Tải bản đầy đủ (.pdf) (129 trang)

Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại an ninh quốc phòng của Australia trong thập niên đầu thế kỷ XXI : Luận văn ThS. Quan hệ quốc tế: 60 31 40

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.1 MB, 129 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

----------------------------

LA HỒNG NHUNG

SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
AN NINH QUỐC PHÒNG CỦA AUSTRALIA
TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC

Hà Nội - 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

----------------------------

LA HỒNG NHUNG

SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
AN NINH QUỐC PHÒNG CỦA AUSTRALIA
TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Mã số: 60 31 02 06

LUẬN VĂN THẠC SĨ


Người hướng dẫn khoa học: TS. Vũ Tuyết Loan

Hà Nội - 2012

1


MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .................................................................... 6
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 8
1.

Lý do chọn đề tài ...................................................................................... 8

2.

Lịch sử nghiên cứu ................................................................................... 9

3.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................... 10

4.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................... 11

5.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ............................................ 11


6.

Đóng góp của luận văn ........................................................................... 12

7.

Bố cục của Luận văn .............................................................................. 12

Chương 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH
SÁCH ĐỐI NGOẠI AN NINH QUỐC PHÒNG CỦA AUSTRALIA TRONG
THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI ....................................................................... 13
1.1. Bối cảnh khu vực và quốc tế tác động trực tiếp đến sự điều chỉnh chính
sách đối ngoại an ninh quốc phòng của Australia .......................................... 13
1.1.1. Thế giới đang thay đổi lớn ..................................................................... 13
1.1.1.1. Cạnh tranh địa - chính trị, địa - kinh tế giữa các quốc gia .................... 13
1.1.1.2. Các thách thức và nguy cơ an ninh ....................................................... 14
1.1.1.3. Xu hướng hiện đại hóa quân sự ............................................................. 16
1.1.2. Những thay đổi trong môi trường an ninh Đông Nam Á ....................... 19
1.2. Tác động của Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, ASEAN đối với chính sách
đối ngoại an ninh quốc phòng của Australia .................................................. 23
1.2.1. Tác động của Mỹ..................................................................................... 23
1.2.2. Tác động của Trung Quốc ...................................................................... 27
1.2.3. Tác động của Nhật Bản .......................................................................... 29

3


1.2.4. Tác động của ASEAN ............................................................................. 31
1.3. Tác động của các yếu tố nội tại của Australia ......................................... 34
1.3.1. Yếu tố địa lý............................................................................................. 34

1.3.2. Mục tiêu đảm bảo an ninh quốc phòng .................................................. 36
Chương 2: NỘI DUNG CỦA SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
AN NINH QUỐC PHÒNG CỦA AUSTRALIA TRONG THẬP NIÊN ĐẦU
THẾ KỶ XXI ....................................................................................................... 39
2.1. Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại an ninh quốc phòng của Australia
dưới sự lãnh đạo của Liên Đảng Tự do - Dân tộc (thời Thủ tướng John
Howard từ tháng 3/1996 đến 11/2007) ............................................................ 39
2.1.1. Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại an ninh quốc phòng dưới thời Thủ
tướng John Howard.......................................................................................... 39
2.1.2. Biểu hiện cụ thể chính sách đối ngoại an ninh quốc phòng dưới thời
Thủ tướng John Howard .................................................................................. 41
2.1.2.1. Liên minh với Mỹ .................................................................................. 41
2.1.2.2. Phòng thủ tên lửa đạn đạo, Sáng kiến an ninh chống phổ biến vũ khí hủy
diệt và Tuyên bố đánh đòn phủ đầu ................................................................... 46
2.1.2.3. Thúc đẩy các quan hệ song phương với một số nước trong khu vực ...... 50
2.1.2.4. Trục tam phương Australia - Mỹ - Nhật và các hoạt động quân sự ở Nam
Thái Bình Dương ............................................................................................... 54
2.1.2.5. Sự chuyển biến lực lượng vũ trang Australia ......................................... 57
2.2. Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại an ninh quốc phòng của Australia
dưới sự lãnh đạo của Công Đảng (thời Thủ tướng Kevin Rudd từ tháng
11/2007 đến 6/2010 và Julia Gillard từ tháng 7/2010 đến nay) ...................... 61
2.2.1. Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại an ninh quốc phòng dưới thời Thủ
tướng Kevin Rudd và Julia Gillard ................................................................... 61
2.2.2. Biểu hiện cụ thể chính sách đối ngoại an ninh quốc phòng của Australia
dưới thời Thủ tướng Kevin Rudd và Julia Gillard ........................................... 63
2.2.2.1. Liên minh với Mỹ .................................................................................. 63
4


2.2.2.2. Sáng kiến Cộng đồng Châu Á – Thái Bình Dương................................. 70

2.2.2.3. Hợp tác an ninh quốc phòng trong các thể chế đa phương .................... 73
2.2.1.4. Kế hoạch hiện đại hóa quân đội ............................................................ 79
Chương 3: NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VỀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH
ĐỐI NGOẠI AN NINH QUỐC PHÒNG CỦA AUSTRALIA TRONG THẬP
NIÊN ĐẦU THẾ KỈ XXI .................................................................................... 82
3.1. Nhận xét về sự điều chỉnh chính sách đối ngoại an ninh quốc phòng của
Australia trong thập niên đầu thế kỷ XXI ...................................................... 82
3.1.1. Liên minh với Mỹ luôn là trụ cột trong chính sách đối ngoại của
Australia dù trong bất kì hoàn cảnh nào .......................................................... 82
3.1.2. Chính sách hướng Đông và cách tiếp cận “tích cực”, “chủ động” của
Australia ........................................................................................................... 84
3.2. Tác động của sự điều chỉnh chính sách đối ngoại an ninh quốc phòng
của Australia trong thập niên đầu thế kỷ XXI ............................................... 87
3.2.1. Tác động đối với quan hệ quốc tế trong khu vực .................................... 87
3.2.2. Tác động đối với an ninh của Australia .................................................. 90
3.2.3. Tác động đối với Việt Nam ...................................................................... 93
3.3. Triển vọng hợp tác an ninh quốc phòng của Australia ........................... 95
3.3.1. Với Mỹ..................................................................................................... 95
3.3.2. Với Trung Quốc ...................................................................................... 97
3.3.3. Với Đông Nam Á ..................................................................................... 98
3.3.4. Với Việt Nam......................................................................................... 103
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 105
CHÚ THÍCH...................................................................................................... 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 119

5


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT


ABC

Atomic, Biological, Chemical Weapons.
Vũ khí nguyên tử, hóa học, sinh học.

ADF

Australian Defence Force.
Lực lượng quốc phòng Australia.

ADMM+

ASEAN Defence Minister's Meeting Plus.
Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN Cộng.

ANZUS

The Australia – New Zealand and United States Security Pact
Hiệp ước an ninh Australia – New Zealand và Mỹ.

APC

Asia - Pacific Community.
Cộng đồng châu Á – Thái Bình Dương.

APEC

Asia - Pacific Economic Cooperation.
Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương.


ARF

ASEAN Regional Forum.
Diễn đàn an ninh khu vực Đông Nam Á.

ASEAN

Association of South East Asian Nations.
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á.

AUD

Đồng đô la Australia.

AUSMIN

Australian - United States Ministerial Talks – Conference.
Hội nghị tham vấn cấp Bộ trưởng Ngoại giao - Quốc phòng
Mỹ - Australia.

BMD

Ballistic Missile Defense.
Phòng thủ tên lửa đạn đạo.

DOC

Declaration of Conduct.
Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông.


6


EAS

East Asia Summit.
Hội nghị cấp cao Đông Á.

EU

European Union.
Liên minh châu Âu.

FPDA

Five Power Defence Arrangements.
Hiệp ước phòng thủ năm quốc gia.

ISAF

International Security Assistance Force.
Lực lượng hỗ trợ quốc tế.

PECC

Pacific Economic Cooperation Council.
Hội đồng hợp tác kinh tế Thái Bình Dương.

PSI


Proliferation Security Initiative.
Sáng kiến an ninh phổ biến.

RAMSI

Regional Assistance Mission to the Solomon Islands.
Sứ mệnh hỗ trợ của khu vực đối với đảo quốc Solomon.

SEAN WFZ

Southeast Asia Nuclear Weapons Free Zones Treaty.
Hiệp ước Khu vực phi vũ khí hạt nhân Đông Nam Á.

TAC

Treaty of Amity and Cooperation.
Hiệp ước Hợp tác và Thân thiện.

TPP

Trans - Pacific Partnership.
Đối tác xuyên Thái Bình Dương.

7


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bước vào thế kỷ XXI, thế giới luôn bất ổn về an ninh và biến động liên
tục về kinh tế. Hàng loạt những vấn đề mang tính khu vực và toàn cầu như:

việc phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, chạy đua vũ trang trong khu vực,
tranh chấp chủ quyền trên các vùng biển và hải đảo, xung đột sắc tộc và tôn
giáo ngày càng có những diễn biến phức tạp. Các vấn đề an ninh phi truyền
thống như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, di cư, tị nạn, buôn lậu, ma túy, buôn
bán phụ nữ và trẻ em, cướp biển, khủng bố, buôn lậu vũ khí, rửa tiền, tội
phạm kinh tế quốc tế và tội phạm công nghệ cao,… cũng đã tạo ra những
thách thức mới cho hòa bình và ổn định của khu vực. Việc duy trì và đảm bảo
an ninh quốc phòng nói riêng của mỗi quốc gia cũng như an ninh khu vực và
quốc tế nói chung là hết sức quan trọng.
Australia có một vị trí địa - chính trị hết sức quan trọng về phương diện
an ninh và quốc phòng ở khu vực châu Á Thái Bình Dương. Nhận thức được
vị trí địa - chiến lược của mình ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương và
những thách thức phải đối mặt, Australia đã tiến hành điều chỉnh chính sách
đối ngoại an ninh quốc phòng cho phù hợp với những diễn biến mới của tình
hình khu vực và quốc tế.
Chính vì thế, về mặt khoa học cũng như thực tiễn là phải đánh giá đúng
thực chất chính sách đối ngoại an ninh quốc phòng của Australia trong thập
niên đầu thế kỷ XXI, nêu lên được những xu hướng chính trong chính sách
của Australia cũng như mối quan hệ giữa Australia với các nước trong khu
vực và quốc tế. Qua đó trả lời được câu hỏi: Australia đã có các bước điều
chỉnh chính sách đối ngoại an ninh quốc phòng của mình như thế nào và việc
điều chỉnh đó tác động đến quan hệ quốc tế và các nước trong khu vực ra sao?

8


2. Lịch sử nghiên cứu
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu chính sách đối ngoại an ninh quốc phòng
của Australia còn ít ỏi. Tuy nhiên một số công trình nghiên cứu, bài báo đã
giúp ích chúng tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu chính sách đối ngoại

an ninh quốc phòng của Australia trong thập niên đầu thế kỉ XXI.
Đầu tiên phải kể đến là công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Vũ Tuyết Loan
với tiêu đề “Chính sách của Australia đối với ASEAN từ năm 1991 đến nay:
Hiện trạng và triển vọng” do NXB Khoa học xã hội ấn hành năm 2005 là
công trình tìm hiểu về quan hệ của Australia với ASEAN (với tư cách là một
tổ chức), quan hệ giữa Australia với các thành viên của ASEAN. Tác giả cũng
phân tích những sự điều chỉnh trong đường lối đối ngoại của Australia với
ASEAN và cơ sở của sự điều chỉnh đó từ 1991 đến nay.
Một công trình nữa đề cập đến quan hệ của Australia với tổ chức ASEAN
và các thành viên ASEAN trên nhiều lĩnh vực, trong đó có mảng về an ninh
quốc phòng. Đó là Luận văn Thạc sĩ Khoa học Lịch sử năm 2007 - Trường
Đại học Sư phạm Hà Nội của Nguyễn Thị Mai Dung, tìm hiểu về Quan hệ
của Australia với ASEAN từ 1991 đến nay.
Bên cạnh đó, một vài khía cạnh của vấn đề nghiên cứu được đề cập đến
trong một số tài liệu tham khảo của Thông tấn xã Việt Nam, Tạp chí Quan hệ
quốc phòng, Tạp chí những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, Tạp chí
nghiên cứu quốc tế, ...
Ngoài ra, Sách Trắng về Quốc phòng của Australia năm 2009 (White
Paper Defending Australia 2009) cũng là nguồn tài liệu quan trọng cung cấp
thông tin về những ưu tiên trong chính sách quốc phòng của Australia trong
“thế kỉ châu Á – Thái Bình Dương”, những lợi ích chiến lược của Australia,
chính sách quốc phòng cũng như việc phát triển lực lượng quốc phòng của
Australia trong tương lai.
9


Việc nghiên cứu chính sách đối ngoại an ninh quốc phòng của Australia
gắn với tên tuổi của các học giả Australia và các học giả nước ngoài, và của
Viện nghiên cứu chính sách Lowy của Australia. Những công trình và những
bài nghiên cứu của các học giả Australia cũng như các học giả nước ngoài,

nhìn chung, thường được phân tích dưới góc nhìn về chiến lược an ninh quốc
gia và khả năng tác chiến của lực lượng vũ trang Australia, quan điểm đối
ngoại của Australia, đánh giá của Australia về tình hình quân sự ở châu Á Thái Bình Dương..vv..
Các tài liệu trên đã giúp ích rất nhiều cho tác giả luận văn trong việc
nghiên cứu lĩnh vực chính sách đối ngoại an ninh quốc phòng của Australia
trong thập niên đầu thế kỷ XXI.

3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
 Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích chính của Luận văn là phân tích những điều chỉnh trong chính
sách đối ngoại an ninh quốc phòng của Australia, nêu rõ những biểu hiện của
chính sách an ninh quốc phòng và triển vọng hợp tác an ninh quốc phòng của
Australia đối với khu vực và quốc tế. Qua đó làm rõ tầm quan trọng của chính
sách đối ngoại an ninh quốc phòng của các quốc gia trong khu vực trong bối
cảnh quốc tế mới và những hàm ý đối với Việt Nam.
 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên thì nhiệm vụ của Luận văn là:
 Phân tích những nhân tố tác động tới sự điều chỉnh Chính sách đối
ngoại an ninh quốc phòng của Australia.
 Làm rõ những nội dung điều chỉnh trong Chính sách đối ngoại an
ninh quốc phòng của Australia.
 Đánh giá tác động của những điều chỉnh đó đối với nền an ninh quốc
gia của Australia và quan hệ quốc tế ở khu vực.
10


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách đối ngoại an ninh quốc
phòng của Australia đối với một số nước ở khu vực châu Á - Thái Bình
Dương, sự chuyển biến của lực lượng vũ trang cũng như khả năng tác chiến

của quân đội Australia.
 Phạm vi thời gian mà Luận văn này đi sâu nghiên cứu là thập niên
đầu thế kỷ XXI. Lý do: Chính sách đối ngoại của Australia đã có sự điều
chỉnh từ khi Thủ tướng John Howard lên cầm quyền (3/1996), nhưng từ sau
vụ khủng bố 11/9/2001, sự điều chỉnh chính sách đối ngoại nói chung và
chính sách đối ngoại an ninh quốc phòng nói riêng của Australia được nhấn
mạnh rõ ràng hơn. Sự thay đổi Chính phủ và Đảng cầm quyền ở Australia đã
dẫn tới một sự thay đổi về quyền lãnh đạo từ Chính phủ Liên minh giữa Đảng
Dân tộc và Đảng Tự do của Australia, đứng đầu là Thủ tướng John Howard
(3/1996 đến 11/2007) sang Chính phủ Công Đảng, đứng đầu là Thủ tướng
Kevin Rudd (11/2007 đến 6/2010). Sau này Thủ tướng Julia Gillard lên cầm
quyền tháng 7/2010. Về cơ bản chính sách đối ngoại an ninh quốc phòng của
Australia vẫn theo đường hướng của Công đảng, không có thay đổi đáng kể
khi bà lên nắm quyền.
 Phạm vi không gian mà Luận văn này đề cập đến là quan hệ an ninh quốc phòng của Australia với một số nước ở khu vực châu Á – Thái Bình
Dương.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Các cơ sở lý luận cho nghiên cứu đề tài này là những lý thuyết về quan
hệ quốc tế, về toàn cầu hoá, khu vực hoá, địa - chính trị.
Luận văn trình bày các vấn đề theo phương pháp phân tích, tổng hợp,
nghiên cứu, so sánh… trong mối quan hệ biện chứng giữa logic và lịch sử.

11


6. Đóng góp của luận văn
“Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại an ninh quốc phòng của Australia
trong thập niên đầu thế kỷ XXI” là một trong những luận văn đầu tiên ở Việt
Nam nghiên cứu về lĩnh vực an ninh quốc phòng của Australia đối với khu

vực và quốc tế, đề cập đến hệ thống có tính lịch sử cũng như logic không gian
của các mối quan hệ giữa Australia với các nước ở châu Á - Thái Bình
Dương. Đóng góp quan trọng nhất của luận văn này là nghiên cứu sự điều
chỉnh chính sách đối ngoại an ninh quốc phòng của Australia trong thập niên
đầu thế kỷ XXI; và những gợi ý cho Việt Nam.
Luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo về chính sách đối
ngoại an ninh quốc phòng của Australia đối với khu vực châu Á - Thái Bình
Dương.

7. Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục từ viết tắt tiếng Anh, tài liệu
tham khảo, Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những nhân tố tác động đến sự điều chỉnh chính sách đối
ngoại an ninh quốc phòng của Australia trong thập niên đầu thế kỷ XXI
Chương 2: Nội dung của sự điều chỉnh chính sách đối ngoại an ninh
quốc phòng của Australia trong thập niên đầu thế kỷ XXI
Chương 3: Nhận xét, đánh giá về sự điều chỉnh chính sách đối ngoại
an ninh quốc phòng của Australia trong thập niên đầu thế kỷ XXI

12


Chương 1
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH
ĐỐI NGOẠI AN NINH QUỐC PHÒNG CỦA AUSTRALIA
TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI

1.1. Bối cảnh khu vực và quốc tế tác động trực tiếp đến sự điều chỉnh
chính sách đối ngoại an ninh quốc phòng của Australia

1.1.1. Thế giới đang thay đổi lớn
1.1.1.1. Cạnh tranh địa - chính trị, địa - kinh tế giữa các quốc gia
Tình hình an ninh thế giới và khu vực những năm đầu thế kỷ XXI tiếp tục
có những diễn biến phức tạp, song hòa bình, hợp tác cùng phát triển vẫn là xu
thế lớn. Tình hình an ninh thế giới đã và đang thay đổi nhanh chóng, khó
lường. Sự phân bố lại sức mạnh kinh tế và quân sự trên phạm vi toàn cầu
đang làm cho cục diện chính trị thế giới biến đổi sâu sắc với xu thế đa cực
ngày càng thể hiện rõ nét hơn. Nhiều trung tâm và các cường quốc quyền lực
mới nổi lên, có vai trò ngày càng quan trọng trong khu vực và trên toàn thế
giới. Sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa các cường quốc, các trung tâm quyền lực
với nhau diễn ra quyết liệt và có chiều hướng gia tăng.
Sau thời kỳ Chiến tranh Lạnh, nhiều cuộc xung đột nội bộ diễn ra tại khu
vực bất ổn kéo dài từ phía Bắc Australia đến Nam Thái Bình Dương. Trong
khu vực châu Á – Thái Bình Dương có các cường quốc như Mỹ và Nhật Bản;
các cường quốc đang trỗi dậy như Trung Quốc, Ấn Độ, Nga và các quốc gia
thuộc khối ASEAN. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương hiện có tốc độ phát
triển kinh tế cao nhất thế giới, là khu vực kinh tế phát triển năng động của thế
giới trong thế kỷ XXI, thu hút sự quan tâm và cạnh tranh ảnh hưởng của các
cường quốc. Tuy nhiên, khu vực này cũng tồn tại nhiều điểm xung đột tiềm
tàng: Bán đảo Triều Tiên, eo biển Đài Loan, vùng Kashmir, Nga – Nhật Bản

13


tranh chấp đảo Curin, Trung Quốc – biên giới Ấn Độ, Trung Quốc – Nhật
Bản tranh chấp đảo Điếu Ngư, bất đồng và tranh chấp tại khu vực Biển
Đông... Các cường quốc chính trong khu vực bao gồm Mỹ, Nga, Trung Quốc,
Ấn Độ, Nhật Bản, trong đó Trung Quốc, Ấn Độ đang phát triển nhanh chóng
cả về kinh tế và quân sự. Hiện đang có sự cạnh tranh giữa các nước này với
nhau, và cạnh tranh vai trò thống trị của Mỹ trong khu vực – đồng minh chủ

chốt của Australia.
Sau sự kiện 11/9/2001, các nước tập trung vào đối phó với nguy cơ
khủng bố. Mặc dù cuộc chiến chống khủng bố đã làm giảm bớt sự chú ý đối
với sự tăng trưởng nhanh chóng của Trung Quốc, tuy nhiên trong vài năm trở
lại đây, các học giả Mỹ và Australia ngày càng quan tâm đến vấn đề này.
Các nước trong khu vực vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau. Tình trạng
mập mờ về mặt chiến lược gia tăng, đe dọa an ninh khu vực. Thế giới vẫn
chưa có hòa bình thực sự bởi những nguy cơ về an ninh truyền thống và phi
truyền thống. Những yếu tố bất ổn ngày càng nhiều ở khu vực châu Á – Thái
Bình Dương. Trong khi các vấn đề an ninh truyền thống chưa được giải quyết
thì tại một số nước, các nguy cơ an ninh phi truyền thống gia tăng. Nguy cơ
khủng bố, ly khai, các nhóm cực đoan tại khu vực chưa thể giải quyết trong
tương lai gần. Nỗi ám ảnh bị tấn công khủng bố vẫn đeo đuổi nước Mỹ suốt
gần mười năm qua kể từ sau vụ tấn công vào tòa tháp đôi ở New York ngày
11/9/2001. Hai vụ khủng bố liên tiếp trên tàu điện ngầm ở thủ đô Moscow
vào cuối tháng 3/2010 thêm một lần nữa chứng tỏ thách thức an ninh phi
truyền thống đối với các cường quốc quân sự là vấn đề nan giải trong tương
lai.
1.1.1.2. Các thách thức và nguy cơ an ninh
Các cường quốc, điển hình là Mỹ là siêu cường duy nhất với sức mạnh
quân sự vượt trội và tình báo quân sự hiện đại nhưng vẫn không đủ khả năng

14


tự bảo vệ để chống lại các thế lực khủng bố quốc tế vốn là những lực lượng
phi nhà nước, nhưng có thể tuyển mộ và huy động được những chiến binh
trung thành, sẵn sàng đánh bom liều chết gây thiệt hại lớn cho đối phương.
Luận điểm kinh điển của chủ nghĩa hiện thực “kẻ mạnh làm những gì mà họ
có quyền lực để làm, kẻ yếu chấp thuận những gì họ phải chấp thuận”, và

ngày nay trong quan hệ quốc tế còn bổ sung thêm khái niệm “bất đối xứng” –
quan niệm khá nổi bật về an ninh và sức mạnh quốc gia trong thế kỷ XXI.
Một lực lượng nhỏ phi nhà nước có thể tấn công khủng bố gây thiệt hại lớn
cho cả những quốc gia được coi là hùng mạnh hơn cả về chính trị, kinh tế,
quân sự và văn hóa. Những lỗ hổng an ninh quốc gia có thể xuất hiện bất ngờ
ở mọi nơi, mọi lúc, khó đoán định [11, tr. 150].
Xung đột sắc tộc và tôn giáo cũng là mảnh đất màu mỡ nuôi dưỡng chủ
nghĩa khủng bố và ly khai. Xung đột sắc tộc và tôn giáo có thể ảnh hưởng đến
trật tự kinh tế - xã hội, gây nên chia rẽ giáo phái trong một nước và tất nhiên
ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của người dân, phá vỡ nền tảng kinh tế đã được
tạo dựng, môi trường kinh doanh trở nên bất ổn và đe dọa nghiêm trọng an
ninh quốc gia. Ảnh hưởng lan truyền của các cuộc nội chiến đến các nước
khác thông qua các kênh như người tị nạn, ô nhiễm môi trường, thiệt hại về
kinh tế,... những ví dụ điển hình là Đông Timo trước đây, miền Nam Thái
Lan, Trung Đông [10, tr. 21].
Chủ nghĩa khủng bố quốc tế và tội phạm có tổ chức ngày càng mang tính
toàn cầu hơn. Mạng lưới khủng bố quốc tế được tổ chức theo dạng mạng, rất
linh hoạt và uyển chuyển, với chân rết phủ khắp toàn cầu.
Sự liên kết giữa khủng bố quốc tế và tội phạm có tổ chức khiến chúng
càng trở nên nguy hiểm hơn và đe dọa hòa bình, ổn định cho tất cả các quốc
gia trên thế giới.

15


Toàn cầu hóa khiến các nước tùy thuộc lẫn nhau nhiều hơn, việc mất an
ninh ở một khu vực có thể lan truyền ảnh hưởng sang các nước khác và khu
vực, do đó cần có cơ chế phối hợp, hợp tác giải quyết trên phạm vi khu vực
hoặc toàn cầu để đối phó với các thách thức này.
Các vấn đề này đòi hỏi sự quan tâm và nỗ lực hợp tác giải quyết của

cộng đồng quốc tế vì không một quốc gia riêng rẽ nào có thể tự mình giải
quyết được. Tuy nhiên châu Á – Thái Bình Dương vẫn chưa có một cơ cấu an
ninh hiệu quả. ASEAN và ARF đang hoạt động dựa theo các chuẩn mực như
không sử dụng vũ lực, giải quyết hòa bình các tranh chấp, không can thiệp
vào công việc nội bộ các nước... Những tiêu chí này đồng nghĩa với việc tránh
các xung đột, tập trung chủ yếu vào các nguyên tắc đồng thuận, không can
thiệp. Và chính những yếu tố này khiến các tổ chức có xu hướng tránh các
vấn đề gây khó khăn, gây tranh cãi, khó vượt qua khuôn khổ các biện pháp
xây dựng lòng tin để tiến tới một chính sách ngoại giao phòng ngừa, thiết lập
các cơ chế giải quyết xung đột vốn là các mục tiêu cơ bản dẫn đến việc thành
lập ARF. Nhìn chung các vấn đề bất đồng cũng như những cuộc xung đột
trong khu vực chưa được giải quyết theo phương thức và quy tắc hoạt động
như hiện nay. Do vậy, chưa thể khẳng định rằng xu hướng giảm các cuộc
xung đột giữa các quốc gia, gia tăng các cuộc xung đột trong nội bộ quốc gia,
sẽ là phổ biến. Những cuộc cạnh tranh huỷ diệt mang tính lịch sử vẫn có khả
năng xảy ra giữa các quốc gia.
1.1.1.3. Xu hướng hiện đại hóa quân sự
Để đối phó với các nguy cơ xung đột hiện hữu và tiềm tàng, các nước
trong khu vực đã tăng cường hiện đại hóa lực lượng vũ trang. Trong 20 năm
qua, chi tiêu quốc phòng và mua sắm vũ khí tại châu Á – Thái Bình Dương đã
gia tăng nhanh chóng, ngành công nghiệp quốc phòng phát triển mạnh. Chi
phí quốc phòng tại Đông Á tăng 40% trong các năm cuối thế kỷ XX. Chi phí

16


quốc phòng của Indonesia tăng 44%, của Malaixia tăng 47%, Mianma tăng
61%, Thái Lan tăng 65%, Philippines tăng 125%, Singapore tăng 144%. Ấn
Độ tăng 6,1% (năm 2002) [20, tr. 13]. Nhiều quốc gia trong khu vực xuất phát
từ nền tảng quốc phòng thấp. Về cơ bản, sự gia tăng này phản ánh xu hướng

phát triển của các quốc gia độc lập, đang tăng cường sự thịnh vượng, mở rộng
các lợi ích của mình, và cho thấy các quốc gia đang chuyển trọng tâm từ an
ninh nội địa sang an ninh bên ngoài biên giới, đặc biệt khi các nước này phụ
thuộc vào thương mại trên biển. Tuy nhiên, việc các nước châu Á – Thái Bình
Dương tăng chi phí quân sự cho thấy họ không tin rằng hòa bình và an ninh sẽ
được duy trì lâu dài. Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997 và gần đây là
cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 – 2009 đã khiến nhiều nước trong
khu vực cắt giảm ngân sách quốc phòng, hủy bỏ hay trì hoãn các chương trình
mua sắm vũ khí chính. Tuy nhiên mức độ tác động của các cuộc khủng hoảng
này đến các nước là khác nhau và một số nước chỉ tạm thời trì hoãn chứ
không hủy bỏ các kế hoạch mua sắm cho thấy các nước vẫn muốn tăng cường
các khả năng quân sự của mình.
Về việc phát triển vũ khí hạt nhân, tại khu vực châu Á – Thái Bình
Dương, Mỹ, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Bắc Triều Tiên đều có vũ
khí hạt nhân. Iran và Iraq có ý định xây dựng chương trình vũ khí hạt nhân.
Ngoài ra, các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan đều có tiềm năng kỹ thuật
để chế tạo vũ khí hạt nhân và các tên lửa tầm xa nhưng chưa chế tạo do mối
quan hệ an ninh chặt chẽ với Mỹ, ý thức tuân thủ các hiệp ước quốc tế, và vì
các lý do chính trị trong nước như trong trường hợp của Nhật Bản. Trung
Quốc trong các năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI đang dần hiện đại hóa
lực lượng hạt nhân theo chính sách “răn đe hạn chế”, bao gồm việc tăng
cường lực lượng tên lửa đạn đạo xuyên lục địa, các tên lửa đạn đạo trên tàu
ngầm, cải tiến tầm bắn của tên lửa tầm trung, chế tạo các hệ thống dẫn đường,

17


đầu đạn, chế tạo mới và cải tiến các tên lửa đạn đạo xuyên lục địa, xuyên đại
châu. Ấn Độ tiếp tục tăng cường các khả năng hạt nhân, xây dựng một lực
lượng hạt nhân chiến lược bao gồm các cơ sở hạt nhân trên toàn quốc, tên lửa

mang đầu đạn hạt nhân.
Châu Á – Thái Bình Dương hiện có nhiều cường quốc hạt nhân hơn bất
cứ khu vực nào khác trên thế giới, là nơi tồn tại một số vấn đề hạt nhân phức
tạp nhất thế giới, có khả năng dẫn tới leo thang xung đột.
Khác với vũ khí hạt nhân, các quốc gia không gặp phải các hạn chế lớn
về chính trị trong việc sử dụng vũ khí thông thường. Vũ khí thông thường tuy
không phải là loại vũ khí hủy diệt hàng loạt nhưng vẫn là một hiểm họa đe
dọa hòa bình, an ninh thế giới. Các nước châu Á – Thái Bình Dương tăng
ngân sách quốc phòng để phát triển lực lượng thông thường. Xu hướng chung
của các nước này là chuyển đổi lực lượng vũ trang từ chỗ tập trung bảo vệ an
ninh trong nước sang tập trung vào các nguy cơ bên ngoài, đặc biệt trên biển.
Trong một số trường hợp, các quốc gia tìm cách tăng cường khả năng triển
khai sức mạnh trên biển, xu hướng của các cường quốc quân sự hiện nay đều
muốn gây ảnh hưởng bằng cách vươn ra biển, chiếm lĩnh không gian biển.
Bởi “ai thống lĩnh được hòn đảo thế giới thì sẽ khống chế được cả thế giới” –
Halford J. Mackinder. Các nước này chú trọng mua máy bay chiến đấu hiện
đại, tuần dương hạm, tàu ngầm. Đặc biệt một số nước đầu tư vào hệ thống
kiểm tra, kiểm soát, liên lạc, tình báo, trinh sát, giám sát, ứng dụng công nghệ
thông tin trong huấn luyện và tác chiến – vốn là trọng tâm của cuộc cách
mạng khoa học quân sự.
Rõ ràng, các quốc gia châu Á – Thái Bình Dương đầu tư hiện đại hóa lực
lượng vũ trang là xuất phát từ mối lo ngại khả năng xung đột giữa các quốc
gia bùng phát. Việc các nước châu Á – Thái Bình Dương hiện đại hóa lực
lượng quốc phòng để bảo vệ đất nước là rất hợp lý. Tuy nhiên, kinh nghiệm

18


lịch sử cho thấy điều này sẽ tạo ra một tình huống khó xử với các nước khác
vì họ không thể biết nước láng giềng của mình tăng cường tiềm lực quân sự

để tự vệ hay đe dọa họ. Nếu thấy bị đe dọa, họ sẽ có phản ứng thích đáng, chỉ
trích hoặc lên các kế hoạch mua sắm vũ khí, tập trận... Sự phát triển quân đội
các nước trong khu vực đã đi đến mức có thể gọi đó là một cuộc chạy đua vũ
trang ở giai đoạn đầu. Những động thái hiện đại hóa quân sự này có thể ngăn
chặn xung đột vì nó khiến các nước nhận thấy rằng nếu phát động chiến tranh
thì lợi bất cập hại do các đối thủ đều có khả năng hùng mạnh. Tuy nhiên, nếu
xung đột vẫn nổ ra thì hậu quả sẽ rất tai hại vì các quốc gia sẽ sử dụng tất cả
các lực lượng và công nghệ quân sự có trong tay.
Việc tăng chi phí quốc phòng quá mức sẽ ảnh hưởng đến các chính sách
phát triển kinh tế của mỗi nước, đồng thời gián tiếp làm xói mòn lòng tin giữa
các quốc gia, gây mất ổn định an ninh khu vực và toàn cầu. Tăng cường hiện
đại hóa lực lượng vũ trang là nguyên nhân dẫn đến tình trạng lưỡng nan về an
ninh (security dilemma) – một quan điểm phổ biến của chủ nghĩa hiện thực
trong quan hệ quốc tế. Kết quả là các quốc gia thường xuyên phải đối mặt với
vòng luẩn quẩn giữa an ninh – mất an ninh.
1.1.2. Những thay đổi trong môi trường an ninh Đông Nam Á
Australia sẽ phải đối mặt với một môi trường chiến lược ngày càng phức
tạp hơn tại Đông Nam Á (ĐNA) trong những năm tới. Môi trường này sẽ
được đặc trưng bởi một loạt các mô hình an ninh hỗ trợ và cạnh tranh lẫn
nhau trong đó ĐNA và các cường quốc bên ngoài sẽ đóng vai trò lớn hơn.
Ảnh hưởng chiến lược của các cường quốc châu Á (Nhật Bản, Trung
Quốc và Ấn Độ) đến khu vực ĐNA ngày càng lớn. Bên cạnh đó ảnh hưởng
chiến lược của các nước chủ chốt ở ĐNA - chủ yếu là Indonesia và Việt Nam
- đang lớn dần. Australia sẽ cần đánh giá vai trò của mình trong tương lai

19


trong môi trường đang biến động này và vạch ra một loạt chiến lược cho phép
có được các lợi ích ở đây.

ĐNA trên thực tế đang thay đổi một cách lớn lao vì khu vực này đang
ngày càng phản ánh những thay đổi quyền lực đang diễn ra tại châu Á và
chuyển những thay đổi quyền lực này sang khu vực địa lý gần sát với
Australia.
Về lịch sử, Australia đã xem ĐNA là khu vực mà một cường quốc thù
địch có thể hoạt động "từ đó hoặc qua đó" để đe dọa trực tiếp tới Australia.
Australia có một quan niệm rõ ràng về tương lai của ĐNA - một khu vực
được cấu thành bởi những nền dân chủ đang phát triển, thịnh vượng, ổn định,
hòa bình, mà ngày càng có nhiều những mô hình hợp tác an ninh giữa họ,
cũng như với Australia và các đối tác an ninh khác. Nhưng triển vọng này sẽ
khó thực hiện trong một châu Á - Thái Bình Dương rộng lớn ngày càng bị
khuấy đục bởi sự thay đổi tương quan lực lượng và những căng thẳng giữa
các nước lớn.
Môi trường an ninh ĐNA đang thay đổi phức tạp. Đó là kết quả của tám
xu hướng: (1) khủng hoảng tài chính toàn cầu; (2) quá trình cải tổ và hiện đại
hóa quân sự của Trung Quốc; (3) sự can dự ngày càng tăng của Mỹ vào khu
vực; (4) sự gia tăng chi phí quốc phòng và tăng cường mua sắm vũ khí trong
khu vực; (5) tầm quan trọng ngày càng lớn của yếu tố biển; (6) sự nổi lên
ngày càng mạnh mẽ của các vấn đề an ninh phi truyền thống; (7) sự hiện diện
của các "thách thức an ninh thường nhật"; (8) sự tiến triển của kiến trúc an
ninh khu vực [12, tr. 37].
Tám xu hướng này đã dẫn tới các sức ép đối với các mô hình hợp tác an
ninh khu vực hiện có. Hiện tại, ĐNA thiếu một cơ chế an ninh toàn diện hiệu
quả ở cấp chính phủ để đối phó một cách mạnh mẽ với các thách thức an ninh
lớn.

20


Bảng 1.1: Tương quan khí tài hải quân của một số quốc gia, vùng lãnh thổ

Tàu khu

Tàu khu

Tàu

trục lớn

trục nhỏ

ngầm

59

30

71

45

8

20

Hàn Quốc

12

14


25

22 tàu hộ tống

Đài Loan

4

22

4

Nhiều

Australia

3

12

6

24

28

51

65


Nhiều

Tàu sân bay
Mỹ

11

Nhật Bản

Trung Quốc

1 (chưa hạ thủy
thử nghiệm)

Các loại khác
Rất nhiều
2 tàu sân bay
trực thăng

Philippines

1

Malaysia

5

2

4 tàu hộ tống


Indonesia

10

2

20 tàu hộ tống

Thái Lan

1

9

8 tàu hộ tống

7 tàu hộ tống

Nguồn: Tổng hợp từ Asia Military Review/2011. [40]
Sự hiện đại hóa và chuyển hóa quân sự của Trung Quốc, cùng với sự phát
triển của một căn cứ hải quân lớn trên đảo Hải Nam, sẽ tạo cho Trung Quốc
một cơ sở để sử dụng vũ lực vào ĐNA. Trong trường hợp tệ nhất, điều đó sẽ
đồng nghĩa với việc một cường quốc bên ngoài có thể thách thức khả năng
của Australia kiểm soát các ngả đường trên không và trên biển dẫn tới đại lục
địa của mình. Đây sẽ là một thay đổi cơ bản về môi trường chiến lược,
Australia từng hoạt động trong môi trường này từ Chiến tranh Thế giới Thứ
hai.
Tuy Australia có truyền thống gắn bó với Mỹ nhưng nếu cuộc cạnh tranh
địa - chính trị xảy ra ở ĐNA, thì khoảng cách địa lý có thể trở nên mỏng

manh hơn. Chính quyền Obama đã cam kết trở lại với ĐNA về ngoại giao,
chính trị, kinh tế và quân sự. Mỹ sẽ duy trì vai trò bá chủ trong vài năm tới.

21


Nhưng sự nổi lên của Trung Quốc đã thay đổi tương quan lực lượng và cách
nhận thức về khu vực. Một câu hỏi chưa có lời đáp là Mỹ và Trung Quốc sẽ
xử lý sự thay đổi quyền lực hiện nay như thế nào?
Bất đồng cơ bản giữa Trung Quốc và Mỹ đó là việc Trung Quốc đòi chủ
quyền lãnh thổ tại Biển Đông. Hai năm trở lại đây, từ khi công bố đường lưỡi
bò chín đoạn, trong đó nhấn mạnh Biển Đông thuộc “lợi ích cốt lõi” của
Trung Quốc, Bắc Kinh gia tăng binh lực, áp đặt đòi hỏi biển đảo và quyền
khai thác trong một vùng biển rộng lớn ranh giới mơ hồ, thì các nước lớn bắt
đầu can dự vào Biển Đông. Trên thực tế, cả Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Ấn
Độ và Australia đều có lợi ích lớn ở Biển Đông ở những mức độ khác nhau.
Ngoại giao với các nước lớn là một thách thức lớn đối với Australia đòi
hỏi giữ được đối trọng và cân bằng. Một khi lợi ích cốt lõi của Australia bị đe
doạ thì dùng đối trọng nào và cân bằng ra sao, đều đòi hỏi bản lĩnh và mưu
lược.
Mỹ suy yếu hơn trước, nhưng vì yếu hơn mà can dự tích cực hơn. Nếu
cầm trịch cuộc chơi với sự nhất quán, Mỹ vẫn có khả năng nhân lên sức mạnh
hiện có về chính trị, kinh tế, quân sự, cùng với quyền lực mềm của họ. Mỹ
vẫn nỗ lực duy trì độc quyền các lĩnh vực cơ bản của hạ tầng internet, lấy
internet làm chiến trường mới trong cuộc chiến hình thái ý thức. Tại châu Á –
Thái Bình Dương, những tập hợp lực lượng Mỹ tiến hành gần đây theo những
tầng, lớp khác nhau nhằm thực hiện một loại kiềm chế phòng ngừa, có thể gọi
là kiềm chế “mềm”. Nó sẽ tuỳ vào sự thách thức từ phía Trung Quốc đối với
lợi ích quốc gia và vị trí chủ đạo của Mỹ, cũng như đối với lợi ích của các
nước trong khu vực, mà được đẩy lên, có thể phát triển thành kiềm chế

“cứng” để bao vây con rồng [41].
Cùng chia sẻ các lợi ích chiến lược ở Biển Đông cả về thương mại và an
ninh quốc phòng, Australia sẽ bị tác động không nhỏ khi tranh chấp Biển

22


Đông leo thang và có nguy cơ bùng phát thành xung đột. Không những thế,
Australia còn cảm nhận bị uy hiếp trước các hoạt động hung hăng của Trung
Quốc trong khu vực, đang từng bước can dự vào các vấn đề Biển Đông/Đông
Nam Á. Trong bối cảnh đó, Australia nhận thấy phải điều chỉnh chính sách
quốc phòng để đối phó với mọi tình huống xảy ra.
1.2. Tác động của Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, ASEAN đối với chính
sách đối ngoại an ninh quốc phòng của Australia
1.2.1. Tác động của Mỹ
Quan hệ đồng minh với Mỹ từ sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai luôn
được xác định là “hòn đá tảng” trong chính sách đối ngoại của Australia nói
chung và chính sách đối ngoại an ninh quốc phòng nói riêng.
Trong báo cáo chiến lược an ninh quốc gia thường niên của Mỹ, Mỹ luôn
khẳng định sự chú ý vào giá trị lâu dài của các liên minh của Mỹ ở châu Á
(Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Philippines và Thái Lan) – có vai trò quan
trọng để đạt được những mục tiêu của Mỹ trong khu vực. Và Australia, trong
con mắt của Mỹ, là một đồng minh không thể thiếu ở khu vực châu Á – Thái
Bình Dương, trong các vấn đề chống khủng bố quốc tế, không phổ biến vũ
khí hạt nhân và sự hợp tác an ninh khác.
Sau sự kiện 11/9, nhân tố khủng bố quốc tế đã trở thành một vấn đề nghị
sự toàn cầu, chống khủng bố quốc tế đã trở thành một ưu tiên cao độ, thậm
chí có tính chất sống còn trong chiến lược của nhiều quốc gia, đặc biệt với
nước Mỹ.
Trong bài phát biểu ngày 1/6/2002 tại trường quân sự West Point, Tổng

thống Bush tuyên bố triển khai học thuyết quân sự mới “đánh đòn phủ đầu”1
ngay cả khi chưa chắc chắn về thời điểm và vị trí tấn công kẻ thù. Học thuyết
“đánh đòn phủ đầu” của Mỹ đã được Thủ tướng Australia John Howard ủng
hộ.

23


Tăng cường các liên minh song phương và coi những liên minh này là trụ
cột trong chính sách an ninh của Mỹ luôn là phương châm chỉ đạo nhất quán.
Sau sự kiện 11/9, Mỹ lợi dụng vị thế của một nước bị hại và ưu thế nội lực
của một nước lớn, vị thế của một siêu cường duy nhất để tiếp tục thúc đẩy
chính sách đơn cực. Mỹ phát động và thành lập một liên minh chống khủng
bố quốc tế do Mỹ đứng đầu, tranh thủ sự ủng hộ của đồng minh thân cận và
đa số các quốc gia trên thế giới. Kể từ sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai đến
nay, ít ai có thể nghĩ rằng sẽ có một cuộc tập hợp lực lượng với quy mô lớn
trên phạm vi toàn thế giới như sau sự kiện 11/9. Trong báo cáo điều trần tại
Ủy ban Đối ngoại Thượng viện, Ngoại trưởng Mỹ Colin Powell nhấn mạnh:
“Mỹ phải duy trì mạnh mẽ mối quan hệ với các đồng minh châu Á – Thái
Bình Dương, đặc biệt là Nhật Bản và ở Nam Thái Bình Dương là Australia,
làm yếu đi mối quan hệ này là làm yếu đi chính nước Mỹ” [17, tr. 2].
Mối quan hệ giữa Mỹ và Australia đã có bề dày 60 năm2, và quan hệ hợp
tác liên minh Mỹ - Australia ngày càng được củng cố hơn nữa, nhất là khi Mỹ
đang tập trung vào những vấn đề khu vực và toàn cầu. Sự hỗ trợ của Australia
đối với quân đội Mỹ ở Afghanistan, những nỗ lực gìn giữ hòa bình của
Australia tại Đông Timo và cam kết của Australia chống chủ nghĩa khủng bố
trong nước và trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương chứng tỏ họ là một
đồng minh có giá trị đối với Mỹ trong khu vực [8, tr. 226].
Ngày 7/7/2004, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Donald Rumfeld và Bộ
trưởng Quốc phòng Australia Robert Hill đã ký kết Hiệp định Ghi nhớ hợp

tác về Chương trình phòng thủ tên lửa với tên gọi “đứa con của cuộc chiến
các vì sao”, một dự án mà Mỹ ước tính tiêu tốn khoảng 50 tỷ đô la trong vòng
5 năm [8, tr. 226]. Mục đích của Bản ghi nhớ này là “nhằm đảm bảo hai nước
có khả năng răn đe và phòng thủ trước các nước đang tiếp cận với tên lửa đạn
đạo và vũ khí hủy diệt hàng loạt”. Hiệp định có thời hạn 25 năm này sẽ coi

24


Australia là một nước tham gia chương trình phòng thủ tên lửa của Mỹ cũng
như kế hoạch phát triển và thử nghiệm công nghệ rada tiên tiến, làm tăng khả
năng phát hiện sớm các tên lửa đạn đạo sau khi chúng được phóng. Bộ trưởng
Quốc phòng Australia cho rằng, đây là một “vụ đầu tư lâu dài” do hai nước
nhận thấy họ có “trách nhiệm giải quyết không chỉ các mối đe dọa hiện nay
mà cả các mối đe dọa mà chúng ta có thể phải đối mặt trong tương lai” [8,
tr.227].
Từ góc độ của Mỹ, Mỹ cho rằng:“Mỹ không có tình bạn nào tốt hơn như
đã và đang có đối với Australia và đây là mối quan hệ gắn bó mà chúng ta
luôn gìn giữ và hướng tới trong tương lai”. Đồng quan điểm với Mỹ,
Australia cho rằng: “Quan hệ bền chặt giữa Mỹ và Australia đã được kiểm
chứng qua bao thời gian. Hai bên đã đứng bên nhau trong mọi vấn đề lớn
trong thế kỷ XX”3. Đó là những cam kết gắn bó hơn nữa quan hệ hai nước để
cùng giải quyết những vấn đề mà hai bên cùng quan tâm: vấn đề chống khủng
bố, những vấn đề gây bất lợi cho Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Trong tương lai gần, Mỹ vẫn sẽ là cường quốc vượt trội về kinh tế và quân sự.
Quan hệ Australia - Mỹ phát triển vững mạnh, sâu sắc là dựa trên các giá trị
chung. Australia là “đồng minh trước sau như một” của Mỹ [25, tr. 8]. Liên
minh với Mỹ là nền tảng trong chính sách của Australia, góp phần tăng cường
sức mạnh của Australia trong khu vực và đóng góp vào sự ổn định của khu
vực.

Với Australia, chính sách của Mỹ là duy trì nước này như một đồng minh
chiến lược chủ chốt trong thế trận của Mỹ với toàn khu vực châu Á – Thái
Bình Dương và với Trung Quốc; tiếp tục duy trì Australia như một hình mẫu
của phương Tây, gây tác động ảnh hưởng đến toàn khu vực. Trước sự kiện
11/9/2001, Mỹ đã chú trọng phát huy vai trò của nước đồng minh truyền
thống này trong chính sách của Mỹ tại khu vực. Sau 11/9/2001, chính quyền

25


×