Tải bản đầy đủ (.pdf) (112 trang)

Hoàn thiện quy trình kiểm toán nội bộ tại ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.49 MB, 112 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH


HOÀNG VŨ VIỄN PHƯƠNG

HOÀN THIỆN QUY TRÌNH KIỂM TOÁN NỘI
BỘ TẠI NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP
KHẨU VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Chuyên ngành : KINH TẾ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mã số
: 60.31.12

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LÂM THỊ HỒNG HOA

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH


HOÀNG VŨ VIỄN PHƯƠNG

HOÀN THIỆN QUY TRÌNH KIỂM TOÁN


NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG TMCP XUẤT
NHẬP KHẨU VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011


LỜI CAM ĐOAN
Tác giả luận văn có lời cam đoan danh dự về công trình khoa học này của
mình, cụ thể:
Tôi tên là: Hoàng Vũ Viễn Phương
Sinh ngày 30 tháng 12 năm 1983 – Tại: Quảng Trị
Quê quán: Quảng Bình
Hiện công tác tại: Ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu Việt Nam
Là học viên cao học khóa 8B2 của Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM
Mã số học viên:
Cam đoan đề tài: Hoàn thiện quy trình kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng
TMCP xuất nhập khẩu Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: TS Lâm Thị Hồng Hoa
Luận văn được thực hiện tại Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM.
Đề tài này là công trình nghiên cứu của riên tôi, các kết quả nghiên cứu có
tính độc lập riêng, không sao chép bất kỳ tài liệu nào và chưa được công bố toàn bộ
nội dung này bất kỳ ở đâu (hoặc đã công bố phải nói rõ rang các thông tin của tài
liệu đã công bố); các số liệu, các nguồn trích dẫn tronh luận văn được chú thích
nguồn gốc rõ rang, minh bạch.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi.
TP.HCM, ngày 20 tháng 07 năm 2011
Tác giả


Hoàng Vũ Viễn Phương


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16

VIẾT TẮT
KTNB
NHTM
KTKSNB
NHNN
Eximbank
KTV
BCTĐ

BCTC
VLĐ
KU
QSDĐ
PGD
TSĐB
CMND
HĐQT
TCTD

NỘI DUNG
Kiểm toán nội bộ
Ngân hàng thương mại
Kiểm tra kiểm soát nội bộ
Ngân hàng nhà nước
Ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu Việt Nam
Kiểm toán viên
Báo cáo thẩm định
Báo cáo tài chính
Vốn lưu động
Khế ước
Quyền sử dụng đất
Phòng giao dịch
Tài sản đảm bảo
Chứng minh nhân dân
Hội đồng quản trị
Tổ chức tín dụng


DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH

Stt
1
2
3
4
5
6
1
2
3
1
2
3
4
5
1
2
3
4

BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Vốn điều lệ Eximbank giai đoạn 2004- 2010
Biểu đồ 2.2: Hệ thống mạng lưới đến 31/12/2010
Biểu đồ 2.3: Tổng tài sản từ năm 2006 đến 2010
Biểu đồ 2.4: Vốn huy động từ năm 2006 đến 2010
Biểu đồ 2.5: Dư nợ cho vay từ năm 2006 đến 2010
Biểu đồ 2.6: Lợi nhuận trước thuế từ 2006 đến 2010
HÌNH
Hình 2.1: Mô hình dự kiến tập đoàn tài chính Eximbank
Hình 2.2: Mô hình tổ chức của Ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu

Việt Nam
Hình 2.3: Sơ đồ quản lý của Ban KTNB
BẢNG
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp tình hình hoạt động từ 2006 – 2010
Bảng 2.2: Tỷ trọng của thu nhập lãi ròng trong tổng thu nhập hoạt
động kinh doanh từ 2006 – 2010
Bảng 2.3: Tổng hợp số lượng các cuộc kiểm toán nghiệp vụ từ
2008-2010
Bảng 2.4: Tổng hợp các sai sót các nghiệp vụ đã phát hiện từ năm
2008-2010
Bảng 2.5: Tổng hợp tình khắc phục chỉnh sửa khuyến nghị của
KTNB năm 2010
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Quy trình kiểm toán nội bộ
Sơ đồ 3.1: Mô hình tổ chức hoạt động của ban KTNB và phòng
KTKSNB đang áp dụng thực tế hiện nay tại Eximbank
Sơ đồ 3.2: Mô hình 1 về sắp xếp lại tô chức hoạt động của hoạt
động ban KTNB và phòng KTKSNB
Sơ đồ 3.3: Mô hình 2 về sắp xếp lại tô chức hoạt động của hoạt
động ban KTNB và phòng KTKSNB

Trang
30
31
37
37
38
39
34
35

43
35
39
53
54
59
13
77
78
79


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 KHÁI NIỆM VÀ NHIỆM VỤ CỦA KIỂM TOÁN NỘI BỘ
1.1.1 Khái niệm kiểm toán nội bộ ----------------------------------------------------------- 1
1.1.2 Một số khái niệm khác ---------------------------------------------------------------- 3
1.1.2.1 Kiểm tra ---------------------------------------------------------------------------- 3
1.1.2.2 Kiểm soát nội bộ------------------------------------------------------------------ 4
1.1.2.3 Thanh tra --------------------------------------------------------------------------- 4
1.1.3 Mục tiêu, đối tượng, chức năng của kiểm toán nội bộ ----------------------------- 5
1.1.3.1 Mục tiêu của kiểm toán nội bộ ------------------------------------------------- 5
1.1.3.2 Đối tượng của kiểm toán nội bộ ------------------------------------------------ 6
1.1.3.3 Vai trò của kiểm toán nội bộ ---------------------------------------------------- 7
1.1.3.4 Chức năng của kiểm toán nội bộ ----------------------------------------------- 8
1.1.4 Hạn chế của hoạt động kiểm toán nội bộ -------------------------------------------- 9
1.2 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN, NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG VÀ QUY TRÌNH KIỂM
TOÁN NỘI BỘ

1.2.1 Nguyên tắc cơ bản của kiểm toán nội bộ -------------------------------------------- 9
1.2.2 Phạm vi và nội dung hoạt động của kiểm toán nội bộ ---------------------------- 11
1.2.3 Quy trình kiểm toán nội bộ ----------------------------------------------------------- 13
1.2.4 Phương pháp kiểm toán nội bộ------------------------------------------------------- 18
1.3 SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA HOẠT ĐỘNG KTNB TRONG HOẠT
ĐỘNG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.3.1 Khái niệm ngân hàng thương mại --------------------------------------------------- 19
1.3.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của các NHTM ---------------------------------- 20
1.3.3 Rủi ro trong hoạt động NHTM------------------------------------------------------- 21
1.3.4 Vai trò của kiểm toán nội bộ trong hoạt động quản lý rủi ro NHTM ----------- 23


1.4 KINH NGHIỆM HOẠT ĐỘNG KTNB CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA
1.4.1 Kinh nghiệm hoạt động kiểm toán nội bộ của Trung Quốc ---------------------- 24
1.4.2 Kinh nghiệm hoạt động kiểm toán nội bộ của Đức ------------------------------- 26
1.4.3 Bài học từ kinh nghiệm kiểm toán nội bộ tại các nước --------------------------- 28
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ---------------------------------------------------------------------- 29
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG TMCP
XUẤT NHẬP KHẦU VIỆT NAM
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẦU VIỆT NAM
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển ----------------------------------------------------- 30
2.1.2 Mô hình hoạt động của Ngân hàng -------------------------------------------------- 33
2.1.3 Tình hình hoạt động của Ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu Việt Nam -------- 36
2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG
TMCP XUẤT NHẬP KHẦU VIỆT NAM
2.2.1 Cơ cấu tổ chức của bộ máy kiểm toán nội bộ -------------------------------------- 40
2.2.1.1 Phòng kiểm tra, kiểm soát nội bộ --------------------------------------------- 41
2.2.1.2 Ban kiểm toán nội bộ ----------------------------------------------------------- 42
2.2.2 Quy trình kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu Việt Nam - 44
2.2.3 Kết quả công tác kiểm toán nội bộ -------------------------------------------------- 52

2.2.3.1 Số lượng các cuộc kiểm toán -------------------------------------------------- 52
2.2.3.2 Kết quả kiểm tra và xử lý ------------------------------------------------------ 53
2.3 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI NGÂN
HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM
2.3.1 Còn sự chồng chéo chức năng nhiệm vụ giữa phòng kiểm tra, kiểm soát nội bộ
với phòng kiểm toán nội bộ ----------------------------------------------------------- 60
2.3.2 Vai trò, chức năng công tác kiểm toán nội bộ chưa được phát huy đầy đủ ---- 61
2.3.3 Công nghệ thông tin chưa hỗ trợ tốt cho hoạt động kiểm toán nội bộ ---------- 62
2.3.4 Kiểm toán nội bộ của Eximbank chưa tuân thủ đúng các nguyên tắc cơ bản - 65
2.3.5 Việc giám sát từ xa chưa được Eximbank quan tâm ------------------------------ 64
2.3.6 Thiếu sự phối hợp giữa các phòng ban và kiểm toán nội bộ --------------------- 65


2.3.7 Quá trình thực hiện kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu
Việt Nam chưa bám sát quy định ---------------------------------------------------- 65
2.3.7.1 Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán -------------------------------------------------- 65
2.3.7.2 Giai đoạn thực hiện kiểm toán ------------------------------------------------- 66
2.3.7.3 Lưu hồ sơ kiểm toán nội bộ ---------------------------------------------------- 69
2.3.7.4 Quản lý chất lượng kiểm toán nội bộ ----------------------------------------- 69
2.3.7.5 Công tác theo dõi sau kiểm toán chưa được chú trọng --------------------- 70
2.4 NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN NHỮNG TỒN TẠI, HẠN CHẾ TRONG HOẠT
ĐỘNG KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI EXIMBANK
2.4.1 Sự quan tâm của HĐQT chưa đúng mức ------------------------------------------- 71
2.4.2 Đơn vị được kiểm toán hiểu chưa đúng về hoạt động kiểm toán nội bộ ------- 71
2.4.3 Khung pháp lý về KTNB của NHNN chưa hoàn thiện --------------------------- 71
2.4.4 Chưa chú trọng tới kiểm toán hoạt động trong kiểm toán nội bộ --------------- 73
2.4.5 Chính sách nguồn nhân lực còn nhiều bất cập ------------------------------------- 73
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ---------------------------------------------------------------------- 75
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY
TRÌNH KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU

VIỆT NAM
3.1 LÝ DO CẦN HOÀN THIỆN QUY TRÌNH KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI NGÂN
HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM---------------------------------------- 76
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY TRÌNH KIỂM TOÁN NỘI BỘ
TẠI NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM
3.2.1 Sắp xếp lại mô hình tổ chức của hoạt động ban KTNB và phòng KTKSNB -- 77
3.2.2 Hoàn thiện quy trình kiểm toán nội bộ tại Eximbank ----------------------------- 79
3.2.2.1 Áp dụng phương pháp kiểm tra, kiểm soát từ xa --------------------------- 79
3.2.2.2 Xây dựng chương trình kiểm toán và kiểm toán những nghiệp vụ chưa
được kiểm toán hoặc chưa được quan tâm đúng mức ----------------------- 83
3.2.2.3 Hoàn thiện quy trình kiểm toán ----------------------------------------------- 83


3.2.3 Giải pháp khắc phục những yếu kém khi áp dụng quy trình kiểm toán hiện tại
Ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu Việt Nam -------------------------------------- 85
3.2.4 Tăng chất lượng nguồn nhân lực ---------------------------------------------------- 88
3.2.5 Nâng cao khả năng hỗ trợ của hệ thống công nghệ thông tin -------------------- 90
3.2.6 Đổi mới suy nghĩ và cách làm của KTNB------------------------------------------ 90
3.2.7 Thực hiện nhiệm vụ kiểm toán hoạt động ------------------------------------------ 91
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
3.3.1 Kiến nghị đối với Ban kiểm soát Eximbank --------------------------------------- 92
3.3.2 Kiến nghị đối với Ban quản lý của Eximbank ------------------------------------- 93
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ---------------------------------------------------------------------- 95
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết và ý nghĩa thực tiễn, khoa học của đề tài nghiên cứu
Hoạt động kiểm toán nội bộ là một trong những hoạt động quan trọng nhất

trong các NHTM. Hoạt động KTNB giúp ngân hàng phát hiện ra các sai phạm và kẽ
hở trong hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng, các rủi ro tiềm ẩn, giúp ban lãnh
đạo của ngân hàng có biện pháp chấn chỉnh, phòng ngừa kịp thời.
Những năm vừa qua, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã ảnh hưởng đến
ngành ngân hàng nói chung và Ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu Việt Nam
(Eximbank) nói riêng. Đồng thời, trong thời gian vài năm trở lại đây xuất hiện nhiều
vụ lừa đảo, gian lận làm thiệt hại lớn cho ngân hàng ngày càng gia tăng và tinh vi
hơn. Nếu Eximbank không có một giải pháp ngăn ngừa hiệu quả các sai sót và gian
lận này thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình kinh doanh của mình. Vì vậy, để
Eximbank phát triển an toàn, hiệu quả cần có sự nỗ lực phấn đấu chung của toàn bộ
nhân viên ngân hàng, trong đó sự đóng của Ban KTNB là rất quan trọng trong việc
ngăn ngừa sai sót và gian lận tại ngân hàng. Tuy nhiên, quy trình kiểm toán của Ban
KTNB vẫn còn nhiều mặt chưa được hoàn thiện phải điều chỉnh cho phù hợp với
tình hình mới.
Nhận thức được sự quan trọng này, tác giả chọn đề tài “Hoàn thiện quy trình
kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu Việt Nam” để nghiên cứu
nâng cao chất lượng hoạt động của Ban KTNB tại Eximbank.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Liên quan đến những vấn đề mà đề tài tập trung phân tích đã có một số đề tài
nghiên cứu như sau:
- Hoàng Đình Thắng. “Hoàn thiện hoạt động kiểm tra, kiểm toán nội bộ trong
các tổ chức tín dụng Việt Nam”, 2000. Mục đích nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ các
vấn đề về kiểm toán nội bộ ở các tổ chức tín dụng trong thời gian qua, phân tích ưu,
nhược điểm, thiếu sót trong công tác này. Từ đó, tìm ra những giải pháp mới nhằm
hoàn thiện và tăng cường công tác kiểm toán nội bộ trong các tổ chức tín dụng, góp
phần quan trọng đảm bảo an toàn, hiệu quả trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.


Tuy nhiên, công trình không đi sâu vào nghiên cứu những hạn chế riêng về hoạt
động kiểm toán nội bộ của một ngân hàng cụ thể mà chỉ chú trọng nghiên cứu vai

trò, vị trí của công tác kiểm toán nội bộ nhằm đảm bảo an toàn kinh doanh cho các
tổ chức tín dụng cổ phần Việt Nam trong cơ chế thị trường, tìm giải pháp trong tổ
chức bộ máy, nguyên tắc hoạt động để đảm bảo tính độc lập tương đối của hoạt
động kiểm toán nội bộ nhằm giám sát tính khách quan, trung thực hoạt động kinh
doanh của tổ chức tín dụng giúp cho ban lãnh đạo của tổ chức tín dụng có bức tranh
toàn cảnh về hoạt động của ngân hàng trong thời kì nhật định và có biện pháp chấn
chỉnh kịp thời
- Võ Khánh Linh. “Hoàn thiện hoạt động kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng
công thương Việt Nam”, 2009. Mục đích nghiên cứu đánh giá thực trạng hoạt động
kiểm toán nội bộ của Ngân hàng công thương Việt Nam để đề suất các giải pháp
hoàn thiện hoạt động kiểm toán nội bộ nhằm đảm bảo hoạt động của ngân hàng phát
triển an toàn và hiệu quả. Nhưng công trình này chưa nghiên cứu đánh giá sự vận
hành của quy trình kiểm toán nội bộ trong hoạt động kiểm toán vì thế không đánh
giá được sự thiếu sót và không hợp lý một số thủ tục kiểm toán trong quy trình kiểm
toán khi thực hiện kiểm toán tại các đơn vị.
3. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Đề tài nhắm vào mục tiêu sau:
- Hệ thống hóa, phân tích và làm rõ một số lý luận cơ bản về kiểm toán nội
bộ và ngân hàng thương mại.
- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện quy trình kiểm toán
nội bộ tại Eximbank trên nhiều góc độ, những kết quả đạt được và những tồn tại cần
tập trung giải quyết.
- Trên cơ sở lý luận, thực tiễn, phân tích các ưu điểm và những vấn đề còn
tồn tại trong quy trình kiểm toán nội bộ tại Eximbank, tác giả đề xuất một số giải
pháp nhằm hoàn thiện quy trình và hoạt động kiểm toán nội bộ tại Eximbank, đảm
bảo hoạt động kinh doanh của ngân hàng an toàn và hiệu quả.


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quy trình

kiểm toán nội bộ của Eximbank đến thời điểm năm 2010.
5. Các phương pháp nghiên cứu
Luận văn phối hợp nhiều phương pháp bao gồm: phương pháp duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, phương pháp tiếp cận thực tế, thu thập số liệu từ
Eximbank, phương pháp phỏng vấn và phương pháp toán học, thống kê. Qua đó,
phân tích, so sánh, tổng hợp, giải thích để có được những nhận định đúng đắn về
thực trạng quy trình kiểm toán nội bộ của Eximbank khi áp dụng vào thực tế, kết
quả đạt được cũng như những hạn chế và nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó.
Từ đó đề xuất một số giải pháp thiết thực để hoàn thiện quy trình kiểm toán nội bộ
của Eximbank.
6. Những kết quả đạt được trong nghiên cứu
- Đề tài đã đưa ra được các giải pháp hoàn thiện quy trình kiểm toán nội bộ
tại Eximbank.
- Tạo cơ sở để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của hoạt động kiểm toán nội
bộ tại Eximbank.
- Kiến nghị các giải pháp cụ thể, khả thi hoàn thiện quy trình kiểm toán nội
bộ góp phần đưa hoạt động kiểm toán nội bộ của Eximbank đạt kết quả tốt.
7. Kết cấu của đề tài
Tên đề tài: “Hoàn thiện quy trình kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng TMCP
xuất nhập khẩu Việt Nam”.
Ngoài mở đầu và kết luận, nội dung cơ bản của đề tài chia thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về kiểm toán nội bộ trong ngân hàng
thương mại
Chương 2: Thực tiễn kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu
Việt Nam.
Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp hoàn thiện quy trình kiểm toán nội
bộ tại Ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu Việt Nam


1


CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG NGÂN
HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1 KHÁI NIỆM VÀ NHIỆM VỤ CỦA KIỂM TOÁN NỘI BỘ
Kiểm toán nội bộ đã hình thành và phát triển tử nhiểu thế kỉ trƣớc nhƣng
thực sự đƣợc công nhận là 1 nghề nghiệp chính thức vào năm 1941 khi thành lập
Hội kiểm toán viên nội bộ (Institute of Internal Auditors – IIA) tại New York. Kiểm
toán nội bộ đã có lịch sử tồn tại và phát triển trên 60 năm và đƣợc thừa nhận ở trên
165 quốc gia nhƣ 1 nghề nghiệp mang tính chuyên nghiệp. Kiểm toán nội bộ ra đời
nhằm thỏa mãn các yêu cầu quản lý của doanh nghiệp và một số tổ chức khác.
Kiểm toán nội bộ phát triển gắn liền với yêu cầu và nhận thức của nhà quản lý.
Trong thời kì đầu, trọng tâm của việc kiểm toán nội bộ là những vấn đề về tài chính
kế toán. Dần dần vai trò của kiểm toán nội bộ đƣợc mở rộng nhằm giúp hoàn thiện
các chính sách và các thủ tục kiểm soát đối với toàn bộ hoạt động của đơn vị.
Trải qua thời gian, hoạt động kiểm toán nội bộ đã phát triển rất nhanh chóng.
Cùng với sự phát triển kiểm toán nội bộ là quá trình phát triển của Hiệp hội Kiểm
Toán Viên Nội Bộ. Tổ chức này đã trở thành tổ chức quốc tế và hoạt động rộng
khắp thông qua hệ thống phân hội tại các nhiều quốc gia.
1.1.1 Khái niệm kiểm toán nội bộ
Kiểm toán nội bộ ra đời xuất phát từ yêu cầu của quá trình quản lý. Bất kỳ
một quá trình quản lý nào cũng bao gồm ba trách nhiệm cơ bản là lập kế hoạch, tổ
chức và chỉ đạo. Để thực hiện các trách nhiệm đó, các nhà quản lý đƣa ra các chính
sách, thủ tục, quy định trong tổ chức. Khi qui mô tổ chức tăng lên, các chính sách,
thủ tục này càng phức tạp, một bộ phận trong đơn vị sẽ đƣợc tách ra, chuyên môn
hóa trong công việc kiểm tra và đánh giá hệ thống kiểm soát của đơn vị. Đó là kiểm
toán nội bộ. Nhƣ vậy, bản chất của kiểm toán nội bộ là một bộ phận độc lập trong
đơn vị tiến hành công việc kiểm tra và đánh giá đối với hệ thống kiểm soát nội bộ
của đơn vị nhằm phục vụ cho yêu cầu của ngƣời quản lý.
Theo Chuẩn mực thực hành kiểm toán chuyên nghiệp cho kiểm toán nội bộ

(The Standards for the Professional Practice of Internal Auditing – SPPIA, ban hành


2

tháng 5 năm 1978 của Viện Kiểm toán nội bộ (IIA) thì “Kiểm toán nội bộ là một
chức năng thẩm định độc lập được thiết lập bên trong một tổ chức để xem xét và
đánh giá các hoạt động của tổ chức đó, với tư cách là một sự trợ giúp đối với tổ
chức đó” [6, trang 9].
Đến tháng 6 năm 1999, định nghĩa của IIA về kiểm toán nội bộ đã mở rộng
hơn vai trò chức năng của kiểm toán nội bộ trên thế giới, cụ thể “Kiểm toán nội bộ
là một sự đảm bảo khách quan, độc lập và hoạt động tư vấn được thiết kế để tăng
thêm giá trị và cải tiến các hoạt động của một tổ chức. Kiểm toán nội bộ giúp một
tổ chức hoàn thành các mục tiêu của tổ chức bằng cách cung cấp một phương pháp
có kỷ luật, có hệ thống để đánh giá và cải tiến tính hữu hiệu của các quá trình điều
hành, kiểm soát và quản lý rủi ro” [5, trang 12].
Bên cạnh đó, cũng có quan điểm khác về kiểm toán nội bộ nhƣ quan điểm
của Liên đoàn kế toán quốc tế (International Federation of Accountants – IFAC):
“Kiểm toán nội bộ là một hoạt động đánh giá được lập ra trong một đơn vị kinh tế
như một loại dịch vụ cho đơn vị đó, có chức năng kiểm tra, đánh giá và giám sát
tính thích hợp và hiệu quả của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ” [4,
trang 493].
Tại Việt Nam, Khoản 1 điều 2 Quy chế kiểm toán nội bộ của tổ chức tín
dụng ban hành kèm theo Quyết định số 37/2006/QĐ-NHNN ngày 01/08/2006 của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc quy định: “Kiểm toán nội bộ là hoạt động kiểm
tra, rà soát, đánh giá một cách độc lập, khách quan đối với hệ thống kiểm tra, kiểm
soát nội bộ; đánh giá độc lập về tính thích hợp và sự tuân thủ các chính sách, thủ
tục quy trình đã được thiết lập trong tổ chức tín dụng, thông qua đó đơn vị thực
hiện kiểm toán nội bộ đưa ra các kiến nghị, tư vấn nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu
quả hoạt động của các hệ thống, các quy trình, quy định, góp phần đảm bảo tổ chức

tín dụng hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật” [15]
Khái niệm về kiểm toán nội bộ thay đổi theo từng thời kì. Tuy nhiên, khái
niệm về kiểm toán nội bộ đƣợc quy định tại khoản 2 điều 41 Luật các tổ chức tính
dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 của Quốc hội là tƣơng đối đầy đủ và phù
hợp nhất: “Kiểm toán nội bộ thực hiện rà soát, đánh giá độc lập, khách quan đối


3

với hệ thống kiểm soát nội bộ; đánh giá độc lập về tính thích hợp và sự tuân thủ quy
định, chính sách nội bộ, thủ tục, quy trình đã được thiết lập trong tổ chức tín dụng;
đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của các hệ thống, quy trình, quy định,
góp phần bảo đảm tổ chức tín dụng hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật.”
[10]
1.1.2 Một số khái niệm khác
1.1.2.1 Kiểm tra
Kiểm tra là đo đƣờng và chấn chỉnh việc thực hiện nhằm đảm bảo rằng các
mục tiêu và các kế hoạch vạch ra để thực hiện các mục tiêu này đã và đang đƣợc
hoàn thành. Kiểm tra là công việc đƣợc thực hiện thƣờng xuyên trong tất cả các
nghiệp vụ; là một bộ phận, một mắt xích quan trọng trong một quy trình tác nghiệp
trong hoạt động của một phòng ban chức năng và đƣợc tiến hành trƣớc, trong và sau
một quy trình tác nghiệp.
Kiểm tra và kiểm toán đều tiến hành theo hình thức gián tiếp trên cơ sở các
tài liệu, báo cáo, hoặc bằng hình thức trực tiếp với đối tƣợng cần kiểm tra và đƣợc
thực hiện thƣờng xuyên, định kỳ hoặc đột xuất, do một ngƣời hoặc thành lập đoàn
thực hiện. Đồng thời, kiểm tra và kiểm toán có cùng chung mục đích là giám sát
hoạt động ngân hàng tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc, chống lại các hành vi lừa
đảo, hạn chế rủi ro, duy trì hoạt động ngân hàng trong an toàn, hiệu quả theo đúng
đƣờng lối đề ra. Nhƣng kiểm toán nội bộ cũng có những điểm khác biệt so với kiểm
tra nhƣ kiểm toán nội bộ chỉ thực hiện sau khi các hoạt động kinh tế đã hoàn tất;

kiểm toán nội bộ không nằm trong quy trình tác nghiệp nhƣ kiểm tra nội bộ, nó tách
ra khỏi quy trình, đứng bên ngoài để nhìn vào một cách khách quan quy trình đang
vận hành nhƣ thế nào; hoạt động kiểm toán nội bộ có kỹ thuật thực hiện riêng với
phạm vi giới hạn nhất định trái ngƣợc với hoạt động kiểm tra đƣợc thực hiện đối với
tất cả các nghiệp vụ.
Nhƣ vậy, kiểm tra là yếu tố cấu thành trong hoạt động quản lý, là xem xét
những nội dung, mục tiêu đề ra đƣợc thực hiện nhƣ thế nào, có mang lại kết quả
nhƣ mong đợi, từ đó đề ra các biện pháp tiếp theo, đảm bảo cho sự thành công của
mục tiêu đã xác định.


4

1.1.2.2 Kiểm soát nội bộ
Chức năng kiểm soát luôn chiếm một vị trí quan trọng trong mọi quy trình
quản lý. Vì thế, hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị đƣợc thiết lập và thực hiện
chức năng kiểm soát. Theo khoản 1 điều 2 của Committee of Sponsoring
Organization of Treaway Commission – COSO (COSO là một ủy ban thuộc Hội
đồng quốc gia Hoa kỳ về việc chống gian lận về báo cáo tài chính) thì: “Kiểm soát
nội bộ là một quá trình chịu ảnh hưởng bởi hội đồng quản trị, các nhà quản lý và
các nhân viên của một tổ chức, được thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý
trong việc thực hiện các mục tiêu : mục tiêu về sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt
động, mục tiêu về sự tin cậy của báo cáo tài chính, mục tiêu về sự tuân thủ các luật
lệ và quy định.” [2, trang 19]
1.1.2.3 Thanh tra
Điều 3 Luật Thanh tra do Quốc hội nƣớc ta ban hành năm 2004 giải thích rõ
“Hoạt động thanh tra nhà nước và thanh tra nhân dân nhằm phòng ngừa, phát hiện
và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản
lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện
pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả

của hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.”[11]. Trong đó:
- Thanh tra nhà nƣớc là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý
nhà nƣớc đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ
chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục đƣợc quy định
trong Luật này và các quy định khác của pháp luật. [11]
-Thanh tra nhân dân là hình thức giám sát của nhân dân thông qua Ban thanh
tra nhân dân đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết khiếu nại,
tố cáo, việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân có
trách nhiệm ở xã, phƣờng, thị trấn, cơ quan nhà nƣớc, đơn vị sự nghiệp, doanh
nghiệp nhà nƣớc. [11]


5

So với kiểm toán nội bộ hoạt động thanh tra diễn ra không thƣờng xuyên
nhƣng có tính độc lập cao hơn nên thƣờng có hiệu quả hơn vì ngƣời kiểm tra không
phải là ngƣời của đơn vị đƣợc kiểm toán.
Ngoài việc kiểm tra hoạt động chi nhánh, thanh tra ngân hàng nhà nƣớc cũng
tiến hành xem xét hoạt động kiểm toán nội bộ của một ngân hàng. Nếu phát hiện
điểm không hợp lý trong quy trình kiểm toán của bộ phận kiểm toán nội bộ tại các
NHTM, thanh tra NHNN sẽ có biện pháp chấn chỉnh. Định kỳ bộ phận kiểm toán
nội bộ tại các NHTM phải báo cáo kế hoạch kiểm toán, kết quả hoạt động của mình
cho thanh tra ngân hàng biết để theo dõi.
Nhƣ vậy, thanh tra ngân hàng vừa là bộ phận giám sát hoạt động kiểm toán
của ngân hàng cũng vừa là bộ phận hỗ trợ để hoạt động này ngày càng cải thiện
theo hƣớng tốt hơn.
Tóm lại, có thể nói giữa hoạt động kiểm soát nội bộ, thanh tra và kiểm tra có
mối quan hệ chặt chẽ, gần gũi và có nhiều điểm giao thoa nhau. Bởi vì kiểm soát
nội bộ, kiểm tra và thanh ra đều là những công cụ quan trọng, một chức năng chung

của các nhà quản lý, là hoạt động mang tính chất phản hồi của “chu trình quản lý”.
Qua kiểm tra, kiểm soát nội bộ và thanh tra, các cấp quản lý có thể phân tích đánh
theo dõi quá trình thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra. Đây là mối quan hệ
đan chéo nhau. Thanh tra, kiểm soát nội bộ là một loại hình đặc biệt của kiểm tra;
nhƣng ở một góc nhìn khác thanh tra và kiểm soát nội bộ lại bao hàm cả kiểm tra.
Các hoạt động thao tác nghiệp vụ trong một cuộc thanh tra hay kiểm soát nội bộ
nhƣ việc kiểm tra sổ sách, tài liệu; so sánh đối chiếu, đánh giá tài liệu, chứng cứ thu
thập đƣợc trong quá trình thực hiện…đó là kiểm tra. Chính vì vậy trong thực tiễn,
nhiều ngƣời trong đó có cả một số doanh nghiệp thƣờng hay nhầm lẫn, đồng nhất
kiểm tra với thanh tra hay kiểm soát nội bộ.
1.1.3 Mục tiêu, đối tƣợng, chức năng của kiểm toán nội bộ
1.1.3.1 Mục tiêu của kiểm toán nội bộ
Mục tiêu đầu tiên mà kiểm toán nội bộ hƣớng đến là đảm bảo chắc chắn rằng
các cơ chế chính sách, biện pháp, quyết định của đơn vị đƣợc thực hiện một cách


6

đúng đắn, đồng thời giám sát các kết quả đạt đƣợc do việc thực hiện cơ chế, chính
sách biện pháp đó mang lại.
Hoạt động kiểm toán nội bộ cũng phải phát hiện kịp thời các rủi ro trong
kinh doanh để có cơ sở hoạch định và thực hiện các biện pháp đối phó với những
rủi ro đó; phát hiện các sai phạm, gian lận, lạm dụng trong quá trình tác nghiệp,
kinh doanh của đơn vị; đảm bảo việc hạch toán kế toán đầy đủ, chính xác, kịp thời,
đúng chế độ đối với toàn bộ các nghiệp vụ phát sinh trong quá trình hoạt động kinh
doanh; đảm bảo việc lập và gửi các báo cáo kế toán, tài chính theo định kỳ kịp thời,
chính xác, đầy đủ.
Với những mục tiêu trên, hoạt động kiểm toán nội bộ góp phần bảo vệ an
toàn tài sản, vốn kinh doanh và các thông tin, phòng ngừa các rủi ro phát sinh.
Tại Việt Nam, theo Điều 3 Chƣơng 1 của Quy chế kiểm toán nội bộ ban hành

kèm theo Quyết định số 37/2006/QĐ-NHNN ngày 01/08/2006, mục tiêu và chức
năng cơ bản của kiểm toán nội bộ trong hoạt động ngân hàng bao gồm:
- Đánh giá độc lập về tính thích hợp và sự tuân thủ các chính sách, thủ tục
quy trình đã đƣợc thiết lập trong tổ chức tín dụng.
- Kiểm tra, rà soát, đánh giá mức độ đầy đủ, tính hiệu lực và hiệu quả của hệ
thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ, nhằm cải tiến và hoàn thiện hệ thống kiểm tra,
kiểm soát nội bộ. Nhằm thực hiện mục tiêu này, đơn vị thực hiện kiểm toán nội bộ
đƣợc khuyến khích thực hiện hoạt động tƣ vấn, tham gia vào quá trình xây dựng, cải
tiến và hoàn thiện hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ với điều kiện không đƣợc vi
phạm nguyên tắc độc lập, khách quan.
1.1.3.2 Đối tƣợng của kiểm toán nội bộ
Từ mục tiêu và chức năng của kiểm toán nội bộ ở phần trên có thể thấy rõ
đối tƣợng chính của kiểm toán nội bộ chính là hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị
chứ không phải là báo cáo tài chính nhƣ kiểm toán độc lập, hoặc là kiểm toán tuân
thủ. Thực tế về quản trị doanh nghiệp cho thấy nếu một doanh nghiệp không thiết
lập đƣợc hệ thống kiểm soát nội bộ tốt thì quá trình quản trị sẽ khó đạt hiệu quả.
Bởi vì hệ thống kiểm soát nội bộ đƣợc tổ chức nhằm:
- Bảo đảm độ tin cậy và tính trung thực của các thông tin;


7

- Bảo đảm sự tuân thủ các chính sách, thủ tục, quy định của đơn vị cũng nhƣ
của tổ chức;
- Bảo vệ tài sản của đơn vị;
- Bảo đảm sử dụng tiết kiệm và hiệu quả trong sử dụng nguồn tài nguyên của
đơn vị;
- Bảo đảm đạt đƣợc các mục tiêu, chƣơng trình đã đƣợc thiết lập.
Vì vậy, có thể thấy rõ là kiểm toán nội bộ đƣợc tổ chức nhằm kiểm tra và
đánh giá về năng lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ cũng nhƣ chất

lƣợng thực hiện các trách nhiệm đƣợc giao, bao gồm các mục đích cụ thể sau:
- Xem xét tính trung thực và độ tin cậy của các thông tin tài chính và hoạt
động, phƣơng pháp ghi chép và báo cáo các thông tin này;
- Xem xét hệ thống có đƣợc thiết lập phù hợp, tuân thủ trong thực tế với các
chính sách, kế hoạch và luật lệ của đơn vị cũng nhƣ của nhà nƣớc hay không.
- Đánh giá các tài nguyên có đƣợc sử dụng tiết kiệm và hiệu quả không.
- Xem xét các hoạt động và chƣơng trình có đáp ứng đƣợc các mục tiêu đề ra
không.
Vì thế, hệ thống kiểm soát nội bộ chính là đối tƣợng của kiểm toán nội bộ.
1.1.3.3 Vai trò của kiểm toán nội bộ
Vai trò của kiểm toán nội bộ thể hiện qua việc đánh giá và góp phần cải thiện
tính hữu hiệu trong việc quản lý rủi ro, kiểm soát và các quy trình quản trị của hoạt
động quản lý trong đơn vị, cụ thể:
- Quản lý rủi ro: hoạt động kiểm toán nội bộ giúp nhận dạng và đánh giá
những rủi ro đã đƣợc phát hiện và góp phần cải thiện việc quản lý rủi ro hệ thống
kiểm soát.
- Kiểm soát: thông qua việc kiểm tra và đánh giá sự đầy đủ và hữu hiệu của
hoạt động kiểm soát trong tổ chức, kiểm toán nội bộ trợ giúp tổ chức duy trì và đề
xuất sự cải tiến liên tục.
- Các quy trình quản trị: kiểm toán nội bộ đánh giá các quy trình quản trị nhƣ
nghiên cứu và đánh giá mục tiêu, chƣơng trình và hoạt động quản trị. Trên cơ sở đó


8

đƣa ra các khuyến nghị hoặc tƣ vấn giúp Hội Đồng Quản Trị và các bên có liên
quan cải thiện quy trình quản trị của đơn vị.
1.1.3.4 Chức năng của kiểm toán nội bộ
Cùng với sự phát triển của khung quản trị rủi ro, KTNB đang dần đƣợc xem
là một công cụ hữu hiệu để một doanh nghiệp kiểm soát các rủi ro của mình thông

qua cả chức năng kiểm toán lẫn chức năng tƣ vấn cho Ban lãnh đạo doanh nghiệp.
- Chức năng kiểm toán: thông qua các cuộc kiểm toán KTNB sẽ đánh giá sự
hiện hữu và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ, mức độ thực hiện các mục tiêu
của đơn vị thông qua việc xem xét mức độ tin cậy, sự trung thực của các thông tin,
phƣơng pháp ghi nhận, đo lƣờng, phân loại và báo cáo các thông tin đó.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, các doanh nghiệp đều hƣớng tới nhiều mục tiêu
nhƣ quản trị, kinh tế, đạo đức kinh doanh, xã hội và môi trƣờng. Để đạt đƣợc các
mục tiêu này Ban lãnh đạo doanh nghiệp thiết lập và duy trì hệ thống kiểm soát nội
bộ và KTNB đƣợc thành lập để đảm bảo về việc vận hành hệ thống kiểm soát nội
bộ một cách hiệu quả. Vì thế, KTNB cần phải có đủ các kỹ năng và kinh nghiệm
cần thiết để đƣa ra đƣợc các đảm bảo về việc doanh nghiệp đã và đang vận hành
một cách hiệu quả nhằm đạt đƣợc đồng thời các mục tiêu đã đề ra. Các đảm bảo đó
chủ yếu tập trung vào quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ các vấn đề về đạo đức kinh
doanh, trách nhiệm xã hội.
- Chức năng tư vấn: KTNB với khả năng của mình có thể đƣa ra những
nhận định, phân tích và đánh giá những rủi ro, những vấn đề có thể làm cho các
thông tin tài chính, thông tin hoạt động trở nên không tin cậy, hoạt động của đơn vị
giảm hoặc thiếu hiệu quả, tổn thất về tài sản, luật lệ và các quy định không đƣợc
tuân thủ. Dựa trên những nhận định và phân tích đó, KTNB sẽ đề xuất các giải pháp
cải thiện nhằm xây dựng hệ thống quản lý hữu hiệu, bảo vệ tài sản, tiết kiệm và sử
dụng nguồn lực, thông tin hiệu quả. Thêm vào đó, KTNB có thể cung cấp các dịch
vụ tƣ vấn trợ giúp một cách riêng biệt cho tất cả các cấp trong một đơn vị, từ HĐQT
đến các nhân viên và các cấp quản lý trong việc thực hiện trách nhiệm của mình
một cách hiệu quả.


9

1.1.4 Hạn chế của hoạt động kiểm toán nội bộ
Một vấn đề mà các nhà quản lý luôn quan tâm đến khi thiết lập bộ phận kiểm

toán nội bộ là chi phí ở mức thấp nhất. Vì thế, họ thƣờng so sánh lợi ích của việc
thiết lập, duy trì bộ phận kiểm toán nội bộ với các tổn thất do hành vi sai sót, gian
lận vì không thiết lập bộ phận này để lựa chọn. Tuy nhiên, trên thực tế rất khó đạt
đƣợc mục tiêu tối thiểu chi phí khi thiết lập bộ phận kiểm toán nội bộ. Vì kiểm toán
nội bộ chỉ góp phần cảnh báo nhằm giảm thiểu rủi ro từ việc phát hiện các thiếu sót,
sai phạm hay các khe hở của quá trình tác nghiệp chứ không thể ngăn chặn hoàn
toàn mọi sự việc đáng tiếc có thể xảy ra.
Hơn nữa, nếu không đảm bảo tính khách quan, độc lập trong quá trình kiểm
toán thì kết quả kiểm toán cũng bị sai lệch. Đơn cử nhƣ việc bộ phận kiểm toán
không đƣợc quyền lựa chọn đối tƣợng, phạm vi kiểm toán tiềm ẩn nhiều rủi ro mà
theo chỉ định của Ban lãnh đạo đơn vị đƣợc kiểm toán. Hay nhƣ phụ thuộc về tài
chính thì bộ phận kiểm toán phải e dè khi đƣa ra đánh giá kết quả kiểm toán.
Ngoài ra, hiệu quả hoạt động kiểm toán nội bộ cũng phụ thuộc vào ý chí của
nhà quản lý, đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên cũng nhƣ sự hợp tác của các
bộ phận khác. Nếu các nhà quản lý một mặt hô hào phải kiểm tra kiểm soát gắt gao,
một mặt không muốn hoạt động này đào sâu vào quá trình kinh doanh thì tính hiệu
quả của nó cũng bị hạn chế. Ngay bản thân các kiểm toán viên không có tinh thần
trách nhiệm, lơi lỏng hoặc phạm sai lầm trong nhận định, tính toán thiếu cụ thể sâu
sát hoặc lạm dụng, thông đồng trong quá trình thực thi nhiệm vụ cũng dẫn đến hiệu
quả hoạt động kiểm toán nội bộ kém đi.
1.2 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN, NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG VÀ QUY TRÌNH
KIỂM TOÁN NỘI BỘ
1.2.1 Nguyên tắc cơ bản của kiểm toán nội bộ
Nguyên tắc cơ bản đầu tiên thƣờng đƣợc nhắc đến của hoạt động kiểm toán
nội bộ là tính độc lập. Bộ phận kiểm toán nội bộ độc lập với các phòng ban, các bộ
phận điều hành, tác nghiệp của đơn vị. Để thực hiện nguyên tắc này, thông thƣờng
các doanh nghiệp tổ chức bộ phận kiểm toán nội bộ trực thuộc một ngƣời đủ quyền
lực để ủng hộ cho sự độc lập, đảm bảo một phạm vi kiểm soát rộng rãi, tiếp nhận và



10

đánh giá kết quả kiểm toán để có những biện pháp giải quyết thích đáng trên cơ sở
các kiến nghị của kiểm toán viên. Có hai mô hình tổ chức thƣờng đƣợc áp dụng: Mô
hình thứ nhất bộ phận kiểm toán nội bộ trực thuộc Uỷ Ban Kiểm toán bao gồm một
số thành viên trong Hội đồng Quản trị không tham gia điều hành hoạt động của đơn
vị. Mô hình thứ hai là bộ phận kiểm toán nội bộ chịu sự điều hành của Tổng Giám
đốc. Trong 2 mô hình này thì mô hình thứ nhất đảm bảo tính độc lập hơn mô hình
thứ 2 vì bộ phận kiểm toán đƣợc quản lý bởi những ngƣời không tham gia vào hoạt
động của đơn vị
Nguyên tắc thứ hai là phải đảm bảo tính khách quan. Bộ phận kiểm toán nội
bộ, kiểm toán viên nội bộ phải đảm bảo tính khách quan, trung thực, công bằng,
không định kiến khi thực hiện nhiệm vụ kiểm toán nội bộ. Để đảm bảo tính khách
quan kiểm toán viên không đƣợc tham gia thiết kế, cài đặt hay vận hành các hoạt
động của đơn vị, không đƣợc tham gia điều hành hay quản lý kinh doanh ở đơn vị
vì việc này sẽ làm giảm tính độc lập và tính khách quan của mình trong quá trình
đánh giá. Sự khách quan và công bằng còn đòi hỏi Bộ phận kiểm toán nội bộ nên
đƣợc luân chuyển định kỳ khi có thể. Kiểm toán viên nội bộ đƣợc lựa chọn từ các
nhân viên ngân hàng không nên kiểm toán ở những hoạt động hoặc lĩnh vực mà họ
đã làm trƣớc đây.
“Kiểm toán nội bộ cần đảm bảo tính độc lập, khách quan khi kiểm toán các
hoạt động, các quy trình, bộ phận mà trước đây kiểm toán nội bộ đã có tư vấn.
Trong trường hợp này, trách nhiệm đối với các hoạt động, các quy trình, bộ phận
đã được kiểm toán nội bộ tư vấn trước đây vẫn hoàn toàn thuộc về lãnh đạo đơn vị,
bộ phận được kiểm toán. Kiểm toán nội bộ có quyền và nghĩa vụ phân tích và đánh
giá đầy đủ về các thủ tục, quy trình, hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ đã được
lãnh đạo của đơn vị, bộ phận được kiểm toán thiết lập, cho dù kiểm toán nội bộ
trước đây đã có tư vấn cho lãnh đạo của đơn vị, bộ phận này.” [15]
Nguyên tắc thứ ba là tính chuyên nghiệp của kiểm toán viên. Kiểm toán
viên nội bộ phải là ngƣời có kiến thức, trình độ và kỹ năng kiểm toán nội bộ cần

thiết, không kiêm nhiệm các cƣơng vị, các công việc chuyên môn khác của tổ chức
tín dụng. Bên cạnh đó, kiếm toán viên nội bộ phải đáp ứng đƣợc đạo đức nghề


11

nghiệp cần thiết nhƣ: trung thực, khách quan, cần mẫn trong công việc, tuân thủ các
chuẩn mực nghề nghiệp, bảo mật những thông tin có đƣợc trong quá trình kiểm tra,
không ngừng tham gia học tập, đào tạo để nâng cao trình độ nghiệp vụ, nâng cao
hiệu quả và chất lƣợng công việc của mình...
1.2.2 Phạm vi và nội dung hoạt động của kiểm toán nội bộ
Phạm vi của kiểm toán nội bộ
Để đảm bảo hoạt động kiểm toán đem lại hiệu quả cao nhất thì tất cả các hoạt
động, các quy trình nghiệp vụ và các phòng ban, bộ phận của đơn vị phải là đối
tƣợng của hoạt động này.
Theo điều 10 mục 1 Chƣơng II của Quy chế kiểm toán nội bộ ban hành kèm
theo Quyết định số 37/2006/QĐ-NHNN ngày 01/08/2006, phạm vi của hoạt động
kiểm toán nội bộ là: kiểm toán tất cả các hoạt động, các quy trình nghiệp vụ và các
đơn vị, bộ phận của tổ chức tín dụng; kiểm toán đặc biệt và tƣ vấn theo yêu cầu của
Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát. Theo đó, phạm vi hoạt động công việc kiểm toán
nội bộ bao gồm:
- Rà soát sự tuân thủ các nghiệp vụ và hồ sơ, chứng từ
- Kiểm tra hệ thống kiểm soát và các thủ tục kiểm soát
- Phân tích, rà soát các quy trình và các biện pháp đƣợc áp dụng
- Soát xét các nguy cơ, rủi ro tiềm ẩn
- Phân tích các thông tin quản lý và thông tin tài chính
- Kiểm tra, xác nhận các thông tin quản lý và thông tin tài chính thông qua
kiểm tra chi tiết và kiểm tra các dữ liệu, cơ sở.
Nội dung hoạt động của kiểm toán nội bộ
Theo điều 11 Mục 1 Chƣơng 2 của Quy chế kiểm toán nội bộ ban hành kèm

theo Quyết định số 37/2006/QĐ-NHNN ngày 01/08/2006, nội dung chính của hoạt
động kiểm toán nội bộ là kiểm tra, đánh giá tính đầy đủ, hiệu lực và hiệu quả của hệ
thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ. Tùy theo quy mô, mức độ rủi ro cũng nhƣ yêu cầu
cụ thể của từng tổ chức tín dụng, kiểm toán nội bộ có thể rà soát, đánh giá những
nội dung sau:


12

- Mức độ đầy đủ, tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội
bộ.
- Việc áp dụng, tính hiệu lực, hiệu quả của các quy trình nhận dạng, phƣơng
pháp đo lƣờng và quản lý rủi ro, phƣơng pháp đánh giá vốn.
- Hệ thống thông tin quản lý và hệ thống thông tin tài chính, bao gồm cả hệ
thống thông tin điện tử và dịch vụ ngân hàng điện tử.
- Tính đầy đủ, kịp thời, trung thực và mức độ chính xác của hệ thống hạch toán
kế toán và các báo cáo tài chính.
- Cơ chế đảm bảo sự tuân thủ các quy định của pháp luật, quy định về các tỷ lệ
bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, các quy định nội bộ, các quy
trình, quy tắc tác nghiệp, quy tắc đạo đức nghề nghiệp.
- Cơ chế, quy định, quy trình quản trị, điều hành, tác nghiệp của tổ chức tín
dụng.
- Các biện pháp đảm bảo an toàn tài sản.
- Đánh giá tính kinh tế và hiệu quả các các hoạt động, tính kinh tế và hiệu quả
của việc sử dụng các nguồn lực, qua đó xác định mức độ phù hợp giữa kết quả hoạt
động đạt đƣợc và mục tiêu hoạt động đề ra.
- Thực hiện các nội dung khác có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của kiểm
toán nội bộ, theo yêu cầu của Ban Kiểm toán, của Hội đồng quản trị.
Tuy nhiên, theo xu hƣớng mới nội dung hoạt động kiểm toán ngày nay đang
hƣớng tới “kiểm toán “định hƣớng theo rủi ro”, ƣu tiên tập trung nguồn lực để kiểm

toán các đơn vị, bộ phận, quy trình đƣợc đánh giá có mức độ rủi ro cao. Kiểm toán
nội bộ phải xác định, phân tích, đánh giá những rủi ro và xây dựng hồ sơ rủi ro cho
từng hoạt động của đơn vị.
1.2.3 Quy trình kiểm toán nội bộ
Việc tổ chức thực hiện một cuộc kiểm toán nội bộ của một đơn vị có thể
khác nhau trong từng trƣờng hợp. Tuy nhiên, nhìn chung gồm bốn giai đoạn chủ
yếu là chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán, báo cáo kiểm toán và theo dõi sau
kiểm toán, cụ thể qua sơ đồ sau :


13

1. CHUẨN BỊ KIỂM
TOÁN
- Xác định đối tƣợng kiểm
toán
- Lập kế hoạch kiểm toán
- Nghiên cứu tổng quát

4. THEO DÕI SAU
KIỂM TOÁN
- Theo dõi sau kiểm toán
- Đánh giá lại

2. THỰC HIỆN KIỂM
TOÁN
- Mô tả và phân tích hệ
thống kiểm soát nội bộ
-Thực hiện các thử
nghiệm kiểm soát mở

rộng
- Phát hiện và đề xuất
biện pháp

3. BÁO CÁO KIỂM TOÁN

Sơ đồ 1.1: Quy trình kiểm toán nội bộ

Giai đoạn 1: Chuẩn bị kiểm toán
Bước 1: Xác định đối tượng kiểm toán
Đối tƣợng kiểm toán có thể là 1 bộ phận, chi nhánh của đơn vị hay một hoạt
động, 1 chƣơng trình nào đó đơn vị đang tiến hành. Một cuộc kiểm toán bắt đầu từ
việc xác định đối tƣợng kiểm toán bằng các phƣơng pháp và lý do khác nhau. Việc
này có thể do Ban Giám Đốc hoặc chính đối tƣợng kiểm toán yêu cầu. Có 3 phƣơng
pháp xác định đối tƣợng kiểm toán nhƣ sau:
- Lựa chọn một cách có hệ thống: bộ phận kiểm toán soạn ra một danh sách
các đối tƣợng kiểm toán sẽ đƣợc kiểm toán trong năm nay. Thông thƣờng danh sách
này lập chủ yếu trên cơ sở rủi ro. Các đối tƣợng kiểm toán có rủi ro cao sẽ đƣợc lựa
chọn đƣa vào chƣơng trình kiểm toán trƣớc. Các đối tƣợng có rủi ro thấp hơn sẽ
đƣợc đƣa vào kỳ sau
- Kiểm tra các vấn đề khúc mắc: phƣơng pháp này dựa trên nguyên tắc ƣu
tiên kiểm toán những bộ phận hay vấn đề đang có “sự cố”. Ban Giám Đốc và Hội
đồng quản trị dựa vào sự xét đoán của họ mà đƣa ra các vấn đề cần đƣợc kiểm tra
ngay


×