay hợp tác và giúp đỡ thành

viên của nhóm nội hơn nhưng lại thường hay cạnh tranh và ít giúp đỡ thành
viên nhóm ngoại. Tầm quan trọng của sự hài hòa trong nhóm nội đối với
11


những người theo xu hướng cộng đồng đã được chứng minh. K.Leung (1987)
chỉ ra rằng, khi xung đột, những người theo xu hướng cộng đồng thích thương
thuyết và thích dùng người trung gian hòa giải hơn rất nhiều so với những
người theo xu hướng cá nhân (giải quyết xung đột).
1.1.2. Nghiên cứu tính cộng đồng của các nhà tâm lý học Xô Viết
Tâm lý học Xô Viết thường đề cập đến tính cộng đồng trong khuôn khổ
các nghiên cứu về lối sống. E.V.Sorokhova (1987) trong bài “Lối sống xã hội
chủ nghĩa và tâm lý học về con người”. Các nghiên cứu này đã nêu ra những
đặc điểm con người theo lối sống xã hội chủ nghĩa bao gồm: phục vụ xã hội;
phát triển toàn diện năng lực; trách nhiệm với xã hội; tương trợ lẫn nhau; tính
nhân văn đích thực trong tất cả các mối liên hệ xã hội. Lối sống xã hội chủ
nghĩa mà Sorokhova nói tới là lối sống dựa trên nền tảng của chủ nghĩa tập
thể, định hướng tập thể trong đó con người hành động vì lợi ích của tập thể,
cộng đồng. Đối với các nhà xã hội học và tâm lý học Xô Viết thì yếu tố cơ
bản quyết định về chất của lối sống là mối liên hệ và tương tác lẫn nhau giữa
tính tập thể và tính cá nhân. Khi bàn về nhân cách và lối sống, Sorokhova cho
rằng tính tập thể, cộng đồng là một đặc trưng tâm lý xã hội cơ bản của con
người Xô Viết. Mối quan hệ của con người với thế giới bên ngoài, với những
người khác và với chính bản thân mình đều được phản ánh trong đó. Sự xuất
hiện mang xu hướng cộng đồng này là kết quả của một cuộc đấu tranh để thay
thế cái cũ vốn được hình thành qua nhiều thế kỷ. Biểu hiện của lối sống mang
định hướng cộng đồng ở Liên Xô, thời kỳ những năm 1960, 1970 của thế kỷ
trước là quan hệ hợp tác, tương trợ lẫn nhau giữa những người nông dân.
Kể từ khi Liên Xô sụp đổ, nước Nga đã có nhiều thay đổi mang tính chất
bước ngoặt. Trong số các công trình tâm lý học liên quan đến tính tập thể,

cộng đồng trong tâm lý học Xô Viết, trong chuyên khảo “Tâm lý học tập thể”
A.I.Donxop (1984) cho rằng tính cố kết là vấn đề đáng quan tâm nhất trong
12


mối quan hệ giữa cá nhân và nhóm. Theo ông, hành động hợp tác là biểu hiện
chủ yếu của nhóm, biểu hiện tính cố kết của nhóm. Hợp tác không chỉ là mối
liên hệ tương hỗ khách quan trong các hoạt động chung của các thành viên
trong nhóm mà còn là một dạng động cơ đặc biệt: vì lợi ích chung. Cùng với
hành động hợp tác, vấn đề quan trọng thứ hai biểu hiện tính cố kết là sự tương
đồng về định hướng giá trị và cách nhìn nhận. Tác giả cho rằng “sự tương
đồng về các định hướng giá trị, tâm thế, quan điểm là cơ sở của lực hút người
này với người khác hoặc với cả nhóm về mặt tổng thể.
Theo C. Vlachoutisicos trong “Tính cộng đồng Nga - Một quả đấm vô
hình trong quá trình biến đổi của nước Nga” thì người Nga có tính cộng đồng
khá cao, có nguồn gốc từ thế kỷ IX cho đến nay. Điều kiện thiên nhiên khắc
nghiệt và tình trạng phân tán, biệt lập của các làng ở vùng nông thôn đã làm
người Nga phải liên tục đối phó với những khó khăn và rủi ro. Cuộc sống khó
khăn kéo dài đã làm cho nhóm có ưu thế hơn cá nhân, vì sự sinh tồn của cả
cộng đồng. Biểu hiện của tính cộng đồng đầu tiên là trong dòng tộc, sau đó là
cộng đồng nông thôn rồi tới tổ chức hợp tác của những người thợ và đến tận
nghị viện thời Sa Hoàng đệ nhị đầu thế kỷ XX. Truyền thống của tính cộng
đồng được tiếp diễn cả dưới thời Xô Viết qua phong trào tập thể hóa, tuy tính
chất có khác đi. Tác giả phân tích một số mặt tích cực của tính cộng đồng
Nga, cũng đi sâu cả những hạn chế do nó gây ra trong quá trình chuyển đổi
của nước Nga hiện nay. Như vậy, điều kiện sinh thái (cả về mặt xã hội lẫn địa
lý) của các cộng đồng dân cư có liên quan trực tiếp tới tính cộng đồng của họ.
1.2. Một số nghiên cứu tính cộng đồng của các nhà tâm lý học trong nước
Có nhiều cách tiếp cận khi bàn luận và nghiên cứu về tính cộng đồng ở
người Việt Nam, nhưng nhìn chung có thể chia làm ba cách: cách tiếp cận xã

hội - lịch sử, cách tiếp cận xã hội - văn hóa và cách tiếp cận nhân cách.

13


Theo GS. Phan Huy Lê, tính cộng đồng thể hiện trong toàn bộ đời sống
của người nông dân Việt Nam thời kỳ trung đại. Còn tác giả Trần Đình Hượu
lại cho rằng, chính sự ổn định lâu dài của làng là cơ sở để tính cộng đồng làng
ngày càng được duy trì và củng cố. Đi đôi với tính cộng đồng làng là ý thức
về cá nhân và sở hữu không phát triển cao.
Các nghiên cứu ở trong và ngoài nước về người Việt Nam đều thống
nhất một điểm: người Việt Nam có tính cộng đồng. Phần lớn người Việt Nam
sống ở đầu thế kỷ XX thì cuộc sống ở cộng đồng làng xã là sự mô phỏng cuộc
sống gia đình. Sự gắn két của người Việt Nam đối với nhà (gia đình) được lặp
lại bởi sự gắn kết của họ với làng. Các sợi dây ràng buộc người Việt Nam đối
với làng của họ cũng vững chắc gần như các sợi dây ràng buộc họ với gia
đình…
Trong cuốn “Tâm lý cộng đồng làng và di sản” của Đỗ Long và Trần
Hiệp (Nhà xuất bản Khoa học xã hội - H.1993), tâm lý cộng đồng trước đây
từng là chỗ dựa tinh thần mạnh mẽ, đáng tin cậy và đồng thời nó cũng tạo ra
một sức ép to lớn, một sức ỳ trì trệ đối với sự phát triển nhân cách, thì ngày
nay chúng ta phải làm gì để khẳng định vị trí và vị thế của mỗi người trong sự
nghiệp giải phóng cá nhân và phải tạo lập cho họ những điều kiện như thế nào
để từ đó có thể trở thành những chủ thể độc lập, tự do thực sự trên con đường
phát triển.
Tinh thần cộng đồng, tâm lý cộng đồng là một đặc điểm trong tâm thức
của người Việt Nam. Đặc điểm ấy thể hiện ở các tầng bậc từ vi mô đến vĩ mô,
từ lịch đại đến đương đại. Tình cảm cộng đồng là một nhân tố tạo thành năng
lực phối kết hợp. Mục tiêu, điều kiện, phương thức, kết quả chiến đấu đã đòi
hỏi mọi người phải phát huy năng lực sáng tạo không chỉ của tập thể mà chính

bản thân mình. Trí tuệ, ý chí, tình cảm, năng lực cộng đồng ở con người nếu
còn những hạn chế ở lĩnh vực kinh tế xã hội, sản xuất kinh doanh, thì lại có
14


khả năng và điều kiện bộc lộ ở lĩnh vực chiến đấu và chuẩn bị chiến đấu. Đó
cũng là những nét đặc thù của tâm lý cộng đồng làng nói chung.
Đặc tính nổi bật nhất của văn hóa Việt Nam là tính cộng đồng, được hình
thành và ổn định trong quá trình lịch sử. Tính cộng đồng là một nét tính cách
lớn của người Việt Nam. Điều đáng lo nhất của người Việt Nam là bị cộng
đồng lên án, dị nghị. Khi tính cộng đồng được đề cao thì tính cá nhân của con
người bị mờ nhạt. “Cái tôi” đứng đằng sau “cái ta” dể tăng sức mạnh và do đó
trách nhiệm cá nhân, “cái tôi” cá nhân không có điều kiện bộc lộ. Yếu tố cộng
đồng trong tính cách làng xã đã chi phối toàn bộ và tạo ra nguyên tắc sống
bình quân chủ nghĩa, “xấu đều hơn tốt lỏi”. Đây cũng là một nhân tố kìm hãm
cá nhân có năng lực phát triển. Chủ nghĩa bình quân ngày càng tăng, củng cố
thêm nét đố kỵ, nhỏ nhen của người tiểu nông và làm cho người ta níu kéo
nhau dẫn tới chỗ phải tự kiềm chế “cái tôi”, cái cá nhân, năng lực cũng như
lợi ích, ham muốn chính đáng để chúng không lộ hình. Tính cộng đồng của
con người biểu hiện đến mức chỉ đề cao cái đặc trưng. “Phép vua thua lệ
làng” là một biểu hiện của tính cục bộ. Trong lịch sử Việt Nam, trong tính
cách của người tiểu nông, yếu tố cộng đồng trùm lên yếu tố cá nhân về mọi
phương diện (đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội) kìm hãm sự phát triển toàn
diện nhân cách con người.
Tính cộng đồng biểu hiện trước hết trong gia đình rồi mới đến làng hay
nước. Hầu hết các tác giả như Đào Duy Anh, Trần Quốc Vượng, Phan Huy
Lê, Trần Đình Hượu, Đỗ Long, Trần Ngọc Thêm… đều bày tỏ quan điểm
(trực tiếp hay gián tiếp) nhất trí rằng tính cộng đồng là một đặc điểm nổi trội
của người Việt Nam, của văn hóa Việt Nam.
Nghiên cứu của Lê Văn Hảo (16) về tính cộng đồng, tính cá nhân của

người dân Hà Nội, đã chỉ ra một số khía cạnh về mặt nội dung và đặc điểm cơ
bản của tính cộng đồng/cá nhân biểu hiện ở người dân Hà Nội. Kết quả
15


nghiên cứu này bước đầu giúp hiểu biết sâu hơn, cụ thể hơn một trong những
đặc điểm tâm lý - xã hội được coi là căn bản của con người Việt Nam hiện
nay. Trong giai đoạn đất nước đang có nhiều thay đổi, các hiểu biết sâu sắc
hơn về con người Việt Nam lúc này mang ý nghĩa thiết thực trong việc phát
triển nguồn lực. Có hiểu về thế giới nội tâm mới phát huy được nội lực và sức
mạnh của sự hợp tác, tương trợ. Trong một mức độ nhất định, kết quả nghiên
cứu cũng cho phép so sánh tính cộng đồng/cá nhân ở Việt Nam với các nước
khác trong khu vực và thế giới, để hiểu con người Việt Nam tốt hơn. Trên cơ
sở lý luận và thực tiễn, nghiên cứu đã đưa ra một số kiến nghị theo hướng tiếp
cận khoa học, khắc phục tính phiến diện thiên lệch trong nhìn nhận về tính
cộng đồng/cá nhân; có thể đưa ra một số hệ quả theo hướng sử dụng điểm
mạnh và khắc phục điểm yếu của tính cộng đồng/cá nhân.
Tính cộng đồng của người Việt dưới góc nhìn xã hô ̣i - văn hóa (17)
Cộng đồng dân tộc Việt: Qua nhiều thiên niên kỷ, dân tộc Việt đã hình
thành và tự khẳng định hai quá trình lịch sử tiến triển song song: quá trình
chung đúc các tộc người Môngôlôit và Nêgrôit ở bên trong, và quá trình tiếp
biến văn hóa với các nền văn hóa từ ngoài vào (acculturation). Mỗi nền văn
hóa bao gồm nhiều giá trị được biểu tượng hóa (tín hiệu hóa) chi phối tư duy,
ứng xử và giao tiếp trong một cộng đồng, khiến cộng đồng ấy không giống
những cộng đồng khác.
Các nhà nghiên cứu Việt Nam đều thống nhất là giá trị văn hóa chủ yếu
của người Việt là tính cộng đồng với nghĩa là tinh thần cộng đồng dân tộc.
Xin điểm qua sự biến diễn của tính cộng đồng Việt qua các thời kỳ lịch sử và
dấu ấn tích cực hoặc tiêu cực của nó cho đến nay.
Thời kỳ hình thành cộng đồng Việt với văn hóa Đông Nam Á (Thiên

niên kỷ thứ 1 trước Công nguyên). Bản sắc dân tộc (văn hóa) Việt hình thành
ở lưu vực sông Hồng, vào thời kỳ đồ đồng Đông Sơn, thuộc nền văn minh lúa
16


nước Đông Nam Á. Không ít người nước ngoài, một số thanh niên Việt Nam,
kể cả một vài người trí thức Việt kiều, cho là không có bản sắc Việt vì trong
sinh hoạt ngày nay, ăn, mặc, ở, chữ viết, tín ngưỡng… chỉ thấy toàn Tây, Tàu,
Ấn Độ, Mỹ v.v… kể cả tác phẩm dân tộc: Kiều cũng là của Tàu. Nghĩ như
vậy là không đi sâu vào quy luật biến diễn của văn hóa và ảnh hưởng của tiếp
biến văn hóa khiến cho không có nền văn hóa nào thuần khiết, kể cả các nền
văn hóa lớn.
Do địa lý, lịch sử, người Việt đã phải sớm tập hợp nhau chống lại thiên
tai và ngoại xâm nên tính cộng đồng cao. Tính cộng đồng này, qua hàng
nghìn năm, được nuôi dưỡng bởi nhiều giá trị văn hóa tạo ra những truyền
thống gắn bó người dân, có những yếu tố văn hóa này, như một nhà nghiên
cứu Nhật nhận định: “Giống như gió; chúng ta sống trong gió nhưng không
nhìn thấy gió”. Xin điểm qua một vài yếu tố văn hóa từ thời xa xưa vẫn in
đậm dấu cho đến ngày nay ít ai ngờ.
Tính cộng đồng gia đình lấy miếng trầu truyền thống làm biểu trưng.
Một đám cưới hiện đại vẫn không thể bỏ lễ trầu và câu nhắc nhở nghĩa tình.
Tính cộng đồng dân tộc còn được tăng cường qua ngôn ngữ, tín ngưỡng và lối
sống nông dân lúa nước, còn tồn tại cho đến ngày nay mặc dù có những thay
đổi về hình thức do vận động nội tại và ảnh hưởng ngoại lai. Cái cốt vẫn
không mất.
Ngôn ngữ là công cụ hiệu quả để lưu truyền văn hóa cộng đồng. Có
những cộng đồng dân tộc (như Do Thái, Phần Lan) rất lâu không có lãnh thổ
ổn định mà vẫn vững bền do ngôn ngữ. Tiếng Việt, tuy bị pha đến 60-70% từ
gốc Hán, vẫn là yếu tố văn hóa quan trọng đối với cộng đồng Việt, chống lại
Hán hóa, Pháp hóa, Mỹ hóa… Không phải vô cớ mà Hồ Chí Minh dịch Croix

Rouge là Chữ Thập đỏ thay cho Hồng Thập tự. Tiếng Việt mang một đặc thù
không biết có ngôn ngữ nào khác trên thế giới có không; tính cộng đồng dân

17


tộc (kinship) mạnh đến mức ta không có đại từ ngôi thứ nhất và thứ hai chung
cho mọi người (như je, vous tiếng Pháp; I, you tiếng Anh…) mà phải dùng
tiếng xưng hô trong thân tộc thay: anh, chị, em, bố, mẹ, chú, bác…
Tín ngưỡng là yếu tố tâm linh gắn bó cộng đồng. Cadière có lý khi nhận
định tôn giáo thực của người Việt là tín ngưỡng bản địa từ xa xưa, mang tính
vật linh. Ta thờ thần, thánh, ma, quỷ… như Thần đạo Nhật Bản. Nhiều tục thờ
cúng tồn tại đến ngày nay (cúng Tổ tiên, thờ Mẫu…) gốc từ thời Thượng
cổ… có những làng còn vết tích tín ngưỡng phồn thực.
Lối sống nông dân lúa nước, qua mấy nghìn năm, đã tạo ra cho cộng
đồng một phong vị độc đáo, mặc dù có quá trình hiện đại hóa, 70% dân vẫn ở
nông thôn. Trồng lúa vẫn là cơ bản, kỹ thuật trồng trọt cải tiến nhiều nhưng
vẫn từng ấy khâu.
Văn hóa ẩm thực phát triển, du nhập nhiều cái mới, nhưng những món
ăn cổ truyền vẫn được ưa chuộng: nước mắm, mắm tôm, tương, cà, thịt cầy,
rau muống, riêu cua, bún ốc… các lễ hội mùa xuân đề cao cộng đồng làng xã.
Đặc biệt, Tết thể hiện rõ nét nhất bản sắc dân tộc Việt (ý kiến ông Borje
Lunggren, nguyên đại sứ Thụy Điển ở Việt Nam). Ngày Tết, tất cả các người
Việt - ở trong và ngoài nước - đều cảm thấy sâu sắc hòa nhập trong cộng đồng
Việt.
Tính cộng đồng của người Việt trong thời kỳ tiếp biến văn hóa Trung
Quốc (179 tr.CN-1858)
Ta tiếp biến văn hóa Trung Quốc qua giai đoạn 1000 năm Bắc thuộc và
giai đoạn 900 năm các vương triều độc lập. Khi hai nền văn hóa giao tiếp, nền
văn hóa bản sắc yếu hơn bị mất nhiều ít, có thể bị tiêu hủy. Bản sắc văn hóa

Việt Đông Sơn đủ mạnh để tồn tại và phát triển. Vậy về tính cộng đồng, ta
mất gì và được gì? Cũng nên nhận định ngay là trong lĩnh vực phức tạp con
người và văn hóa, cái được, cái mất nhiều khi không thể rạch ròi, cái mất có
khi lại là nguyên nhân cái được và ngược lại, do tác động biện chứng.
18


Sự xâm nhập của văn hóa Hán sông Hoàng Hà là một cú “sốc” đối với
văn hóa Việt - sông Hồng. Ta mất nhiều giá trị văn hóa bản địa là chất keo
gắn bó dân tộc. Điển hình cho tính chất tàn khốc của chính sách Hán hóa là
những biện pháp tiêu diệt văn hóa đời Minh, thế kỷ XV: đốt sách vở thư tịch,
đưa sang Trung Quốc những trí thức và thợ giỏi… Nghịch lý là chính sự áp
bức bóc lột đã gián tiếp nâng cao tính cộng đồng Việt: hàng chục cuộc chiến
và nổi dậy đã khiến cho dân tộc đoàn kết mạnh mẽ. Hơn nữa, qua cuộc cọ xát,
xung đột với văn hóa Hán, bản sắc dân tộc Việt đã được mài dũa để tự khẳng
định mạnh mẽ, đối lập Nam (Việt) với Bắc (Hán). Khổng giáo và Phật giáo du
nhập có mặt phá hoại tín ngưỡng bản địa Việt, nhưng dần dần kết hợp với nó,
do vậy mà củng cố thêm tính cộng đồng người Việt.
Mặt khác, Nho học tăng cường tính cộng đồng dân tộc do đào tạo những
con người có nhân cách, biết đạo làm người, đặc biệt là có tư tưởng yêu nước.
Thí dụ, thời Pháp thuộc, có nhiều thế hệ Nho học cương quyết đấu tranh vì
độc lập dân tộc (các thế hệ Văn thân, nhà Nho duy tân lớp trước với Phan Bội
Châu, Phan Chu Trinh, lớp sau như Hồ Chí Minh - Tân học có Nho học như
Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Khắc Viện).
Phật giáo cùng cả Tam giáo, kết hợp với tín ngưỡng bản địa, là nền tảng
tâm linh tăng cường tính cộng đồng người Việt. Người dân thường không cần
hiểu biết triết lý sâu xa về sắc không; họ tìm đến ông Bụt để có nguồn an ủi.
Làng nào cũng có đình thấm nhuần trật tự Nho học, chùa thờ Phật từ bi, như
vậy thực hiện thăng bằng giữa lý trí và tình cảm. Có một thực tế là mặc dù
triết học Phật giáo xa lánh việc đời, tránh sát sinh nhưng các nhà sư và Phật tử

tham gia đánh giặc giữ nước, nêu cao tinh thần cộng đồng. Phải chăng do dấu
ấn thiền tông hay do ảnh hưởng Nho giáo vào Phật giáo?
Tính cộng đồng Việt trong thời kỳ tiếp biến văn hóa Pháp (1858-1945)

19


Tính cộng đồng của người Việt thời kỳ Pháp thuộc tăng và giảm thế
nào? Đây là thời kỳ hiện đại hóa, tức là Tây phương hóa (westernization) lần
thứ nhất, với ảnh hưởng văn hóa phương Tây chủ yếu đối với thị dân. Ít nhiều
đô thị hóa và công nghiệp hóa phá vỡ tính cộng đồng, tách riêng thành thị và
nông thôn (bị coi là nhà quê lạc hậu). Mới đầu những nhà Nho phản ứng
chống lại văn hóa “bút chì” để giữ lại “bút lông”.
Nhưng từ những năm 20, giáo dục và văn hóa “bút chì” với quốc ngữ và
tiếng Pháp đã ngự trị, mang thêm ít nhiều tính khoa học và dân chủ cho văn
hóa Việt. Chỉ tiếc là cho đến nay gần một thế kỷ, ta bỏ hẳn chữ Nho, cả
nghiên cứu Hán Nôm cũng chưa làm được mấy để khai thác thư tịch Hán Nôm đồ sộ. Ta cũng bỏ nghiên cứu Khổng học đã từng là tinh hoa văn hóa
cộng đồng Việt hàng bao thế kỷ và hiện vẫn là động lực phát triển của Trung
Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc v.v… Nhưng kết cục, qua tiếp biến văn hóa Pháp,
cộng đồng Việt vẫn giữ được bản sắc và thêm phong phú.
Trước hết, chính sách thực dân áp bức bóc lột thậm tệ khiến cho các tầng
lớp nhân dân (kể cả một bộ phận tư sản, địa chủ) đoàn kết, phát huy truyền
thống yêu nước phục vụ cách mạng. Lý tưởng Cách mạng Pháp 1789 và chủ
nghĩa Mác du nhập vào Việt Nam đã đổi mới tinh thần yêu nước và vũ trang
cho phong trào yêu nước những tư tưởng và đường lối hiện đại.
Tư tưởng dân chủ phương Tây được du nhập bao hàm cả tự do cá nhân.
Yếu tố này phá hoại tính cộng đồng thân tộc truyền thống Khổng học, đòi hỏi
hôn nhân tự do và chống lại gia đình gia trưởng phong kiến. “Cá nhân” (theo
khái niệm triết học) do phương Tây tạo ra. Đưa vào Việt Nam, nó đã tạo ra
dòng văn học lãng mạn của cái Tôi và Thơ mới vào những năm 30.

Tiến hóa luận của các trường phái dân tộc học cũ đã được chủ nghĩa thực
dân sử dụng để tự biện minh (khai hóa các dân tộc chậm tiến). Ý đồ thực dân
chủ yếu là khai thác thuộc địa. Nhưng qua tiếp biến văn hóa, cộng đồng Việt
20


đã tạo ra những giá trị văn hóa mới (khoa học tự nhiên và xã hội, văn nghệ, tổ
chức xã hội, chính trị…) để xây dựng một cộng đồng mạnh hơn từ 1945.
Tính cộng đồng Việt được gì và mất gì trong giai đoạn này?
Cái được vô cùng lớn là giành và giữ được độc lập, qua cách mạng tháng
Tám và hai cuộc kháng chiến. Đặc biệt từ những ngày khởi nghĩa tháng Tám
1945 đến đầu những năm 50: người Việt nói chung không còn cảm thấy hố xa
cách giàu nghèo, sang hèn, giai cấp. Địa chủ hiến đất, tư sản hiến vàng, dân
công tải gạo, tải đạn, nông dân chia xẻ nhà với người tản cư, trong làng đêm
ngủ không cần đóng cửa. Tính cộng đồng Việt lên đến điểm cao qua mấy
chục năm xương máu. Trong giai đoạn này cũng hình thành nền văn hóa dân
tộc, khoa học và đại chúng (gắn tri thức với đại chúng).
Trong giai đoạn từ Đổi mới (1986) đến nay, Việt Nam được đánh dấu
bởi toàn cầu hóa, khu vực hóa (gia nhập ASEM, 1995), và gia nhập khối Pháp
ngữ. Sự hòa nhập này khiến cộng đồng người Việt đứng trước khả năng mạnh
hơn nhưng sẽ khó khăn.
Việc đuổi theo kinh tế các nước Đông Nam Á, không tụt hậu - cạnh
tranh trong toàn cầu hóa, chính sách Đổi mới là chìa khóa mở đường giải
quyết các vấn đề trên. Toàn cầu hóa nói chung có lợi cho các nước giàu và hại
cho các nước nghèo, mặc dù cũng đưa lại cho các nước này những cơ may (do
điện tử hóa, thông tin, giao thông phát triển). Muốn gia nhập một thế giới gắn
liền văn hóa và kinh tế, cộng đồng Việt phải vừa có khả năng hòa nhập vào
cái chung, vừa mang lại được cho cái chung nét riêng của mình. Cộng đồng
Việt muốn thành công về kinh tế, phải bảo tồn được và phát triển bản sắc văn
hóa Việt.

Tính cộng động của người Việt (hiểu theo nghĩa rộng: tính cộng đồng
dân tộc Việt, lòng yêu nước) là một đặc điểm của bản sắc dân tộc. Ta chưa đi
sâu nghiên cứu đặc tính của nó và so với tính cộng đồng của các dân tộc khác.
21


Nghiên cứu cộng đồng Việt kiều ở ngoài nước có thể giúp ta hiểu thêm cộng
đồng dân tộc Việt nói chung.
- Trong tính cộng đồng dân tộc Việt, dường như tính cộng đồng gia đình
là quan trọng nhất. Điều này thấy rõ ở những gia đình Việt kiều ở Mỹ: Điển
hình sự thành công của gia đình người Việt ở Mỹ là: 5-6 năm đầu bố mẹ đi
làm cật lực để cho con cái đi học, con cũng ra sức học tập để đền bù lại; và
sau gia đình trở nên khá giả. Tính cộng đồng này thường cũng mở rộng ra gia
đình lớn rồi mới đến gia tộc và đồng hương. Theo nghiên cứu của Y. Higuchi,
trình tự quan trọng trong quan hệ xã hội của người Việt là: 1. gia đình; 2. bạn
bè; 3. trong lao động; của người Nhật là: 1. bạn bè; 2. gia đình; 3. trong lao
động.
- Do tính cộng đồng Việt nặng về gia đình - gia tộc, quê hương, nhẹ mở
ra đến dân tộc (trừ trường hợp chống ngoại xâm, thiên tai…), nên sự đoàn kết
giúp đỡ nhau ở nước ngoài của cộng đồng Việt kiều kém Hoa kiều hay Do
Thái (nhất là về mặt làm ăn, doanh nghiệp).
Người Hoa và người Do Thái có kinh nghiệm sống lưu vong, muốn tồn
tại phải đặt quyền lợi cộng đồng dân tộc lên trên chính kiến. Người ta kể lại là
tại các chợ Tàu ở Mỹ có những cửa hàng cạnh nhau bán sách báo, một bên
trưng bày ảnh Mao Trạch Đông, một bên ảnh Tưởng Giới Thạch. Họ buôn
bán hòa thuận với nhau, Hoa kiều hai bên có hai tờ báo khác nhau, tổ chức hai
ngày Quốc khánh, tránh xô xát để nước chủ nhà chấp nhận.
- Riêng cộng đồng Việt ở Mỹ hàng năm gửi về nhà hơn 2 tỷ đôla. Sự
đóng góp có thể hơn nữa, ấy là chưa kể về chất xám và vốn doanh nghiệp…
Để tranh thủ cộng đồng Việt kiều cần tạo điều kiện để nó thành bộ phận hữu

cơ với người Việt trong nước. Ta càng ngày càng có những biện pháp đúng
đắn nhưng vẫn chưa đủ, nhất là về mặt tư tưởng - văn hóa (luôn gắn với
kinh tế).
22


2. Một số vấn đề lý luận tính cộng đồng và tính cộng đồng của doanh
nhân trẻ
2.1.

Khái niệm cộng đồng
C.Marx và F.Angghen khẳng định rằng: “chỗ nào tồn tại một mối quan

hệ nào đó thì mối quan hệ ấy tồn tại đối với tôi. Động vật không có quan hệ
với cái gì cả và nói chung không có quan hệ gì hết”. Quan hệ với tư cách là
quan hệ chỉ thực sự hình thành và tồn tại ở con người, các cộng đồng người,
trong xã hội loài người. Đó là những quan hệ kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn
hóa, đạo đức, pháp lý, tâm lý. Hoạt động kết hợp của nhiều cá nhân được
quan niệm là hoạt động cộng đồng, hoạt động tập thể. Các cộng đồng xã hội,
các dân tộc khi đã trưởng thành đều hiện ra như là chủ thể của hoạt động của
giao tiếp.
Cộng đồng có thể hiểu là sự kết hợp lại của các cá nhân. Mối quan hệ
này phụ thuộc vào trình độ phát triển về lực lượng sản xuất, phân công lao
động và những mối quan hệ bên trong và bên ngoài của nó.
2.2.

Khái niệm tính cộng đồng
Trong tiếng Anh từ “communal” (xuất phát từ danh từ “community)

được hiểu theo nghĩa là “tính tập thể, cộng đồng”.

Tác giả Nguyễn Hồng Phong cho rằng tâm lý tập thể - cộng đồng là
một biểu hiện rất nổi bật của người Việt truyền thống, là một cá tính đặc sắc
của nhân dân ta. Tác giả cho rằng tính cách dân tộc và tâm lý dân tộc là một.
Điểm cốt lõi của tính tập thể - cộng đồng đó là mục tiêu, lợi ích tập thể - cộng
đồng được ưu tiên, được coi trọng, tất cả là vì người khác, hướng tới người
khác.
Tác giả Trần Ngọc Thêm định nghĩa “tính cộng đồng là sự liên kết các
thành viên trong làng lại với nhau, mỗi người đều hướng tới những người
khác - nó là đặc trưng dương tính, hướng ngoại”. Theo cách hiểu này mỗi
23


người trong cộng đồng đều hướng tới người khác, vì người khác thì kết quả là
sẽ có sự liên kết ở cấp độ làng. Rõ ràng đây là tính cộng đồng làng, cấp độ
nhóm lớn. Đó là hiện tượng tâm lý - văn hóa rất quan trọng nhưng nó lại
không cho phép ta hiểu rõ về tính cộng đồng trong nhóm nhỏ như gia đình.
Phương pháp nghiên cứu trong tâm lý học rất khó tiếp cận từ “cái nhìn hệ
thống - loại hình” như trên.
Trên bình diện tâm lý học, tác giả Đỗ Long quan niệm “tính cộng đồng
là một đặc trưng tâm lý xã hội của nhóm, thể hiện năng lực phối hợp, kết hợp
ở sự thống nhất của các thành viên trong hành động và làm cho các quan hệ
qua lại của các hoạt động diễn ra một cách nhịp nhàng nhất”. Theo quan niệm
này thì tính cộng đồng là một đặc trưng tâm lý của nhóm. Đó là một đặc điểm
tâm lý của một cộng đồng gồm nhiều cá nhân kết hợp lại. Nhờ có đặc điểm
chung ấy mà các hoạt động của nhóm được thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn.
Đặc trưng tâm lý này của tính cộng đồng khác về chất so với tổng của các đặc
trưng tâm lý của từng cá nhân trong nhóm cộng lại. Gần đây một số nhà
nghiên cứu trên thế giới đề xuất dùng khái niệm “vốn xã hội” hay “tư bản xã
hội” (social capital) để chỉ một đặc điểm tâm lý của nhóm do đoàn kết, nhất
trí và sự hợp tác hiệu quả trong hoạt đông chung tạo ra. Đó là cái cốt lõi của

tinh thần cộng đồng của một nhóm hoặc của cả một dân tộc.
Nói chung, nếu một người có nhận thức, có định hướng giá trị và hành
động ứng xử ưu tiên cho mục đích của nhóm cộng đồng hơn là mục đích của
cá nhân thì người đó mang tính cộng đồng hay chính xác hơn là xu hướng
cộng đồng.
Theo H.Triandis thì tính tập thể, cộng đồng là xu hướng của con người
ưu tiên cho:
- Cách nhìn nhận, nhu cầu và mục đích của nhóm nội hơn là bản thân.
- Chuẩn mực xã hội và bổn phận do nhóm nội xác định hơn là hành
động tạo sự vui sướng cho bản thân.
24


- Niềm tin làm mình hòa chung với nhóm nội hơn là niềm tin phân biệt
mình với nhóm nội.
- Sự sẵn sàng hợp tác với thành viên nhóm nội.
- Gắn bó về mặt cảm xúc với nhóm nội.
Từ những phân tích trên đây, chúng tôi cho rằng tính cộng đồng là xu
hướng hướng tới người khác, tập thể, cộng đồng được thể hiện trong nhận
thức của cá nhân; ưu tiên, coi trọng các giá trị tập thể, cộng đồng hơn các
giá trị cá nhân; trong hành động hợp tác, giúp đỡ chia sẻ với người khác, ứng
xử và trong xúc cảm là sự gắn bó với tập thể, cộng đồng hơn là với cá nhân.
2.3.

Khái niệm doanh nhân: Trong suốt một thời gian dài, ở nước ta cũng

như các nước xã hội chủ nghĩa trước đây khái niệm về doanh nhân ít được
bàn đến trong khoa học xã hội. Những năm gần đây, cùng với sự gia tăng
mạnh mẽ của các doanh nghiệp, khái niệm doanh nhân được nhắc đến trong
nhiều công trình nghiên cứu.

Theo từ điển “Bách khoa toàn thư” của Việt Nam: “Doanh nhân là người
làm nghề tổ chức sản xuất kinh doanh, cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho thị
trường, đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng”.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay của nền kinh tế nước ta, khái niệm
doanh nhân vẫn còn là một khái niệm mở, thu hút sự quan tâm, bàn luận của
nhiều nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn.
Theo ông Nguyễn Đức Thạc, doanh nhân là chủ sở hữu cá nhân đối với
vốn - tiền bạc, tài sản, trí tuệ và cả quyền lực trong hoạt động chủ đạo sản
xuất, buôn bán để đạt được sự gia tăng không ngừng về lợi nhuận. Nói cách
khác, doanh nhân là những người lấy hoạt động kinh doanh làm hoạt động
chủ đạo và thực sự làm chủ các quan hệ kinh tế trong các cơ sở sản xuất, các
doanh nghiệp, từ quan hệ sở hữu đến quan hệ điều hành và quan hệ phân phối.

25


Theo ông Phùng Xuân Nhạ, ở nước ta hiện nay, doanh nhân được hiểu là
một cộng đồng xã hội. Hầu hết doanh nhân được hình thành trong thời kỳ đổi
mới, gồm nhiều nhóm, nhiều người thuộc giai tầng khác nhau (có nhóm đạt
các tiêu chí của giai cấp hoặc tầng lớp tư sản dân tộc mới, có nhóm đạt mức
trung lưu, cũng có nhóm doanh nhân nghèo, có bộ phận còn là tiểu thương,
nông dân hoặc trí thức…) hợp thành. Cộng đồng doanh nhân không giống
nhau về địa vị xã hội, về quan hệ và quy mô sở hữu, về quyền quản lý, điều
hành, về mức độ và quy mô thu nhập và khác nhau về trình độ học vấn. Vậy
có thể coi doanh nhân là một cộng đồng xã hội những người làm nghề kinh
doanh.
Doanh nhân - từ này bắt nguồn từ tiếng Pháp “entreprendre” có nghĩa
là “đảm nhận” hay “hoạt động”. Do đó một doanh nhân thường được dùng
để chỉ những người chấp nhận rủi ro để khởi đầu một công việc kinh doanh
nhỏ.

Tuy nhiên khi cân nhắc việc trước đây (khoảng vài thế kỉ trước), các
doanh nhân tập thể bao giờ cũng có nhiều ảnh hưởng hơn bất kì một chính
phủ quốc gia nào và được dễ dàng coi như là “những nhà sáng tạo ra thế giới
hiện đại” thì định nghĩa này vẫn chưa đầy đủ.
Thế nào là một doanh nhân? Một trong những định nghĩa đầy đủ về
doanh nhân bao gồm các yếu tố sau : 1. Phối hợp những lợi thế đang có theo
một cách mới và hiệu quả hơn; 2. Tạo ra nhiều giá trị hơn từ những nguyên
liệu thô và nhân lực và trước đây bị coi là vô ích; 3. Cải thiện những gì đã
xuất hiện với việc sử dụng các kĩ thuật mới; 4. Di chuyển tài nguyên kinh tế
ra khỏi khu vực năng xuất thấp tới khu vực sản xuất hiệu quả và lớn hơn; 5.
Có phương pháp tìm kiếm và hưởng ứng lại những nhu cầu chưa được thoả
mãn và các đòi hỏi của khách hàng (18).

26


×