Tải bản đầy đủ (.pdf) (112 trang)

Tìm hiểu phong trào Công giáo kháng chiến ở Nam Bộ (1945-1954) : Luận văn ThS. Lịch sử: 60 22 54

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.55 MB, 112 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------

NGÔ QUỐC ĐÔNG

TÌM HIỂU PHONG TRÀO CÔNG GIÁO
KHÁNG CHIẾN Ở NAM BỘ (1945-1954)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội - 2010


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------

NGÔ QUỐC ĐÔNG

TÌM HIỂU PHONG TRÀO CÔNG GIÁO
KHÁNG CHIẾN Ở NAM BỘ (1945-1954)

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 54

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa hoc: GS. TS. ĐỖ QUANG HƯNG

Hà Nội - 2010




Mục Lục
Trang
MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 3
Chương 1: VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ CÔNG GIÁO NAM BỘ ..................10
1.1. Lược sử quá trình hình thành cộng đồng Công giáo tại
Nam Bộ ......................................................................................................... 10
1.2. Sự phát triển của Công giáo Nam Bộ dưới thời Pháp thuộc ..... 16
1.2.1. Lịch sử chia tách các địa phận tại Nam Bộ ................................. 16
1.2.2. Sự phát triển của Công giáo ở Nam Bộ đến 1945 ........................ 18

1. 3. Đặc trưng cơ bản của Công giáo Nam Bộ và ảnh hưởng
của nó tới phong trào Công giáo kháng chiến (1945 - 1954) .............. 23
1.4. Công giáo Nam Bộ trong bối cảnh chính trị Việt Nam
(1945-1954) .................................................................................................... 29
Chương 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TỔ CHỨC
CỦA PHONG TRÀO CÔNG GIÁO KHÁNG CHIẾN NAM BỘ ....... 34
2.1. Đoàn Công giáo cứu quốc và các hoạt động Công giáo yêu
nước những ngày đầu cách mạng tháng Tám ....................................... 34
2.1.1. Vai trò của đoàn Công giáo cứu quốc trong những ngày đầu
cách mạng ................................................................................................. 34
2.1.2. Đoàn Công giáo cứu quốc tại Nam Bộ ......................................... 35

2.2. Liên đoàn Công giáo Nam Bộ ............................................................ 39
2.2. 1. Vài dòng lịch sử đáng lưu ý trong quá trình thành lập Liên
đoàn Công giáo Việt Nam ........................................................................ 39
2.2. 2. Quá trình thành lập Liên đoàn Công giáo Nam Bộ .................... 40
2.2. 3. Mấy phân tích về vấn đề chính trị đảng phái được đề cập
trong Liên đoàn ........................................................................................ 44

2.2. 4. Sơ lược cơ cấu tổ chức .................................................................. 45
2.2. 5. Tìm hiểu thái độ của các giám mục với việc thành lập Liên
đoàn Công giáo Nam Bộ.......................................................................... 46
1


2.2. 6. Liên đoàn Công giáo đoàn kết với kháng chiến ........................... 49

2.3. Công giáo kháng chiến Nam Bộ ........................................................ 52
3.2.1 Quá trình thành lập ....................................................................... 52
2.3.2. Hoạt động trong khó khăn thử thách............................................ 56

Chương 3: HOẠT ĐỘNG YÊU NƯỚC CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO
NAM BỘ TRONG KHÁNG CHẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
(1945-1954) .................................................................................................. 62
3.1. Các linh mục Công giáo Nam Bộ với kháng chiến ....................... 62
3.1.1.Vai trò của linh mục ....................................................................... 62
3.1.2. Những gương mặt tiêu biểu ........................................................... 66

3.2. Sự tham gia của giáo dân .................................................................... 73
3.2.1. Giáo dân với kháng chiến .............................................................. 73
3.2.2. Một số giáo dân tiêu biểu ............................................................... 76

3. 3. Một số hình thức và nội dung đấu tranh cụ thể của phong
trào Công giáo kháng chiến Nam Bộ ....................................................... 78
3.3.1. Tố cáo tội ác của thực dân Pháp đối với Công giáo và nhân
dân Việt Nam ............................................................................................ 78
3.3.2. Lên án Bảo Đại .............................................................................. 79
3.3.3.Ủng hộ Chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh .............................. 81
3.3.4. Đấu tranh bằng báo chí ................................................................. 82

3.3.5. Đấu tranh công khai và hoạt động bí mật .................................... 84

KẾT KUẬN................................................................................................... 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................... 92
PHỤ LỤC ...................................................................................................... 101

2


MỞ ĐẦU
1. Mục đích, ý nghĩa đề tài
Bầu không khí vui vẻ sau cách mạng tháng Tám chưa được bao lâu thì bóng
đen ảm đạm đã bao trùm trở lại. Ngày 23/09/1945 thực dân Pháp nổ súng tiến công
trở lại Sài Gòn. Ngày 19/12/1946 chúng tái chiếm Bắc Bộ. Trong kháng cuộc kháng
chiến đó, vấn đề Công giáo có mối quan hệ mật thiết với vấn đề đoàn kết dân tộc. Từ
lâu một câu hỏi nghiên cứu luôn được đặt ra: người Công giáo giữ một vị trí, vai trò
như thế nào trong việc tìm cách giải quyết tốt đẹp mối quan hệ đó ?
Lâu nay nhiều người tìm cách trả lời câu hỏi trên. Những thắc mắc vẫn còn đó.
Các công bố chỉ được phố biến tản mát hoặc ở diện hẹp. Vấn đề nghiên cứu vẫn còn
“mở.”
Luận văn này nhằm mục đích nghiên cứu Công giáo yêu nước ở Nam Bộ chủ
yếu qua việc tiếp cận phân tích tổ chức và các hoạt động tiêu biểu của người Công
giáo Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954).
Cuộc tái chiếm Việt Nam, thực dân Pháp đã lợi dụng triệt để vấn đề Công giáo
Nam Bộ cho mục đích kích động chia rẽ đoàn kết dân tộc của chúng. Trên thực tế vấn
đề Công giáo với dân tộc trở nên hết sức nhạy cảm và phức tạp, đặc biệt vùng Sài Gòn
là nơi tập trung nhiều đồng bào Công giáo sinh sống. Từ đó đã hình thành hai dòng
“trong”, “đục” chảy trái ngược với nhau đó là: Công giáo yêu nước, ủng hộ, tham gia
kháng chiến và xa lánh dân tộc không đồng hành cùng dân tộc, đi ngược lại mong mỏi
và lợi ích của dân tộc. Vì vậy, nghiên cứu Phong trào Công giáo kháng chiến Nam Bộ

(1945-1954), sẽ giúp chúng ta tổng kết khách quan một vấn đề lịch sử vốn dĩ rất nhạy
cảm. Đồng thời, rút ra được những bài học kinh nghiệm của vấn đề này sẽ là nguồn
căn cứ tin cậy, giúp cho việc xây dựng, điều chỉnh những chính sách hợp lý để ngăn
chặn sự phá hoại của những kẻ lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng, tiếp tục khẳng
định sự gắn kết Công giáo với dân tộc trong những điều kiện lịch sử mới, giúp cho
chúng ta đánh giá Phong trào Công giáo yêu nước tại Nam Bộ giai đoạn này một cách
khách quan khoa học hơn.
3


Ngoài việc giúp cơ quan quản lý những luận cứ lịch sử cụ thể về quan hệ của
Công giáo với kháng chiến, thì luận văn còn góp phần cung cấp tư liệu tham khảo cho
đồng nghiệp trong nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử Công giáo Việt Nam giai đoạn
(1945-1954).
Từ ý nghĩ trên, với cương vị của một học viên cao học, đang chập chững
những bước đi nghiên cứu đầu tiên, tôi mạnh dạn chọn "Tìm hiểu phong trào Công
giáo kháng chiến Nam Bộ (1945 - 1954)" làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
lịch sử của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quan hệ giữa đạo Công giáo với các phong trào đấu tranh của dân tộc từ lâu đã
trở thành một mảng đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều
ngành khoa học khác nhau: Tôn giáo học, Lịch sử, Triết học, Tâm lý học, Xã hội
học... Tiêu biểu phải kể đến những cuốn sách tham khảo giá trị như: Một số vấn đề về
lịch sử Thiên Chúa Giáo ở Việt Nam của tác giả: Đỗ Quang Hưng do trường Đại học
Tổng hợp Hà Nội xuất bản năm 1991, ngoài ra tác giả còn có một bài nghiên cứu khác
rất giá trị như: Vấn đề Tôn giáo tín ngưỡng trong tư tưởng Hồ Chí Minh (Nghiên cứu
Tôn giáo số 1/1999); Tôn giáo và cách mạng (Nghiên cứu Tôn giáo số 4/2003) và đặc
biệt là công trình đồ sộ của tác giả vừa xuất bản với những thông tin tư liệu hết sức bổ
ích là: Vấn đề Tôn giáo trong cách mạng Việt Nam lý luận và thực tiễn (nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia, 2005). Bên cạnh đó tác giả Nguyễn Hồng Dương với Làng Công

giáo Lưu phương (Ninh Bình) từ năm 1929 đến 1945 (nhà xuất bản Khoa học xã hội
1997) cũng là một cuốn sách được nhiều người biết đến. Liên quan đến chủ đề Công
giáo chính trị tác giả Nguyễn Hồng Dương có Hoạt động Tôn giáo và chính trị của
Thiên Chúa Giáo Miền Nam thời kỳ Mỹ - Nguỵ (1954 - 1975). Ngoài ra phải kể đến
Nhà thờ Công giáo Việt Nam (nhà xuất bản khoa học xã hội 1999), Nghi lễ và lối sống
Công giáo trong văn hoá Việt Nam (2001)...
Hai cuốn hồi ký: Tâm sự tướng lưu vong của Hoành Linh Đỗ Mậu và Bên dòng
lịch sử của Cao Văn Luận cũng là những tư liệu nghiên cứu chủ đề Công giáo với dân
tộc một cách bổ ích. Đề cập đến chủ đề này cũng cần phải kể đến các cuốn: Tôn giáo
4


thế giới và Việt Nam của Mai Thanh Hải; Đạo Thiên chúa và chủ nghĩa thực dân ở
Việt Nam (1897 - 1945) của Cao Huy Thuần (Hương Quê, 1988); Tôn giáo và dân
tộc của Lý Chánh Trung (Sài Gòn, 1973). Một số vấn đề lịch sử đạo Thiên chúa trong
lịch sử dân tộc Việt Nam do Viện Khoa học xã hội (KHXH) và ban Tôn giáo xuất bản,
1988); Góp phần hiểu biết thêm lịch sử cận đại Việt Nam của tác giả Nguyễn Văn
Kiệm (Nxb Văn hóa Thông tin, 2003); Hiểu biết về Công giáo ở Việt Nam của Phạm
Thế Hưng (Nxb Tôn giáo 2005)....
Các công trình nghiên cứu của giới sử học Công giáo có liên quan đến chủ đề
Công giáo với dân tộc phải kể đến các tên tuổi với những bài viết giá trị sau: Trương
Bá Cần có: Công giáo với cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Việt Nam, in trên
Nguyệt san Công giáo và Dân tộc (NSCG&DT), số 6 tháng 6/1995; Người Công giáo
phận Vinh trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (1945 - 1975)
(NSGG&DT, số 17 , tháng 5/1996); Công giáo Việt Nam sau quá trình 50 năm (1945
- 1995) (Công giáo và Dân tộc xuất bản, 1996). Tác giả Thiện Cẩm có bài; Từ độc lập
của quốc gia đến độc lập của Tôn giáo (NSCG&DT, số 57, tháng 9/1999); Vương
Đình Chữ với bài: Từ thư chung 1951 đến thư chung 1980 (NSCG&DT, số 65, tháng
5/2000); Hương Khê với bài: Tự Kiểm và sám hối của Giáo hội Công giáo thế giới và
Giáo hội Công giáo Việt Nam (NSCG&DT, số 59 tháng 11/1999); Người Công giáo

Việt Nam với cách mạng mùa thu 1945 (NSCG&DT, số 57, tháng 9/1999)…
Về phạm vi liên quan đến đề tài Công giáo kháng chiến Nam Bộ (1945-1954)
đến hiện nay đã có một số công trình gián tiếp đề cập ít nhiều các thông tin như cuốn:
Giám mục Lê Hữu Từ của linh mục Đoàn Độc Thư và Xuân Huy, xuất bản tại Sài
Gòn năm 1972; Thập giá và lưỡi gươm của linh mục Trần Tam Tỉnh được nhà xuất
bản trẻ Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 1988. Đặc biệt có luận án tiến sĩ của
tác giả Trần Thị Liên, viết bằng tiếng Pháp tại Paris năm 1996, có nhan đề: "Người
Việt Nam Công giáo trong chiến tranh giành độc lập (1945 - 1954) giữa cuộc tái
chiếm thuộc địa và cuộc kháng chiến do cộng sản lãnh đạo”. Một phần nhỏ của luận
án này đã được tác giả Hương Khê dịch đăng trên NSCG&DT, số 17/1996. Tuy
nhiên, do hạn chế về mặt ngoại ngữ nên chúng tôi chưa lĩnh hội được trọn vẹn những
5


ý kiến bổ ích của chuyên gia này trong tác phẩm trên. Thiết nghĩ đây là một thiếu sót,
cần thêm tích luỹ về kinh nghiệm, tư liệu và ngoại ngữ.
Cũng cần phải kể đến Hữu Hợp - Tố Thanh với bài Vài nét về Công giáo Việt
Nam trong cuộc kháng chiến chống thực Pháp xâm lược (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử
(NCLS), số 1-2/1988); Hồ Thức Hoà: Công giáo trong cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp (1945-1954)-Luận văn Thạc sĩ năm 2001; Quang Toàn - Nguyễn Hoài:
Những hoạt động của bọn phản động đội lốt Thiên Chúa Giáo trong thời kỳ kháng
chiến (1945 - 1954) (Nxb Khoa học, Hà Nội, 1965); Quân khu ba - Lịch sử kháng
chiến chống thực dân Pháp (Nxb Quân đội nhân dân, 1990); Hà Nam Ninh chống
thực dân Pháp xâm lược 1945 - 1954...
Nghiên cứu trực tiếp về Công giáo kháng chiến Nam Bộ những năm qua đã có
một số bài, tiêu biểu nhất phải kể đến bài của Lê Văn Chánh đăng trên NSCG&DT số
97 tháng 1/2003 với tựa đề: Ngày xưa có một đoàn thể Công giáo yêu nước của Người
Công giáo tên là Công giáo kháng chiến Nam Bộ. Bên cạnh đó cũng phải kể đến bài
của Trần Hữu Hợp đăng trên tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 1/2004 có nói khái lược
về phong trào. Nguyễn Đình Đầu thì đưa ra những giá trị về mặt sử liệu qua các bài

viết trên tuần báo Công giáo và Dân tộc (chẳng hạn số 1520 tuần lễ từ 07/10 đến
13/10/2005). Lê Tiền Giang với cuốn Hồi ký về Công giáo kháng chiến Nam Bộ 1945
– 1954 cũng chứa đựng các giá trị tư liệu bổ ích khi nghiên cứu... Ngoài ra còn một số
khảo cứu, biên soạn, cũng như các bài báo liên quan khác ít nhiều đề cập đến chủ đề ở
các góc độ và chi tiết khác nhau...
Qua tiếp cận các nguồn tư liệu trên cho thấy: Nhìn chung các tác giả thường
quan tâm đến những khía cạnh khác nhau của vấn đề, chủ yếu đưa ra về mặt tư liệu,
sự kiện mà không đi sâu vào phân tích cụ thể diễn biến Công giáo yêu nước giai đoạn
1945 – 1954 cũng như các tổ chức của phong trào này. Vì vậy, có thể nói cho đến nay
nghiên cứu chủ đề Công giáo yêu nước ở Nam Bộ giai đoạn (1945 – 1954) vẫn chưa
trọn vẹn và đầy đủ. Luận văn này tiếp tục góp phần vào việc tìm hiểu đầy đủ cặn kẽ
vấn đề đặt ra.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
6


Đối tương nghiên cứu luận văn là tìm hiểu phong trào Công giáo kháng chiến
Nam Bộ (1945-1954). Tuy nhiên nghiên cứu về chủ đề này (đối tượng nghiên cứu) là
việc làm không hề đơn giản, đòi hỏi sự sâu sắc, trình độ hiểu biết, kinh nghiệm và tư
liệu. Vì vậy, luận văn không đặt mục tiêu trình bày tất cả mọi khía cạnh mà chỉ hệ
thống các tư liệu, nhìn nhận xem xét dưới góc độ lịch sử, qua đó đi vào chứng minh
phân tích những nét tiêu biểu nhất của phong trào Công giáo yêu nước Nam Bộ trong
kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), để rút ra những nhận xét kết luận cho
luận văn.
Phạm vi nội dung nghiên cứu của luận văn: Với chủ đề đã nêu tác giả luận văn
chỉ giới hạn xem xét vấn đề Công giáo với kháng chiến ở góc độ nhìn nhận thái độ và
hành động của người Công giáo Nam Bộ trong cuộc tái chiếm của thực dân Pháp.
Thái độ hành động ứng xử đó được phân tích theo một hướng chủ đạo là: Công giáo
yêu nước tham gia kháng chiến hoà nhập cùng dân tộc.
Luận văn không đề cập tới Công giáo với kháng chiến ở góc độ văn hoá, và đời

sống đạo, cũng như xu hướng Công giáo “li khai” với phong trào dân tộc.
Phạm vi không gian lịch sử: Về mặt địa lý, luận văn xin được giới hạn ở Nam
Bộ. Bởi lẽ đây là nơi có biểu hiện nổi bật nhất của phong trào Công giáo đồng hành
cùng dân tộc trên cả nước. Cùng thời điểm này, ngoài Nam Bộ, giai đoạn 1945 - 1954
còn có những vấn đề của Công giáo đồng bằng Bắc Bộ, khu IV, liên khu Việt Bắc. Do
đó khi nghiên cứu phân tích, luận văn có tham chiếu, so sánh ra ngoài phạm vi địa lý
Nam Bộ để chứng minh làm nổi bật chủ đề nghiên cứu được đặt ra.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu phong trào Công giáo yêu nước ở Nam Bộ trong kháng chiến
chống Pháp là sự cần thiết phải kế thừa các nhà nghiên cứu đi trước. Tác giả chủ yếu
khai thác sử dụng nguồn tư liệu khai thác từ lưu trữ, từ sách báo và những bài viết của
nhiều nhà nghiên cứu đi trước đăng trên các tạp chí chuyên ngành. Phương pháp tiếp
nghiên cứu sử dụng trong luân văn là phương pháp lịch sử, cụ thể là tiếp cận sự kiện
Công giáo qua lịch sử. Ngoài ra các kỹ năng như phân tích, chứng minh, tổng hợp, so
sánh... cũng được sử dụng chủ yếu trong luận văn.
7


Cơ sở lý luận: Dựa trên cơ sở khách quan khoa học và những quan điểm của
Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng như tư tưởng Hồ Chí Minh về Tôn giáo để tác giả
triển khai thực hiện luận văn này.
5. Đóng góp mới của luận văn
Luận văn có những đóng góp mới sau đây:
- Khai thác một số tư liệu mới đầy đủ hơn chủ yếu qua nguồn lưu trữ, báo chí,
hồi ký về chủ đề Công giáo yêu nước tại Nam Bộ.
- Chứng minh làm nổi bật được các hoạt động tiêu biểu của phong trào Công
giáo yêu nước ở Nam Bộ 1945-1954.
- Tiếp cận diễn biến của phong trào qua phân tích nội tại tổ chức của nó.
6. kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, chú giải, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn, có

kết cấu 3 chương, như sau:
Chương 1: VÀI NÉT KHÁI QUÁT CÔNG GIÁO NAM BỘ
Trong chương này tác giả chỉ trình bày tóm tắt về Công giáo Việt Nam và nêu
ra vài đặc điểm của Công giáo có liên quan đến phong trào Công giáo kháng chiến tại
Nam Bộ 1945-1954. Phần này chỉ mang tính chất dẫn dắt nhập đề.
Chương 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TỔ CHỨC CỦA
PHONG TRÀO CÔNG GIÁO KHÁNG CHIẾN TẠI NAM BỘ
Chương này là chương chính của luận văn tác giả khảo sát quá trình hình
thành, phát triển về mặt tổ chức của phong trào Công giáo kháng chiến Nam Bộ.
Chương 3: HOẠT ĐỘNG YÊU NƯỚC CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO NAM
BỘ TRONG KHÁNG CHẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945-1954)
Đây cũng là phần nội dung chính của luận văn. Tác giả tập trung chứng minh,
phân tích những hoạt động tiêu biểu nhất của phong trào Công giáo kháng chiến tại
Nam Bộ (1945-1954). Sự diễn biến được khảo sát theo 3 hướng chính song hành là:
8


Sự tham gia kháng chiến của linh mục Công giáo; Sự tham gia của giáo dân và một số
nội dung và dạng thức hoạt đông của phong trào. Với mỗi phần, tác giả sẽ chia thành
những mục, tiết nhỏ, để chứng minh rõ ràng, nổi bật vấn đề qua từng giai đoạn.
Là một đề tài không dễ bởi vì khó khăn tìm kiếm và tiếp cận các nguồn tư liệu,
hơn nữa mới được làm quen với chủ đề, cho nên sai lầm, khiếm khuyết chắc khó tránh
khỏi. Chúng tôi rất mong mỏi được các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn; các
bạn đồng nghiệp và các nhà nghiên cứu lâu năm góp ý cởi mở và chân thành nhất, qua
đó mong được học hỏi kinh nghiệm, kiến thức, tập dượt tay nghề và tìm ra những
hướng giải quyết tốt nhất cho chủ đề nghiên cứu mà chúng tôi đã lựa chọn.
Luận văn tốt nghiệp này chỉ có thể hoàn thành được khi có sự giúp đỡ tận tình
của bàn bè và đồng nghiệp, đặc biệt dưới sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của GS. TS
Đỗ Quang Hưng, một người thầy đã giúp đỡ tôi rất nhiều về tư liệu cũng ý tưởng để
có luận văn thạc sĩ lịch sử này. Qua đây, xin cho tôi gửi lời cảm ơn tới những cơ quan

đã giúp đỡ tôi trong quá trình tìm kiếm tư liệu để hoàn thành đề tài tốt nghiệp. Một lần
nữa, xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy Đỗ Quang Hưng.

Hà Nội, ngày 12 tháng 09 năm 2010
Tác giả

9


Chương 1: VÀI NÉT KHÁI QUÁT CÔNG GIÁO NAM BỘ
1.1. Lược sử quá trình hình thành cộng đồng Công giáo tại Nam Bộ
Thừa sai Labbé, thuộc Hội Thừa sai Paris, trong thư viết cho chủng viện của
Hội, đề ngày 04/09/1710, cho biết là có khoảng 2.000 người theo đạo Công giáo trong
số 20.000 cư dân Đàng Trong tới lập nghiệp tại Đồng Nai từ 35 đến 40 năm trước đó.
Như thế, theo như đoạn thư này viết thì người Công giáo đã có mặt tại Đồng Nai ít
nhất từ năm 1670.[53; 43]
Theo Trần Phổ thì vào năm 1720, tại Sài Gòn, một nhóm lưu dân Công giáo đã
qui tụ lại với nhau, góp tiền của để xây dựng một ngôi nhà thờ nhỏ. Số tín đồ Công
giáo này đã tập hợp nhau tại xóm Nhân Giang, gần một nơi họp chợ, sau này được gọi
là Chợ Quán. Năm 1725, họ đạo Chợ Quán đã có 300 bổn đạo. Số người theo đạo
kéo tới vùng Sài Gòn mỗi lúc một đông. Vào năm 1730, một ngôi nhà thờ khác đã
được cất lên tại “một trung tâm buôn bán cũng ở trong vùng và không cách xa lắm,
tức nhà thờ Chợ Lớn”. Vào năm 1740, họ đạo này đã có khoảng 1.000 tín đồ và lần
lượt các nhà thờ khác đã được cất lên tại Rạch Cát, vùng ngoại ô nhưng có thuyền bè
ra vào tấp nập, tại Bến Nghé, nay là Cầu Kho. Vào thời điểm 1744 số tín đồ Công
giáo tại Sài Gòn là khoảng 5.500, nửa ở thành phố, nửa ở vùng ruộng xa.[94; 48-49]
Lần theo các địa danh được ghi trong phúc trình, ký sự hay thư từ còn lưu lại
được về sinh hoạt của linh mục Jose Garcia, thừa sai dòng Phanxicô, tới Việt Nam và
hoạt động tại Quảng Ngãi từ 1719, được phái tới vùng Nam Bộ từ cuối năm 1722 và
hoạt động tại đây cho đến năm 1759, tác giả Trần Phổ đã thiết lập 7 khu vực có người

Công giáo lưu trú tại Nam Bộ vào những thập niên đầu của thế kỷ XVIII như sau:
Khu vực thứ nhất, là Sài Gòn, gồm nhà thờ Kính Thánh Giuse ở Chợ Quán, nhà thờ
Kính Đức Mẹ Mai Khôi ở Chợ Lớn, nhà thờ Kính Thánh Giá ở Bến Nghé và một nhà
nguyện ở Rạch Cát. Khu vực thứ hai, về phía Bắc thành phố, dọc theo sông Sài Gòn,
có một vài họ đạo và họ lớn hơn hết là Lái Thiêu. Năm 1739, họ Lái Thiêu đã có một
ngôi nhà thờ rộng và gần 400 bổn đạo. Về phía Tây Bắc cũng có một vài nhóm nhỏ lẻ
tẻ ở vùng Trảng Bàng. Khu vực thứ ba, khu vực này ở về phía Nam Sài Gòn, giữa ba
con sông: Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, Sài Gòn, ở giữa lại có 2 đường thuỷ: sông
10


Rạch Cát và sông Chợ Đệm. Ở khu vực này có nhiều họ nhỏ như Rạch Dừa, Rạch
Núi, Rạch Nhà Rầm, Cần Đước, Khúc Răng ở Nhà Bè, Rạch Chanh ở Cần Đước và
một họ ở gần Nhà Bè. Vì gần Sài Gòn, nên tất cả đều thuộc về trung tâm Chợ Quán,
chỉ có “bàn thờ” thôi. Tuy nhiên trước năm 1750 đã có một nhà thờ ở Ba Cụm và một
nhà nguyện ở Gò Đen. Khu vực thứ bốn, về phía Nam sông Vàm Cỏ Tây, dọc theo
những rạch nối liền sông này với sông Cửu Long, miền này ngày nay là kênh Chợ
Gạo, đã có hai nhóm giáo dân khá đông. Một nhóm ở phía Bắc, một nhóm ở phía
Đông dọc theo sông Trà và sông Rạch Lá. Ở chợ Rạch Lá, trước năm 1739 đã có hơn
300 giáo dân và một nhà thờ. Về phía Tây Chợ Gạo, cách sông Cửu Long chừng một
dặm, có một ấp gọi là Cà Bon, nay là Thủ Ngữ, năm 1739 đã có trên 200 giáo dân và
linh mục José đã cất cho họ một nhà thờ. Khu vực thứ năm, là bên kia bờ sông Cửu
Long, ngày nay là sông Mỹ Tho. Ở đây có những họ đạo rất xưa. Người có đạo đã đến
ở Cái Mơn và Cái Nhum từ năm 1700. Hai nơi này đều có nhà thờ. Theo một ký sự
viết năm 1751, số giáo dân ở Cái Mơn lên tới 900, ở Cái Nhum 600. Một số giáo dân
khác đi xuôi xuống miền biển, dọc theo hai bên bờ sống Hàm Luông, nhất là ở vùng
Ba Tri, ở đó trước năm 1730 đã có nhà thờ Cái Bông. Khu vực thứ sáu, dọc theo phía
Bắc bờ sông Mỹ Tho là một vùng hình tam giác, đỉnh Nam là Mỹ Tho, đỉnh Bắc là
Vũng Ngữ hoặc Tân An, đỉnh Tây là Cái Bè. Điều là ta ngạc nhiên là tại đây lại có
nhiều nhóm giáo dân đến ở, nhất là dọc theo kinh rạch nối liền Tân An, Mỹ Tho. Giáo

dân ở Vũng Ngữ (Tân An) có 100 người ở Thân Trong, Bến Tranh, Mỹ Tho, Rạch
Nam có nhà nguyện, Xoài Mục có nhà thờ và ở Cái Bè cũng có nhà nguyện. Ký sự có
nói đến một nhà nguyện ở Bưng Dung gần sống Ba Thắc và cha José Garcia thường
đi ghe qua lại trên sông Ba Thắc trong các chuyến đi thăm bổn đạo. Nhưng số người
Việt đến định cư trên phần đất hiện nay là hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh thì chưa có
bao nhiêu. Khu vực thứ bảy, là một địa điểm rất xa về phía Tây, nơi đây có tên là
Mang Khảm hoặc Cảng Khẩu; người Tây phương viết là Ham Kao, Kang Kao hay
Can Cao. Cuối thế kỷ XVII, một nhóm người Hoa ở Quảng Đông, do Mạc Cửu dẫn
đầu, kéo sang nơi đây, chiêu mộ lưu dân lập ra 7 xã. Tương truyền thấy tiên hiện ra
trên sông, nên đổi tên là Hà Tiên. Từ năm 1550 đã có một giáo sĩ dòng Đa Minh, tên
là Gaspar de Santa Cruz ở Malacca đáp tàu đến Hà Tiên nhưng không ở lại. Đầu thế
11


kỷ XVIII, trong số người Việt đến lập nghiệp với người Hoa ở Hà Tiên có vài giáo
dân. Lại có một số người Bồ Đào Nha ở Cao Miên sang đúc tiền, đúc súng cho họ
Mạc. Hai nhóm Công giáo này cất chung một nhà nguyện nhỏ. Linh mục José Garcia
đến Hà Tiên lần thứ nhất vào năm 1735. Có một người Công giáo Việt Nam, là tay
chân đắc lực tín nhiệm của Mạc Thiên Tứ xin phép ông cho cất một nhà thờ mới. Mạc
Thiên Tứ tán thành việc truyền giáo. Ông cho phép cất nhà thờ mới và mời linh mục
José lưu lại. Họ đạo Hà Tiên phát triển mau lẹ. Năm 1745 linh mục José cất một ngôi
nhà thờ mới tại đất Hà Tiên...[94; 52-53]
Vào thời điểm 1724, dưới thời chúa Minh, Nguyễn Phúc Chu, toàn giáo phận
Đàng Trong có khoảng 300 nhà thờ với hơn 70.000 tín hữu. Riêng kinh đô Phú Xuân
có 29 thừa sai ngoại quốc; 12 linh mục dòng Tên, 9 linh mục dòng Phanxicô, 6 thừa
sai Pháp và 2 thừa sai Ý. [46; 236] Tuy nhiên, hoạt động truyền giáo ở vùng đất Nam
Bộ, thì linh mục José Garcia là nhà truyền giáo duy nhất tại phía Nam Sài Gòn
Theo tác giả Trần Phổ thì một hoạt động quan trọng của linh mục José Garcia
là: “ Tìm người lưu dân có đạo phân tán lẻ tẻ khắp nơi. Và để tìm, cha có thói quen đi
bộ một mình, vai mạng bị, tay cầm gậy, qua các xóm, các ấp, các trại, các thuộc, các

nậu hẻo lánh xa xôi, ẩn khuất…Khi đến gần một xóm hẻo lánh xa xôi kia, cha nghe có
tiếng đọc kinh. Vui mừng và ngạc nhiên, cha khám phá ra một nhóm người có
đạo...Cha ở lại với họ nhiều ngày, thường trở lại thăm viếng và chỉ ít lâu sau một ngôi
nhà nguyện nhỏ được cất lên, những người có đạo đơn chiếc lẻ tẻ quanh vùng tập
trung về đó”[94; 55]. Đó cũng chính là cách thức hình thành các họ đạo Công giáo
vùng đồng bằng Nam Bộ vào thời kỳ vùng đất mới này đang được khai mở.
Những di dân người Việt có đạo Công giáo tới khẩn hoang và khai thác vùng
đất Nam Bộ. Các di dân người Việt có đạo Công giáo này là những nông dân, ngư dân
hay thương nhân của các tỉnh phía bác đã bỏ làng mạc ra đi, phần vì trốn lính, phần để
thử vận hội mới, hoặc vì không trả nổi thuế hay để tránh các thiên tai hay nạn đói
thường xuyên xảy ra tại các tỉnh phía Bắc Đàng Trong. Các di dân Công giáo tới lập
nghiệp tại vùng đất mới này còn là để tránh các vụ cấm đạo thường được thi hành một
cách gắt gao tại kinh đô và các tỉnh gần kinh đô. Trong khi đó tại vùng đất Nam Bộ,
12


ngay cả sau khi nhà Nguyễn đã tổ chức được nền cai trị tại đây, việc thi hành mệnh
lệnh cấm đạo công giáo của triều đình vẫn có phần lỏng lẻo. Mạc Thiên Tứ, Lê Văn
Duyệt hay dưới thời Tự Đức, các quan kinh lược Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh
Giản vẫn tỏ ra khoan dung, đại lượng đối với tín đồ theo đạo Công giáo ngay cả khi
triều đình đã ra sắc chỉ cấm đạo.
Tuy nhiên, việc định cư của các di dân Công giáo tại Nam Bộ vào buổi đầu
không ổn định lắm. Các cuộc chiến tranh xảy ra giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn từ
1771, đã phân tán các di dân theo đạo Công giáo cũng như các di dân khác tại Nam
Bộ và đẩy họ vào sâu trong các vùng hẻo lánh và hoang vắng. Tình hình của một số
họ đạo trong thời kỳ này được phản ánh là: nhiều họ đạo trước đây được cho là khá
đông nay chỉ còn một nửa, vì người thì chết vì gươm đạo, người thì chết vì đói khát,
người thì đi chinh chiến, người thì chạy sang các tỉnh khác.[53; 48]. Mặt khác, các
cuộc cấm đạo, tuy không diễn ra một cách gắt gao tại Nam Bộ trong thế kỷ XVIII và
nửa đầu thế kỷ XIX, nhưng cũng tạo ra bất ổn nơi các họ đạo. Một số tín đồ Công

giáo đã vào sâu trong các vùng hoang vắng như qua bên kia sông Hậu thành lập
những họ đạp mới như Cù Lao Giêng, Bó Ót, Cái Đôi, Năng Gù, Mỹ Luông…Hoặc
sang tả ngạn sông Cổ Chiên như Cái Bông, Bãi San. Thừa sai Arif viết về họ đạo Cái
Nhum như sau: “Họ đạo được thành lập vào cái thời người ta chọn những nơi hẻo
lánh nhất để làm nơi quy tụ người Công Giáo. Đó là thời người ta ghê sợ những kẻ
phản bội, những người anh em giả, thời người tín hữu nhận ra nhau nhờ những từ,
những dấu bí mật, thời các linh mục, ban ngày phải ẩn lánh còn ban đêm thì đi ban
phép bí tích và thăm viếng kẻ ốm đau”.[53; 49]
Do đặc điểm tình hình như trên nên phương thức hoạt động của các nhà truyền
giáo trên vùng đất Nam Bộ trong giai đoạn này là tìm kiếm, quy tụ những di dân Công
giáo tản mác đó đây để hình thành các họ đạo, xây cất nhà thờ.
Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua năm 1802, vì biết ơn giám mục Pigneau đã
giúp đỡ trong việc giành lại ngai vàng, nên vua Gia Long rất nhân nhượng với các
thừa sai Pháp, nhưng về cuối đời đã có những nghi ngờ và lo sợ trước sự có mặt và
ảnh hưởng của các thừa sai nước ngoài. Sang đời Minh Mạng, nhà vua đã thực hiện
13


chính sách cấm đạo Công giáo. Chính sách cấm đạo gắt gao của triều đình nhà
Nguyễn, nhất là dưới thời Minh Mạng và Tự Đức đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các
họ đạo Công giáo. Nhiều người đã đi vào vùng sâu hơn, xa hơn để lập nên những giáo
điểm, họ đạo mới.
Cuộc xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp vào giữa thế kỷ XIX làm tăng số
tín đồ Công giáo ở Nam Bộ nói chung và Sài Gòn nói riêng. Một số người Công giáo
đã đi tìm sự yên ổn bên cạnh quân viễn chinh Pháp. Sau khi bị quân Pháp chiếm đóng,
Sài Gòn và vùng lân cận đã trở thành nơi quy tụ mới của tín đồ theo đạo Công giáo.
Nhiều họ đạo đã được thiết lập xung quanh Sài Gòn. Khi quân Pháp rút khỏi Đà Nẵng
vào năm 1860, một số người theo đạo Công Giáo tại đây đã theo vào Sài Gòn và trở
thành những tín đồ đầu tiên của họ đạo Tân Định. Họ đạo Mỹ Tho được thành lập vào
các buổi đầu quân pháp chiếm tỉnh này, là nơi tị nạn của các tín đồ Công giáo từ các

tỉnh miền Tây kéo về.[53; 51]
Sau khi thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ và triều đình Huế ký hiệp ước Giáp
Thân (1884) công nhận sự đô hộ của Pháp, nước Việt Nam bị chia làm 3: Nam Kỳ là
đất thuộc địa, Bắc Kỳ nửa thuộc địa và Trung kỳ là đất bảo hộ. Công giáo được thực
dân Pháp cho tự do, công khai hoạt động. Theo Giáo hội Công giáo Việt Nam - Niên
giám 2004, các tác giả đã nhận định về sự phát triển của giáo hội Công giáo trong giai
đoạn này như sau “Số tín hữu tăng lên rất nhanh, nhiều họ đạo mới ra đời, các giáo
phận cũng được chia nhỏ cho phù hợp với tình hình số tín hữu tăng cao. Các cơ sở vật
chất như: toà giám mục, nhà thờ, nhà xứ, trường học, dưỡng lão viên, cô nhi viện
được xây dựng khắp nơi. Nhiều dòng tu từ Pháp hoặc các nước khác đã đến đặt cơ sở
tại Việt Nam.”[46; 198]
Số tín đồ Công giáo từ phía Bắc tới lập nghiệp ở vùng đất Nam Bộ và Sài Gòn
không dừng lại khi các cuộc bách hại Công giáo đã được chấm dứt. Mãi đến đầu thế
kỷ 20, thậm chí vào những năm 30 của thế kỷ 20, người ta vẫn thấy có những tín đồ
Công giáo từ những tỉnh phía Bắc tới lập nghiệp ở vùng đồng bằng Nam Bộ. Họ có
thể là những phu đồn điền, những người này, khi vào Nam Bộ, còn muốn liên lạc với
bà con của họ của phía Bắc, nên đã nhờ toà giám mục Sài Gòn tìm giúp địa chỉ. Ngày
14


20/02/1930, toà giám mục Sài Gòn đã ra thông báo trả lời chung rằng vì có nhiều
người Công giáo Bắc Kỳ đến làm việc ở Nam Kỳ và thường yêu cầu các linh mục
trong giáo phận giúp họ thư từ với cha xứ hay gia đình của họ ở miền Bắc và toà giám
mục Sài Gòn đã đăng một số địa chỉ các họ đạo của giáo phận Hà Nội.
Cũng vào thời điểm này, người ta thấy có nhiều họ đạo tiếp tục được thành lập
tại những vùng hoang vắng. Việc thành lập các họ đạo này được tổ chức dưới hình
thức di dân để khản hoang. Như việc thành lập họ Bàu Bèo là một thí dụ, họ đạo này
được xây dựng trên vùng đất nằm ở cuối kênh An Đức ăn lên và kênh Tân An đâm
qua. Đây vốn là một đồng cỏ lắm sình lầy, bị lụt hàng năm. Nhà nước thực dân đào
kênh để rút phèn nhưng dân chưa đến lập nghiệp. Sau có một đốc phủ bỏ vốn, qui

dân, lập ấp và xin lập một họ đạo lấy tên Bàu Bèo. Họ đạo có nhà thờ, nhà nuôi trẻ mồ
côi, bảo sanh, nhà thương, trường dạy học do các nữ tu Công Giáo phụ trách.
Theo Giáo hội Công giáo Việt Nam - Niên giám 2004, thì vào năm 1939, Nam
Kỳ (kể cả Kampuchia) có 168 giáo xứ có linh mục, 58 linh mục thừa sai, 208 linh
mục Việt Nam, 222.539 giáo dân so với dân số chung của vùng là 6.460.000 người.
Tỷ lệ giáo dân của Nam Kỳ so với dân số chung của vùng chiếm 3,44%.[46; 199]
Nghiên cứu về quá trình phát triển của Công giáo Nam Bộ, dựa trên số họ đạo
được thành lập trong từng giai đoạn, cho phép đưa ra nhận định sau: 1. Giai đoạn hình
thành, từ khi người Việt khai mở vùng đất mới này cho đến trước khi Gia Long lên
ngôi 1801, nhịp độ phát triển chậm, một ít họ đạo được thành lập ; 2. Giai đoạn dưới
thời nhà Nguyễn từ 1802 - 1884, một số họ đạo tiếp tục được hình thành nhưng không
nhiều; 3. Giai đoạn Pháp thuộc và tái chiếm từ 1885 - 1954, đây là thời kỳ phát triển
mạnh nhất của đạo Công giáo, đa số các họ đạo được thành lập trong giai đoạn này; 4.
Sang giai đoạn từ 1954 - 1975, nhịp độ phát triển của Công giáo Nam Bộ tiếp tục gia
tăng, vừa gia tăng tự nhiên theo sự tự thân vận động, vừa gia tăng cơ học do cuộc di
cư của đồng bào Công giáo từ Bắc vào Nam sau hiệp định Genève.
Xét nguồn gốc, Công giáo tại Nam Bộ ra đời và phát triển không do các cuộc
truyền giáo của các thừa sai tại đây, mà chủ yếu là do giáo dân từ các nơi khác đến.
Chủ yếu theo các đợt di dân chính sau đây:
15


1. Rải rác trong giai đoạn trước khi Pháp tới Việt Nam: Theo các lớp người di
dân từ các tỉnh phía bắc Đàng Trong (các tỉnh miền Trung ngày nay), tới lập nghiệp
tại Sài Gòn và vùng Nam Bộ. Người Công giáo có mặt tại Sài Gòn cùng với những cư
dân đầu tiên người Việt, trước cả khi các thừa sai tới đây. Người giáo dân tự động tập
hợp lại thành họ đạo, dựng nhà thờ và mời linh mục ở nơi khác tới phục vụ họ về mặt
tôn giáo. Sự hình thành của họ đạo Chợ Quán là một ví dụ điển hình. Theo Louvet thì
áp ngày Pháp đánh chiếm Sài Gòn, tại đây có khoảng 27.000 người Công giáo. C.E.
Bouillevaux cho biết là vào năm 1867, số người công giáo tại sáu tỉnh thuộc giáo

phận Tây Đàng Trong là 35.000 với 27 thừa sai người châu Âu.
2. Đợt thứ hai, vào giữa thế kỷ 19, khi quân đội Pháp rút khỏi Đà Nẵng và tới
chiếm Sài Gòn vào năm 1860: Một số người Công giáo cùng với một số người không
Công giáo trong vùng Quảng Nam - Đà Nẵng, có quan hệ với Pháp khi họ đóng tại
đây, đã rút theo Pháp vào Sài Gòn để tránh bị trả thù. Một phần của các người di cư
này sống tập trung trong vùng phía bắc Sài Gòn, giữa thành và cầu Thị Nghè, làm
thành cốt lõi của họ đạo Tân Định ngày nay. Mặt khác, khi quân Pháp vừa tới Sài
Gòn, giám mục Lefebvre cho tập trung các tín đồ lúc bấy giờ đang sống rải rác ở Sài
Gòn, tại Xóm Chiếu, nằm giữa đồn phía Nam và kênh chợ Lớn, kế đó là Thủ Thiêm,
ở bên kia sông, gồm các tín đồ từ nội thành chạy ra.
3. Đợt thứ ba, lớn nhất, diễn ra vào các năm 1954 - 1955, sau hiệp định Genève
kết thúc chiến tranh. Những người Công giáo tới sinh sống tại Sài Gòn vào dịp này
chiếm một tỷ lệ đa số áp đảo trong số giáo dân tại đây. Được biết, theo thống kê năm
1939, địa phận Sài Gòn, gồm cả những phần đất chưa được tách, có 82.275. Nhưng
theo Niên giám 1964 thì số giáo dân của địa phận Sài Gòn đã lên tới 703.152. Như
thế, số công giáo di cư này hẳn là chiếm một tỷ lệ rất lớn. Sài Gòn, từ thời điểm này,
đã là một nơi tập trung các tín đồ Công giáo có nguồn gốc từ hầu hết các tỉnh và miền
của Việt Nam. [89; 5-6]
1.2. Sự phát triển của Công giáo Nam Bộ dưới thời Pháp thuộc
1.2.1. Lịch sử chia tách các địa phận tại Nam Bộ

16


Công giáo ở Nam Bộ trước 1945 là Công giáo của sáu tỉnh Đồng Nai (tỉnh lỵ
Biên Hoà), Gia Định (tỉnh lỵ Sài Gòn) Định Tường (tỉnh lỵ Mỹ Tho), Long Hồ (tỉnh
lỵ Vĩnh Long), An Giang (tỉnh lỵ Châu Đốc) và Hà Tiên (tỉnh lỵ Hà Tiên).
Năm 1659, Địa phận Đàng Trong được thành lập. Năm 1844, khi Địa phận
Đàng Trong được chia thành hai địa phận là Tây Đàng Trong và Đông Đàng Trong và
Tây Đàng Trong. Nam Kỳ Lục Tỉnh thuộc về Địa phận Tây Đàng Trong.

Địa phận Tây Đàng Trong, lúc thành lập, bao gồm 6 tỉnh Nam Kỳ của Việt
Nam với nước Cao Miên và một phần nước Lào.
Năm 1850, Cao Miên và Lào được tách ra và trở thành Địa phận Cao Miên:
Địa phận Tây Đàng Trong chỉ gồm Nam kỳ Lục tỉnh.
Năm 1870, hai trong 6 tỉnh của Nam Kỳ là An Giang (Châu Đốc) và Hà Tiên
được sát nhập vào Địa phận Cao Miên: Địa phận Tây Đàng Trong, từ đó, chỉ còn lại
bốn tỉnh Đồng Nai (Biên Hoà), Gia Định (Sài Gòn), Định Tường (Mỹ Tho) và Long
Hồ (Vĩnh Long); hai tỉnh An Giang và Hà Tiên (phần đất của Giáo phận Long Xuyên
và Cần Thơ ngày nay), tuy thuộc Địa phận Cao Miên, những vẫn là đất Nam Kỳ
“Nam Kỳ Địa Phận” cùng chung một quá trình phát triển như bốn tỉnh khác của Nam
Kỳ, bởi vì tất cả đều là thuộc địa của Pháp.
Từ cuối năm 1924, Địa phận Tây Đàng Trong được gọi là Địa phận Sài Gòn và
Địa phận Cao Miên được gọi là Địa phận Nam Vang (Phnôm Pênh).
Năm 1938, Địa phận Vĩnh Long được thành lập, gồm tỉnh Long Hồ (Vĩnh
Long) tách từ Địa phận Sài Gòn.
Kể từ đó cho tới cuối thời Pháp thuộc, Nam Kỳ hay Nam Kỳ Lục Tỉnh nằm
trong ba địa phận. Địa phận Sài Gòn (gồm 3 tỉnh cũ của Nam Kỳ là Đồng Nai, Gia
Định và Định Tường), Địa phận Vĩnh Long (chỉ gồm tỉnh Long Hồ) và Địa phận Nam
Vang (trong đó có hai tỉnh An Giang và Hà Tiên).
Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, Pháp bị loại khỏi Đông Dương và ngày
2/9/1945, Việt Nam tuyên bố độc lập: Nam Kỳ chính thức không còn là thuộc địa của
Pháp. Ngày 23/9/1945, nấp bóng quân đội Anh, Pháp đã tìm cách tái chiếm Nam Kỳ,
17


nhưng không còn cai trị được như trước: chế độ thuộc địa đã thật sự cáo chung Mùa
thu năm 1945.[17; 304-305]
Từ năm 1924, giáo phận Tây Đàng Trong được gọi là giáo phận Sài Gòn
những vẫn bao gồm cả một vùng rộng lớn từ tỉnh Thuận Hải trở xuống phía nam. Chỉ
từ năm 1960 trở về sau này, giáo phận Sài Gòn mới dần dần được chia thành một số

giáo phận khác nhau: giáo phận Đà Lạt (1960), giáo phận Mỹ Tho (1960) gồm tỉnh
Long An, Tiền Giang và một phần của tỉnh Đồng Tháp, giáo phận Phú Cường (1965)
gồm tỉnh Sông Bé và Tây Ninh, giáo phận Xuân Lộc (1966), gồm tỉnh Đồng Nai và
đặc khu Vũng Tầu - Côn Đảo, giáo phận Phan Thiết (1975) gồm tỉnh Phan Thiết. Và
thành phố Hồ Chí Minh, với những ranh giới như hiện nay của thành phố, về mặt tổ
chức của Công giáo, đã trở thành một giáo phận từ năm 1975. Điều này cho thấy tầm
quan trọng của công giáo tại thành phố Hồ Chí Minh.[89; 4]
1.2.2. Sự phát triển của Công giáo ở Nam Bộ đến 1945
Buổi đầu số người lớn theo Công giáo ở Nam Bộ vốn không bao giờ nhiều.
Sau Hoà ước Nhâm Tuất 5 - 6 - 1862 mới bắt đầu có gia tăng, nhất là những năm
1867 - 1870 và những năm từ 1931 trở đi.
Bảng 1.1. Số người ngoại lãnh nhận phép rửa ở địa phận Tây Đàng Trong thời
pháp thuộc. [17; 316-316]
Năm

Số
Người

Năm

Số
Người

Năm

Số
Người

Năm


Số
Người

1860

301

1884

1462

1902

2119

1921

1244

1865

1274

1885

1357

1903

2145


1922

1420

1866

1638

1886

1156

1904

1541

1924

1402

1867

2150

1887

1012

1905


1546

1925

1291

1868

3770

1888

1290

1906

1249

1926

2045

18


1869

4005


1889

1587

1907

1249

1927

1594

1870

2545

1890

1234

1908

1052

1928

2134

1871


1718

1981

1257

1909

1177

1929

2022

1873

1025

1892

1512

1910

867

1930

1592


1875

728

1893

1440

1911

1040

1931

2581

1876

871

1894

1228

1912

1081

1932


3386

1877

729

1895

1419

1913

1368

1933

3762

1878

1300

1896

1419

1914

1261


1934

3565

1879

1274

1897

1573

1916

925

1935

2588

1880

1538

1898

1659

1917


1066

1936

4027

1881

1570

1899

1388

1918

1814

1937

3058

1882

1639

1900

1877


1919

1791

1938

4371

1883

1457

1901

1523

1920

1503

1939

2912

Số người theo đạo tăng cao vào những năm đầu sau Hoà ước Nhâm Tuất là vì
sau cuộc nổi dậy tháng 12 - 1862, Pháp đã gia tăng trấn áp, nhiều người và nhiều làng
có dính líu hay sợ bị dính líu với những người nổi dậy, đã xin theo đạo để được các
thừa sai Pháp che chở.
Tác giả Louvet, sau khi nói về cuộc nổi dậy tháng 12/1862 bị trấn áp, viết:
“Các đồng hương của chúng ta đã thắng và việc chiếm đóng Sài Gòn có thể vĩnh viễn.

Những người ngoại thực dụng theo chính quyền (thuộc địa) tất cả đều nghĩ rằng cách
duy nhất, để chứng tỏ lòng trung thành của mình và ly khai với những kẻ nổi loạn, là
19


trở thành người Công giáo. Trong tháng 1/1863, người ta thấy, nhất là chung quanh
Sài Gòn, nhiều làng có dính líu với loạn quân tháng 12/1862, xin qui hàng và xin các
thầy giảng đến giúp họ lãnh phép Rửa.” [17; 315]
Nhưng những người theo đạo này, xem ra, không mấy bền vững. Bởi vì dân
Công giáo, từ năm 1860 (trước lúc Pháp chưa làm chủ được ba tỉnh miền Đông Nam
Kỳ) cho tới năm 1865 (ba năm sau Hoà ước Giáp Tuất), đã không tăng bao nhiêu.
Năm 1860 số tín hữu Nam Kỳ là 33.000
Năm 1865 số tín hữu Nam Kỳ là 33.900
Sau khi Pháp xâm lược ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, phong trào chống Pháp lại
nổi lên khắp nơi trong ba tỉnh Vĩnh Long, Châu Đốc và Hà Tiên vừa mới mất vào tay
Pháp, các đồn bốt của Pháp và người Công giáo lại bị tấn công; người Pháp đã thẳng
tay đàn áp.
Trong phúc trình ngày 25 - 1 - 1869, sau khi nói về các cuộc nổi dậy chống
Pháp ở Trà Vinh và Vĩnh Long, Giám mục Miche viết: “Chính quyền (thuộc địa) đã
đàn áp các cuộc nổi loạn một cách khủng khiếp, nhất là cuộc nổi loạn ở Rạch Giá: tất
cả các làng có tham gia các cuộc nổi loạn trực tiếp hay gián tiếp đều bị phạt tiền nặng,
một hình phạt làm người ta rất nhạy cảm (…) Một vài làng có liên quan đến các cuộc
nổi loạn đã chạy đến xin các thừa sai che chở. Các thừa sai, nhờ sự thông cảm của các
viên chức thông minh và dễ thương, đã giúp những kẻ đến với mình trong nhiều vụ
việc. Những làng bị liên quan đã được tha thứ, rồi xin theo đạo, nghĩ rằng theo Công
giáo là theo Pháp nên được thoát khỏi các cuộc vận động nguy hiểm của những kẻ nổi
loạn.”[17; 317]
Số người theo đạo trong những năm 1867 - 1870 tăng cao, năm 1869 lên tới
còn 728 người. Sở dĩ như vậy là vì cuộc trấn áp của Pháp từ từ giảm dần, số người
xin theo đạo để được che chở cũng giảm và cả những người đã theo đạo, khi thấy

không cần được che chở nữa, âm thầm trở về đạo của mình.
Trong phúc trình ngày 31/10/1877, Giám mục Colombert, người kế vị Giám
mục Miche, đã viết: “Mỗi năm một số tân tòng đã thoát khỏi chúng tôi, bỏ thực hành
20


đạo và đến ở giữa những người ngoại là nơi họ trốn tránh chúng tôi. Số 15.000 người
tân tòng gây cho chúng tôi nhiều phiền hà từ mấy năm nay. Họ ít làm vinh danh cho
đạo. So sánh tình hình này với các năm trước, quý vị cùng thấy được là số các họ đạo
cũng giảm dần.” [17; 317]
Số người theo đạo, ở Địa phận Tây Đàng Trong, từ những năm 1878 cho tới
năm 1930, dao động từ 1000 đến 1500 người, có một số năm trên 1500 người, có 4
năm lên tới 2000 người, nhưng cao nhất cũng là 2145 người.
Trong số những người ngoại theo đạo này, có một số theo lúc sắp chết tại các
bệnh viện do các nữ tu Dòng Thánh Phaolô đảm trách. Những người ngoại theo đạo
trước lúc chết trong bệnh viên thường chiếm 1/3, có năm chiếm ½ tổng số người
ngoại được lãnh nhận phép Rửa.
Số người theo Công giáo từ những năm 1931 trở đi tăng một cách đột biến: từ
1592 người (năm 1930) tăng lên 2581 (năm 1931), 3712 (năm 1933), 4027 (năm
1936)…Sở dĩ có sự gia tăng lớn đó là vì đầu năm 1930 Đảng cộng sản Việt Nam được
thành lập và hoạt động mạnh ở Nam Kỳ, do đó đã có sự trấn áp mạnh mẽ từ phía
chính quyền thuộc địa: nhiều người, nhiều làng lại xin theo đạo để được che chở.
Trong phúc trình năm 1931, Giám mục Dumortier, sau khi nói về một số đông
người theo đạo ở Bến Tre và Vĩnh Long, viết: “Trong những năm tháng vừa qua cảnh
sát truy lùng những người Cộng sản đã làm cho một số đông người ngoại quyết định
xin theo đạo, nhất là ở huyện Mỏ Cày và Ba Tri. Đó là những người không muốn theo
Cộng sản, sợ bị báo thù, sợ bị tố giác: khi sự vô can được chứng minh, họ cũng được
thả thôi, nhưng sự giam cầm để phòng ngừa có thể kéo dài lâu; linh mục phụ trách
vùng đó có thể làm chứng cho họ, nếu họ bị bắt lầm, vì thế họ đã đến với linh mục.
Họ không chỉ ghi tên xin theo đạo mà còn xin học đạo…”[17; 318]

Phong trào Cộng sản ở Nam Kỳ, tuy bị đàn áp, vấn phát triển không ngừng cho
tới Cách mạng Mùa thu năm 1945 và cao điểm là cuộc khởi nghĩa năm 1940. Vì thế
mà số người theo đạo từ năm 1932 vẫn duy trì ở con số 3000 đến 4000 người mỗi
năm.
21


Như thế những năm có số người theo đạo động ở Nam Kỳ là những năm có sự
sợ hãi, cần sự che chở. Nhưng khi sự sợ hãi qua đi, một số người đã xin thôi đạo.
Giám mục Colombert đã than phiền về điều đó, ở giai đoạn 1867 - 1873 , trong phúc
trình ngày 31 - 10 - 1877 và trong phúc trình 1934, Giám mục Mosard cũng lại viết:
“Năm 1931, các cuộc truy lùng Cộng sản của cảnh sát đã đem nhiều gia đình ngoại ở
Thới Hoà (Vĩnh Long) xin theo Công giáo…Những sự sợ hãi cảnh sát qua đi, nhiều
người đã thôi học đạo”.[17; 317]
Nói chung, ngoại trừ những năm có biến cố, số người theo Công giáo ở Nam
Kỳ, tương đối ít so với các địa phận ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Lý do là vì những khó
khăn riêng của công cuộc truyền giáo ở Nam Kỳ như chúng ta đã thấy ở trên.
Trong phúc trình năm 1904, Giám mục Mossard viết: “Một bàn tay giúp đỡ
nhân ái, đối với người ngoại, đó là lý do giải thích tại sao chúng tôi đã có được đông
đảo người theo đạo. Thói quen du mục của họ cũng giúp cho thấy là một số họ đạo
nhỏ của chúng tôi không tồn tại được lâu dài. Không ở đâu mà chúng tôi không làm
phép Rửa cho các dự tòng. Không nơi nào mà chúng tôi lại không làm một căn nhà lá
khiêm tốn mà các tân tòng trang hoàng thành nhà thờ. Nhưng các tân tòng đã không ra
đi về một địa chỉ nhất định, mà họ đi tới một nơi vô định. Họ đi mà họ cũng không
biết là đi đâu. Nổi hứng lên là họ bay đi như chim vậy….” [17; 319]
Sự thực ai cũng muốn an cư lạc nghiệp, nếu có phải ra đi phiêu lưu cũng là vì
tình thế bắt buộc, không thể sống được nơi mình đang sống, hoặc vì nợ nần phải tìm
cách trốn tránh. Giáo hội thực ra cũng không bảo đảm được cuộc sống cho tất cả.
Trong phúc trình năm 1923, Giám mục Quinton, người kế vị Giám mục
Mossard viết: “Rao giảng Tin Mừng cho những người chẳng cần tôn giáo thực sự là

chẳng có kết quả gì, nếu không có cho họ một lợi ích vật chất gì và để việc theo đạo
của họ được bền vững, thì lợi ích vật chất phải lâu dài. Vì thế mà chúng tôi cố gắng có
ruộng đất để định cư các tân tòng. Họ Bãi Xan có ruộng bao la nên năm nay có tới
159 dự tòng.” [17; 319]

22


Ruộng đất của Nhà chung, mà những người theo đạo phần lớn là những người
nghèo khổ cần được giúp đỡ, thì có hạn, nên số người ngoại theo Công giáo ở Nam
Kỳ Lục Tỉnh dưới thời Pháp thuộc, cũng hạn chế.
Dân số Công giáo Nam Kỳ trước lúc Địa phận Tây Đàng Trong được thành lập
chỉ khoảng 20.000 giáo hữu. Sau khi Địa phận Tây Đàng Trong được thành lập
(1844), số giáo hữu có gia tăng, nhưng không đáng kể, vì còn trong thời kỳ Công giáo
phải hoạt động lén lút, bất hợp pháp.
Năm 1848 có 25.30 giáo hữu, trong đó có khoảng 250 giáo hữu người Cao
Miên.
Năm 1851 có 26 040 giáo hữu: lúc này Cao Miên đã được tách thành địa phận
riêng (năm 1850); con số 26.040 giáo hữu hoàn toàn là giáo hữu của Nam Kỳ Lục
Tỉnh.
Năm 1870 tổng số giáo hữu của Nam Kỳ Lục Tỉnh 43.700 giáo hữu. Nhưng
theo quyết định của Toà thành từ tháng 6/1870: hai tỉnh An Giang (Châu Đốc) và Hà
Tiên được sát nhập vào Địa phận Cao Miên với 5200 giáo hữu và Địa phận Tây Đàng
Trong chỉ còn lại 4 tỉnh với 38.500 giáo hữu.
Năm 1939, Công giáo Nam Kỳ Lục Tỉnh thuộc ba địa phận với dân số Công
giáo như sau: Địa phận Sài Gòn, 82.375 giáo hữu. Địa phận Vĩnh Long, 45.318 giáo
hữu, hai tỉnh An Giang và Hà Tiên, thuộc địa phận Nam Vang - Cao Miên, 53.014
giáo hữu. Tổng cộng Nam Kỳ Lục Tỉnh, năm 1939 có 180.713 giáo hữu, chiếm
khoảng 4% dân số chung của Nam Kỳ thuộc địa Pháp.[17, 320]
Đến năm 1954, giáo phận Sài Gòn do Giám mục Jean Cassaigne coi sóc có 145

linh mục, 37 linh mục dòng, 42 đại chủng sinh, 136.910 giáo dân, chiếm 3,42% tổng
số dân. Trong giáo phận có 16 giáo xứ, 225 nhà thờ lớn nhỏ.
Giáo phận Nam Vang có 120.000 giáo dân chiếm tỷ lệ 2,66% trên tổng số dân
4,5 triệu người, chia làm 49 giáo xứ và 265 nhà thờ lớn nhỏ. Giáo phận này được đặt
dưới quyền coi sóc của Giám mục Chabalier có 76 linh mục triều, 23 linh mục dòng,
12 đại chủng sinh.
23


×